1. Trang chủ
  2. » Tất cả

Thực trạng kiến thức dự phòng viêm tĩnh mạch sau đặt catheter tĩnh mạch ngoại vi tại bệnh viện đa khoa tỉnh bắc ninh năm 2022

51 32 0
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Thực trạng kiến thức dự phòng viêm tĩnh mạch sau đặt catheter tĩnh mạch ngoại vi tại bệnh viện đa khoa tỉnh Bắc Ninh năm 2022
Tác giả Cao Sỹ Toản
Người hướng dẫn ThS. Nguyễn Thị Thùy
Trường học Trường Đại học Điều dưỡng Nam Định
Chuyên ngành Điều dưỡng
Thể loại Báo cáo chuyên đề tốt nghiệp
Năm xuất bản 2022
Thành phố Nam Định
Định dạng
Số trang 51
Dung lượng 734,58 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Cấu trúc

  • Chương 1 (0)
    • 1.1. Cơ sở lý luận (13)
      • 1.1.1. Khái niệm về Caheter tĩnh mạch ngoại vi (13)
      • 1.1.2. Khái niệm viêm tĩnh mạch ngoại vi (18)
      • 1.1.3. Tiêu chí đánh giá viêm tĩnh mạch (20)
    • 1.2. Cơ sở thực tiễn (20)
      • 1.2.1. Thực trạng viêm tĩnh mạch sau đặt catheter tĩnh mạch ngoại vi (20)
      • 1.2.2. Vai trò của điều dưỡng trong thực hiện đặt catheter tĩnh mạch ngoại vi và tiêm thuốc qua đường tĩnh mạch (22)
      • 1.2.3. Vai trò của điều dưỡng trong xử trí, theo dõi, chăm sóc người bệnh có đặt (22)
  • Chương 2 (0)
    • 2.1.1. Giới thiệu về bệnh viện đa khoa tỉnh Bắc Ninh (23)
    • 2.1.2. Thực trạng kiến thức dự phòng viêm tĩnh mạch sau đặt catheter tĩnh mạch ngoại (24)
    • 2.2.3. Thông tin chung về đối tượng nghiên cứu (25)
    • 2.2.4. Thực trạng kiến thức dự phòng viêm tĩnh mạch (26)
  • Chương 3 (0)
    • 3.1. Thông tin chung của đối tượng nghiên cứu (34)
  • KẾT LUẬN (40)
  • TÀI LIỆU THAM KHẢO (42)
  • PHỤ LỤC (46)

Nội dung

Microsoft Word CAO SỸ TOẢN BỘ Y TẾ TRƯỜNG ĐẠI HỌC ĐIỀU DƯỠNG NAM ĐỊNH CAO SỸ TOẢN THỰC TRẠNG KIẾN THỨC DỰ PHÒNG VIÊM TĨNH MẠCH SAU ĐẶT CATHETER TĨNH MẠCH NGOẠI VI TẠI BỆNH VIỆN ĐA KHOA TỈNH BẮC NI[.]

Cơ sở lý luận

1.1.1 Khái niệm về Caheter tĩnh mạch ngoại vi

Catheter đặt trong lòng mạch (Intravascular catheter) là ống làm bằng vật liệu tổng hợp, dùng để chẩn đoán và điều trị bệnh nhân Catheter tĩnh mạch ngoại vi, thiết kế gồm hệ thống van một chiều, van hai chiều và ống dẫn bao bọc kim loại bằng ống nhựa, được đưa vào lòng mạch rồi cố định sau khi loại bỏ kim loại Đầu catheter mềm giúp hạn chế tổn thương thành mạch khi người bệnh cử động Thường được đặt trong tĩnh mạch cẳng tay hoặc cánh tay, với chiều dài dưới 8cm.

Kỹ thuật tiêm truyền tĩnh mạch bằng kim catheter tĩnh mạch ngoại vi là phương pháp sử dụng loại kim làm bằng ống nhựa mềm, cho phép luồn vào lòng tĩnh mạch và cố định chắc chắn Kim catheter có thiết kế đầu kim không sắc nhọn, nhằm tránh khả năng xuyên qua thành mạch, đặc biệt trong trường hợp người bệnh giãy giụa Phar phác này phù hợp cho những trường hợp cần tiêm hoặc truyền nhiều lần trong ngày hoặc kéo dài nhiều ngày liên tiếp Sử dụng kim catheter tĩnh mạch ngoại vi giúp khắc phục nhược điểm của kim sắt như gây chệch ven, xuyên mạch và đau đớn trong quá trình truyền.

Kỹ thuật đặt kim catheter tĩnh mạch ngoại vi hiện đang được sử dụng rộng rãi trong các cơ sở điều trị nhờ vào tính tiện ích và hiệu quả cao Phương pháp này giúp giảm thiểu khó khăn trong quá trình thực hiện, đồng thời nâng cao độ chính xác và an toàn cho bệnh nhân Việc áp dụng kỹ thuật này còn giúp các điều dưỡng dễ dàng quản lý và chăm sóc đường truyền dịch, góp phần nâng cao chất lượng dịch vụ y tế Nhờ đó, kỹ thuật đặt kim catheter tĩnh mạch ngoại vi trở thành giải pháp tối ưu trong việc xử lý các tình huống cần truyền dịch hoặc thuốc qua tĩnh mạch.

1.1.1.1 Chỉ định và chống chỉ định [2]

- Các trường hợp người bệnh cần hồi sức cấp cứu: sốc, trụy mạch, suy hô hấp, hôn mê, ngừng tuần hoàn…

- Tiêm, truyền thuốc qua đường tĩnh mạch

- Truyền máu và các chế phẩm của máu

- Trước khi làm thủ thuật, phẫu thuật, các thuốc cản quang…

- Các trường hợp cần nuôi dưỡng tĩnh mạch ngắn ngày

- Vùng tĩnh mạch bị tổn thương, bị nhiễm khuẩn, bầm tím , bỏng …

1.1.1.2 Tai biến và cách xử trí [2]

- Đâm nhầm vào động mạch

Xử trí: Rút ngay kim, băng ép tại điểm đâm kim, theo dõi dấu hiệu chảy máu tại chỗ

- Thoát mạch: do chệch kim, vỡ tĩnh mạch

Trong quá trình xử trí, cần rút kim truyền ngay lập tức để tránh các biến chứng nghiêm trọng Nếu cần thiết, chuyển vị trí truyền sang chi khác để đảm bảo an toàn cho bệnh nhân Theo dõi thường xuyên bằng cách bắt mạch và làm dấu hiệu làm đầy mao mạch để phát hiện kịp thời các vấn đề về tuần hoàn Đồng thời, không quên báo bác sĩ ngay lập tức khi xảy ra bất kỳ sự cố nào liên quan đến quá trình truyền dịch.

- Tụ máu: Do chảy máu vào tổ chức xung quanh hoặc kim xuyên qua mạch máu

Xử trí: Rút kim truyền, Băng ép quanh nơi tụ máu bằng gạc lạnh

- Tuột Catheter: Do cố định không chắc hoặc do người bệnh tự rút truyền

Xử trí: Rút kim truyền

- Viêm tĩnh mạch: Do cục máu đông ở đầu kim Catheter; lưu kim Catheter quá lâu; dịch truyền có độ pH quá cao hoặc quá thấp hoặc dịch ưu trương

Xử trí: Rút kim truyền, chườm ấm, báo bác sĩ, ghi chép tình trạng và những xử trí

Xử trí: Rút kim truyền, chuyển vị trí truyền sang chi khác, báo bác sĩ, theo dõi chăm sóc vị trí nhiễm khuẩn

Nhiễm khuẩn toàn thân thường xuất phát từ việc không tuân thủ nguyên tắc vô khuẩn trong quá trình thực hiện kỹ thuật hoặc chăm sóc vùng truyền dịch kém, đặc biệt ở những bệnh nhân suy giảm miễn dịch hoặc lưu kim catheter quá lâu Ngoài ra, viêm tĩnh mạch kéo dài cũng là nguyên nhân chính gây ra nhiễm trùng toàn thân, ảnh hưởng đến sức khỏe và quá trình điều trị của người bệnh.

+ Báo bác sĩ, dùng thuốc theo chỉ định, nuôi cấy vùng truyền và đầu catheter

+ Theo dõi dấu hiệu sinh tồn và toàn trạng người bệnh

* Một số tai biến khác

- Co thắt tĩnh mạch, kích ứng tại nơi truyền: do truyền dịch/máu lạnh; Kích ứng tĩnh mạch do thuốc hoặc dịch; Tốc độ truyền quá nhanh

Xử trí: Áp miếng gạc ấm lên vùng truyền (Có thể sử dụng máy làm ấm dịch truyền) Giảm tốc độ truyền

- Quá tải tuần hoàn: do tốc độ truyền quá nhanh

+ Cho người bệnh nằm đầu cao 30-45 độ

+ Báo bác sĩ để có hướng xử trí phù hợp

- Dị ứng thuốc: Ngừng truyền, Phối hợp với bác sĩ xử trí sốc phản vệ theo phác đồ nếu có

* Một số tai biến ít gặp

- Tổn thương dây chằng, dây thần kinh: do kỹ thuật chọc không đúng hoặc cố định chặt quá

Xử trí: Ngừng truyền, báo bác sĩ

+ Đặt người bệnh ở tư thế Trendelenburg

+ Báo bác sĩ, Cho người bệnh thở oxy theo chỉ định

+ Ghi chép các xử trí và can thiệp đã làm

1.1.1 3 Lựa chọn vị trí và chăm sóc loại catheter [1]

Việc lựa chọn catheter cần dựa trên mục đích sử dụng và thời gian sử dụng phù hợp Ngoài ra, yếu tố quan trọng là cân nhắc các biến chứng có thể xảy ra như nhiễm khuẩn, viêm mao mạch hoặc rò rỉ dịch, để đảm bảo an toàn cho bệnh nhân Kinh nghiệm của từng cá nhân khi thực hiện đặt catheter cũng là yếu tố quyết định, giúp giảm thiểu rủi ro và nâng cao hiệu quả điều trị.

