Lí luận nhà nước và pháp luật là môn học quan trọng trong lĩnh vực Đại cương học và Chính trị học. Nó bao gồm những khái niệm về nhà nước, chính trị và pháp luật. Môn học này sẽ giúp sinh viên hiểu về các nền tảng lý luận về nhà nước và pháp luật, các chủ nghĩa về nhà nước và pháp luật, các quan điểm về pháp luật và chính trị, và các vấn đề liên quan đến sự quản lý và điều hành của nhà nước và pháp luật.Đề cương thi vấn đáp Lí luận nhà nước và pháp luật gồm 36 câu, có đáp án chi tiết rõ ràng của Trường Đại học Luật Đại học Quốc gia Hà Nội. Rất mong các bạn đọc tham khảo
Trang 11
CÂU HỎI ÔN THI HỌC PHẦN LÝ LUẬN VỀ NHÀ NƯỚC VÀ PHÁP LUẬT
Áp dụng cho các lớp Luật học (4 tín chỉ) Hình thức thi: Vấn đáp
Mỗi phiếu thi có 3 câu hỏi trong số các câu hỏi dưới đây
A Phần Lý luận về nhà nước
1 Đối tượng nghiên cứu của Lý luận nhà nước và pháp luật
- Trả lời: Đối tượng nghiên cứu: qui luật chung nhất, những phạm trù, khái niệm cơ bản nhất về nhà nước
và pháp luật
2 Phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu của Lý luận nhà nước và pháp luật
Trả lời:
- Phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu của Lý luận nhà nước và pháp luật là các nguyên tắc cơ bản – tức là các quan điểm cơ bản, định hướng, là hệ thống các cách thức, phương pháp, phương tiện để nhận thức các hiện tượng khách quan, là phương pháp tiếp cận các vấn đề cần nghiên cứu
3 Sự hình thành nhà nước trong lịch sử: các quan điểm khác nhau về sự hình thành nhà nước, các phương thức hình thành nhà nước trong lịch sử
Trả lời:
Quá trình hình thành nhà nước
* Thời kì cổ, trung đại:
Thuyết Thần quyền: Thượng đế là người sắp đặt trật tự xã hội, tạo ra nhà nước để bảo vệ trật tự chung
Phái Quân chủ: Vua thống trị dân chúng
Phái Giáo quyền: Giáo hội thống trị tinh thần, Vua thống trị thể xác, do đó Vua phụ thuộc vào Giáo hội
Phái Dân quyền: khẳng định nguồn gốc quyền lực nhà nước là từ Thượng đế, thỏa thuận với phục tùng Vua với điều kiện Vua phải cai trị công bằng, không trái với lợi ích của dân
Thuyết Gia trưởng: nhà nước là kết quả phát triển của gia đình, quyền lực nhà nước giống với quyền gia trưởng
mở rộng
* Thế kỉ XVI – XVIII:
(i) Thuyết Khế ước xã hội: Sự ra đời của nhà nước là sản phẩm của 1 khế ước được ký kết giữa những người sống trong tình trạng không có nhà nước, trong đó mỗi người giao một phần trong số quyền tự nhiên của mình cho nhà nước để nhà nước bảo vệ lợi ích chung cả cộng đồng Vì vậy, quyền lực nhà nước thuộc về nhân dân (ii) Thuyết Bạo lực: nhà nước xuất hiện từ việc sử dụng bạo lực của thị tộc này với thị tộc khác, là hệ thống cơ quan đặc biệt để thị tộc chiến thắng nô dịch kẻ bại trận, là công cụ của kẻ mạnh thống trị kẻ yếu
(iii) Thuyết Tâm lý: nhà nước xuất hiện do nhu cầu con người muốn phụ thuộc vào thủ lĩnh, giáo sĩ, là tổ chức của những siêu nhân có sứ mạng lãnh đạo xã hội
(iv) Quan niệm “Nhà nước siêu Trái đất”: sự xuất hiện của Xã hội loài người và nhà nước là do nền văn minh ngoài Trái đất
* Thế kỉ XIX – nay:
(i) Học thuyết Mác-Lênin: Sự tồn tại của nhà nước là tất yếu khách quan, không phải là thực thể tồn tại vĩnh viễn bất biến mà sẽ có sự hình thành, phát triển và tiêu vong
(ii) Thực tiễn cuộc sống: nhà nước ra đời dựa trên sự tan rã của công xã nguyên thủy, xuất hiện khi sản xuất xã hội tạo được sản phẩm dư thừa dẫn đến tư hữu và có sự phân hóa giai cấp trong xã hội với những mâu thuẫn giai cấp không thể điều hòa
Các phương thức hình thành nhà nước trong lịch sử
(i) Nhà nước A-ten (hình thức thuần túy và cổ điển nhất): ra đời chủ yếu và trực tiếp từ sự phát triển và đối lập giai cấp trong nội bộ xã hội thị tộc
Trang 22
(ii) Nhà nước Giéc-manh (hình thức được thiết lập sau chiến thắng của người Giéc-manh đối với đế chế La Mã
cổ đại): ra đời chủ yếu dưới ảnh hưởng của văn minh của La Mã
(iii) Nhà nước Rô-ma (hình thức được thiết lập dưới tác động thúc đẩy của cuộc đấu tranh của những người bình dân sống ngoài thị tộc Rô-ma cống lại giới quý tộc của các thị tộc Rô-ma
(iv) Ở phương Đông, nhà nước xuất hiện sớm cả về thời gian, mức độ chín muồi của các điều kiện kinh tế – xã hội Nguyên nhân là do những yêu cầu thường trực về tự vệ và bảo vệ lợi ích chung của cả cộng đồng, nên từ rất sớm, cư dân phương Đơn đã biết tập hợp lực lượng trong một cộng đồng cao hơn gia đình và công xã Khi
xã hội vận động, phát triển đến một trình độ phân hóa nhất định thì bộ máy quản lý (vốn để thực hiện chức năng công cộng) bị giai cấp thống trị lợi dụng để thực hiện cả chức năng thống trị giai cấp, duy trì bạo lực
4 Các đặc trưng cơ bản của nhà nước, định nghĩa nhà nước
Trả lời:
- Định nghĩa nhà nước:
