1. Trang chủ
  2. » Tất cả

Tác giả tác phẩm ngữ văn lớp 10 – cánh diều full

100 4 0
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Hê-ra-clét Đi Tìm Táo Vàng (Trích Thần Thoại Hy Lạp)
Trường học Trường Đại Học Sư Phạm Hà Nội
Chuyên ngành Ngữ Văn
Thể loại Bài luận
Năm xuất bản 2023
Thành phố Hà Nội
Định dạng
Số trang 100
Dung lượng 13,68 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Tìm hiểu chi tiết 1.Diễn biến tâm trạng của Ra-ma * Cuộc gặp gỡ giữa Ra-ma và Xi-ta: + Xi-ta phải đứng trước mọi người trong cộng đồng như một bị cáo + Ra-ma ngự trên ngôi như một vị thủ

Trang 1

Hê-ra-clét đi tìm táo vàng (Trích thần thoại Hy Lạp)

I Tác phẩm

1 Thể loại:

- Thần thoại Hy Lạp là tập hợp những huyền thoại và truyền thuyết của người Hy Lạp cổ đại liên quan đến các vị thần, các anh hùng, bản chất của thế giới, và nguồn gốc cũng như ý nghĩa của các tín ngưỡng, các nghi lễ tôn giáo của họ Chúng là một phần của tôn giáo Hy Lạp cổ đại và nay là một phần của một tôn giáo hiện đại lưu hành ở Hy Lạp mà trên thế giới gọi là Hellenismos

2 Phương thức biểu đạt: Tự sự

3 Tóm tắt:

Văn bản kể lại hành trình đi tìm táo vàng của người anh hùng Hê-ra-clét theo lệnh của nhà vua O-ri-xtê Cây táo vàng vốn của nữ thần đất Gai-a vi đại, được canh giữ bởi con rồng trăm đầu La-đông và ba chị em tiên nữ Nanh-phơ Trên đường đi tìm táo vàng, Hê-ra-clét gặp nhiều thử thách như phải giao đầu với hai cha con thần chiến tranh A-rét, đi tìm thần biển Nê-rê để hỏi đường, băng qua cực bắc, băng qua

sa mạc, chiến đấu với gã khổng lồ độc ác Ăng-tê Khi đặt chân đến Ai Cập, clét còn suýt bị vua Ai Cập bắt làm vật hiển tế, chàng tiếp tục chiến đầu để lên đường Cuối cùng, chàng cũng tới được vùng núi Cô-ca-doơ Tại đây, chàng đã cứu được thần Prô-mê-tê đang bị thần Dớt trừng phạt Để trả ơn Hê-ra-clét, thần Prô-mê-tê đã nói cho Hê-ra-clét biết, muốn lấy được táo vàng, phải nhờ thần At-lát Vậy là Hê-ra-clét đi tìm thần Át-lát Thần Át-lát lúc này đang phải khom lưng đỡ bầu trời Theo lời đề nghị của thần Át-lát, Hê-ra-clét ghé vai gánh giúp bầu trời cho thần Át-lát để thần đi lấy giúp táo vàng Lấy được táo vàng về, thần Át-lát toan lừa Hê-ra-clét gánh luôn bầu trời giúp mình, nhưng Hê-ra-clét nhanh trí đã nhận ra âm mưu ấy và tương

Hê-ra-kế tựu Hê-ra-kế, thoát khỏi cái bẫy, mang táo vàng trở về

Trang 2

4 Bố cục: Chia văn bản làm 4 đoạn

- Đoạn 1: Từ đầu đến “châu Á để hỏi đường”: Kể về nguồn gốc và điểm đặc biệt của cây táo

- Đoạn 2: Tiếp theo đến “rắn như sắt của Hê-ra-clét”: Cuộc chiến của Hê-ra-clét với

gã khổng lồ độc ác Ăng-tê

- Đoạn 3: Tiếp theo đến “thần Át -lát mới xong”: Giải cứu thần Prô-mê-tê

- Đoạn 4: Còn lại: Hê-ra-clét tìm gặp thần Át-lát, gánh giúp bầu trời cho thần đi lấy táo

5 Giá trị nội dung:

- Sự mạnh mẽ, thông minh và tài năng vô biên của thần Hê-ra-clét vượt qua biết bao thử thách gian nan, hiểm nguy

- Phản ảnh tư tưởng, tình cảm của người Hi Lạp cổ đại

6 Giá trị nghệ thuật:

- Nghệ thuật phóng đại, tưởng tượng

Trang 3

- Vẻ đẹp lãng mạn, cổ đại, thể hiện mơ ước khát vọng của nhân dân về người anh hùng

III Tìm hiểu chi tiết

1 Nhân vật Hê – ra – clét

* Những thử thách phải trải qua

- Giao đấu với hai cha con thần chiến tranh A-rét

- Đi tìm thần biến Nê-rê để hỏi đường

- Băng qua cực bắc, băng qua sa mạc

- Chiến đấu với những kẻ bắt chàng làm vật hiển tế

 Hê-ra-clét còn là người anh hùng có trái tim nhân hậu, chàng đã chiển đấu với con đại bàng to lớn để cứu thần Prô-mê-tê

2 Giá trị ý nghĩa của văn bản “Hê-ra-clét đi tìm táo vàng”

- Thông qua nhân vật Prô-mê-tê, đoạn trích trên phản ánh nhận thức và cách lí giải của con người thời cổ đại về: Nguồn gốc của loài người, nguồn gốc của lửa, tất cả đều được lí giải bằng những tư duy hồn nhiên và ngây thơ

- Ngày nay, câu chuyện Hê-ra-clét đi tìm táo vàng vẫn có sức hấp dẫn đặc biệt bởi diễn biến thần kì trong từng thử thách dành cho nhân vật, bên cạnh đó còn có những yếu tố kì ảo đậm nét Và tất cả chúng đều khắc họa hình ảnh nhân vật người anh

Trang 4

hùng với sự hội tự của sự dũng cảm, kiên trì, quyết tâm, thông minh và trái tim nhân hậu

Trang 5

Chiến thắng Mtao Mxây (Trích sử thi Đăm Săn)

Trang 6

- Phần 3 (Còn lại): Cảnh Đăm Săn ăn mừng chiến thắng

6 Giá trị nội dung:

- Đoạn trích khẳng định sức mạnh và ngợi ca vẻ đẹp của người anh hùng Đăm Săn

- một người trọng danh dự, gắn bó với hạnh phúc gia đình và thiết tha với cuộc sống bình yên, phồn vinh của thị tộc, xứng đáng là người anh hùng mang tầm vóc sử thi của dân tộc Ê-đê thời cổ dại

- Các biện pháp nghệ thuật: So sánh, cường điệu, phóng đại, đối lập

III Tìm hiểu chi tiết

1 Cuộc chiến giữa hai tù trưởng

- Đăm Săn khiêu chiến và Mtao Mxây đáp lại; nhưng tỏ ra run sợ (sợ bị đâm lén, dáng tần ngần do dự, đắn đo…)

- Vào cuộc chiến:

+ Hiệp 1: Mtao Mxây múa khiên trước (khiên hắn kêu lạch xạch như quả mướp khô)

→ lộ rõ sự kém cỏi, nhưng vẫn nói những lời huênh hoang (quen đi đánh thiên

hạ, bắt tù binh, xéo nát đất đai thiên hạ…) Còn Đăm Săn vẫn bình tĩnh, thản nhiên + Hiệp 2: Đăm Săn múa trước (Một lần xốc tới, chàng vượt một đồi tranh, một lần xốc tới nữa, chàng vượt một đồi lồ ô…) Còn Mtao Mxây hoảng hốt trốn chạy (bước cao bước thấp chạy hết bãi tây sang bãi đông…)

+ Hiệp 3: Đăm Săn múa rất đẹp và dũng mãnh (chàng múa trên cao, gió như bão…múa dưới thấp, gió như lốc…) Đâm trúng kẻ thù, nhưng không thủng

+ Hiệp 4: Đăm Săn nhờ ông Trời chỉ cách đã giết chết kẻ thù

⇒ Qua cuộc chiến, ta thấy được sự vượt trội của Đăm Săn về tài năng, bản lĩnh, xứng đáng đại diện cho cả cộng đồng