Trong chăm sóc người lớn, nên ưu tiên sử dụng mạch máu ở chi trên để đảm bảo hiệu quả tối ưu Trong trường hợp cần thiết phải đặt đường truyền tại chi dưới, nên chuyển vị trí đặt từ chi dưới lên chi trên nếu có khả năng thay đổi, giúp tăng cường độ an toàn và hiệu quả điều trị.

- Ở trẻ em, nên ưu tiên chi trên Trong trường hợp không còn nơi khác, có thể đặt ở chi dưới hoặc vùng da đầu lành lặn

- Tránh sử dụng kim bằng thép để truyền dịch và thuốc, do nguy cơ gây hoại tử mô và có thể thấm dịch ra ngoài mạch máu

- Nên sử dụng ống catheter có độ dài trung bình đặt vào mạch máu trung tâm khi thời gian điều trị kéo dài trên 6 ngày

Việc thăm khám hàng ngày bằng quan sát trực tiếp rất quan trọng để phát hiện các dấu hiệu sưng, nóng, đỏ tại vị trí đặt catheter khi sử dụng loại băng keo trong Không nên tháo bỏ bông gạc vô khuẩn che phủ vùng đặt catheter chỉ để kiểm tra nếu không có dấu hiệu nhiễm khuẩn, nhằm giảm nguy cơ nhiễm trùng và đảm bảo an toàn cho bệnh nhân.

- Rút bỏ catheter trong trường hợp có sưng, nóng, đỏ, đau tại vị trí đặt hoặc có những dấu hiệu NKH có liên quan đến đặt catheter

1.1.1.4 Vệ sinh tay và kỹ thuật vô khuẩn [1]

- Phải rửa tay với xà phòng và nước hoặc sát khuẩn tay với dung dịch có chứa cồn trước đụng chạm vào đường truyền

- Phải duy trì kỹ thuật vô khuẩn khi đặt và chăm sóc: đặt catheter, thay ống thông, sửa chữa, bơm thuốc và thay gạc che phủ đường truyền

502 Bad GatewayUnable to reach the origin service The service may be down or it may not be responding to traffic from cloudflared

- Phải sử dụng găng tay vô khuẩn mới trước khi thực hiện đặt đường truyền mới, khi thay ống dẫn mới

- Phải rửa tay sau khi tháo găng kết thúc quy trình đặt catheter

1.1.1.5 Chuẩn bị vùng đặt catheter [1]

- Phải sát khuẩn da với dung dịch cồn 70% hoặc hỗn hợp cồn trong I ốt hoặc cồn trong chlorhexidine trước khi đặt đường truyền mạch máu ngoại biên

502 Bad GatewayUnable to reach the origin service The service may be down or it may not be responding to traffic from cloudflared

- Không nên sử dụng Chlorhexidine cho trẻ < 2 tháng tuổi

- Sau khi sát khuẩn cần phải để khô ít nhất 30 giây trước khi đặt catheter

1.1.1.6 Thay gạc che phủ tại vị trí đặt catheter [1]

502 Bad GatewayUnable to reach the origin service The service may be down or it may not be responding to traffic from cloudflared

- Không sử dụng kháng sinh dạng mỡ hoặc kem để bôi lên vị trí đặt catheter

- Khi tắm không được để vị trí đặt thấm nước, phải che phủ vị trí đặt làm giảm nguy cơ nhiễm khuẩn

Để đảm bảo vệ sinh và phòng ngừa nhiễm khuẩn, cần thay gạc mỗi 2 ngày đối với gạc thông thường và mỗi 7 ngày đối với gạc vô trùng hoặc miếng tẩm Chlórexidine khi đặt catheter có độ dài trung bình Trong trường hợp bệnh nhi, gạc cần thay ngay khi bị tuột, thấm nhiều máu hoặc mất tác dụng che phủ vô trùng, nhằm đảm bảo an toàn và tránh các biến chứng nhiễm trùng.

- Nên sử dụng miếng gạc có tẩm chlorhexidine cho những người lớn và bệnh nhi trên 2 tháng tuổi khi đặt catheter trung tâm

Việc giám sát tình trạng nhiễm khuẩn tại vị trí đặt của đường truyền là rất quan trọng, dựa trên các quy định và tình trạng lâm sàng của người bệnh Nếu người bệnh xuất hiện dấu hiệu sưng, nóng, sốt không rõ nguyên nhân hoặc có các biểu hiện nghi ngờ nhiễm khuẩn tại vị trí đặt hoặc nhiễm khuẩn huyết, cần phải rút bỏ ngay đường truyền để đảm bảo an toàn và phòng ngừa biến chứng nghiêm trọng.

1.1.1.7 Vệ sinh da người bệnh [1]

Nên sử dụng dung dịch chlohexidine 2% dưới dạng xà phòng tắm hoặc dung dịch lau sạch để vệ sinh da hàng ngày, giúp giảm nguy cơ nhiễm khuẩn huyết liên quan đến việc đặt catheter Việc sử dụng chất khử khuẩn này đóng vai trò quan trọng trong việc phòng ngừa nhiễm trùng và đảm bảo an toàn cho bệnh nhân Áp dụng vệ sinh đúng cách với chlohexidine 2% giúp duy trì vệ sinh da tối ưu và giảm thiểu các biến chứng nhiễm trùng trong quá trình chăm sóc y tế.

1.1.1.8 Những loại catheter được thiết kế đặc biệt [1]

- Không cần thiết thay đổi đường truyền thường quy mỗi 72 giờ

Không cần thiết phải thay đổi chỗ nối của hệ thống tiêm truyền mỗi 72 giờ hoặc theo đúng khuyến cáo của nhà sản xuất nhằm giảm thiểu nguy cơ nhiễm khuẩn Việc duy trì chỗ nối cũ giúp hạn chế các xáo trộn không cần thiết, đồng thời đảm bảo an toàn cho người bệnh trong quá trình điều trị Theo các nghiên cứu, việc thay đổi chỗ nối quá thường xuyên không thực sự cần thiết và có thể gây ra các biến chứng không mong muốn Do đó, tuân thủ đúng hướng dẫn của nhà sản xuất và các quy định y tế sẽ giúp giảm thiểu nguy cơ nhiễm khuẩn hiệu quả hơn.

- Cần phải bảo đảm rằng tất cả các thành phần của hệ thống có khả năng làm giảm tối thiểu việc hỏng hoặc vỡ của hệ thống

Cơ sở thực tiễn

1.2.1 Thực trạng viêm tĩnh mạch sau đặt catheter tĩnh mạch ngoại vi

Nghiên cứu của Malach T và cộng sự (2006) cho thấy tỷ lệ viêm tĩnh mạch ở người dùng catheter tĩnh mạch ngoại vi rất khác nhau do sự khác biệt về định nghĩa, thiết kế nghiên cứu, lựa chọn bệnh nhân và thời gian theo dõi [22] Các nghiên cứu của Webster (2015) và Abdul Hak (2014) cũng ghi nhận tỷ lệ viêm tĩnh mạch dao động từ 1,8% đến 60% ở bệnh nhân sử dụng catheter tĩnh mạch ngoại vi [8][33], phản ánh sự đa dạng trong quá trình điều trị và các yếu tố liên quan đến nguy cơ viêm.

Nghiên cứu của Lyda Zoraya (2015) tại Colombia cho thấy tỷ lệ viêm tĩnh mạch là 10,1% ở 198 bệnh nhân trên 18 tuổi được tiếp nhận tại phòng cấp cứu và đã nằm viện từ 6 đến 24 giờ Trong khi đó, nghiên cứu của Denat Y (2016) tại một phòng khám ngoại thần kinh trên 325 bệnh nhân có 347 catheter cho thấy tỷ lệ viêm tĩnh mạch là 17,6%, tất cả đều ở mức độ I và xuất hiện vào ngày thứ 2 sau khi đặt catheter Ngoại ra, nghiên cứu của Tertuliano (2014) tại Brazil với 76 bệnh nhân cho thấy, trong số 24 người bị viêm tĩnh mạch, có 10 người ở mức độ 1, 17 người ở mức độ 2, và 31 người ở mức độ 3, với thời gian lưu catheter trung bình là 49 giờ, dao động từ 3 đến 120 giờ.