+ Là tổ chức quyền lực chính trị, quyền lực công dân của XH, của nhân dân, có chủ quyền,
+ thực hiện việc quản lí các công việc chung của toàn xã hội trên cơ sở pháp luật và lợi ích chung với bộ máy nhà nước chuyên trách,
+ nhà nước có trách nhiệm bảo vệ, bảo đảm các quyền tự do con người vì sự phát triển bền vững của xã hội
- Các đặc trưng cơ bản của nhà nước:
+ Có bộ máy nhà nước
+ Có dân cư và lãnh thổ
+ Có pháp luật
+ Có chủ quyền quốc gia
+ Có quyền thu thuế theo hình thức bắt buộc
5 Hình thức chính thể
Trả lời:
Là cách thức tổ chức, trình tự thành lập các cơ quan cao nhất của quyền lực nhà nước, mối quan hệ giữa các cơ quan này với nhau và với nhân dân
6 Hình thức cấu trúc nhà nước
Trả lời:
• Cách thức tỏ chức, phân bố quyền lực nhà nước thành các đơn vị hành chí – lãnh thổ
• Mối quan hệ giữa các chủ thể lãnh thổ đó của quyền lực nhà nước
7 Bản chất, hình thức, đặc điểm cơ bản của Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam
Trả lời:
Bản chất nhà nước:
Thể hiện ở 2 phương diện
- Tính giai cấp công nhân (thể hiện ở điều 2 khoản 2 luật Hiến pháp 2013)
- Tính xã hội (điều 3, chương III Hiến pháp 2013…)
Hình thức nhà nước:
- Hình thức cấu trúc Nhà nước Cộng Hòa Xã Hội Chủ Nghĩa Việt Nam là Nhà nước đơn nhất, được Hiến pháp 2013 quy định tại điều 1
Đặc điểm cơ bản của nhà nước:
- Nhà nước CHXHCNVN là nhà nước của dân, do dân, vì dân, tất cả quyền lực Nhà nước thuộc về nhân dân
mà nền tảng là liên minh giữa các giai cấp công nhân với giai cấp nông dân và đội ngũ trí thức
- Nhà nước CHXHCNVN do Đảng CSVN lãnh đạo
- Nhà nước CHXHCNVN là nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của nhân dân, do dân, vì nhân dân
- Nhà nước bảo đảm thực hiện dân chủ trong các lĩnh vực hoạt động XH, quyền làm chủ của nhân dân, tạo lập những điều kiện cần thiết để thu hút sự tham gia đông đảo của nhân dân vào các công việc của nhà nước và xã hội
- Nhà nước CHXHCNVN là nhà nước thống nhất của các dân tộc VN
- Nhà nước CHXHCNVN thực hiện chính sách hòa bình, hữu nghị, mở rộng quan hệ ngoại giao và hợp tác với tất cả các nước trên thế giới
Trang 33
8 Chức năng nhà nước: khái niệm, phân loại, các yếu tố quy định, tác động đến việc xác định và thực hiện chức năng nhà nước, nêu ví dụ
Trả lời:
Chức năng nhà nước là những phương diện hoạt động chủ yếu của nhà nước, thể hiện bản chất, vai trò xã hội,
mục tiêu và các nhiệm vụ của nhà nước, được thực hiện bằng những hình thức và phương pháp nhất định
Phân loại chức năng của nhà nước
- Dựa vào ý nghĩa của chức năng nhà nước phân chia thành:
+ chức năng chủ yếu
+ chức năng phái sinh
- Dựa vào nguyên tắc phân chia quyền lực, phân chia thành:
+ Chức năng lập pháp
+ chức năng hành pháp
+ chức năng tư pháp
- Dựa vào kiểu nhà nước, phân chia thành
+ chức năng nhà nước chiếm hữu nô lệ
+ chức năng nhà nước phong kiến
+ chức năng của nhà nước tư bản
+ chức năng của nhà nước xã hội chủ nghĩa
- Dựa vào các lĩnh vực cơ bản của nhà nước, phân chia thành
+ chức năng đối nội
+ chức năng đối ngọai
Các yếu tố quy định, tác động đến việc xác định và thực hiện chức năng nhà nước:
- Trình độ phát triển của lực lượng sản xuất, kinh tế trong xã hội
Ví dụ: ở Việt Nam, lực lượng sản xuất ngày càng phát triển, trình độ lao động ngày càng tăng, dẫn đến sốlượng sản phẩm càng nhiều, nền kinh tế đi lên để phù hợp với lực lượng sản xuất, đòi hỏi Nhà nước phải có các chính sách, chủ trương, cơ chế mới để đảm bảo cho nền kinh tế phát triển đúng với giai đoạn hiện tại
- Cơ cấu - phân tầng xã hội, mối quan hệ giữa các nhóm lợi ích trong xã hội
Ví dụ: Từ sau Đại hội VI (1986), chúng ta đã chuyển từ nền kinh tế tập trung quan liêu bao cấp sang xây dựng kinh tế hàng hóa nhiều thành phần, phát triển kinh tế thị trường định hướng XHCN, đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa, tích cực, chủ động hội nhập quốc tế Quá trình này đã dẫn đến những biến đổi vĩ mô trong CCXH giai cấp, nghề nghiệp, dân số, lãnh thổ, dân tộc, tôn giáo , đặc biệt trong cơ cấu xã hội giai cấp có sự biến đổi
rõ rệt
- Trình độ và trách nhiệm của các nhà chính trị, bộ máy nhà nước
Ví dụ: Có trình độ giúp chính trị viên hiểu rõ và hiểu rõ hơn về trách nhiệm của mình Ngược lại, trách nhiệm giúp nâng cao tinh thần tự giác trong học tập, rèn luyện để nâng cao trình độ, từ đó thực hiện nhanh chóng, hiệu quả công việc được giao Bộ máy nước Việt Nam hiện nay vẫn còn một số cán bộ nhà nước kém hiểu biết, thiếu trách nhiệm đã góp phần không nhỏ làm ảnh hưởng đến uy tín và khả năng thực hiện chức năng của nhà nước
- Lịch sử phát triển toàn dân tộc, truyền thống - văn hóa- tư tưởng