2 Thái độ của mọi người đối với Đăm Săn

- Ba lần Đăm Săn kêu gọi thì cả ba lần dân làng Mtao Mxây đều hưởng ứng (ba tượng trưng cho số nhiều): Không đi sao được → Họ nhất trí xem Đăm Săn là tù trưởng, là anh hùng của họ

- Lời nói của dân làng qua ba lần đối đáp có sự biến đổi, phát triển → Sự thần phục, lòng trung thành tuyệt đối của dân làng Mtao Mxây với Đăm Săn

Trang 7

- Mọi người cùng nhau ra về theo Đăm Săn, đông vui như hội: Đoàn người đông như bầy cà tong cõng nước

⇒ Thể hiện sự thống nhất cao độ giữa quyền lợi, khát vọng của cá nhân người anh hùng với cộng đồng, bộ tộc đồng thời cũng thể hiện lòng yêu mến, sự tuân phục của tập thể cộng đồng với cá nhân người anh hùng – nhân vật kết tinh vẻ đẹp của cộng đồng

3 Cảnh Đăm Săn ăn mừng chiến thắng

- Hành động của Đăm Săn sau chiến thắng:

+ Nói với tôi tớ: tự hào, tự tin về sức mạnh của bản thân và sự giàu có của thị tộc + Ra lệnh nổi nhiều loại cồng chiêng: thể hiện sức mạnh của nguời anh hùng và sự giàu có của thị tộc

- Hình ảnh Đăm Săn:

+ Đăm Săn nằm tên võng, tóc thả trên sàn, hứng tóc chàng ở dưới đất là một nong hoa

+ Uống không biết say, ăn không biết no, chuyện trò không biết chán

+ Là một dũng tướng chắc chết mười mươi cũng không lùi bước…

+ Bắp chân chàng to bằng cây xà ngang, bắp đùi chàng to bằng ống bễ, sức chàng ngang sức voi đực…trong bụng mẹ

→ Những hình ảnh so sánh, phóng đại để ca ngợi một tù trưởng anh hùng Hình ảnh Đăm Săn được miêu tả bằng cái nhìn ngưỡng vọng từ dưới nhìn lên trên, sùng kính,

tự hào Điều này có nghĩa người anh hùng sử thi được tôn vinh tuyệt đối

⇒ Khung cảnh ăn mừng chiến thắng của Đăm Săn cho thấy sự giàu có, sung túc, vững mạnh của tù trưởng Đăm Săn cũng như buôn làng của chàng

Trang 8

3 Phương thức biểu đạt : tự sự

4 Bố cục:

- Phần 1 ( từ đầu đến “sang núi kia”): Bối cảnh thần trụ trời xuất hiện

- Phần 2 (tiếp đến “ biển cả mênh mông”): Lí giải sự hình thành trời và đất

- Phần 3 (Còn lại): Nguồn gốc của di tích núi Thạch Môn

5 Giá trị nội dung:

- Sự lí giải của con người dựa vào yếu tố tâm linh, thần kì để giải mã các hiện tượng xung quanh cuộc sống

6 Giá trị nghệ thuật:

- Sử dụng thành công yếu tố kỳ ảo hoang đường

III Tìm hiểu chi tiết

Trang 9

1 Bối cảnh thần trụ trời xuất hiện

- Trời đất hỗn độn, tăm tối, tự nhiên xuất hiện một ông thần to lớn, “bước một bước từ đỉnh núi này sang đỉnh núi khác”

=> Sự xuất hiện hoang đường, kì ảo, đầy liên tưởng, tưởng tượng phong phú

2 Lý giải sự xuất hiện giữa trời và đất

- Công cụ: Dùng đầu đội trời lên, tay đào đất đá, đắp thành một cái cột to để chống trời

+ “Cột được đắp cao lên chừng nào thì trời tựa như một tấm màn lớn được dâng cao lên chừng nấy.”

=> Trời đất được phân chia làm hai “Đất phẳng như cái mâm vuông, trời ở trên như cái bát úp, chỗ giáp ranh giữa trời và đất là chân trời.”

- Sự thay đổi: Thần phá cốt đá đi, ném vung đá và đất Hòn đá văng ra tạo thành một hòn đảo  Chỗ cao chỗ thấp không bằng phẳng  Tạo thành biển

=> Sự lý giải phong phú, giáu tính tưởng tượng

3 Sự hình thành của núi Thạch Môn

- Từ những núi đá đó tạo thành núi Thạch Môn và trở thành di tích lịch sử, lưu truyền đến tận ngày nay

Trang 10

Ra – ma buộc tội (Trích sử thi Ra-ma-ya-na – Van-mi-ki)

I Tác phẩm

1 Thể loại: Sử thi Ra-ma-ya-na

2 Xuất xứ và hoàn cảnh sáng tác:

- Hình thành: Khoảng thế kỷ IV-III TCN được viết bằng văn vần, tiếng Phạn được

bổ sung, trau chuốt bởi nhiều thế hệ đạo sĩ và đạt đến hình thức hoàn thiện cuối cùng nhờ đạo sĩ Van-mi-ki (Van-mi-ki sống ở thế kỉ III TCN, được nhân dân Ấn Độ xem

là nhà thơ đầu tiên của dân tộc mình Thuộc đẳng cấp Bàlamôn, bị cha mẹ ruồng bỏ phải trốn vào rừng sâu làm thảo khấu Sau được Na -ra-đa dạy bảo mà trở thành đạo sĩ)

- Ra-ma-ya-na là một trong hai bộ sử thi nổi tiếng của Ấn Độ, có ảnh hưởng lâu bền, sâu rộng trong văn học, văn hóa không những của dân tộc Ấn mà còn của nhiều nước Đông Nam Á

- Sử thi Ra-ma-ya-na gồm 24.000 câu thơ đôi, chia thành 24 khúc ca lớn kể về những

kì tích của Ra-ma, hoàng tử trưởng của nhà vua Đa-xa-ra-tha

- Đoạn trích thuộc chương 79, khúc ca thứ 6 của sử thi Ra-ma-ya-na

3 Tóm tắt:

Vua Đa-xa-ra-tha có bốn người con trai do ba bà vợ sinh ra Ra-ma là con cả, hơn hẳn các em về tài đức Vua cha có ý định nhường ngôi cho chàng nhưng vì lời hứa với bà vợ thứ Ka-kê-i xinh đẹp nên đã đày Ra-ma vào rừng và trao ngôi lại cho Bha-ra-ta, con của Ka-kê-i Ra-ma cùng vợ là Xi-ta và em trai Lắc-ma-na vào rừng sống ẩn dật Quỷ vương Ra-va-na lập mưu cướp Xi-ta đem về làm vợ Mặc quỷ vương dụ dỗ và ép buộc, Xi-ta vẫn kịch liệt chống cự Được tướng khỉ Ha-nu-man giúp đỡ, Ra-ma đã cứu được Xi-ta Nhưng sau đó, Ra-ma nghi ngờ tiết hạnh của Xi-

ta và không muốn nhận lại nàng làm vợ Để chứng tỏ lòng chung thuỷ của mình,

Xi-ta đã nhảy vào lửa Thần lửa biết Xi-Xi-ta trong sạch nên đã cứu nàng Ra-ma và Xi-Xi-ta trở về kinh đô

Trang 11

4 Bố cục:

- Phần 1 (từ đầu đến “ra-va-na đâu có chịu đựng được lâu”): Cuộc gặp gỡ giữa

Ra-ma và Xi-ta, diễn biến tâm trạng của Ra-Ra-ma

- Phần 2 (còn lại): Diễn biến tâm trạng của Xi-ta

5 Giá trị nội dung:

- Đoạn trích cho chúng ta thấy được quan niệm của người ấn Độ cổ đại về người anh hùng, về đường quân vương mẫu mực và về người phụ nữ lí tưởng trong xã hội

6 Giá trị nghệ thuật:

- Ngôn ngữ: trang trọng, phong phú, biểu cảm

- Xây dựng nhân vật lí tưởng với tâm lí, tính cách, hành động, cử chỉ, ngôn ngữ

- Xây dựng tình huống đầy mâu thuẫn, kịch tính

- Giàu yếu tố sử thi

II Tìm hiểu chi tiết

1.Diễn biến tâm trạng của Ra-ma

* Cuộc gặp gỡ giữa Ra-ma và Xi-ta:

+ Xi-ta phải đứng trước mọi người trong cộng đồng như một bị cáo

+ Ra-ma ngự trên ngôi như một vị thủ lĩnh, một viên quan tòa có quyền kết án

=> Đây không phải là một cuộc đoàn tụ mừng rỡ đầy yêu thương giữa hai vợ chồng sau những ngày gian truân, xa cách; mà là một “phiên tòa” thật sự gay gắt và căng thẳng

Trang 12

* Tâm trạng của Ra-ma

- Ra-ma nói với tất cả mọi người để:

+ Khẳng định chiến thắng và tài nghệ của mình

+ Tuyên dương công trạng những người đã giúp đỡ mình – những người bạn hảo hán

=> Lời lẽ rành mạch, trịnh trọng, tự hào, lạnh lùng

=> Nói trước mọi người > thể hiện tính công khai của sử thi

- Xưng hô với Xi-ta: "ta" – "phu nhân cao quý" => cách xưng hô trịnh trọng, oai nghiêm của quân vương nhưng thiếu yêu thương, thân mật như lẽ thường

- Nhấn mạnh mục đích chiến đấu:

+ “Kẻ nào bị quân thù lăng nhục mà không đem tài nghệ của mình ra để trả thù là kẻ tầm thường.”

+ “Ta làm điều đó vì nhân phẩm của ta, xóa bỏ vết ô nhục để bảo vệ uy tín và danh

dự của dòng họ lừng lẫy tiếng tăm.”

-> Mục đích: không phải vì Xi-ta mà vì danh dự, phẩm giá và nghĩa vụ-> Ra-ma là một hoàng tử, một quốc vương mẫu mực

- Ra-ma còn bộc lộ nghi ngờ trinh tiết của Xi-ta vì:

+ “Nàng đã lưu lại lâu trong nhà một kẻ xa lạ”

+ “Nàng bị quấy nhiễu trong vạt áo của Ra-va-na”

+ “Đôi mắt tội lỗi đã hau háu nhìn khắp người nàng”

=> Đó là thái độ của một người ghen tuông, ích kỉ

- Ra-ma đã lăng nhục Xi-ta trước mặt mọi người, không nhận nàng làm vợ, ruồng rẫy và đuổi nàng:

+ “Ta không cần đến nàng nữa”

+ “Nàng muốn đi đến đâu tùy ý”

=> Buông ra những lời tàn nhẫn, gay gắt, xúc phạm Xi-ta thô bạo trước mặt mọi người

Trang 13

- Vì uy tín, danh dự của gia đình, dòng họ quyền quý cao sang, vì vinh quang chiến thắng, vì niềm tự hào của cả cộng đồng, tất cả không cho phép Ra-ma chấp nhận bất cứ một sự mờ ám nào có thể làm tổn hại đến danh dự

- Đồng thời nó cũng thể hiện sự ghen tuông trong lòng chàng, đã làm cho một vị quân vương trở nên thiếu bình tĩnh và mất đi sự sáng suốt

- Mặt khác: “Thấy người đẹp với gương mặt bông sen, với những cuộn tóc lượn sóng đứng trước mặt mình, lòng Ra-ma đau như dao cắt” => Sự mâu thuẫn trong một con người (với tư cách là một người chồng, Ra-ma cảm thấy đau đớn và thương xót vợ mình; nhưng trên cương vị là một vị hoàng tử của một đất nước thì Ra-ma coi trọng danh dự)

=> Ra-ma tuy là một vị thần nhưng vẫn mang những đặc điểm của con người trần tục: yêu hết mình nhưng cũng ích kỉ, ghen tuông cực độ; có lúc oai phong lẫm liệt những cũng có lúc tầm thường, nhỏ nhen, ích kỉ; có lúc cương quyết, rắn rỏi nhưng cũng có lúc mềm yếu Bản chất thiện-ác; sáng-tối; tốt-xấu luôn luôn tương phản trong tính cách của Ra-ma

- Khi Xi-ta bước lên giàn hỏa thiêu:

+ Ra-ma: câm lặng, không nói “mắt dán xuống đất, lúc đó nom chàng khủng khiếp như thần chết vậy.”

-> Một tâm lý phức tạp, giằng xé trong con người Ra-ma: một mặt là anh hùng, thủ lĩnh cao thượng; còn lại là một con người nhỏ bé, tầm thường, mềm yếu

-> Hoàn cảnh của Ra-ma thật ngặt nghèo, đòi hỏi chàng phải có sự lựa chọn quyết liệt: tình yêu hay danh dự-> chàng quyết định chọn danh dự

=> Như vậy, tác giả đã miêu tả một cách tinh tế, chân thực về thái độ ghen tuông, ngờ vực của Ra-ma – một vị thần thánh, một bậc quân vương, nhưng cũng có đủ mọi cung bậc tình cảm của một con người trần tục Những nét tính cách đó đã làm cho Ra-ma dù là một nhân vật sử thi, nhưng vẫn không hề công thức, ước lệ mà tràn đầy tính sinh động, cụ thể, hấp dẫn

2 Diễn biến tâm trạng của Xi-ta

- Hoàn cảnh: xa chồng + quỷ vương dụ dỗ -> đấu tranh để giữ trinh tiết, lòng thủy chung

-> Được giải cứu, nàng rất vui và hạnh phúc

- Trước những lời buộc tội của Ra-ma, Xi-ta kinh ngạc, đau đớn, tủi nhục “như một cây leo bị vòi voi quật nát” -> đau khổ đến tột cùng vì danh dự bị xúc phạm

Trang 14

- Xi-ta dùng lời lẽ, đúng mực để thanh minh cho mình, đem tình yêu làm bằng chứng thuyết phục:

+ Xi-ta lên án hành vi ứng xử tầm thường và nhận thức kiểu đánh đồng thiếu suy xét

và thiếu cơ sở của Ra-ma: “Cớ sao chàng lại đâu có phải.”

+ Đem tư cách, danh dự để đảm bảo

+ Khẳng định lòng chung thủy của mình và thái độ vô tình của Ra-ma

+ Nhấn mạnh nguồn gốc bản thân: dòng họ cao quý và gợi lại lý do Ra-ma cưới mình vì tự nguyện và vì tình yêu

-> Tâm trạng Xi-ta biến chuyển từ mừng rỡ đến ngạc nhiên, tin yêu đến thất vọng

- Trong nỗi đau khổ tuyệt vọng Xi-ta đã trở nên mạnh mẽ, bình tĩnh và chín chắn hơn: hành động bước vào giàn thiêu thể hiện sự dứt khoát “nếu con cho con”, cầu khẩn thần Anhi chứng giám-> thể hiện lòng chung thủy và sự trinh tiết của mình -> Tác giả đã khắc họa một Xi-ta trong sáng, chân thực, toàn vẹn, đáng ngưỡng mộ,

là mẫu người phụ nữ lý tưởng đáng ngưỡng mộ của thời đại

3 Giá trị nội dung

Đoạn trích Ra-ma buộc tội đặt các nhân vật vào tình thế thử thách ngặt nghèo đòi hỏi sự lựa chọn quyết liệt, bộc lộ sâu sắc bản chất con người Ra-ma vào sinh ra

tử, chiến đấu với yêu quỷ để giành lại người vợ yêu quý nhưng cũng dám hi sinh tình yêu vì danh dự, bổn phận của một người anh hùng, một đức vua mẫu mực Như một người vợ lý tưởng xứng đáng với Ra-ma, Xi-ta cũng sẵn sàng đem thân mình thử lửa để chứng minh tình yêu và đức hạnh thủy chung

4 Giá trị nghệ thuật

- Xây dựng nhân vật lý tưởng với tâm lý, tính cách, triết lý và hành động

- Sử dụng hình ảnh, điển tích, ngôn ngữ miêu tả và đối thoại, giọng điệu, xung đột kịch tính, giàu yếu tố sử thi

Trang 15

Cảm xúc mùa thu – Bài 1 (Đỗ Phủ)