Ở Việt Nam, có một số nghiên cứu về các tĩnh mạch ngoại vi, tuy nhiên, các nghiên cứu về tỷ lệ viêm tĩnh mạch do đặt tĩnh mạch ngoại vi còn rất hạn chế, chưa đánh giá rõ ràng bằng thang đo nào phù hợp Các nghiên cứu này chủ yếu có cỡ mẫu nhỏ, khiến kết quả chưa đủ đại diện và đáng tin cậy Một nghiên cứu tiêu biểu của Phạm Lâm Lạc Thư đã góp phần làm sáng tỏ phần nào về vấn đề này, nhưng vẫn cần thêm nhiều nghiên cứu để đưa ra các đánh giá chính xác hơn về tỷ lệ viêm tĩnh mạch sau đặt tĩnh mạch ngoại vi tại Việt Nam.

Trong một nghiên cứu tại Bệnh viện Nhi Đồng 2 TP Hồ Chí Minh năm 2013, tỷ lệ viêm tĩnh mạch ở 58 bệnh nhi lưu catheter tĩnh mạch ngoại vi trong thời gian tối đa là 5,1% Nguyễn Ngọc Rạng và cộng sự cùng năm đã sử dụng một định nghĩa duy nhất để xác định tỷ lệ viêm tĩnh mạch ở hai nhóm bệnh nhân: nhóm thay catheter theo quy định thông thường có tỷ lệ là 11%, còn nhóm thay theo chỉ định lâm sàng có tỷ lệ cao hơn, đạt 20,2%.

Nghiên cứu của Milutinović (2015) và Osti (2017) nhấn mạnh rằng kiến thức của y tá về việc chăm sóc catheter tĩnh mạch ngoại vi và nhận biết sớm các yếu tố nguy cơ có thể giúp giảm các biến chứng viêm tĩnh mạch Da Silva-Oliveira và cộng sự (2016) đề xuất các phương pháp phòng ngừa viêm tĩnh mạch hiệu quả như sử dụng cannulae có cỡ nòng nhỏ hơn, băng trong suốt và kiến thức về dấu hiệu cảnh báo viêm tĩnh mạch, cùng với việc ưu tiên đặt ống thông ngoại vi trong các mạch máu chi trên an toàn hơn, tránh khu vực dễ tổn thương và kiểm soát độ thẩm thấu, pH của thuốc để giảm thiểu viêm tĩnh mạch do hóa chất Martínez-Ortega (2019) chỉ rõ rằng sự hỗ trợ, giám sát nhóm và giảm thao tác kết nối, cùng với việc xử lý các nút chặn hoặc đầu nối bằng rửa tay sát trùng và đeo găng sạch, góp phần giảm thiểu biến chứng Các bước chuẩn bị như vệ sinh da với dung dịch chlorhexidine 2%, sử dụng gạc vô khuẩn, thay đổi hệ thống catheter định kỳ 4–7 ngày, và làm sạch điểm nối bằng chất khử trùng đều giúp hạn chế viêm tĩnh mạch ngoại vi Johann DA cùng cộng sự (2016) khuyên rằng đào tạo chuyên sâu cho điều dưỡng về kỹ thuật đặt, duy trì và loại bỏ catheter là yếu tố then chốt để giảm các biến chứng, trong đó việc lựa chọn catheter 20G tại vùng cẳng tay và theo dõi cẩn thận đường vào tĩnh mạch góp phần tối đa hóa tỷ lệ thành công và giảm nguy cơ viêm tĩnh mạch Ngoài ra, kiến thức của y tá về quản lý PVC và nhận biết các yếu tố nguy cơ sớm cũng rất quan trọng để hạn chế các biến chứng này Trong quá trình đặt catheter tĩnh mạch ngoại vi và tiêm thuốc qua đường tĩnh mạch, điều dưỡng đóng vai trò thiết yếu trong việc thực hiện y lệnh, theo dõi tác dụng thuốc, phát hiện sớm các phản ứng phụ và xử lý tình huống phù hợp, đảm bảo tuân thủ các quy trình kỹ thuật, nguyên tắc vô khuẩn để đảm bảo an toàn cho bệnh nhân.

1.2.3 Vai trò của điều dưỡng trong xử trí, theo dõi, chăm sóc người bệnh có đặt catheter tĩnh mạch ngoại vi

Sau khi thực hiện quy trình kỹ thuật tiêm truyền, điều dưỡng cần theo dõi sát người bệnh để phát hiện sớm các tai biến có thể xảy ra và xử trí kịp thời, đồng thời tuân thủ đúng quy trình kỹ thuật tiêm truyền tĩnh mạch nhằm đảm bảo an toàn và hiệu quả điều trị.

Giới thiệu về bệnh viện đa khoa tỉnh Bắc Ninh

Bệnh viện đa khoa tỉnh Bắc Ninh là tuyến tỉnh hạng I với quy mô lớn gồm 1130 giường kế hoạch và 1500 giường thực kê, đáp ứng nhu cầu chăm sóc sức khỏe địa phương Bệnh viện có đội ngũ ban giám đốc gồm 01 Giám đốc và 03 Phó giám đốc, cùng hệ thống 05 trung tâm chuyên sâu như Giám định Y khoa, Đào tạo và Chỉ đạo tuyến, Tim mạch, Ung bướu, cũng như các Trung tâm Cấp cứu và Vận chuyển 115 Với tổng số 40 khoa/phòng, trong đó có 11 phòng chức năng và 29 khoa liên chuyên môn và dịch vụ xét nghiệm lâm sàng, bệnh viện sở hữu diện tích lên đến 60.000 m2 để phục vụ công tác chăm sóc sức khỏe người dân Bắc Ninh.

Tổng số nhân lực của bệnh viện đạt 1.037 người, trong đó có 272 bác sĩ, 32 dược sĩ, 579 điều dưỡng và kỹ thuật viên, cùng 87 nhân viên khác Nhân lực được phân theo trình độ chuyên môn gồm có 152 người sau đại học, trong đó có 129 bác sĩ, 5 dược sĩ và 18 nhân viên khác, và 413 người có trình độ đại học, bao gồm 143 bác sĩ, 204 điều dưỡng/KTV/NHS, và 17 dược sĩ.

49 khác); Khác: 472 (373 ĐD/KTV/YS/NHS, 10 DS, 89 khác) Cơ cấu chuyên môn: Bác sỹ/ĐD, KTV là 1/2,0, Cơ bản đáp ứng tốt nhiệm vụ được giao

Trang thiết bị phục vụ chẩn đoán: Máy chụp cộng hưởng từ, hệ thống DSA, máy

Hệ thống thiết bị y tế hiện đại gồm có CT 128 lát cắt, máy CT 16 lát cắt giúp chẩn đoán hình ảnh chính xác và nhanh chóng Các loại máy X quang như X quang DR, X quang di động hỗ trợ chẩn đoán linh hoạt và hiệu quả hơn Máy siêu âm tim và siêu âm tổng quát cung cấp hình ảnh chất lượng cao để đánh giá chính xác tình trạng sức khỏe bệnh nhân Hệ thống nội soi chẩn đoán giúp khám bệnh tận nơi, phát hiện các vấn đề nội tạng chính xác Ngoài ra, các máy hóa mô miễn dịch, xét nghiệm sinh hóa, miễn dịch, huyết học và máy điện tim hỗ trợ xét nghiệm và phân tích các chỉ số sinh lý, đảm bảo chẩn đoán toàn diện và chính xác.

Trang thiết bị điều trị tại bệnh viện bao gồm máy gia tốc tuyến tính, kính hiển vi phẫu thuật, máy gây mê kèm thở, máy thở, máy lọc máu liên tục, máy thận nhân tạo, hệ thống ECMO, hệ thống phẫu thuật nội soi cùng các bộ dụng cụ phẫu thuật, monitor và bơm tiêm điện nhằm đảm bảo quá trình điều trị hiệu quả và an toàn Bệnh viện áp dụng phần mềm quản lý bệnh viện (QLBV) mạng toàn bệnh viện, được nâng cấp hiện đại giúp bác sĩ khám bệnh, kê đơn và in đơn trực tiếp trên máy, đồng thời triển khai hồ sơ bệnh án điện tử đơn giản và tiện lợi Hệ thống cũng tự động phân phát số khám bệnh, hỗ trợ thanh toán viện phí không dùng tiền mặt, nâng cao trải nghiệm người bệnh Ngoài ra, bệnh viện liên thông hai chiều báo cáo chẩn đoán hình ảnh giữa PACS và HIS, đảm bảo quản lý dữ liệu chính xác và thống nhất trong toàn bộ quy trình chăm sóc sức khỏe.

Trung tâm Tim mạch Bệnh viện đa khoa tỉnh Bắc Ninh, tọa lạc tại tầng 9 tòa nhà C2, có tổng số 53 nhân viên, trong đó có 11 bác sĩ và 42 điều dưỡng, đã thành lập từ ngày 15/9/2016 trên nền tảng của khoa Nội Tim mạch - Lão học Trung tâm đã triển khai nhiều kỹ thuật tiên tiến như chụp, nong và đặt stent động mạch vành qua da, siêu âm Doppler màu tim, van tim; đặt máy tạo nhịp tạm thời; tiêu sợi huyết cho bệnh nhân nhồi máu não đến sớm Với lưu lượng điều trị khoảng 110 bệnh nhân mỗi ngày, trung tâm tiếp nhận nhiều mặt bệnh khác nhau, và đội ngũ cán bộ nhân viên luôn đoàn kết, vượt qua mọi khó khăn để hoàn thành tốt nhiệm vụ, góp phần tạo dựng niềm tin của người dân đến khám và điều trị.