Ví dụ: Nhà nước chủ nô, đểbảo vệ quyền lợi về tư liệu sản xuất cũng như địa vị của chủ nô, ngăn cản sự nổi dậy của nô lệ …Nhà nước phải có chức năng trấn áp sự phản kháng của nô lệ và các tầng lớp nhân dân lao động bằng quân sự
- Các yếu tố bên ngoài:
Quyền con người, dân chủ hóa và toàn cầu hóa cũng ảnh hưởng rất lớn đến nhiều chức năng nhà nước
9 Hình thức và phương pháp thực hiện chức năng nhà nước, liên hệ vào các chức năng của nhà nước Cộng hoà
xã hội chủ nghĩa Việt nam
- Các hình thức thực hiện chức năng nhà nước
Trang 44
+ hoạt động xây dựng pháp luật (lập pháp
+ hoạt động tổ chức thực hiện pháp luật (hành pháp)
+ hoạt động bảo vệ pháp luật (tư pháp)
- Các phương pháp thực hiện chức năng nhà nước
+ giáo dục
+ khuyến khích
+ thuyết phục
+ cưỡng chế
- Chức năng kinh tế của nhà nước
+ Hình thức: Xây dựng pháp luật, thực thi pháp luật, bảo vệ pháp luật
+ Phương pháp: Phương pháp hành chính kết hợp với giáo dục (cưỡng chế kết hợp răn đe, phòng ngừa)/ Phương pháp kinh tế (thông qua lợi ích kinh tế)/ Phương pháp tài phán (xét xử, trọng tài, hòa giải, thương lượng
- Chức năng xã hội của nhà nước:
+ Hình thức:
+ Phương pháp:
10 Chức năng kinh tế của nhà nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt nam
Trả lời:
- KN: Chức năng KT của nhà nước là phương diện hoạt động chủ yếu cơ bản của nhà nước trên lĩnh vực KT phù hợp bản chất, vai trò, trách nhiệm của nhà nước đối với xã hội
- Phương diện quản lí KT và tổ chức kinh tế (nhà nước trực tiếp đầu tư kinh doanh)
- Hình thức và phương pháp thực hiện chức năng kinh tế của nhà nước
+ Hình thức: Xây dựng pháp luật, thực thi pháp luật, bảo vệ pháp luật
+ Phương pháp: Phương pháp hành chính kết hợp với giáo dục (cưỡng chế kết hợp răn đe, phòng ngừa)/ Phương pháp kinh tế (thông qua lợi ích kinh tế)/ Phương pháp tài phán (xét xử, trọng tài, hòa giải, thương lượng
- Các điều kiện bảo đảm thực hiện chức năng kinh tế
+ Chính trị - pháp luật: Ổn định chính trị, dân chủ, kỉ cương, giới hạn quyền lực, giám sát quyền lực, …
+ kinh tế: Tiềm lực kinh tê là cơ sở cho các quyết sách
+ văn hóa: Tư duy cũ về mới về nền kinh tế (lợi ích công động, của chung hay lợi ích cá nhân, của riêng)
+ công nghệ: Áp dụng công nghệ mới với hoạt động KT
- Xu hướng phá triển chức năng kinh tế?
+ Tư duy về 3 trụ cột: Nhà nước, thị trường và xã hội
+ Nhà nước nhỏ, xã hội lớn: Nhà nước phait tôn trọng qui luật của thị trường, tôn trọng quyền tự do kinh doanh củ người dân, doanh nghiệp,…
+Nhà nước chỉ cầm lái mà không cầm chèo: Nhà nước kiến tạo phát triển, ổn định KT vĩ mô, không làm thay đổi thị trường, cá nhân, doanh nghiệp…
+ Rõ ràng về chủ nhiệm: Trách nhiệm cá nhân nhười đứng đầu/ Trách nhiệm tập thể
+ Ứng dụng công nghệ số: Ứng dụng công nghệ, kinh tế số hóa, thương mại điện tử
11 Các chức năng xã hội của nhà nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt nam
- Chức năng xã hội bao gồm nhiều lĩnh vực hoạt động xã hội như lao động, việc làm, an sinh xã hội, y tế, dân số, xây dựng hạ tầng cơ sở, bảo đảm trật tự an toàn xã hội… Bảo đảm cho người dân có những điều kiện sống bình thường nhất, nâng cao chất lượng cuộc sống, bảo vệ và bảo đảm các quyền con người, quyền công dân trong lĩnh vực xã hội
- Nhà nước xây dựng chính sách, pháp luật về lao động, việc làm, thực hiện các biện pháp cần thiết Thực hiện chính sách, pháp luật về an sinh xã hội và bảo hiểm xã hội,…
- Nhà nước xây dựng chính sách phát triển y tế, bảo vệ và chăm sóc sức khỏe nhân dân, thực hiện xã hội hóa, có chính sách hợp lí Đảm bảo chế độ kiểm tra, thanh tra, giám sát nhà nước và giám sát xã hội trong việc xây dựng và
tổ chức thực hiện chức năng xã hội, xử lí nghiêm minh, công bằng và kịp thời mọi hành vi vi phạm pháp luật
Trang 55
12 Bộ máy nhà nước CHXHCN Việt nam: khái niệm, phân loại các cơ quan trong bộ máy nhà nước, kể tên các nguyên tắc cơ bản về tổ chức và hoạt động của bộ máy nhà nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt nam
Trả lời:
Bộ máy nhà nước là:
- 1 hệ thống các quan nhà nước từ trung ương đến địa phương
- Được tổ chức và hoạt động theo những nguyên tắc chung, thống nhất
- nhằm thực hiện các chức năng, nhiệm vụ của nhà nước
Sơ đồ bộ máy nhà nước:
Nguyên tắc cơ bản:
- Nguyên tắc quyền lực nhà nước là thống nhất, có sự phân công, phối hợp, kiểm soát giữa các cơ quan nhà
nước trong việc thực hiện các quyền lập pháp, hành pháp, tư phán
- Nguyên tắc tất cả quyền lực nhà nước thuộc về nhân dân
- Nguyên tắc tôn trọng, bảo vệ, bảo đảm quyền con người, quyền công dân
- Nguyên tắc ĐCSVN lãnh đạo đối với nhà nước và xã hội
- Nguyên tắc tôn trọng, bảo vệ, bảo đảm quyền con người và quyền công đân
- Nguyên tắc tôn trọng tuân thủ hiến pháp và pháp luật