- Đỗ Phủ là nhà thơ hiện thực vĩ đại của Trung Quốc, là danh nhân văn hóa thế giới

- Thơ Đỗ Phủ hiện còn khoảng 1500 bài

- Nội dung thơ: đó là những bức tranh hiện thực sinh động và chân xác đến mức được gọi là “thi sử” ( lịch sử bằng thơ); đó cũng là niềm đồng cảm với nhân dân trong khổ nạn, chứa chan tình yêu nước và tinh thần nhân đạo

- Giọng thơ Đỗ Phủ trầm uất, nghẹn ngào

- Ông sành tất cả các thể thơ nhưng đặc biệt thành công ở thể luật thi

- Với nhân cách cao thượng, tài năng nghệ thuật trác việt, Đỗ Phủ được người Trung Quốc gọi là “Thi thánh”

Trang 16

3 Phương thức biểu đạt: Miêu tả + Biểu cảm

4 Nội dung chính:

Bài thơ vẽ nên bức tranh mùa thu hiu hắt, mang đặc trưng của núi rừng, sông nước Quỳ Châu Đồng thời, bài thơ còn là bức tranh tâm trạng buồn lo của nhà thơ trong cảnh loạn ly: nỗi lo cho đất nước, nỗi buồn nhớ quê hương và nỗi ngậm ngùi, xót xa cho thân phận mình

5 Bố cục:

- Cách chia 1:

+ Hai câu đề: Quang cảnh mùa thu

+ Hai câu thực: Những chuyển động nhẹ nhàng của mùa thu

+ Hai câu luận: Bầu trời và không gian làng quê

+ Hai câu kết: Tâm trạng của nhà thơ

- Cách chia 2:

+ Phần 1 (4 câu thơ đầu): Cảnh mùa thu ở vùng quê Bắc bộ

+ Phần 2 (4 câu thơ cuối): Tình thu

6 Giá trị nội dung:

- Bài thơ vẽ nên bức tranh mùa thu hiu hắt, mang đặc trưng của núi rừng, sông nước Quỳ Châu Đồng thời, bài thơ còn là bức tranh tâm trạng buồn lo của nhà thơ trong cảnh loạn li: nỗi lo cho đất nước, nỗi buồn nhớ quê hương và nỗi ngậm ngùi, xót xa cho thân phận mình

Trang 17

7 Giá trị nghệ thuật:

- Tứ thơ trầm lắng, u uất

- Lời thơ buồn, thấm đẫm tâm trạng, câu chữ tinh luyện

- Bút pháp đối lập, tả cảnh ngụ tình

- Ngôn ngữ ước lệ nhiều tầng ý nghĩa

III Tìm hiểu chi tiết

1 Bốn câu thơ đầu: Cảnh thu

+ Phong thụ lâm: hình ảnh được dùng để miêu tả mùa thu

- “Vu sơn Vu giáp”: tên những địa danh nổi tiếng ở vùng Quỳ Châu, Trung Quốc, vào mùa thu, khí trời âm u, mù mịt

- “Khí tiêu sâm”: hơi thu hiu hắt, ảm đạm

→ Bức tranh thu ở vùng rừng núi lạnh lẽo, xơ xác, tiêu điều, hiu hắt

* Hai câu thực

- Hướng nhìn của bức tranh của nhà thơ di chuyển từ vùng rừng núi xuống lòng sông

và bao quát theo chiều rộng

- Hình ảnh đối lập, phóng đại: sóng – vọt lên tận trời (thấp – cao), mây – sa sầm xuống mặt đất (cao – thấp), qua đó không gian được mở rộng ra nhiều chiều:

+ Chiều cao: sóng vọt lên lưng trời, mây sa sầm xuống mặt đất

+ Chiều sâu: sâu thẳm

+ Chiều xa: cửa ải

Trang 18

→ Không gian hoành tráng, mĩ lệ

⇒ Bốn câu thơ vẽ nên bức tranh mùa thu xơ xác, tiêu điều, hoành tráng, dữ dội

⇒ Tâm trạng buồn lo và sự bất an của nhà thơ trước hiện thực tiêu điều, âm u

2 Bốn câu còn lại: Tình thu

* Hai câu luận

- Hình ảnh ẩn dụ, tượng trưng:

+ Hoa cúc: hình ảnh ước lệ chỉ mùa thu

+ Khóm cúc đã hai lần nở hoa: Có hai cách hiểu khóm cúc nở ra làm rơi giọt nước mắt, khóm cúc nở ra giọt nước mắt

→ Dù hiểu theo cách nào thì cũng giúp chúng ta thấy được tâm sự buồn của tác giả

+ “Cô phàm”: là phương tiện đưa tác giả trở về “cố viên”, đồng thời gợi thân phận

lẻ loi, cô đơn, trôi nổi của tác giả

- Cách sử dụng từ ngữ độc đáo, hàm súc, cô đọng:

+ “Lưỡng khai”: Nỗi buồn lưu cữu trải dài từ quá khứ đến hiện tại

+ “ Nhất hệ”: Dây buộc thuyền cũng là sợi dây buộc mối tình nhà của tác giả

+ “Cố viên tâm”: Tấm lòng hướng về quê cũ Thân phận của kẻ tha hương, li hương luôn khiến lòng nhà thơ thắt lại vì nỗi nhớ quê

- Tác giả đã đồng nhất giữ tình và cảnh trong hai câu thơ

→ Hai câu thơ diễn tả nỗi lòng da diết, dồn nén nỗi nhớ quê hương của tác giả

* Hai câu kết

- Hình ảnh:

+ Mọi người nhộn nhịp may áo rét

+ Giặt áo rét chuẩn bị cho mùa đông

Trang 19

- Âm thanh: tiếng chày đập vải

→ Âm thanh báo hiệu mùa đông đến, đồng thời đó là âm thanh của tiếng lòng, diễn

tả sự thổn thức, mong ngóng, chờ đợi ngày được trở về quê

⇒ Bốn câu thơ diễn tả nỗi buồn của người xa quê, ngậm ngùi, mong ngóng ngày trở

về quê hương

Trang 20

Tự tình – Bài 2 (Hồ Xuân Hương)

I Tác giả

1 Tiểu sử

- Hồ Xuân Hương (1772-1822)

- Cuộc đời Hồ Xuân Hương lận đận, nhiều nỗi éo le ngang trái

- Con người bà phóng túng, tài hoa, có cá tính mạnh mẽ, sắc sảo

=> Hồ Xuân Hương được mệnh danh là “Bà chúa Thơ Nôm”

II Tác phẩm

1 Thể loại: Thất ngôn bát cú Đường luật

2 Xuất xứ và hoàn cảnh sáng tác: Tự tình (bài II) nằm trong chùm thơ Tự tình gồm

ba bài của Hồ Xuân Hương

3 Phương thức biểu đạt: Tự sự + biểu cảm

Trang 21

5 Bố cục:

- Phần 1 (4 câu đầu): thể hiện nỗi lòng cô đơn, buồn tủi, khát vọng hạnh phúc

- Phần 2 (4 câu tiếp): Tâm trạng tuyệt vọng của cảnh đời lẽ mọn

6 Giá trị nội dung:

- Tự tình (bài II) thể hiện tâm trạng, thái độ của Hồ Xuân Hương: vừa đau buồn, vừa phẫn uất trước duyên phận, gắng gượng vươn lên nhưng vẫn rơi vào bi kịch

- Trước sự trớ trêu của số phận, người phụ nữ luôn khát khao hạnh phúc, vẫn muốn cưỡng lại sự nghiệt ngã do con người tạo ra Sự phản kháng và khát khao ấy ở Hồ Xuân Hương làm nên ý nghĩa nhân văn sâu sắc cho tác phẩm

7 Giá trị nghệ thuật:

- Ngôn ngữ thơ Nôm bình dị, hình ảnh gợi cảm, giàu màu sắc, nghệ thuật tả cảnh ngụ tình đặc sắc,

III Tìm hiểu chi tiết

a Nỗi lòng cô đơn, buồn tủi và khát vọng hạnh phúc của nhân vật trữ tình

- Bài thơ mở ra bằng một hoàn cảnh tâm trạng khá đặc trưng:

“Đêm khuya văng vẳng trống canh dồn

Trơ cái hồng nhan với nước non”