Thực trạng kiến thức dự phòng viêm tĩnh mạch sau đặt catheter tĩnh mạch ngoại

2.1.2.1 Đối tượng nghiên cứu Điều dưỡng viên tại Trung tâm Tim mạch, bệnh viện đa khoa tỉnh Bắc Ninh năm 2022 2.1.2.2.Tiêu chuẩn chọn mẫu

Toàn bộ điều dưỡng viên đang làm việc tại Trung tâm Tim mạch, bệnh viện đa khoa tỉnh Bắc Ninh

+ Điều dưỡng không có mặt tại khoa làm việc trong ngày tiến hành khảo sát (nghỉ bù, nghỉ pháp, ốm, thai sản…)

+ Điều dưỡng đang học việc

2.1.2 4 Thời gian và địa điểm nghiên cứu

- Từ tháng 5 đến tháng 6 năm 2022

- Thời gian thu thập số liệu: từ ngày 01/6/2022 đến 30 tháng 6 năm 2022 Địa điểm nghiên cứu:

Khoa: Trung tâm Tim mạch, bệnh viện Đa khoa tỉnh Bắc Ninh

Căn cứ vào Quyết định số 3761/QĐ-BYT ngày 27/9/2012 của Bộ trưởng Bộ Y tế về việc “Phê duyệt các hướng dẫn kiểm soát nhiễm khuẩn”

Căn cứ Quy trình kỹ thuật đặt và lưu kim Catheter tĩnh mạch ngoại vi của Bệnh viện Bạch Mai năm 2015

Căn cứ tài liệu tập huấn thường xuyên của bệnh viện đa khoa tỉnh Bắc Ninh về

Chúng tôi đã xây dựng bộ câu hỏi gồm 40 câu nhằm kiểm tra kiến thức về dự phòng viêm tĩnh mạch ngoại vi sau đặt catheter tĩnh mạch ngoại vi Bộ câu hỏi này giúp nâng cao nhận thức và kiến thức cho các nhân viên y tế về các biện pháp phòng ngừa viêm tĩnh mạch ngoại vi, góp phần giảm thiểu các biến chứng sau thủ thuật Đặc biệt, nội dung được biên soạn phù hợp với các tiêu chuẩn y tế hiện hành, đảm bảo tính chính xác và khả năng ứng dụng thực tiễn (Phụ lục 2).

2.1.2.6 Phương pháp thu thập số liệu:

+ Nhóm nghiên cứu tiến hành phát phiếu tự điền để thu thập thông tin chung của Điều dưỡng viên tại Trung tâm (Phụ lục 1)

+ Tiến hành phỏng vấn Điều dưỡng tại khoa theo bộ câu hỏi kiến thức dự phòng viêm tĩnh mạch nhóm nghiên cứu đã xây dựng (Phụ lục 2)

Nghiên cứu kiến thức dự phòng viêm tĩnh mạch của 42 điều dưỡng viên tại Trung tâm Tim mạch, Bệnh viện Đa khoa tỉnh Bắc Ninh đã cho thấy mức độ hiểu biết của nhân viên y tế về các yếu tố nguy cơ, biện pháp phòng ngừa và xử lý khi gặp tình huống liên quan đến viêm tĩnh mạch Kết quả nghiên cứu cho thấy cần tăng cường đào tạo và nâng cao nhận thức của các điều dưỡng viên về dự phòng viêm tĩnh mạch để giảm thiểu các biến chứng và nâng cao chất lượng chăm sóc bệnh nhân Đây là thông tin quan trọng giúp cải thiện công tác phòng ngừa viêm tĩnh mạch trong các cơ sở y tế tại Bắc Ninh.

Thông tin chung về đối tượng nghiên cứu

Bảng 2.1 Phân bố về giới

Giới Tần số (nB) Tỷ lệ ( %)

Nhận xét: Điều dưỡng là nữ chiếm tỷ lệ (73,8%) cao hơn so với nam (26,2%) Tất cả người bệnh tham gia nghiên cứu đều là: dân tộc Kinh

Biểu đồ 1: Đặc điểm về thâm niên công tác (n = 42)

Dưới 5 năm Từ 5 -10 năm Từ 11 - 20 năm Trên 20 năm 14.3%

Tỷ lệ điều dưỡng có thâm niên công tác từ 11-20 năm chiếm tỷ lệ cao nhất, đạt 40.6%, cho thấy họ đóng vai trò quan trọng trong hệ thống y tế Tiếp theo là nhóm điều dưỡng có thâm niên 5-10 năm, chiếm 35.6%, phản ánh sự ổn định và phát triển của ngành điều dưỡng Những điều dưỡng có dưới 5 năm kinh nghiệm chiếm 14.3%, thể hiện sự gia tăng những nhân lực mới gia nhập nghề Trong khi đó, các điều dưỡng có thâm niên trên 20 năm chiếm tỷ lệ thấp nhất, chỉ 9.5%, cho thấy xu hướng trẻ hóa và đào tạo liên tục trong ngành điều dưỡng hiện nay.

Trong biểu đồ trình độ chuyên môn của 42 điều dưỡng, tỷ lệ cao đẳng chiếm đa số với 46%, cho thấy phần lớn nhân viên y tế này có trình độ trung cấp Điều dưỡng đại học đứng thứ hai với tỷ lệ 40%, phản ánh mức độ đào tạo cao hơn và khả năng đáp ứng các yêu cầu chuyên môn cao Trong khi đó, điều dưỡng trung cấp chiếm tỷ lệ 14%, thể hiện phần lớn nhân viên điều dưỡng có trình độ cao đẳng là chủ yếu trong cơ sở y tế này.

Thực trạng kiến thức dự phòng viêm tĩnh mạch

Bảng 2.2 Hỗ trợ từ bệnh viện, đồng nghiệp

Nội dung đánh giá Tần số

Tỷ lệ (%) Tập huấn về Quy trình kỹ thuật đặt catheter tĩnh mạch ngoại vi

Tập huấn về quy trình chăm sóc catheter tĩnh mạch ngoại vi

Sự hỗ trợ, giúp đỡ từ điều dưỡng trong khoa

Sự kiểm tra, giám sát các kỹ thuật chăm sóc tại trung tâm, bệnh viện

Theo Bảng 2.1, 100% điều dưỡng tại trung tâm đã được tập huấn về quy trình đặt và chăm sóc catheter tĩnh mạch ngoại vi, đảm bảo an toàn và hiệu quả trong công tác chăm sóc người bệnh Trung tâm thường xuyên tổ chức hỗ trợ nhau trong công tác chăm sóc, với tỷ lệ 78,6% điều dưỡng tham gia hỗ trợ đồng nghiệp Lãnh đạo trung tâm luôn quan tâm, tạo điều kiện thuận lợi để nhân viên nâng cao kỹ năng và chất lượng dịch vụ y tế.

Cao đẳng 46% Đại học40% bệnh viện cũng quan tâm kiểm tra, giám sát các kỹ thuật chăm sóc người bệnh của điều dưỡng (95,2%)

Bảng 2.3 Kiến thức về catheter tĩnh mạch ngoại vi

Nội dung đánh giá Tần số

Tỷ lệ (%) Catheter tĩnh mạch ngoại vi là phân loại catheter theo vị trí mạch máu Đúng 42 100

Catheter tĩnh mạch ngoại vi: thường được sử dụng để đặt vào mạch máu ở cẳng tay và tay Chiều dài không quá

Vị trí KHÔNG NÊN đặt catheter tĩnh mạch ngoại vi là:

Ngã ba đường mạch máu

Vị trí KHÔNG ưu tiên đặt catheter tĩnh mạch ngoại vi là:

Dựa trên Bảng 2.2, có đến 73,8% điều dưỡng trả lời đúng về vị trí thường được đặt và kích thước phù hợp của catheter tĩnh mạch ngoại vi, trong khi vẫn còn 26,2% trả lời sai Đặc biệt, 97,6% điều dưỡng nhận biết đúng các vị trí không nên đặt catheter tĩnh mạch ngoại vi, cho thấy mức độ nhận thức cao về các vị trí cấm Ngoài ra, 83,6% điều dưỡng đúng về các vị trí không ưu tiên đặt catheter tĩnh mạch ngoại vi, giúp nâng cao kiến thức và thực hành an toàn trong chuyên môn.

Bảng 2.4 Kiến thức về đường lây nhiễm của các tác nhân nhiễm khuẩn

Nội dung đánh giá Tần số

Tỷ lệ (%) Đường lây nhiễm của các tác nhân nhiễm khuẩn vào qua catheter tĩnh mạch ngoại vi (có thể chọn nhiều ý)

Kết quả nghiên cứu trong Bảng 2.3 cho thấy, 100% điều dưỡng nhận biết rằng đường nhiễm khuẩn sau đặt catheter bắt nguồn từ da của người bệnh Ngoài ra, 95,2% cho rằng nguồn lây nhiễm liên quan đến nắp của bơm thuốc, trong khi 88,1% cho rằng máu tụ tại kim là nguyên nhân gây nhiễm khuẩn Bên cạnh đó, 59,5% điều dưỡng nhận định dịch truyền và thuốc là yếu tố góp phần gây nhiễm, còn 23,8% cho rằng môi trường xung quanh là nguồn lây nhiễm chính.