- Nguyên tắc tập trung dân chủ
12 Khái niệm, các đặc điểm cơ bản của nhà nước pháp quyền Liên hệ Hiến pháp sửa đổi năm 2013 về sự thể hiện các đặc điểm cơ bản của nhà nước pháp quyền
Trả lời:
Nhà nước pháp quyền là 1 phương thức tổ chức quyền lực nhà nước tiến bộ với
- sự phân công lđ KH, hợp lí giữa các quyền lập pháp, hành pháp, tư pháp
- có cơ chế kiểm soát quyền lực
- nhà nước được tổ chức và hoạt động trên cơ sở pháp luật
- nhà nước quản lí xã hội bằng pháp luật
- pháp luật có tính khách quan, nhân đạo, công bằng tất cả vì lợi ích chính đáng của con người
13 Hệ thống chính trị Việt nam: khái niệm, các bộ phận cấu thành, vị trí, vai trò của nhà nước trong hệ thống chính trị Việt nam
- Hệ thống chính trị Việt Nam: LÀ 1 chỉnh thể thống nhất bao gồm các bộ phận cấu thành là các thiết chế chính trị
có vị trí, vai trò khác nhau nhưng có mối quan hệ mật thiết với nhau trong qua trình tham gia thực hiện quyền lực chính trị của nhân dân dưới sự lãnh đạo của Đảng CSVN
- Các bộ phận cấu thành
Đảng CSVN
Nhà nước
MẶt trận tổ quốc VN và các tổ chức chính trị - xã hội (Tổng liên đoàn lao động VN, đoàn thanh niên CSHCM, Hội NDVN, Hội liên hiệp Phụ nữ Việt Nam, Hôi Cựu chiến binh Việt Nam)
- Vị trí vai trò của nhà nước trong hệ thống chính trị
Hệ thống
cơ quan
quyền lực
nhà nước
(quốc hội,
HĐNDcác
cấp
HTCQ hành chính nhà nước (chính phủ, UBND các cấp
HTCQ xét
xử (Tòa án các cấp)
HTCQ Kiểm sát (Viện kiểm sát các cấp)
Chủ tịch nước (Nguyên thủ QG)
Trang 66
Y1: Nhà nước giữ vị trung tâm, trụ cột
- Nhà nước là đại diện chính thức cho toàn XH
- Nhà nước có bộ máy làm chức năng quản lí XH
- Nhà nước quản lí XH bằng PL
- Nhà nước có chủ quyền quốc gia
Nhà nước là chủ sở hữu đối với những tư liệu SX quan trọng
Y2: Nhà nước giữ vai trò đặc biệt trong hệ thống chính trị
- Nhà nước là đại diện chính thức cho toàn xã hội
- Nhà nước có bộ máy làm chức năng quản lí xã hội
- Nhà nước quản lí xã hội bằng pháp luật
- Nhà nước có chủ quyền quốc gia
- Nhà nước là chủ sở hữu đối với những tư liệu SX quan trọng nhất
B Phần Lý luận về pháp luật
14 Sự hình thành pháp luật trong lịch sử
Trong lịch sử phát triển của loài người đã có thời kỳ không có pháp luật đó là thời kỳ xã hội cộng sản nguyên thủy Trong xã hội này, để điều chỉnh các quan hệ xã hội, tạo lập trật tự, ổn định cho xã hội, người nguyên thủy sử dụng các quy phạm xã hội, đó là các tập quán và tín điều tôn giáo Các quy phạm xã hội trong chế độ cộng sản nguyên thủy có những đặc điểm: Thể hiện ý chí chung của các thành viên trong xã hội, bảo vệ lợi ích cho tất cả thành viên trong xã hội; Là quy tắc xử sự chung của cả cộng đồng, là khuôn mẫu của hành vi; Được thực hiện trên cơ sở tự nguyện, dựa trên tinh thần hợp tác giúp đỡ lẫn nhau, mặc dù trong xã hội cộng sản nguyên thủy cũng đã tồn tại sự cưỡng chế nhưng không phải do một bộ máy quyền lực đặc biệt tổ chức mà do cả cộng đồng tổ chức tạo nên Những tập quán và tín điều tôn giáo lúc bấy giờ là những quy tắc xử sự rất phù hợp để điều chỉnh các quan hệ xã hội, bởi vì nó phản ánh đúng trình độ phát triển kinh tế – xã hội của chế độ cộng sản nguyên thủy, phù hợp với tính chất khép kín của tổ chức thị tộc, bào tộc, bộ lạc Khi chế độ tư hữu xuất hiện và xã hội phân chia thành giai cấp những quy phạm xã hội đó trở nên không còn phù hợp Trong điều kiện xã hội mới xuất hiện chế độ tư hữu, xã hội phân chia thành các giai cấp đối kháng, tính chất khép kín trong xã hội bị phá vỡ, các quy phạm phản ánh ý chí và bảo vệ lợi ích chung không còn phù hợp Trong điều kiện lịch sử mới xã hội đòi hỏi phải có những quy tắc xã hội mới để thiết lập cho xã hội một “trật tự”, loại quy phạm mới này phải thể hiện được ý chí của giai cấp thống trị và đáp ứng nhu cầu đó pháp luật đã ra đời
Giai đoạn đầu giai cấp thống trị tìm cách vận dụng những tập quán có nội dung phù hợp với lợi ích của giai cấp mình, biến đổi chúng và bằng con đường nhà nước nâng chúng lên thành các quy phạm pháp luật Ví dụ: Nhà nước Việt Nam suốt thời kỳ Hùng Vương – An Dương Vương chưa có pháp luật thành văn, hình thức của pháp luật lúc bấy giờ chủ yếu là tập quán pháp
Bên cạnh đó các nhà nước đã nhanh chóng ban hành các văn bản pháp luật Bởi lẽ, nếu chỉ dùng các tập quán đã chuyển hóa để điều chỉnh các quan hệ xã hội thì sẽ có rất nhiều các quan hệ xã hội mới phát sinh trong xã hội không được điều chỉnh, vì vậy để đáp ứng nhu cầu này hoạt động xây dựng pháp luật của các nhà nước đã ra đời Hoạt động này lúc đầu còn đơn giản, nhiều khi chỉ là các quyết định của các cơ quan tư pháp, hành chính, sau dần trở nên hòan thiện cùng với sự phát triển và hòan hiện của bộ máy nhà nước