+ Thời gian: đêm khuya

Trang 22

+ Không gian: trống trải, mênh mông, văng vẳng tiếng trống cầm canh

=> Câu thơ đầu của bài thơ đã gợi buồn Cái buồn gợi ra từ sự tĩnh lặng của đêm khuya Tiếng trống không gần (văng vẳng) mà vẫn nghe thấy cái nhịp vội vàng, gấp gáp, ấy là vì tiếng trống gợi bước đi của thời gian, gợi sự tàn phá và nó là tiếng trống được cảm nhận bằng tâm trạng Chính vì thế mà trong cái nhịp gấp gáp, liên hồi của tiếng trống canh ta như nghe thấy cả bước đi dồn dập của thời gian và sự rối bời trong tâm trạng của nhân vật trữ tình

- Câu thơ thứ hai gợi cảm nhận về sự bẽ bàng của thân phận một cách dữ dội hơn: + Phép đảo ngữ như cố tình khoét sâu thêm vào cái sự bẽ bàng của tâm trạng “Trơ”

là tủi hổ, là chai lì, không còn cảm giác Thêm vào đó, hai chữ “hồng nhan” (chỉ dung nhan người thiếu nữ) lại đi với từ "cái" thật là rẻ rúng, mỉa mai Cái “hồng nhan” trơ với nước non đúng là không chỉ gợi sự dãi dầu mà đậm hơn có lẽ là ở sự cay đắng Câu thơ chỉ nói đến hồng nhan mà lại gợi ra cả sự bạc phận của chủ thể trữ tình Nhịp câu thơ 1/3/3 cũng như vậy, cứ chì chiết, càng khơi sâu vào sự bẽ bàng khôn tả

+ Tuy nhiên câu thơ không hẳn chỉ có nỗi đau, mà nó còn thể hiện cả bản lĩnh của nhân vật trữ tình Bản lĩnh ấy thể hiện ở ngay trong chữ “trơ” như là một sự thách thức vậy Từ “trơ” kết hợp với “nước non” thể hiện sự bền gan, sự thách đố Nó gợi cho ta nghĩ đến một câu thơ của Bà Huyện Thanh Quan trong bài Thăng Long thành hoài cổ (“Đá vẫn trơ gan cùng tuế nguyệt”)

- Nếu hai câu đề làm nhiệm vụ dẫn dắt người đọc vào hoàn cảnh tâm trạng thì hai câu thực nói rõ hơn thực cảnh và thực tình của Hồ Xuân Hương:

“Chén rượu hương đưa say lại tỉnh, Vầng trâng bóng xế khuyết chưa tròn.”

+ Cảnh tình Xuân Hương thể hiện qua hình tượng chứa đựng hai lần bi kịch: Trăng sắp tàn (bóng xế) mà vẫn “khuyết chưa tròn” Cùng đó là với Xuân Hương, tuổi xuân

đã trôi qua mà nhân duyên không trọn vẹn

+ Hương rượu chỉ càng gợi thêm sự cô đơn và cái bẽ bàng của phận hẩm duyên + Cụm từ “say lại tỉnh” gợi lên cái vòng luẩn quẩn, tình duyên trở thành một trò đùa của con tạo

b Tâm trạng tuyệt vọng của cảnh đời lẽ mọn

- Hình tượng thiên nhiên trong hai câu luận dường như cũng mang cả nỗi niềm phẫn uất của con người:

Trang 23

“Xiên ngang mặt đất, rêu từng đám, Đâm toạc chân mây, đá mấy hòn.”

+ Những sinh vật bé nhỏ như đám rêu kia mà vẫn không chịu phận nhỏ bé, hèn mọn, không chịu yếu mềm Tất cả như đang muốn bứt thoát hẳn lên: rêu phải mọc "xiên ngang mặt đất", đá đã rắn chắc lại phải rắn chắc hơn, lại phải nhọn hoắt để "đâm toạc chân mây"

+ Nghệ thuật đảo ngữ càng làm nổi bật sự phẫn uất của đá, của rêu và cũng là sự phẫn uất của tâm trạng con người

+ Kết hợp với việc sử dụng những động từ mạnh (xiên, đâm) với các bổ ngữ độc đáo (ngang, toạc) thể hiện rất rõ sự bướng bỉnh và ngang ngạnh => Đá, rêu như đang oán hờn, như đang phản kháng quyết liệt với tạo hoá

=> Có thể nói, trong hoàn cảnh bi thảm nhất, thơ Hồ Xuân Hương vẫn ẩn chứa mạnh

mẽ một sức sống, một khát khao

- Hai câu kết là tâm trạng chán chường, buồn tủi:

“Ngán nỗi xuân di xuân lại lại, Mảnh tình san sẻ tí con con.”

+ "Ngán" là chán ngán, là ngán ngẩm Xuân Hương ngán nỗi đời éo le, bạc bẽo bởi xuân đi rồi xuân lại lại, tạo hoá đang chơi một vòng quay nhàm chán như chính chuyện duyên tình của con người

+ Từ xuân vừa chỉ mùa xuân, vừa được dùng với nghĩa chỉ tuổi xuân Với thiên nhiên, xuân đi rồi xuân lại nhưng với con người thì tuổi xuân đã qua không bao giờ trở lại Hai từ "lại" trong cụm từ "xuân đi xuân lại lại" cũng mang hai nghĩa khác nhau Từ "lại" thứ nhất là thêm một lần nữa, trong khi đó, từ "lại" thứ hai nghĩa là trở lại Mùa xuân trở lại nhưng tuổi xuân lại qua đi, đó là cái gốc sâu xa của sự chán ngán

+ Trong câu thơ cuối, nghệ thuật tăng tiến làm cho nghịch cảnh của nhân vật trữ tình càng éo le hơn: mảnh tình - san sẻ - tí - con con Mảnh tình - vốn đã ít, đã bé, đã không trọn vẹn lại còn phải "san sẻ" thành ra gần như chẳng còn gì (tí con con) nên càng xót xa, tội nghiệp => Câu thơ nói lên cả nỗi lòng của người phụ nữ trong xã hội xưa, khi cảnh chồng chung vợ chạ đối với họ không phải là xa lạ

Trang 24

Câu cá mùa thu (Nguyễn Khuyến)

2 Sự nghiệp văn học

a Tác phẩm chính

- Sáng tác của Nguyễn Khuyến gồm cả chữ Hán và chữ Nôm với số lượng lớn, hiện còn trên 800 bài gồm thơ, văn, câu đối nhưng chủ yếu là thơ

b Tầm ảnh hưởng của tác giả

- Đóng góp nổi bật của Nguyễn Khuyến cho nền văn học dân tộc là mảng thơ Nôm, thơ viết về làng quê, thơ trào phúng

II Tác phẩm

1 Thể loại: Thất ngôn bát cú Đường luật

2 Xuất xứ và hoàn cảnh sáng tác: - Câu cá mùa thu nằm trong chùm ba bài thơ thu của Nguyễn Khuyến gồm: Thu điếu, Thu ẩm, Thu vịnh

- Được viết trong thời gian khi Nguyễn Khuyến về ở ẩn tại quê nhà

Trang 25

3 Phương thức biểu đạt: Tự sự +Biểu cảm

4 Tóm tắt: Bài thơ là một bức tranh đẹp về mùa thu ở làng quê Việt Nam Một không gian thu trong trẻo, thanh sang và bình yên với những hình ảnh, đường nét xinh xẻo Trong bài thơ xuất hiện hình ảnh nhân vật trữ tình đầy tâm sự

5 Bố cục:

- Cách chia 1:

+ Hai câu đề: Quang cảnh mùa thu

+ Hai câu thực: Những chuyển động nhẹ nhàng của mùa thu

+ Hai câu luận: Bầu trời và không gian làng quê

+ Hai câu kết: Tâm trạng của nhà thơ

- Cách chia 2:

+ Phần 1 (6 câu thơ đầu): Cảnh mùa thu ở vùng quê Bắc bộ

+ Phần 2 (2 câu thơ cuối): Tình thu

6 Giá trị nội dung:

- Bài thơ thể hiện sự cảm nhận và nghệ thuật gợi tả tinh tế của Nguyễn Khuyến về cảnh sắc mùa thu đồng bằng Bắc Bộ, đồng thời cho thấy tình yêu thiên nhiên, đất nước, tâm trạng thời thế và tài thơ Nôm của tác giả