Bảng 2.5 Kiến thức về tai biến sau đặt catheter

Nội dung đánh giá Tần số

Tỷ lệ (%) Dấu hiệu KHÔNG PHẢI tai biến do đặt catheter tĩnh mạch ngoại vi là:

Nhận xét: Bảng 2.4 100% điều đưỡng cho rằng tụ máu, viêm tĩnh mạch là do tai biến sau đặt cathheter tĩnh mạch ngoại vi

Bảng 2.6 Kiến thức về sát khuẩn tại vị trí đặt catheter

Nội dung đánh giá Tần số

Tỷ lệ (%) Trẻ dưới 28 tuần KHÔNG dùng dung dịch sát khuẩn:

Dung dịch nào sau đây không dùng để sát khuẩn vị trí tiêm/truyền tĩnh mạch

Số lần sát khuẩn tại vị trí đặt catheter tĩnh mạch ngoại vi

Sát khuẩn vị trí đặt kim luồn theo hình xoáy ốc bằng cồn 70 0 trước, betadin 10% (cồn I ốt 1%) sau Đúng 2 4,7

Khoảng thời gian giữa các lần sát khuẩn là:

Bảng 2.5 cho thấy, có đến 76,2% điều dưỡng không đồng ý sử dụng Chlorhexidine 4% cho trẻ dưới 28 tuần tuổi Đồng thời, 100% điều dưỡng khẳng định không sử dụng cồn Methanol để sát khuẩn vị trí đặt catheter Hơn nữa, 80,9% điều dưỡng tin rằng cần sát khuẩn vị trí đặt catheter hai lần, trong khi 19,1% cho rằng chỉ cần sát khuẩn một lần Phần lớn điều dưỡng (95,3%) cho rằng nên thực hiện sát khuẩn bằng Betadin 10% (cồn ioots 1%) trước, sau đó mới sát khuẩn bằng cồn 70° Ngoài ra, đa số ý kiến (85,7%) cho rằng cần đợi 30 giây để cồn khô hoàn toàn giữa hai lần sát khuẩn, đảm bảo hiệu quả và an toàn trong quy trình chăm sóc.

Bảng 2.7 Kiến thức về quy trình đặt catheter

Nội dung đánh giá Tần số

Số lần đặt kim luồn tối đa được khuyến cáo trong quy trình đặt kim luồn là:

Cho đến khi được thì thôi

Cần mang gang vô khuẩn khi đặt catheter tĩnh mạch ngoại vi có nguy cơ phơi nhiễm với máu Đúng 2 4,7

Sau khi rút thông nòng đẩy phần thân kim ngập hết lòng tĩnh mạch Đúng 11 26,2

Nối ba chạc hoặc (dây nối) vào đốc kim catheter, bơm một lượng nhỏ dung dịch

Natriclorid 9%o (1ml) để xác định chắc chắn kim vào đúng vị trí Đúng 34 80,9

Vị trí đặt Catheter tĩnh mạch ngoại vi phải được che phủ bằng gạc vô khuẩn

(gạc dạng bán thấm, gạc trong suốt) Đúng 42 100

Phải duy trì kỹ thuật vô khuẩn khi đặt và chăm sóc catheter và đường truyền Đúng 42 100

Phân tích từ Bảng 2.6 cho thấy, 88,1% điều dưỡng tin rằng nên đặt kim luồn tối đa tại một vị trí là 2 lần, trong khi 11,9% cho phép đặt đến khi nào đạt được kết quả mong muốn Đặc biệt, có đến 95,3% ý kiến cho rằng không cần thiết mang găng vô khuẩn khi đặt catheter tĩnh mạch ngoại vi có nguy cơ phơi nhiễm máu, phù hợp với quy trình bảo vệ vô khuẩn Tuy nhiên, chỉ 26,2% điều dưỡng thực hiện đúng quy trình đã khuyến cáo, đó là không tiếp tục đẩy phần thân kim trong lòng tĩnh mạch sau khi rút thông nòng Hơn nữa, 80,9% cho biết cần bơm 1ml dung dịch NatriClorid 0,9% để xác định chính xác vị trí kim trong lòng mạch, đảm bảo an toàn cho bệnh nhân Cuối cùng, 100% điều dưỡng khẳng định sử dụng gạc vô khuẩn để che phủ vị trí đặt catheter và duy trì vô khuẩn trong quá trình chăm sóc catheter tĩnh mạch ngoại vi, góp phần giảm thiểu nguy cơ nhiễm khuẩn.

Bảng 2.8 Kiến thức về chăm sóc catheter tĩnh mạch ngoại vi

Nội dung đánh giá Tần số

Tỷ lệ (%) Chăm sóc kim catheter mỗi 8 giờ - 12h/ lần hoặc tùy theo tình trạng thực tế Đúng 34 80,9

Sai 8 19,1 Điều dưỡng rửa tay (sát khuẩn tay) trước khi đặt và chăm sóc kim catheter Đúng 42 100

Nên sử dụng kháng sinh dạng mỡ hoặc kem để bôi lên vị trí đặt catheter nhằm giảm nguy cơ nhiễm khuẩn Đúng 2 4,8

Cần thay gạc tại vị trí đặt mỗi 2 ngày với gạc thông thường và mỗi 7 ngày với gạc trong suốt vô trùng Đúng 35 83,3

Trước khi thực hiện y lệnh thuốc, cần sát khuẩn đầu nút kim catheter bằng cồn 70 độ và để khô trong vòng 30 giây để đảm bảo vệ sinh an toàn Sau đó, sử dụng gạc vô khuẩn để tháo đầu nút kim một cách chính xác theo quy trình nhằm giảm thiểu nguy cơ nhiễm trùng và đảm bảo an toàn cho người bệnh.

Loại dung dịch dùng để kiểm tra sự lưu thông của kim luồn trước khi thực hiện y lệnh thuốc Đường Glucose

Dung dịch nào cũng được

Kiểm tra sự lưu thông của catheter tĩnh mạch ngoại vi bằng cách: Tháo đầu nút kim và lắp bơm tiêm có 2 -3ml Natriclorid 9%o vào đốc kim

Mở khóa, hút ngược lại nhẹ nhàng và kiểm tra xem máu có trào ngược lại không

(Nếu có cục máu đông trào ra thì bỏ bơm tiêm đi); nếu máu trào ra thì tiếp tục:

Bơm dung dịch Natriclorid 9%o chậm vào tĩnh mạch và quan sát vị trí mũi kim và người bệnh trong quá trình bơm Đúng

Các đường truyền không phải là máu hay sản phẩm của máu và không cần thay thường quy trước 96 giờ Việc thay thế hoặc gắn thêm thiết bị trên đường truyền nên thực hiện đúng thời gian, không quá 7 ngày để đảm bảo an toàn và hạn chế nguy cơ nhiễm khuẩn.

Dây truyền máu, sản phẩm của máu, mỡ không để quá 24 giờ Đúng 42 100

Thay đầu nút kim catheter/ba chạc mới ngay sau khi bơm thuốc hoặc dịch truyền Đúng 34 80.9

Nên thay catheter tĩnh mạch ngoại vi thường xuyên sau

Theo khảo sát tại Bảng 2.7, có đến 80,9% điều dưỡng cho rằng cần chăm sóc catheter sau 8-12 giờ tùy theo tình hình thực tế, trong đó 100% điều dưỡng thực hiện rửa tay hoặc sát khuẩn tay nhanh khi chăm sóc catheter Tuy nhiên, vẫn còn 19,1% cho rằng không cần thiết phải làm vậy Đa số điều dưỡng (95,2%) không nên bôi mỡ kháng sinh tại vị trí đặt catheter, nhưng vẫn còn 4,8% tin rằng việc bôi mỡ có thể giúp tránh viêm nhiễm Về việc thay gạc vô khuẩn, 83,3% điều dưỡng cho rằng cần thay sau mỗi 2 ngày với gạc thường và 7 ngày với gạc trong suốt, trong khi 16,7% không cho rằng cần thay gạc định kỳ Trong công tác kiểm tra lưu thông của kim luồn, 92,8% sử dụng cồn sát khuẩn trước khi tiêm thuốc, còn 16,2% thực hiện không cần sát khuẩn Để kiểm tra trạng thái lưu thông, đa số (95,2%) sử dụng NaCl 0.9% theo đúng hướng dẫn quy trình, chỉ có 4,8% chưa thực hiện đúng quy trình Khi thay thế đường truyền dịch, 85,7% điều dưỡng đúng về các loại dịch (không là máu hoặc sản phẩm của máu), trong khi 14,3% còn sai sót Tất cả điều dưỡng đều đúng về thay thế đường truyền máu và các sản phẩm của máu Về việc thay đầu kim/khóa ba chạc sau tiêm truyền, 80,9% trả lời đúng, còn 19,1% sai Cuối cùng, 76,2% điều dưỡng cho rằng nên thay catheter định kỳ từ 48-72 giờ, trong khi đó 16,6% đề xuất 24-48 giờ, và 7,2% thực hiện khi cần thiết theo tình hình thực tế.