Như vậy pháp luật được hình thành bằng hai con đường: thứ nhất, nhà nước thừa nhận các quy phạm xã hội – phong tục, tập quán chuyển chúng thành pháp luật; thứ hai, bằng hoạt động xây dựng pháp luật định ra những quy phạm mới
15 Bản chất, các thuộc tính cơ bản của pháp luật
* Bản chất của pháp luật
Tính giai cấp của pháp luật
Thể hiện ở sự phản ánh ý chí nhà nước của giai cấp thống trị xã hội trong hệ thống văn bản pháp luật, các hoạt động
áp dụng pháp luật của nhà nước
Tính xã hội của pháp luật
Thể hiện ở sự công bằng, hài hòa các lợi ích trong pháp luật
Pháp luật là phương thức ghi nhân, bảo vệ lợi ích của các giai cấp, các tầng lớp, các nhóm đối tượng xã hội
Pháp luật còn là công cụ ghi nhận các quá trình xã hội, nhận thức xã hội, định hướng các hoạt động xã hội theo những tiêu chí, mục đích nhất định
Pháp luật là sản phẩm của con người trong xã hội
Trang 77
Tính dân tộc, nhân loại, bảo vệ, bảo đảm các quyền con người
Pháp luật là thước đo trình độ phát triển của nhà nước pháp quyền là mức độ hài hòa giữa đạo đức và pháp luật, là quyền con người Quyền con người là tiêu chí căn bản để nhận diện, là cơ sở để hoàn thiện, đánh giá hệ thống pháp luật quốc gia
*Các thuộc tính của pháp luật
- Tính qui phạm phổ biến
- Tính xác định chặt chẽ về mặt ý thức
- Tính đảm bảo thực hiện bằng quyền lực nhà nướcc
16 Mối quan hệ giữa pháp luật và kinh tế, pháp luật và chính trị, liên hệ vào điều kiện Việt nam hiện nay
Mối quan hệ giữa pháp luật và kinh tế
Pháp luật phải được đổi thay căn bản Sự thay đổi trước hết phải bắt đầu từ các nhà làm luật Nhiệm vụ của nhà làm luật là phải xác định được các giới hạn, các phương thức của điều chỉnh pháp luật đối với các quan hệ, các hoạt động kinh tế Pháp luật của nhà nước pháp quyền phải xác định cho các cá nhân, tổ chức một phạm vi tự do hoạt động, phạm vi xác định không chỉ những hành vi cần thiết mà còn là những hành vi có thể Pháp luật phải thực sự là đại lượng của công bằng, lẽ phải, là đại lượng (phạm vi) như nhau đối với những người khác nhau - phạm vi tự do trong khuôn khổ pháp luật Pháp luật cần quy định rõ ràng, minh bạch về quyền, nghĩa vụ, trách nhiệm của các cá nhân và tổ chức; quy định hợp lý giữa tự do và trách nhiệm, giữa cái bị cấm và cái được phép làm để từng bước thực hiện các nguyên tắc của pháp luật trong nhà nước pháp quyền “được làm tất cả những gì luật không cấm” và
“chỉ được phép làm những gì luật cho phép” Tiêu chí cơ bản về hệ thống pháp luật đúng, tốt sẽ là hệ thống pháp luật nêu được những phương án cho sự lựa chọn các hành vi xử sự phù hợp quy luật khách quan, phù hợp hài hoà các loại lợi ích cá nhân, cộng đồng và xã hội, thể hiện các giá trị chân – thiện – ích - mỹ Pháp chế thời nay cũng phải được hiểu, được đánh giá và thực hành theo bộ công cụ kiểm định đó
Mối quan hệ giữa pháp luật và chính trị
Đây là một vấn đề phức tạp, đa dạng, xét một cách chung nhất, chính trị thể hiện các mối quan hệ giữa các giai cấp, tầng lớp, các nhóm lợi ích; các dân tộc, đảng phái; các tôn giáo; các quốc gia, sự tham gia của con người vào hoạt động của các thiết chế nhà nước và xã hội Xu hướng của thế giới đương đại là nhà nước luôn phải ghi nhận, tìm kiếm sự đồng thuận của các thiết chế xã hội Sự đa dạng về đời sống chính trị không làm mất đi vị thế quyền lực vốn có của nhà nước Chính trị là hiện tượng xã hội rộng hơn nhiều so với hoạt động của nhà nước Bên cạnh các thiết chế chính trị truyền thống như các đảng chính trị, thời hiện đại ngày càng có thêm nhiều thiết chế xã hội khác
Sẽ là cần thiết khi đặt vấn đề nghiên cứu, khảo sát về mối quan hệ giữa pháp luật và xã hội dân sự song hành cùng mối quan hệ giữa nhà nước và xã hội dân sự Nhà nước pháp quyền và xã hội dân sự đều cùng vận hành trong khuôn khổ pháp luật, mặc dù xã hội dân sự đa dạng, phức tạp hơn nhiều Không thể đề cập đến nhà nước pháp quyền hay chính trị mà lại thiếu vắng xã hội dân sự được Đồng thời, mối quan hệ giữa pháp luật và chính sách cũng là điều không thể không nghiên cứu Lấy chính sách thay cho pháp luật hoặc bỏ qua chính sách đều không thể được
17 Mối quan hệ giữa pháp luật và nhà nước, liên hệ vào điều kiện Việt nam hiện nay
Xây dựng nhà nước pháp quyền đã đem đến nhiều vấn đề cần phải đổi mới quan niệm, phải tư duy lại, trong đó có vấn đề mối quan hệ giữa nhà nước và pháp luật Trong việc nghiên cứu, giải quyết các vấn đề xã hội, cần quan tâm