7 Giá trị nghệ thuật:

Trang 26

- Cách gieo vần đặc biệt: Vần “eo” (tử vận) khó làm, được tác giả sử dụng một cách thần tình, độc đáo, góp phần diễn tả một không gian vắng lặng, thu nhỏ dần, khép kín, phù hợp với tâm trạng đầy uẩn khúc của nhà thơ

- Lấy động tả tĩnh- nghệ thuật thơ cổ phương Đông

- Vận dụng tài tình nghệ thuật đối

III Tìm hiểu chi tiết

1 Cảnh mùa thu ở vùng quê Bắc Bộ

- Điểm nhìn: Cảnh vật được đón nhận từ gần đến cao rồi từ cao trở lại gần: điểm nhìn cảnh thu là chiếc thuyền câu , nhìn mặt ao, nhìn lên bầu trời, nhìn tới ngõ trúc rồi lại trở về với ao thu, với thuyền câu

- Từ điểm nhìn ấy, từ một khung ao hẹp, không gian mùa thu, cảnh sắc mùa thu mở

ra nhiều hướng thật sinh động với những hình ảnh vừa cân đối, hài hòa

- Mở ra một khung cảnh với những cảnh vật hết sức thanh sơ:

+ sắc xanh của trời hoà lẫn cùng sắc xanh của nước

=> Tất cả tạo nên một không gian xanh trong, dịu nhẹ, một chút sắc vàng của lá rụng trên cái nền xanh ấy khiến cảnh thu, hồn thu càng thêm phần sống động Những đường nét, màu sắc gợi lên trong tưởng tượng của người đọc khung cảnh của một buổi sớm thu yên bình trên một làng quê miền Bắc với bầu trời thu cao rộng, khoáng đạt, những ao chuôm trong vắt phản chiếu màu trời, màu lá, thôn xóm với những con đường nhỏ quanh co hun hút xanh màu tre trúc, gió thu dịu mát khẽ làm xao động mặt nước, thỉnh thoảng một vài chiếc lá rụng cắt ngang không gian Trong bức tranh thu này mọi cảnh vật hiện ra đều rất đỗi bình dị, dân dã Khung cảnh ấy vận thường hiển hiện vào mỗi độ thu về trên những làng quê và đi vào tâm thức của bao người, nhưng lần đầu tiên được Nguyễn Khuyến vẽ ra với nguyên cái thần thái

tự nhiên của nó và khiến ta không khỏi ngỡ ngàng xúc động Đó là một mùa thu trong trẻo, thuần khiết, mát lành

Trang 27

- Cảnh sắc mùa thu đẹp nhưng đượm buồn

+ Không gian tĩnh lặng, phảng phất buồn: vắng teo, trong veo, khẽ đưa vèo, hơi gợn

tí, mây lơ lửng ,…

+ Đặc biệt câu thơ cuối tạo được một tiếng động duy nhất: “Cá đâu đớp động dưới chân bèo” -> không phá vỡ cái tĩnh lặng, mà ngược lại nó càng làm tăng sự yên ắng, tĩnh mịch của cảnh vật -> Thủ pháp lấy động tả tĩnh

=> Cảnh sắc thu đẹp nhưng tĩnh lặng vắng bóng người, vắng cả âm thanh dù đó là

sự chuyển động nhưng đó là sự chuyển động rất khẽ khàng và cả tiếng cá đớp mồi cũng không làm không gian xao động

2 Tình thu

- Nói chuyện câu cá nhưng thực ra là để đón nhận cảnh thu, trời thu vào cõi lòng: + Một tâm thế nhàn: Tựa gối ôm cần

+ Một sự chờ đợi: Lâu chẳng được

+ Một cái chợt tỉnh mơ hồ: Cá đâu đớp động

- Không gian thu tĩnh lặng như sự tĩnh lặng trong tâm hồn nhà thơ, khiến ta cảm nhận về một nỗi cô đơn, man mác buồn, uẩn khúc trong cõi lòng thi nhân

-> Nguyễn khuyến có một tâm hồn hồn gắn bó với thiên nhiên đất nước, một tấm lòng yêu nước thầm kín mà sâu sắc

Trang 28

Xúy Vân giả dại (Trích chèo Kim Nhan)

I Tác phẩm

1 Thể loại:

Chèo là loại hình nghệ thuật sân khấu cổ truyền Việt Nam Chèo phát triển mạnh ở phía bắc Việt Nam với trọng tâm là vùng đồng bằng sông Hồng cùng hai khu vực lan tỏa là trung du miền núi Bắc Bộ và Bắc Trung Bộ Loại hình sân khấu này phát triển cao, giàu tính dân tộc Chèo mang tính quần chúng và được coi là loại hình sân khấu của hội hè với đặc điểm sử dụng ngôn ngữ đa thanh, đa nghĩa kết hợp với cách nói ví von giàu tính tự sự, trữ tình

2 Xuất xứ:

- "Xúy Vân giả dại" là trích đoạn nổi bật trong chèo Kim Nam được đánh giá là một

3 Phương thức biểu đạt: Tự sự + Biểu cảm

4 Tóm tắt:

Văn bản: Xuý Vân với những câu hát nửa điên dại, ngô nghê, nửa chân thực tỉnh táo về thân phận dang dở, bẽ bàng Sau những câu hát xưng danh là tâm sự đau xót về một cuộc đời lạc lõng, cô đơn, vô nghĩa Đoạn trích tiếp tục những lời độc thoại về nỗi thất vọng trước mâu thuẫn vì ước mơ hạnh phúc tốt đẹp gặp phải thực

tế phũ phàng

5 Giá trị nội dung:

Trang 29

- Thể hiện khát vọng hạnh phúc của Xúy Vân là chính đáng nhưng không thực hiện được trong chế độ phong kiến gia trưởng

6 Giá trị nghệ thuật:

- Nghệ thuật miêu tả diễn biến tâm lí phức tạp nhân vật Thúy Vân

- Nghệ thuật diễn tả: tác giả đan xen các lời thật, lời điên thể hiện sự mâu thuẫn trong tâm trạng

- Sử dụng các làn điệu nói và hát khác nhau để thể hiện sự thay đổi trong tâm lý, tâm trạng nhân vật

II Tìm hiểu chi tiết

1 Lời hát:

- Tất cả đều là những lời hát của Xuý Vân

- Song tất cả những lời hát có tính điên dại ấy vẫn có những lời rất tỉnh táo, có lúc bóng gió bộc lộ tâm trạng tâm trạng thự c của Xuý Vân:

2 Tâm trạng của Xuý Vân:

Tâm trạng của Xuý Vân bộc lộ rất phong phú

* Tự thấy mình lỡ làng, dở dang

+ Tôi càng chờ chuyến đò

+ Chẳng nên Chúng bạn chê cười

 Cô nàng chờ đợi, con đò ( Aån dụ ) càng không tới sự lỡ làng dang dở XV

* Tự thấy mình lạc lõng, vô nghĩa trong gia đình KN

Trang 30

 Hình ảnh gợi ra không gian sống cạn hẹp và đầy bất trắc nàng chỉ có thể chia sẻ cùng láng giềng nhưng “ láng giềng ai hay” và sự đồng cảm của cha mẹ cũng

không có “ ức bởi xuân huyên” ==> Càng thấy được tâm trạng cô đơn của XV

* Tâm trạng bế tắc mất phương hướng được thể hiện rõ qua những câu hát ngược:

Chuột đậu cành rào,…

……… đi đánh giặc

Những hình ảnh ngược đời, trớ trêu, điên đảo, đúng sai, thực giả lẫn lộn Đó cũng là sự mất phương hướng của XV

3 Nhân vật XV đáng thương:

+ Cuộc hôn nhân do cha mẹ sắp đặt vội vàng, không có tình yêu

+ XV là một cô gái đảm đang( qua các điệu múa quay tơ, dệt cửi, vớt bèo, khâu vá) + Là một cô gái l/động Mơ ước của XV không gì cao sang Nó giản dị bình

thường như bao cô gái nông thôn khác “ Chờ cho bông lúamang cơm” Cô buộc phải lấy KN, anh học trò chỉ biết “ dài lưng.lại nằm”