Bảng 2.9 Kiến thức về đánh giá và xử trí viêm tĩnh mạch ngoại vi

Nội dung đánh giá Tần số

Tỷ lệ (%) Phương pháp anh/ chị dùng để đánh giá tình trạng viêm tĩnh mạch trên người bệnh

Thang đo tình trạng viêm tĩnh mạch mà anh/chị sử dụng

INS Phlebitis Scale 3 75 Visual Infusion

Nên mở gạc phủ vị trí đặt catheter để đánh giá tình trạng viêm tĩnh mạch Đúng 29 69

Dấu hiệu của viêm tĩnh mạch ngoại vi Tắc kim 2 4,8

Chảy dịch tại vị trí đặt kim

Sưng, đỏ, đau tại vị trí đặt kim

Tiến hành nóng xen kẽ chườm lạnh tại chỗ cho người bệnh khi có dấu hiệu sưng, đỏ tại vị rí đặt catheter tĩnh mạch ngoại vi Đúng 38 90,5

Catheter tĩnh mạch ngoại vi được rút khi

Nb có biểu hiện đau sưng đỏ tại vị trí đặt và khi không cần thiết phải duy trì đường truyền Đúng

Anh/ chị có ghi lại các thông tin: điều dưỡng đặt catheter, giờ đặt, ngày đặt, tình trạng vị trí đặt catheter hàng ngày

Anh/ chị có tư vấn cho người bệnh về việc phát hiện sớm các dấu hiệu của viêm tĩnh mạch

Dựa trên khảo sát, phần lớn điều dưỡng đánh giá tình trạng viêm tĩnh mạch chủ yếu thông qua quan sát (71,4%), trong khi một số dựa vào kinh nghiệm (19,1%) và sử dụng thang đo tiêu chuẩn như thang INS Phlebitis Scale (9,5%) Đề xuất mở gạc tại vị trí đặt catheter để kiểm tra được một số điều dưỡng (69%) đồng thuận, và dấu hiệu nhận biết viêm tĩnh mạch phổ biến gồm sưng, đỏ, đau tại vị trí đặt kim (83,3%) Hơn 90% điều dưỡng cho rằng nên chườm nóng xen kẽ chườm lạnh khi phát hiện viêm tĩnh mạch, và tất cả đều rút catheter khi xuất hiện dấu hiệu sưng, đỏ tại vị trí đặt kim Tuy nhiên, vẫn còn 42,8% điều dưỡng ghi lại các thông tin về chăm sóc catheter hàng ngày, trong khi 57,2% chưa thực hiện ghi chép này Ngoài ra, chỉ khoảng 35,7% điều dưỡng tư vấn cho người bệnh về các dấu hiệu sớm của viêm tĩnh mạch, còn phần lớn (63,4%) chưa triển khai hoạt động này.

Thông tin chung của đối tượng nghiên cứu

Kết quả nghiên cứu cho thấy tỷ lệ điều dưỡng nữ chiếm đa số (73,8%), cao hơn so với nam (26,2%), phù hợp với đặc thù công việc đòi hỏi sự tận tình, chu đáo, và kiên nhẫn trong ngành điều dưỡng Nghiên cứu của Nguyễn Thị Thanh Vân (2013) tại Bệnh viện Thăng Long cũng xác nhận tỷ lệ điều dưỡng nữ chiếm đến 79,8%, trong khi nghiên cứu của Salgueiro-Oliveira ghi nhận phần lớn điều dưỡng tham gia là nữ (72%) Điều này phản ánh tính chất công việc của nghề điều dưỡng, yêu cầu sự sát sao và ân cần trong chăm sóc bệnh nhân.

Biểu đồ 1 cho thấy tỷ lệ điều dưỡng có thâm niên công tác từ 11-20 năm chiếm tỷ lệ cao nhất, chiếm đến 40,6%, cho thấy đa số điều dưỡng có kinh nghiệm làm việc lâu dài Tiếp theo là nhóm điều dưỡng có thâm niên từ 5-10 năm, chiếm 35,6%, phản ánh sự phân bổ nhân lực đều giữa các mức kinh nghiệm trong ngành điều dưỡng.

Trong trung tâm Tim mạch, tỷ lệ điều dưỡng công tác trên 20 năm chỉ chiếm 9.5%, cho thấy phần lớn nhân viên còn trẻ và có kinh nghiệm làm việc Trong khi đó, điều dưỡng có từ 5 năm công tác trở lên chiếm 14.3%, phản ánh sự phát triển và phần lớn đội ngũ điều dưỡng tại trung tâm còn trẻ trung, năng động Kết quả này thể hiện rằng nhân sự điều dưỡng tại trung tâm đều có thời gian công tác phù hợp, góp phần nâng cao chất lượng dịch vụ y tế.

Điều dưỡng trình độ cao đẳng chiếm tỷ lệ cao nhất với 46%, tiếp theo là điều dưỡng đại học chiếm 40%, trong khi điều dưỡng trung cấp chiếm 14%, phù hợp với quy định của Bộ Y tế về chuẩn hóa trình độ điều dưỡng hạng IV đến năm 2022 Điều này cho thấy trình độ của điều dưỡng viên ngày càng nâng cao, có khả năng tiếp cận và hội nhập quốc tế một cách thuận lợi.

3.2 Thực trạng kiến thức về dự phòng viêm tĩnh mạch

Kết quả nghiên cứu cho thấy, 100% điều dưỡng tại trung tâm đã được tập huấn về quy trình đặt và chăm sóc catheter tĩnh mạch ngoại vi, đồng thời 78,6% điều dưỡng nhận được sự hỗ trợ thường xuyên từ đồng nghiệp Lãnh đạo trung tâm và bệnh viện tích cực kiểm tra, giám sát kỹ thuật chăm sóc người bệnh của điều dưỡng, đạt tỷ lệ 95,2% Nghiên cứu của Da Silva-Oliveira và cộng sự (2016) chỉ ra rằng, các hoạt động giáo dục và giám sát nhóm đào tạo có thể giảm đến 50% trường hợp viêm tĩnh mạch ngoại vi Kết quả của nghiên cứu chúng tôi cho thấy, điều dưỡng tại trung tâm đáp ứng tốt các yêu cầu phòng ngừa, từ đó hạn chế tỷ lệ viêm tĩnh mạch của người bệnh sau đặt catheter.

Các điều dưỡng hiểu rõ vị trí đặt catheter thường là ở cẳng tay và ưu tiên chọn kích thước phù hợp, tránh đặt tại các nếp gấp hoặc hố khuỷu để giảm nguy cơ viêm tĩnh mạch Nghiên cứu của Torres-Muủoz (2018) nhấn mạnh việc lựa chọn catheter dựa trên mục tiêu và thời gian sử dụng, với việc sử dụng ống nhỏ gọn và ngắn để giảm tổn thương mô và nguy cơ thoát mạch Theo Gorski L (2017), việc chọn catheter nhỏ hơn giúp ngăn ngừa viêm tĩnh mạch, giảm tiếp xúc giữa ống thông và thành tĩnh mạch, từ đó giảm thiểu tổn thương mạch máu Nghiên cứu của Santamaría-Olmo (2017) cũng xác nhận mối liên hệ giữa catheter lớn và nguy cơ viêm tĩnh mạch tăng cao Uslusoy E, Mete S (2008) chỉ ra rằng đặt catheter quanh khuỷu tay có thể làm tăng nguy cơ viêm tĩnh mạch Abolfotouh MA (2016) phát hiện rằng đặt catheter ở cẳng tay hoặc cánh tay có mức nguy cơ viêm tĩnh mạch cao hơn so với bàn tay hoặc cổ tay, còn phân tích của Salgueiro-Oliveira A (2013) cho thấy nguy cơ viêm tĩnh mạch giảm đáng kể khi đặt catheter ở chi trên Hiệp hội thống kê cũng cho thấy các vị trí khác như mu bàn tay hoặc hố khuỷu có mức độ viêm tĩnh mạch khác nhau, khuyến khích đặt catheter ngoại vi ở mạch máu chi trên để đảm bảo an toàn hơn Điều dưỡng tại trung tâm đã nắm vững kiến thức về vị trí và kích thước catheter nhằm hạn chế biến chứng viêm tĩnh mạch Về nguồn nhiễm khuẩn, 100% điều dưỡng nhận thức rằng vi khuẩn chủ yếu đến từ da bệnh nhân, trong khi 95,2% cho rằng từ nắp bơm thuốc, 88,1% từ máu tụ tại kim, 59,5% từ dịch truyền và thuốc, còn 23,8% cho rằng từ môi trường Nghiên cứu của Rossini FP (2017) cho thấy 40% vòi hoặc đầu nối catheter bị nhiễm khuẩn từ bên ngoài hoặc bên trong bởi vi sinh vật kháng thuốc, ảnh hưởng đến các bề mặt như ngoài và lumen của catheter, làm tăng nguy cơ viêm tĩnh mạch và nhiễm trùng máu Nhận thức đúng về nguồn nhiễm khuẩn giúp điều dưỡng trong quá trình phòng ngừa hiệu quả các biến chứng này.

Gần 80% điều dưỡng nhận biết rõ loại dung dịch sát khuẩn trước khi đặt catheter và đều thực hiện vệ sinh hai lần, mỗi lần cách nhau 30 giây Nghiên cứu của Torres-Muủoz (2018) và Osti (2019) cho thấy việc lựa chọn dung dịch sát khuẩn phù hợp và tuân thủ quy trình sát khuẩn hai lần có ý nghĩa quan trọng trong việc giảm tỷ lệ viêm tĩnh mạch.