lý giải mối quan hệ hữu cơ giữa các hiện tượng nhà nước - con người - pháp luật, và “đó là những vấn đề không thể xem xét trong sự tách rời nhau” Nhà nước và pháp luật trong thực tiễn sinh động nhiều khi có thể đi theo các hướng khác nhau, mâu thuẫn với nhau ở những mức độ nhất định tuỳ thuộc vào các điều kiện, hoàn cảnh khách quan và chủ quan Mâu thuẫn là tất yếu của các sự vật, hiện tượng ở trong một thể thống nhất Nhà nước và pháp luật cũng không thể là ngoại lệ với quy luật khách quan ấy Biện chứng của mối quan hệ giữa nhà nước và pháp luật
là sự tác động của nhà nước đối với pháp luật không phải là tuyệt đối và ngược lại
Trong việc nghiên cứu mối quan hệ giữa nhà nước và pháp luật không chỉ quan tâm đến sự thống nhất nội tại, sự cần thiết có nhau của nhà nước và pháp luật mà còn phải xem xét đến sự khác biệt, sự không tương thích, hay những mâu thuẫn tất yếu của nhà nước và pháp luật Sự không tương xứng với nhau của nhà nước và pháp luật được thể hiện ở rất nhiều vấn đề cụ thể, ví như sự không phù hợp giữa cơ cấu, tổ chức của nhà nước với hoạt động xây dựng pháp luật, áp dụng, giải thích, phổ biến, giáo dục pháp luật Trình độ, nhận thức, đạo đức nghề nghiệp của cán bộ áp dụng pháp luật nhiều khi lạc hậu so với lý luận khoa học và thực tiễn, thậm chí với chính các quy định pháp luật mới Trong điều kiện hiện nay, sự tương xứng giữa vai trò và năng lực là vô cùng quan trọng trong mọi hoạt động của nhà nước và xã hội Trong thực tiễn, việc chăm lo xây dựng, hoàn thiện bộ máy nhà nước phải thực hiện song song, đồng bộ với việc hoàn thiện pháp luật, tổ chức thực thi pháp luật
Trang 88
18 Mối quan hệ giữa pháp luật và tập quán, liên hệ thực tiễn Việt Nam hiện nay
-Trả lời:
a) Tập quán là nguồn hỗ trợ, bổ sung cho pháp luật
+ Ở Việt Nam hiện nay, sự phát triển ở các vùng miền, các dân tộc còn khôngđồng đều, vẫn còn có sự chênh lệch không nhỏ về trình độ phát triển, đời sống vănhóa, tinh thần giữa các vùng miền, cộng đồng dân cư Vì vậy, không phải khi nàovà ở đâu, các quy phạm pháp luật với tính khái quát cao cũng hoàn toàn phù hợpđể điều chỉnh một cách chính xác, thỏa đáng những vấn đề pháp lý phát sinh ở cácvùng miền, các cộng đồng dân cư khác nhau đó “Do vậy, mỗi một cộng đồng làngxã cụ thể luôn cần đến các quy định cụ thể, gần gũi, dễ hiểu, dễ thực hiện cho mọithành viên trong làng, phản ánh được nhu cầu tổ chức và phát triển của mỗi làng,xã cụ thể” Điều này đặt ra nhu cầu tất yếu phải áp dụng tập quán nhằm hỗ trợ chopháp luật quản lý xã hội
+ Sẽ khó để một nhà nước có thể ban hành một hệ thống các quy phạm pháp luậtđiều chỉnh được hết mọi vấn đề phát sinh trong xã hội, do đó, khi xây dựng và ban hành các quy phạm pháp luật, các nhà làm luật không thể dự liệu hết được các tìnhhuống pháp lý phát sinh trên mọi lĩnh vực đời sống xã hội Nói cách khác, nhànước không thể nào
“luật hóa” được mọi lĩnh vực, mọi ngõ ngách của đời sống xãhội, vì thế, trong thực tiễn sẽ luôn có những tình huống thiếu pháp luật thành vănđể điều chỉnh, trong khi đó tập quán lại rất phong phú và đa dạng, với cơ chế điều chỉnh mềm dẻo, linh hoạt chính là nguồn hỗ trợ, bổ sung quan trọng cho pháp luậttrong điều chỉnh các quan hệ xã hội nói chung và quan hệ dân sự nói riêng
b)Tập quán là tiền đề giúp cho pháp luật đi vào đời sống xã hội
+ Tập quán có tác động không nhỏ đến việc tiếp nhận và thi hành pháp luật củangười dân Tập quán lạc hậu sẽ trở thành lực cản trong việc tiếp nhận và thi hànhpháp luật Ngược lại, tập quán tiến bộ sẽ đóng vai trò tích cực trong việc tiếp nhậnvà thi hành pháp luật một cách tự giác của người dân Việc áp dụng “tập quán tốtđẹp sẽ đóng vai trò tích cực trong việc xây dựng tình đoàn kết nội bộ, giải quyếtcác tranh chấp bằng con đường hoà giải, giải quyết linh hoạt, kịp thời, có tình, cólý các mâu thuẫn trong cộng đồng dân cư, phù hợp với điều kiện của từng địaphương bảo đảm ổn định trật tự xã hội và do vậy, sẽ hỗ trợ cho việc thực hiện phápluật, xây dựng ý thức pháp luật”
+ Yếu tố tập quán chính là tiền đề, là điều kiện khách quan giúp cho pháp luật củanhà nước gần với đời sống của người dân hơn, dễ được người dân chấp nhận hơn.Ví dụ: luật cấm đánh bắt cá với các hình thức Các phương pháp gây hại cho nguồnlợi thủy sản như xung điện, chất nổ, hóa chất Những tập quán rất cụ thể như loạihình đánh bắt nào bị cấm và loại cá nào bị cấm Vì vậy, vai trò bổ trợ và hỗ trợ củahải quan là rất rộng
c) Tập quán là nguồn nội dung của pháp luật
+ Gắn lịch sử hình thành và phát triển của mình, các quốc gia, dân tộc trên thế giớiđều có các tập quán riêng để quản lý đời sống xã hội trong cộng đồng của họ ỞViệt Nam hiện nay, trong quá trình xây dựng và hoàn thiện hệ thống pháp luật nhànước cũng đã thừa nhận rất nhiều những tập quán tốt đẹp có sẵn, biến chúng thànhpháp luật
+ Tập quán không chỉ là nguồn bổ sung cho pháp luật, là tiền đề khách quan đưapháp luật vào cuộc sống mà còn là nguồn nội dung của pháp luật, là “chất liệuquý” để hoàn thiện một nền pháp luật tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc
+ Dù xã hội đã có những biến đổi theo thời gian nhưng những giá trị tích cực của tập quán xưa vẫn là “những mạch ngầm ẩn dưới tầng sâu của văn hoá dân tộc và không hề dứt” Bởi lẽ, “nhân dân Việt Nam vốn có tinh thần trân quý những giá trị truyền thống, có những phương pháp lưu giữ tập quán rất bền vững Chính vì vậy, các tập quán tốt đẹp hoặc thuận lợi cho nhân dân hầu như không mai một Đây chính là điều kiện quan trọng để đảm bảo tính khả thi cho việc áp dụng tập quán”
+Tuy nhiên, thực tế cho thấy, không phải tập quán nào tồn tại trên thực tế cũng tiến bộ, cũng hoàn toàn phù hợp để
áp dụng trong điều kiện hiện nay Ví dụ: Trong lời “Tựa” cuốn “Việt Nam Phong Tục”, nhà nghiên cứu Phan Kế Bính cũng đã khẳng định: “đại để tục gì cũng vậy, phải trải lâu tháng lâu năm mới thành được, mà trong những tục
ấy cũng có tục hay, cũng có tục dở”
+ Vì vậy, để phát huy được vai trò, giá trị của tập quán trong điều chỉnh các quan hệ xã hội nói chung, quan hệ dân
sự nói riêng, góp phần đảm bảo quyền lợi chính đáng cho các chủ thể, cũng như đảm bảo trật tự xã hội thì việc áp dụng tập quán cần phải tuân theo những nguyên tắc nhất định nhằm đảm bảo trong quá trình áp dụng tập quán có thể kế thừa được những tập quán “hay” và loại bỏ được những tập quán “dở”
Trang 99
19 Mối quan hệ giữa pháp luật và đạo đức, liên hệ thực tiễn Việt Nam hiện nay
Đạo đức là những chuẩn mực mà xã hội thừa nhận nó để điều chỉnh hành vi của con người
Pháp luật cũng vậy, nhưng pháp luật là do nhà nước - giai cấp thống trị lập ra để bảo về giai cấp mình, bảo
vệ nhân dân, bắt buộc con người ở trong hoàn cảnh đó phải xử xự như vậy
Pháp luật ban hành dựa trên những chuẩn mực đạo đức, những tập quán, hành vi mà con người xử xự, chấp nhận nó pháp luật là đạo đức nhưng đạo đức chưa hẳn là pháp luật
Đạo đức do con người thừa nhận, những hành vi bị xem là vô đạo đức không bị chủ thể nào áp dụng các biện pháp chế tài Vì mỗi con người xem xét mỗi hành vi đó dưới nhiều góc độ khác nhau, vào quan niệm chủ quan của họ
Pháp luật đã được nhà nước ban hành bắt buộc mọi người ở trong hoàn cảnh đó phải xử sự như vậy Do đó hành vi bị coi là vi phạm pháp luật sẽ bị chủ thể - Nhà nước áp dụng các biện pháp chế tài, nó mang tình giáo dục những người khác trong xã hội và nhờ có pháp luật xã hội của chúng ta có sự công bằng, bình đẳng
20 Hình thức pháp luật: khái niệm, nguồn pháp luật, các loại nguồn pháp luật, liên hệ thực tiễn Việt nam
- Hình thức pháp luật là phương thức, cách thức thể hiện nội dung pháp luật trong các văn bản pháp luật của nhà nước, các quyết định của tòa án, các hợp đồng pháp lí, tập quán pháp và trong các loại nguồn khác
- Nguồn pháp luật là những hình thức chính thức thể hiện các qui tắc bắt buộc chung được nhà nước thừa nhận có giá trị pháp luật để áp dụng vào việc giải quyết các vụ việc trong thực tiễn pháp luật, là những cơ sở được sử dụng trong xây dựng, ban hành pháp luật, cơ sở hình thành nên nội dung pháp luật
- các loại nguồn pháp luật: Văn bản qui phạm pháp luật, tập quán pháp, tiền lệ pháp, hợp đồng pháp luật, các nguyên tắc chung của pháp luậy; các học thuyết pháp luật; các qui phạm tôn giáo; nguyên tắc công bằng, hợp lí, lex phải, đạo đức và 1 số nguồn pháp luật khác
21 Ý thức pháp luật: khái niệm, cơ cấu (các cấp độ) của ý thức pháp luật
- Ý thức pháp luật là tổng thể những tư tưởng, học thuyết, quan điểm thái độ, tình cảm, sự đánh giá của con người
về hiến pháp, pháp luật, về vai trò, giá trị, chức năng, pháp luật, về tính công bằng hay không công bằng, đúng đắn hay không đúng đắn của các qui định pháp luật hiện hành, pháp luật trong quá khứ, pháp luật cần phải có, về tính hợp pháp hay không hợp pháp trong các quyết định, hành vi của các cấ nhân, tổ chức nhà nước và xã hội; về quyền, nghĩa vụ của con người, về công bằng, bình đẳng; về trách nhiệm nhà nước đối với con người và xã hội
- Cơ cấu gồm:
Tâm lí pháp luật
Tư tưởng pháp luật
22 Những đặc điểm cơ bản của ý thức pháp luật
Ý thức pháp luật chịu sự qui định, tác động của tồn tại xã hội
Tính độc lập tương đối của ý thức pháp luật:
- Sự lạc hậu của ý thức pháp luật so với tồn tại xã hội, thực tiễn xã hội
- Tính kế thừa của ý thức pháp luật trong quá trình phát triển xã hội
- Tính tiên phong của ý thức pháp luật, trong những điều kiện nhất định có thể vượt lên trước tồn tại xã hội
- Sự tác động trở lại của ý thức pháp luật đối với tồn tại xã hội
Tính dân tộc, tính giai cấp của ý thức pháp luật
23 Mối quan hệ giữa ý thức pháp luật và pháp luật