+ Các cô gái ngày xưa chọn cho mình bạn trăm năm:

Một bên chữ nghĩa văn chương Một bên chèo đẩy em thương bên nào Chữ nghĩa em vứt xuống ao Còn bên chèo đẩy chân sào em thương Cách lựa chọn của XV theo tâm lý “ăn chắc mặc bền” mơ ước của XV không phù hợp với lý tưởng công danh của KN và gia đình chàng à Bi kịch của cuộc đời nàng xuất hiện

+ Gặp Trần Phương, XV tưởng gặp người tri kỷ Cô không có tình yêu với chồng nhưng có tình yêu với Trần Phương Điều đó chứng tỏ XV chạy theo tình yêu tự

do, vượt qua lễ giáo Nếu TP có tình yêu thực sự với XV thì nàng có hạnh phúc Nhưng “không trăng gió lại gặp người gió trăng” Vì thế cô “đến nỗi điên cuồng rồ dại” Cuối cùng XV phải chết một cách đáng thương Kết cục này hoàn toàn do XHPK bảo thủ gây nên, khát vọng tình yêu hạnh phúc của XV là chính đáng

Nhưng khát vọng ấy không thể thực hiện được trong XH “cha mẹ đặt đâu con ngồi đấy”

Chính điều này để ta cảm thông và thanh minh cho XV Đây cũng thể hiện cách nhìn mang tính nhân đạo sâu sắc

4 Nghệ thuật diễn tả tâm trạng XV:

- Đoạn trích diễn tả thành công tâm trạng của XV Đó là tâm trạng rối bời, đầy bi kịch

Trang 31

+ Mở đầu đoạn trích là lời gọi đò tha thiết, mượn lời gọi đò diễn tả lời tự than thân:

- Đau thiết thiệt van

Và:

- Tôi kêu đò, đò nọ không thưa

Tôi càng chờ càng đợi càng trưa chuyến đò

Lời than ấy diễn tả hoàn cảnh lỡ làng, bẽ bàng của XV

+ Những câu hát theo điệu gà rừng:

Con gà rừng.ức bởi xuân huyên

bộc lộ hoàn cảnh sống o ép trong gia đình KN Cô muốn vượt ra không được,

muốn chia sẻ cùng láng giềng nhưng không ai hay

+ Những câu hát khác

Nàng bỏ KN, say đắm TP, nàng đã làm theo tiếng gọi của tình yêu tự do nhưng lại

sợ “chúng chê bạn cười” XV khuyên người ta giữ lấy “đạo hằng” nhưng nàng tự ý thức được mình là người “ trăng gió” Khát vọng tình yêu và đạo đức đã tạo thành mâu thuẫn trong tâm trạng của XV được thể hiện qua lời hát

+ Sự đan cài giữa câu hát dại điên và tỉnh táo cũng như hát xuôi và hát ngược đều tập trung diễn tả tâm trạng của XV, vừa đau khổ, vừa bi kịch

Trang 32

Mắc mưu Thị Hến (Trích tuồng Nghêu, Sò, Ốc, Hến)

- Đây là tác phẩm tiêu biểu nhất trong di sản tuồng truyền thống và là vở tuồng đồ thuộc loại đặc sắc nhất

2 Xuất xứ và hoàn cảnh sáng tác: Văn bản Nghêu, Sò, Ốc, Hến do Hoàng Châu

Kỳ chỉnh lí (1957) gồm có tất cả 3 hồi

3 Tóm tắt: Thị Hến đã hẹn Nghêu tối đến nhà, nhưng lại cho mời cả Huyện Trìa và

Đề Hầu cùng đến Thị Hến dùng mưu dụ cả ba cùng xuất đầu lộ diện và bị một phen

bẽ mặt

III Tìm hiểu chi tiết

1 Bối cảnh đoạn trích

- Không gian và thời gian trong đoạn trích Mắc mưu Thị Hến là không gian hẹp chỉ

có từ nhà thị Hến ra đến cửa khi có người đến, thời gian là trời tăm tối

2 Yếu tố tạo nên tiếng cười

- Yếu tố tạo ra tiếng cười trong đoạn trích trên xuất phát từ ngôn ngữ hành động của nhân vật Nghêu, Nghêu được biết đến là ông bói mù, với những câu nói hài hước, tếu táo

- Nghêu đến nhà Thị Hến để tán tỉnh nàng nhưng chưa kịp làm gì thì thấy Đề Hầu

gõ cửa đến Khi ấy lão sốt vó lo lắng, hoang mang, sợ hãi đã nhanh chóng để tìm chỗ trốn “Trốn chỗ nào khác chỉ cho min/ (Chớ) Ra cửa có thầy Đề đứng đó! Sợ bị phát hiện Nghêu đã chui xuống gầm phản nhà Hến

 Hành động của kẻ nhút nhát, sợ sệt Nhưng rồi khi nghe Huyện Trìa nói về việc

“Phàm tu hành mà đã xuất gia/ Có phá giới đánh đòn phát lạc” thì Nghêu đã chui

từ gầm phản ra và thay đổi bộ mặt vui vẻ để lấy lòng, còn nịnh hót khen những lời của Huyện Trìa là đúng đắn khác hoàn toàn so với lúc đầu khi Đề Hầu đến, Nghêu

đã lật mặt thay đổi cảm xúc tuy vẫn còn run sợ nhưng hắn lại ngon ngọt

 Tác giả đã rất thành công trong việc dùng ngôn ngữ hành động để tạo tiếng cười

Trang 33

Tất cả đã được tác giả dân gian khắc họa đầy đủ diện mạo bức tranh làng quê phong kiến buổi suy tàn

Trang 34

Thị Mầu lên chùa (Trích chèo Quan Âm Thị Kính)

I Tác phẩm

1 Thể loại: Chèo

2 Xuất xứ: Đoạn trích Thị Mầu lên chùa được trích từ vở chèo Quan Âm Thị Kính

3 Phương thức biểu đạt: Tự sự + Biểu cảm

4 Tóm tắt: Đoạn trích thuật lại sự việc Thị Mầu lên chùa để tán tình, trêu đùa với Tiểu Kính với thái độ trơ trẽn điệu bộ lẳng lơ Tuy nhiên Tiểu Kính vẫn liêm chính, không quan tâm và giữ khoảng cách với Thị Mầu

5 Giá trị nội dung:

- Thể hiện cá tính riêng, dám vượt qua khuôn khổ vốn có của Nho Giáo để bày tỏ và thể hiện mình, Thị Mầu như đại diện cho bao nỗi khát vọng của người phụ nữ xưa

- Đồng thời khẳng định phẩm chất liêm chính của Tiểu Kính

6 Giá trị nghệ thuật:

- Ngôn ngữ, hành động, lời thoại thể hiện đặc sắc trong vở chèo

- Những câu hát tập trung thể hiện tính cách nhân vật

III Tìm hiểu chi tiết

1 Nhân vật Tiểu Kính

- Ngôn ngữ, hành động của Tiểu Kính: Giữ khoảng cách, tìm cách từ chối, lẩn tránh, lúc nào cũng tụng kinh “Niệm Nam mô A Di Đà Phật!”