Theo Bảng 2.7, có 88,1% điều dưỡng cho rằng chỉ đặt kim luồn tối đa tại một vị trí là 2 lần, trong khi 11,9% cho rằng có thể đặt lại đến khi nào thành công Tuy nhiên, ít điều dưỡng tuân thủ đúng quy trình, đó là sau khi rút thông nòng không được tiếp tục đẩy phần thân kim vào lòng tĩnh mạch 100% điều dưỡng khẳng định cần sử dụng gạc vô khuẩn để che phủ vị trí đặt catheter và duy trì vô khuẩn trong quá trình đặt và chăm sóc catheter tĩnh mạch ngoại vi Theo nghiên cứu của Johann DA (2016), các catheter đặt thành công sau lần thứ ba có nguy cơ viêm tĩnh mạch gấp 6 lần so với chỉ đặt thành công lần đầu.

Nghiên cứu của Milutinović, D (2015) chỉ ra rằng việc không tuân thủ sử dụng băng vô trùng để bảo vệ vị trí đặt catheter là một sai lệch trong thực hành điều dưỡng, trái với các khuyến nghị về phòng ngừa viêm tĩnh mạch và nhiễm trùng Mục đích của băng là bảo vệ vị trí đặt catheter khỏi bụi bẩn, ẩm ướt và vi sinh vật bên ngoài, đồng thời giảm thiểu sự di chuyển của ống thông trong lòng mạch, ngăn ngừa dịch chuyển và giảm nguy cơ tổn thương mạch máu ngoại vi Mặc dù điều dưỡng đã nắm rõ quy trình sát khuẩn và đặt catheter tĩnh mạch ngoại vi đúng theo hướng dẫn của Bộ Y tế, kỹ thuật đặt và rút thông còn nhiều điểm chưa chuẩn xác, dẫn đến nguy cơ gây tổn thương mạch máu ngoại vi và là nguyên nhân tiềm ẩn gây viêm tĩnh mạch.

Bảng 2.8 cho thấy: 80,9% điều dưỡng cho rằng cần phải chăm sóc catheter sau 8-

Trong quá trình chăm sóc đường truyền, hầu hết điều dưỡng đều tuân thủ các quy trình an toàn, như rửa tay hoặc sát khuẩn nhanh trước khi tiếp xúc với catheter, với tỷ lệ 100% Tuy nhiên vẫn còn 19,1% cho rằng không cần thiết thực hiện bước này tùy theo tình hình thực tế Đa số điều dưỡng (95,2%) không khuyến khích bôi mỡ kháng sinh tại vị trí đặt catheter để phòng tránh viêm nhiễm, trong khi một số ý kiến vẫn cho rằng việc này có thể giúp tránh nhiễm trùng Việc thay gạc vô khuẩn sau mỗi 2 ngày đối với gạc thường và 7 ngày với gạc trong suốt được nhiều điều dưỡng (83,3%) ủng hộ, còn 16,7% cho rằng không cần phải thay gạc Hơn 92,8% điều dưỡng dùng cồn sát khuẩn tại vị trí đầu kim trước khi tiêm thuốc, nhưng vẫn còn một số (16,2%) thực hiện mà không sát khuẩn Trong kiểm tra lưu thông kim, phần lớn điều dưỡng (95,2%) thực hiện đúng quy trình bằng cách dùng NaCl 0.9%, còn 7,1% sẵn sàng sử dụng bất kỳ dung dịch nào Về thay thế đường truyền, 85,7% điều dưỡng trả lời đúng quy trình khi thay các loại dịch không liên quan đến máu, trong khi tất cả đều đúng về quy trình thay máu và các sản phẩm của máu Đối với việc thay đầu kim hoặc khóa ba chạc sau tiêm truyền, tỷ lệ điều dưỡng đúng quy trình đạt 80,9%, còn lại 19,1% cho rằng sai Về thời gian thay catheter định kỳ, 76,2% đề xuất thay từ 48-72 giờ, 16,6% từ 24-48 giờ và 7,2% thay khi cần thiết, phản ánh sự tuân thủ quy trình và kiến thức về chăm sóc đường truyền.

Theo Wei, T (2019) cho thấy rằng khi thời gian tồn tại của catheter tăng lên đến

Trong vòng 24 giờ, nguy cơ viêm tĩnh mạch có thể xảy ra với tỷ lệ chênh lệch là 1,05[33] Martínez-Ortega (2019) nhấn mạnh rằng việc thay đổi hệ thống quản lý và kết nối mỗi 4-7 ngày giúp giảm nguy cơ lây nhiễm Đồng thời, việc làm sạch cổng truy cập bằng chất khử trùng, chẳng hạn như chlorhexidine cồn, là biện pháp hiệu quả trong việc phòng ngừa viêm tĩnh mạch liên quan đến điều trị truyền dịch.

Việc loại bỏ các PVC không cần thiết là rất quan trọng trong phòng ngừa viêm tĩnh mạch, đặc biệt khi thời gian đặt catheter vượt quá 72 giờ, tăng nguy cơ phát triển viêm tĩnh mạch lên gấp 2,43 lần (p = 0,0085) Nghiên cứu của Roca GM (2012) cũng xác định rằng 28% các catheter có nguy cơ viêm tĩnh mạch từ ngày thứ tư đến thứ năm sau khi đặt (p = 0.03) Sát khuẩn tay hợp vệ sinh thể hiện hiệu quả kháng khuẩn vượt trội so với rửa tay thông thường, nên được thực hiện trước và sau các hoạt động chăm sóc bệnh nhân để giảm tỷ lệ nhiễm trùng, đặc biệt khi tay có nhiều chất bẩn Tuy nhiên, tỷ lệ tuân thủ quy trình khử trùng tay vẫn còn thấp, do da bị kích ứng bởi nước, xà phòng và tắc da lâu ngày; các biện pháp nâng cao ý thức bao gồm đào tạo, cung cấp dịch vụ xoa tay khi cần thiết và gương mẫu từ các bác sĩ Sử dụng chất xoa tay chứa cồn đúng mục đích có thể giảm đến 40% tỷ lệ nhiễm trùng bệnh viện Ngoài ra, Eghbali-Babadi (2015) đề cập rằng rửa PVC bằng nước muối thông thường giúp ngăn tích tụ vi khuẩn, protein và tiểu cầu trong huyết tương, từ đó giảm thiểu viêm tĩnh mạch và nguy cơ nhiễm khuẩn.

Trong 1 nghiên cứu của Ray-Barruel, G (2018) trên 88 người bệnh có catheter tĩnh mạch ngoại vi được nhận vào các đơn vị chăm sóc tim ở các bệnh viện được chọn của Đại học Khoa học Y tế Isfahan, Iran, đã được chọn thông qua phương pháp lấy mẫu thuận tiện Họ được chia ngẫu nhiên thành hai nhóm can thiệp và nhóm chứng bằng cách sử dụng bảng số ngẫu nhiên Nhóm can thiệp được uống 3 ml nước muối sinh lý 0,9% khử trùng thông thường trước và sau mỗi lần tiêm tĩnh mạch hoặc sau mỗi 12 giờ

Kết quả nghiên cứu cho thấy có sự khác biệt có ý nghĩa thống kê giữa hai nhóm về mức độ viêm tĩnh mạch (P = 0,003), với tỷ lệ mắc viêm tĩnh mạch ở nhóm chứng là 88,6% và nhóm can thiệp là 43,2% Tỷ lệ viêm tĩnh mạch ở cả hai nhóm đều tăng khi thời gian đặt catheter kéo dài, theo nghiên cứu của Torres-Muủoz (2018), việc thay băng vết thương đúng cách, giữ vết thương khô ráo và cố định chặt chẽ vị trí catheter giúp giảm nguy cơ viêm tĩnh mạch Cố định chắc chắn vị trí catheter cũng góp phần giảm tỷ lệ viêm tĩnh mạch và tắc mạch, như đã được Bugden (2016) đề cập Mặc dù điều dưỡng tại trung tâm đã nắm vững quy trình chăm sóc catheter, vẫn còn khoảng 10% trong số họ có kiến thức chưa đúng, nguyên nhân tiềm năng gây ra viêm tĩnh mạch tại trung tâm.

Phần lớn điều dưỡng tại trung tâm chủ yếu dựa vào quan sát (71,4%) để đánh giá tình trạng viêm tĩnh mạch, trong khi 19,1% dựa vào kinh nghiệm và chỉ 9,5% sử dụng thang đo tiêu chuẩn như Thang điểm viêm tĩnh mạch của INS Phlebitis Scale Các dấu hiệu viêm tĩnh mạch phổ biến được nhận diện là sưng, đỏ và đau tại vị trí đặt kim, được xác nhận bởi 83,3% điều dưỡng, và đa số (90,5%) ủng hộ chườm nóng xen kẽ chườm lạnh tại vị trí viêm để giảm triệu chứng Mặc dù 100% điều dưỡng đều rút catheter khi có dấu hiệu sưng, đỏ, chỉ 42,8% ghi lại các thông tin chăm sóc catheter hàng ngày, trong khi 57,2% chưa thực hiện việc này Ngoài ra, 35,7% điều dưỡng đã tư vấn cho bệnh nhân về việc phát hiện sớm các dấu hiệu viêm tĩnh mạch, còn phần lớn (63,4%) chưa thực hiện tư vấn này Theo Salgueiro-Oliveira (2019), việc quan sát và ghi nhận các dấu hiệu viêm tĩnh mạch theo các thang đo chuẩn hóa như của Hiệp hội Y tá Truyền dịch hoặc Thang điểm viêm tĩnh mạch của Bồ Đào Nha giúp hỗ trợ quyết định điều trị, hạn chế tiến triển của bệnh Braga LM (2018) nhấn mạnh tầm quan trọng của việc nhận biết sớm các dấu hiệu như đau, qua đó tăng cường sự tham gia của bệnh nhân trong quá trình chăm sóc, lựa chọn vị trí và loại ống thông phù hợp nhằm phòng ngừa viêm tĩnh mạch và các biến chứng liên quan.

Ngày đăng: 09/02/2023, 15:51

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
3. Cao Thị Hồng Hà (2018), Nghiên cứu tỷ lệ viêm tĩnh mạch ngoại vi sau đặt catheter tĩnh mạch ngoại vi và một số yếu tố liên quan tại bệnh viện Phổi trung ương năm 2018, Luận văn Thạc sĩ điều dưỡng, Trường Đại học Điều dưỡng Nam Định Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghiên cứu tỷ lệ viêm tĩnh mạch ngoại vi sau đặt catheter tĩnh mạch ngoại vi và một số yếu tố liên quan tại bệnh viện Phổi trung ương năm 2018
Tác giả: Cao Thị Hồng Hà
Nhà XB: Trường Đại học Điều dưỡng Nam Định
Năm: 2018
6. Nguyễn Ngọc Rạng và các cộng sự (2014). Có nên thay kim luồn tĩnh mạch ngoại biên mỗi 72 giờ, Tạp chí điều dưỡng Việt Nam, 6, 101- 105 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Có nên thay kim luồn tĩnh mạch ngoại biên mỗi 72 giờ
Tác giả: Nguyễn Ngọc Rạng, các cộng sự
Nhà XB: Tạp chí điều dưỡng Việt Nam
Năm: 2014
9. Annisa, F.; Nurhaeni, N.; Wanda, D. Warm Water “Compress as an Alternative for Decreasing the Degree of Phlebitis”. Compr. Child Sách, tạp chí
Tiêu đề: Warm Water “Compress as an Alternative for Decreasing the Degree of Phlebitis”
Tác giả: Annisa, F., Nurhaeni, N., Wanda, D
17. Jordan, Z.; Lockwood, C.; Munn, Z.; Aromataris, E. The update Joanna Briggs Institute Model of Evidence Based Healthcare. Int.J. Evid. Based Healthc. 2019, 17, 58–71. [CrossRef] Sách, tạp chí
Tiêu đề: The update Joanna Briggs Institute Model of Evidence Based Healthcare
Tác giả: Jordan, Z., Lockwood, C., Munn, Z., Aromataris, E
Nhà XB: Int.J. Evid. Based Healthc.
Năm: 2019
28. Santamarớa-Olmo, R. Programa de habilidades en Lectura Crớtica Espaủol (CASPe). Nefroplus 2017, 9, 100–101 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Programa de habilidades en Lectura Crítica en Español (CASPe)
Tác giả: Santamarớa-Olmo, R
Nhà XB: Nefroplus
Năm: 2017
30. Torres-Muủoz, R.; Marớn-Navarro, L.; Gallego-Sỏnchez, J.C. Cuidados de Enfermería en los Accesos Vasculares. Guía De recomendaciones. Complejo Hospitalario Universitario de Badajoz. Área de Salud de Badajoz. 2018.Availableonline:https://www.areasaludbadajoz.com/Calidad_y_Seguridad_2016/Cuidados_enfermeria_accesos_vasculares.pdf(accessed on 12December 2020) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Cuidados de Enfermería en los Accesos Vasculares. Guía De recomendaciones
Tác giả: Torres-Muủoz, R., Marớn-Navarro, L., Gallego-Sỏnchez, J.C
Nhà XB: Complejo Hospitalario Universitario de Badajoz
Năm: 2018
31. Torres-Muủoz, R.; Marớn-Navarro, L.; Gallego-Sỏnchez, J.C. Cuidados de Enfermería en los Accesos Vasculares. Guía De recomendaciones. Complejo Hospitalario Universitario de Badajoz. Área de Salud de Badajoz. 2018. Available online:https://www.areasaludbadajoz.com/Calidad_y_Seguridad_2016/Cuidados_enfermeria_accesos_vasculares.pdf Sách, tạp chí
Tiêu đề: Cuidados de Enfermería en los Accesos Vasculares. Guía De recomendaciones
Tác giả: Torres-Muủoz, R., Marớn-Navarro, L., Gallego-Sỏnchez, J.C
Nhà XB: Complejo Hospitalario Universitario de Badajoz
Năm: 2018
10. Bugden, S.; Shean, K.; Scott, M.; Mihala, G.; Clark, S.; Johnstone, C.; Fraser, J.F.; Rickard, C.M. Skin Glue Reduces the Failure Rate of Emergency Department-Inserted Peripheral Intravenous Catheters. A Randomized Controlled Trial. Ann. Emerg. Med.2016 , 68, 196–201. [CrossRef] Adolesc. Nurs. 2017, 40 (Suppl. 1), 107–113.[CrossRef] Link
13. Eghbali-Babadi, M.; Ghadiriyan, R.; Hosseini, S.M. The effect of saline lock on phlebitis rates of patients in cardiac care units. Iran. J. Nurs. Midwifery Res. 2015, 20, 496–501. [CrossRef] Link
14. Gorski L, Hadaway L, Hagle ME, McGoldrick M, Orr M, Doellman D. Infusion therapy standards of practice. J Infus Nurs [Internet]. 2016 Jan/Feb [cited, 2017 Aug 02];39(1S):S1-160. Available from: Available from: ằ http://source.yiboshi.com/20170417/1492425631944540325.pdf Link
16. Johann DA, Danski MTR, Vayego SA, Barbosa DA, Lind J. Risk factors for complications in peripheral intravenous catheters in adults: secondary analysis of a randomized controlled trial. Rev. Latino-Am. Enfermagem. 2016 Nov 28;24:e2833. doi:10.1590/1518-8345.1457.2833 Link
18. Kampf G, Lửffler H. Hand disinfection in hospitals - benefits and risks. J Dtsch Dermatol Ges [Internet]. 2010Dec [cited 2017 Apr 03];8(12):978-83. Available from:Available from: https://www.ncbi.nlm.nih.gov/pubmed/20812991ằ https://www.ncbi.nlm.nih.gov/pubmed/20812991 Link
26. Roca GM, Bertolo Cb, Lopez PT, Samaranch GG, Ramirez MCA, Buqueras JC, et al. Assessing the influence of risk factors on rates and dynamics of peripheral vein phlebitis: an observational cohort study. Med Clin. (Barc). [Internet]. 2012 [Access Jun 16 2016];139(5):185-91.Available from: http://www.ncbi.nlm.nih.gov/pubmed/22538061 Link
32. Uslusoy E, Mete S. Predisposing factors to phlebitis in patients with peripheral intravenous catheters: a descriptive study. J Am Acad Nurse Pract [Internet]. 2008Apr [cited 2017 Apr 03]; 20(4):172-80.Available from: ằ https://dx.doi.org/10.1111/j.1745-7599.2008.00305.x Link
4. Đoàn Doãn Thị Bích Vân (2014). Thực trạng đường truyền tĩnh mạch ngoại vi có sử dụng chạc ba tại bệnh viện Hữu nghị Việt Đức tháng 10 năm 2014 Khác
5. Lê Hữu Thìn, Hoàng Thị Trang, Cao Thị Hồng Hà (2014) Đánh giá tình trạng viêm tĩnh mạch sau đặt kim luôn bằng trang điểm Baxter tại khoa Hồi sức tích cực, bệnh viện Phổi Trung ương năm 2013. Tạp chí điều dưỡng Việt Nam ,7,11 – 16 Khác
7. Phạm Lâm Lạc Thư (2012). Khảo sát tỷ lệ nhiễm khuẩn và thời gian lưu kim luồn trên bệnh nhi tại khoa ngoại thần kinh bệnh viện Nhi đồng 2 năm 2011, Y học thành phố Hồ Chí Minh 16 (4)22- 26 .II. TIẾNG ANH Khác
8. Abdul-Hak C.K, Barros Â.F (2014). The Incidence of phlebitis in a medical clinical unit. Teto &amp; Contexto-Enfermagem, 23 (3),633- 638 Khác
11. Da Silva-Oliveira, E.C.; Barros-de Oliveira, A.P.; de Oliveira, R.C. Caracterización de flebitis notificada a la gestión de riesgos enla red centinela hospitalaria. Rev. Baiana Enferm. 2016, 1–9. [CrossRef] Khác
12. Enes S.M.S, Opirtz S.P, Faro A.R.M.d.C. et al(2016). Phlebitis associated with peripheral intravenous catheters in adults admitted to hospital in the Western Brazilian Amazon. Revista da Escola de Entfermagem da USP, 50 (2), 263-271 Khác

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w