(i) Ý thức pháp luật xã hội chủ nghĩa là tiền đề tư tưỏng trực tiếp để xây dựng và hoàn thiện hệ thống pháp luật xã hội chủ nghĩa
Pháp luật xã hội chủ nghĩa là sự biểu hiện ý thức pháp luật của giai cấp công nhân và nhân dân lao động Những thay đổi khách quan trong đời sống xã hội trước hết được phản ánh trong ý thức pháp luật sau đó mới được thể hiện thành các quy phạm pháp luật tương ứng.Không có ý thức pháp luật xã hội chủ nghĩa phù hợp với bản chất và
Trang 1010
những điều kiện cụ thể trong từng giai đoạn phát triển của chủ nghĩa xã hội thì cũng không thể xây dựng được hệ thống pháp luật đồng bộ và phù hợp
(ii) Ý thức pháp luật xã hội chủ nghĩa là nhân tố thúc đẩy việc thực hiện pháp luật trong đời sống xã hội
Pháp luật xã hội chủ nghĩa được ban hành nhằm để điều chỉnh các quan hệ xã hội phát triển theo hướng phục vụ lợi ích của giai cấp công nhân và nhân dân lao động.Nhưng mục đích điều chỉnh của pháp luật được thực hiện thông qua hành vi xử sự của con người và các tổ chức xã hội, trong đó việc xử sự tự giác của công dân theo yêu cầu của pháp luật là vấn đề có ý nghĩa quan trọng để bảo đảm cho pháp luật phát huy được hiệu lực.Ý thức pháp luật xã hội chủ nghĩa thể hiện sự nhận thức của công dân và thái độ của họ đối với quy định của pháp luật Vì vậy, nếu ý thức pháp luật càng được nâng cao thì tinh thần tôn trọng pháp luật, thái độ tự giác xử sự theo yêu cầu của pháp luật càng được bảo đảm
(iii) Ý thức pháp luật xã hội chủ nghĩa là cơ sở bảo đảm cho việc áp dụng đúng đắn các quy phạm pháp luật
Ý thức pháp luật giữ vai trò đặc biệt quan trọng trong việc áp dụng pháp luật Để áp dụng đúng đắn một quy phạm pháp luật đòi hỏi phải có sự hiểu biết chính xác nội dung và yêu cầu của quy phạm đó, phải giải thích và làm sáng
tỏ nội dung và ý nghĩa của quy phạm đó Muốn thực hiện điều này đòi hỏi ý thức pháp luật của những người áp dụng pháp luật phải đã phát triển đầy đủ, họ phải có một nền tảng văn háo pháp lý vững chắc
(iv) Pháp luật xã hội chủ nghĩa là cơ sở để củng cố, phát triển nâng cao ý thức pháp luật xã hội chủ nghĩa
Đến lượt mình, pháp luật như là sản phẩm trực tiếp của hoạt động sáng tạo pháp luật, do đó nó phản ánh ý thức pháp luật của cơ quan làm luật, của nhân dân và được hình thành trên cơ sở của ý thức pháp luật.Việc nghiêm chỉnh thực hiện pháp luật, kiên quyết ngăn chặn vi phạm pháp chế trong một mức độ nhất định làm cho các quan điểm, quan niệm về pháp luật xã hộichủ nghĩa được hình thành và phát triển một cách đúng đắn và rõ nét hơn.Viêc giáo dục pháp luật nhằm nâng cao ý thức pháp luật sẽ là điều kiện quan trọng để góp phần xây dựng một hệ thống pháp luật hoàn chỉnh và tổ chức thực hiện pháp luật có hiệu quả
24 Quy phạm pháp luật: khái niệm, cơ cấu (cấu trúc) của quy phạm pháp luật, các phương thức diễn đạt quy phạm pháp luật
- Qui phạm pháp luật là qui tắc xử sự (qui tắc hành vi) do nhà nước xây dựng, ban hành hoặc thừa nhận, có tính phổ biến, bắc buộc chung, tính xác định chặt chẽ về hình thức, thể hiện ý chí nhân dân, được đảm bảo thực hiện nhằm điều chỉnh các quan hệ xã hội
- Cơ cấu logic của qui phạm pháp luật:
Giả định: Trong những hoàn cảnh nào, khi nào thì áp dụng qui phạm pháp luật đó?
Qui định: Gặp hoàn cảnh tình huống đó, con người phải là gì, được làm gì cấm không được làm gì? Nói cách khác, gặp hoàn cảnh đó, cách xử sự mà nhà nước yêu cầu trong qui phạm pháp luật đó là gì?
Chế tài: Hậu quả bất lợi đối với những người không thực hiện đúng yêu cầu của qui phạm pháp luật?
- Các phương thức diễn đạt qui phạm pháp luật:
Phương thức thể hiện trực tiếp
Phương thức thể hiện viện dẫn
Phương pháo hiện mẫu
25 Văn bản quy phạm pháp luật: khái niệm, so sánh văn bản quy phạm pháp luật với văn bản áp dụng quy phạm pháp luật (văn bản pháp luật cá biệt)
- Văn bản qui phạm pháp luật là hình thức thể hiện các quyết định pháp luật do cơ quan nhà nước có thẩm quyền ban hành theo thủ tujv, trình tự và hình thức nhất định, có chứa đựng các qui phạm pháp luật (qui tắc xử sự chung) nhằm điểu chỉnh 1 loại quan hệ xã hội nhất định, được áp dụng nhiều lần trong thực tiễn đời sống và thực hiện văn bản qui phạm pháp luật không là chấm dứt hiệu lực của văn bản qui phạm pháp luật
- Phân biệt văn bản qui phạm pháp luật và văn bản pháp luật cá biệt (văn bản áp dụng qui phạm pháp luật)
Văn bản pháp luật cá biệt (văn bản áp dụng qui phạm pháp luật) là hình thức thể hiện các quyết định pháp luật do các cơ quan nhà nước có thẩm quyền ban hành theo trình tự, thủ tục và hình thức nhất định căn cứ vào các văn bản qui phạm pháp luật để giải quyết những trường hợp, vụ việc cụ thể Ví dụ, các quyết định hành chính về bổ nhiệm,