Trang 35

Nhân vật Tiểu Kính đẹp trai ngời ngời mà lòng dạ thẳng băng, trơ trơ như gỗ đá, người tĩnh tọa đều đều, liên hồi gõ mõ, niệm Nam mô A di đà Phật, vẻ mặt càng cố

tỏ ra bất động, lạnh lùng giỏi nhẫn nhịn, cam chịu

2 Nhân vật Thị Mầu

- Hành động của Thị Mầu: xông ra nắm tay chú tiểu

- Ngôn ngữ thể hiện Thị Mầu: của người lẳng lơ, thấy chú tiểu đẹp thì mê, mà mê thì ghẹo, mà ghẹo thì ghẹo tới nơi tới chốn Thị mầu ghẹo tiểu được diễn tả bằng chính hai điệu hát “Cấm giá” và “Bình thảo”

+ “Cấm gía” vì Thị Mầu mới ve vãn nên câu thơ còn e ấp tế nhị:

“Tôi lên chùa thấy tiểu mười ba

Thấy sư mười bốn vãi già mười lăm

Tôi muốn cho một tháng đôi rằm”

+ “Bình thảo” khi mà sự ve vãn bên ngoài không có kết quả, khi mà Thị Mầu đã bốc lửa, Thị Mầu muốn đốt cháy với chú tiểu thì lời ca trong điệu hát không còn ngọt ngào:

“Người đâu ở chùa này

Cổ cao ba ngấn, lông mày nét ngang

Ấy mấy thầy tiểu ơi”

“Thầy như táo rụng sân đình

Em như gái rở, đi rình của chua

- Thị Mầu không quan tâm đến việc vào lễ Phật

- Hành động, ngôn ngữ bày tỏ tình cảm của Thị Mầu được thể hiện qua câu:

“Người đâu ở chùa này

Cổ cao ba ngấn, lông mày nét ngang

Ấy mấy thầy tiểu ơi”

“Thầy như táo rụng sân đình

Em như gái rở, đi rình của chua”

Trang 36

 Thị Mầu là người con gái có cá tính riêng, dám vượt qua khuôn khổ vốn có của Nho Giáo để bày tỏ và thể hiện mình, Thị Mầu như đại diện cho bao nỗi khát vọng của người phụ nữ xưa Tuy những hành động của Mầu trong chùa là điều không nên làm nhưng bởi sự hối thúc, khao khát của tình yêu mà lí trí bị lu mờ

3 Đặc sắc nghệ thuật

Lối nói ví von so sánh thể hiện khát khao yêu đương của Thị Mầu

“Thầy như táo rụng sân đình

Em như gái rở, đi rình của chua”

+ Cây táo mọc ở sân đình thường cao, sau mùa xuân chín rụng Vì ít được chăm sóc lại già cỗi nên táo vừa chua, vừa chát

+ Còn người phụ nữ nghén, người đời gọi là gái rở, thường thèm của chua, thèm đến xót lòng

=> Người đàn bà ăn dở mà gặp quả táo, hơn nữa lại là rụng mà rụng ở sân đình thì nỗi khát khao thèm muốn càng tăng thêm gấp bội Nhặt quả táo lên chắc người con gái ăn dở ấy phải nhai nuốt ngấu nghiến

=> Việc Thị Mầu ví mình như gái rở, ví tiểu Kính như táo rụng sân đình thì hình ảnh vừa thật vừa rõ nét mà vừa dễ hiểu cho người xem

Trang 37

Thăng Long – Đông Đô – Hà Nội: một hằng số văn hóa Việt Nam

vẻ Bên cạnh đó, phong thái và khí chất của con người Hà Nội cũng rất khác, duyên dáng, phong lưu mà sang trọng Từ cổ chí kim, trải qua ngàn đời, ngàn năm xây dựng và phát triển, Hà nội vẫn luôn là mảnh đất xinh đẹp, đáng tự hào của dân tộc

ta

5 Bố cục: Chia văn bản thành 2 đoạn

- Đoạn 1: Từ đầu đến “ở và đi lại”: Sự hình thành văn hóa Hà Nội

- Đoạn 2: Còn lại: Nếp sống thanh lịch của người Hà Nội

6 Giá trị nội dung:

- Ca ngợi nền văn hóa, nét đẹp lâu đời của mảnh đất Hà Nội

Trang 38

- Giới thiệu sự hình thành và nếp sống thanh lịch của người Hà Nội

7 Giá trị nghệ thuật:

- Các biện pháp tu từ được sử dụng linh hoạt, sáng tạo

- Giọng văn nhẹ nhàng, sâu sắc

- Sử dụng sáng tạo kết hợp các phương thức biểu đạt nhằm phân tích đánh giá văn bản

III Tìm hiểu chi tiết

1 Sự hình thành nền văn hóa Hà Nội

- Văn hoá Hà Nội được hình thành dựa trên sự kết hợp của những yếu tố:

+ Trữ lượng folklore (dân gian) phong phú, ca dao, tục ngữ, dân ca, chèo, múa rối, truyện cổ tích, của vũng Đông, Nam, Đoài, Bắc kết tụ chọn loc và nâng cao trên cái có sẵn của vùng non nước Hồ Tây - Hồ Gươm, núi Nùng, núi Khán mà trở thành folklore Hà Nội

+ Truyền thống lễ hội văn hóa dân gian, sinh hoạt văn hóa tôn giáo lâu đời

+ Văn hoá dân gian không tách rời mà kết hợp, hoà họp với văn hoá cung đình và được “chính thức hoá" và “sang trọng hoá" Cái sang trọng bao giờ cũng là một sắc thái cần và bắt buộc của văn hoá Thủ đô, văn hoá Thăng Long - Hà Nội

2 Nếp sống thanh lịch của người Hà Nội

- Hà Nội là nơi tập trung của những người Việt Nam lao động giỏi, làm thợ giỏi, làm thầy cũng giỏi Là nơi tích tụ tinh hoa bốn phưong => thông minh, tài hoa

- Nhu cầu lựa chọn, đòi hỏi và có điều kiện thỏa mãn việc tiêu dùng “của ngon vật lạ” từ các nơi đổ về Từ đó có mạng lưới làng quê tập trung sản xuất đặc sản chuyên biệt => biết hưởng thức, tận hưởng, sành ăn, sành mặc

- Có điều kiện thuận lợi để giao lưu và tiếp thu văn hóa cộng thêm truyền thống hiếu học => nhanh nhạy, hiểu biết và mẫn cảm về chính trị - tình cảm

=> Qua thời gian đã mài giũa ra những người con Hà Nội thanh lịch, tinh tế, tài hoa, phong lưu về vật chất, phong phú về tinh thần, sang trọng mà không xa hoa, cởi mở

mà không lố bịch

3 Những phương diện văn hóa

Phần 1: Sự hình thành văn hóa Hà Nội

* Phương diện nội dung:

+ Lịch sử hình thành văn hóa Hà Nội qua các triều đại lịch sử: Triều đình Lý – Trần; nhà nước dân tộc Lý – Trần – Lê

Trang 39

+ Các yếu tố dẫn đến sự hình thành văn hóa Hà Nội: Sự kết hợp giữa yếu tố Văn hóa dân gian và văn hóa cung đình

* Phương diện hình thức: Dấu ngoặc đơn (dùng để trú giải); các số chú thích (giải nghĩa từ ngữ)

Phần 2: Nếp sống thanh lịch của người Hà Nội

* Phương diện nội dung:

+ Chỉ ra nguyên nhân dẫn đến sự hình thành nếp sống thanh lịch của người Hà Nội (Từ lao động giỏi, làm thợ giỏi, làm thầy giỏi; đến nảy sinh nhu cầu lựa chọn; đến hình thành mạng lưới làng quê sản xuất đặc sản nông phẩm và sản phẩm thủ công ven đô; ròi trở nên sành ăn, sành mặc, đánh giặc giỏi, làm ăn tài…)

+ Trích những câu thơ, câu thành ngữ tục ngữ để bổ sung, làm rõ nội dung

* Phương diện hình thức: Các dòng chữ in nghiêng (giúp người đọc dễ xác định vị trí và mối quan hệ của các thông tin); dấu ngoặc đơn (dùng để trú giải)

Trang 40

Văn bản: Lễ hội Đền Hùng

I Tác phẩm

1 Thể loại: Bản tin

2 Xuất xứ và hoàn cảnh sáng tác: Văn bản được trích từ báo laodong.vn

3 Phương thức biểu đạt : Thuyết minh

4 Người kể chuyện: Ngôi kể thứ 3

5 Tóm tắt: Giới thiệu về lễ hội đền Hùng

6 Bố cục:

- Phần 1: từ đầu đến “nhân dân địa phương”: Tưng bừng khai mạc lễ hội đền Hùng

2019

- Phần 2: còn lại: Những điều cần chú ý khi tham gia lễ hội

7 Giá trị nội dung:

- Giới thiệu về Lễ Hội đền Hùng

- Giới thiệu về Khu di tích đền Hùng

- Nêu thông tin cần biết khi đến khu di tích đền Hùng

Ngày đăng: 09/02/2023, 15:38

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm