Đồng thời cụ thể hóa các học thiết về giáo dục trên thế giới, cũng đã có nhiều công tình nghiên cứu về biện pháp quản lý và sử dụng giáo dục trong trường mầm non : - Thông tư số 02/2010/
Trang 1LUẬN VĂN THẠC SĨ QUẢN LÝ GIÁO DỤC
Đà Nẵng, năm 2022
Trang 2Chuyên ngành: Quản lý giáo dục
Mã số: 8140114
LUẬN VĂN THẠC SĨ
Người hướng dẫn khoa học: TS HÀ VĂN HOÀNG
Đà Nẵng, năm 2022
Trang 6MỤC LỤC
LỜI CAM ĐOAN i
TRANG THÔNG TIN LUẬN VĂN ii
MỤC LỤC iv
DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT vii
DANH MỤC CÁC BẢNG viii
DANH MỤC BIỂU ĐỒ x
MỞ ĐẦU 1
1 Tính cấp thiết của đề tài 1
2 Mục tiêu nghiên cứu 2
3 Khách thể, đối tượng và phạm vi nghiên cứu 2
4 Giả thuyết khoa học 2
5 Nhiệm vụ nghiên cứu 3
6 Phương pháp nghiên cứu 3
7 Cấu trúc của luận văn: 5
CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ QUẢN LÝ THIẾT BỊ GIÁO DỤC Ở TRƯỜNG MẦM NON 6
1.1 Tổng quan vấn đề nghiên cứu 6
1.1.1 Nghiên cứu ở nước ngoài 6
1.1.2 Nghiên cứu ở trong nước 7
1.2 Các khái niệm chính của đề tài 9
1.2.1 Quản lý, quản lý giáo dục, quản lý nhà trường 9
1.2.2 Thiết bị giáo dục, quản lý thiết bị giáo dục trường mầm non 11
1.3 Hệ thống thiết bị giáo dục của trường mầm non 14
1.3.1 Vị trí, vai trò, chức năng của hệ thống thiết bị giáo dục trường mầm non 14
1.3.2 Hệ thống thiết bị giáo dục của trường mầm non 17
1.4 Lý luận về quản lý thiết bị giáo dục ở trường mầm non 19
1.4.1 Quản lý đầu tư mua sắm, trang bị thiết bị giáo dục ở trường mầm non 21
1.4.2 Quản lý khai thác, sử dụng thiết bị giáo dục ở trường mầm non 22
1.4.3 Quản lý duy tu, bảo quản, thanh lý thiết bị giáo dục ở trường mầm non 23
1.5 Các yếu tố ảnh hưởng đến quản lý thiết bị giáo dục ở trường mầm non 23
1.5.1 Yếu tố bên ngoài 23
1.5.2 Yếu tố bên trong 26
Tiểu kết Chương 1 27
Trang 7CHƯƠNG 2 THỰC TRẠNG QUẢN LÝ THIẾT BỊ GIÁO DỤC TẠI CÁC TRƯỜNG MẦM NON CÔNG LẬP HUYỆN CHƠN THÀNH, TỈNH BÌNH
PHƯỚC 28
2.1 Khái quát quá trình khảo sát 28
2.1.1 Mục đích tổ chức khảo sát 28
2.1.2 Khách thể và thời gian khảo sát 28
2.1.3 Nội dung khảo sát 30
2.1.4 Công cụ điều tra, khảo sát 30
2.1.5 Tổ chức điều tra, khảo sát 31
2.1.6 Xử lý số liệu khảo sát 31
2.2 Khái quát điều kiện tự nhiên, kinh tế xã hội và giáo dục mầm non huyện Chơn Thành, tỉnh Bình Phước 32
2.2.1 Đặc điểm điều kiện tự nhiên, kinh tế - xã hội huyện Chơn Thành, tỉnh Bình Phước 32
2.2.2 Tình hình giáo dục mầm non trên địa huyện Chơn Thành, tỉnh Bình Phước 33
2.3 Thực trạng thiết bị giáo dục ở các trường Mầm non công lập huyện Chơn Thành, tỉnh Bình Phước 34
2.3.1 Thực trạng về số lượng thiết bị giáo dục ở các trường mầm non 34
2.3.2 Thực trạng chất lượng thiết bị giáo dục ở các trường mầm non 35
2.3.3 Thực trạng tính đồng bộ của thiết bị giáo dục ở các trường mầm non 36
2.3.4 Thực trạng tính hiện đại của thiết bị giáo dục ở các trường mầm non 37
2.4 Thực trạng quản lý thiết bị giáo dục ở các trường Mầm non công lập huyện Chơn Thành tỉnh Bình Phước 39
2.4.1 Nhận thức về tầm quan trọng của quản lý thiết bị giáo dục trường Mầm non 39
2.4.2 Quản lý đầu tư, trang bị thiết bị giáo dục ở trường mầm non 39
2.4.3 Quản lý khai thác, sử dụng thiết bị giáo dục ở trường mầm non 44
2.4.4 Quản lý duy tu, bảo quản, thanh lý thiết bị giáo dục ở trường mầm non 49
2.5 Các yếu tố ảnh hưởng đến quản lý thiết bị giáo dục ở các trường Mầm non công lập huyện Chơn Thành tỉnh Bình Phước 54
2.5.1 Yếu tố bên ngoài 54
2.5.2 Yếu tố bên trong 55
2.6 Đánh giá chung thực trạng quản lý thiết bị giáo dục ở các trường Mầm non công lập huyện Chơn Thành tỉnh Bình Phước 57
2.6.1 Điểm mạnh, điểm yếu 57
Trang 82.6.2 Thời cơ, thách thức 59
Tiểu kết Chương 2 60
CHƯƠNG 3 BIỆN PHÁP QUẢN LÝ THIẾT BỊ GIÁO DỤC TẠI CÁC TRƯỜNG MẦM NON CÔNG LẬP HUYỆN CHƠN THÀNH TỈNH BÌNH PHƯỚC 61
3.1 Nguyên tắc đề xuất biện pháp 61
3.1.1 Nguyên tắc đảm bảo tính thực tiễn 61
3.1.2 Nguyên tắc đảm bảo tính đồng bộ 61
3.1.3 Nguyên tắc đảm bảo tính kế thừa 61
3.1.4 Nguyên tắc đảm bảo tính khả thi 62
3.2 Các biện pháp quản lý hệ thống thiết bị giáo dục ở các trường Mầm non công lập huyện Chơn Thành tỉnh Bình Phước 62
3.2.1 Nâng cao nhận thức cho đội ngũ cán bộ quản lý, giáo viên, nhân viên về công tác quản lý thiết bị giáo dục ở trường mầm non 62
3.2.2 Đầu tư, trang bị thiết bị giáo dục ở trường mầm non theo hướng đồng bộ và quy chuẩn 64
3.2.3 Chỉ đạo khai thác, sử dụng hiệu quả thiết bị giáo dục và tăng cường tự thiết kế thiết bị giáo dục của trường mầm non 66
3.2.4 Đổi mới công tác kiểm tra, đánh giá việc trang bị, sử dụng, bảo quản và thanh lý thiết bị giáo dục ở nhà trường 69
3.3.5 Huy động đa dạng các nguồn lực phục vụ đầu tư, trang bị thiết bị giáo dục ở trường mầm non 71
3.2.6 Tăng cường ứng dụng công nghệ thông tin trong quản lý thiết bị giáo dục ở trường mầm non 73
3.3 Mối quan hệ giữa các biện pháp 74
3.4 Khảo nghiệm tính cấp thiết và khả thi của các biện pháp 75
3.4.1 Mục đích, khách thể khảo nghiệm 75
3.4.2 Nội dung khảo nghiệm 75
3.4.3 Cách thức khảo nghiệm 76
3.4.4 Kết quả khảo nghiệm 76
Tiểu kết Chương 3 80
KẾT LUẬN VÀ KHUYẾN NGHỊ 81
TÀI LIỆU THAM KHẢO 84 PHỤ LỤC
QUYẾT ĐỊNH GIAO ĐỀ TÀI LUẬN VĂN (Bản sao)
Trang 10DANH MỤC CÁC BẢNG
Số hiệu
2.2 Đặc điểm cỡ mẫu CBQL, GV, NV được khảo sát 29
2.4 Đánh giá về số lượng thiết bị giáo dục ở các trường mầm non 342.5 Đánh giá về chất lượng thiết bị giáo dục ở các trường mầm non 35
2.6 Đánh giá về tính đồng bộ của thiết bị giáo dục ở các trường
2.7 Đánh giá về tính hiện đại của thiết bị giáo dục ở các trường mầm
2.8 Ý kiến CBQL, GV, NV về mức độ thực hiện việc quản lý đầu
tư, trang bị thiết bị giáo dục ở các trường MN công lập 40
2.9 Ý kiến CBQL, GV, NV về hiệu quả việc quản lý đầu tư, trang bị
thiết bị giáo dục ở các trường MN công lập 42
2.10 Ý kiến CBQL, GV, NV về mức độ thực hiện việc quản lý khai
thác, sử dụng thiết bị giáo dục ở các trường MN công lập 44
2.11 Ý kiến CBQL, GV, NV về mức độ hiệu quả việc quản lý khai
thác, sử dụng thiết bị giáo dục ở các trường MN công lập 472.12
Ý kiến CBQL, GV, NV về mức độ thực hiện việc quản lý duy
tu, bảo quản, thanh lý thiết bị giáo dục ở các trường MN công
lập
50
2.13 Ý kiến CBQL, GV, NV về mức độ hiệu quả việc quản lý duy tu,
bảo quản, thanh lý thiết bị giáo dục ở các trường MN công lập 52
2.14 Ý kiến của CBQL, GV, NV về mức độ ảnh hưởng của các yếu
tố bên ngoài đến quản lí thiết bị giáo dục 54
2.15 Ý kiến của CBQL, GV, NV về mức độ độ ảnh hưởng của các
yếu tố bên trong đến quản lí thiết bị giáo dục 56
Trang 11Số hiệu
3.2 Tính cấp thiết của các biện pháp quản lý thiết bị giáo dục ở các
trường mầm non công lập huyện Chơn Thành, tỉnh Bình Phước 773.3 Tính khả thi của các biện pháp quản lý thiết bị giáo dục ở các
trường mầm non công lập huyện Chơn Thành, tỉnh Bình Phước 78
Trang 12DANH MỤC BIỂU ĐỒ
Số hiệu
2.1 Đánh giá về tầm quan trọng của quản lí thiết bị giáo dục ở
Trang 13MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Giáo dục mầm non là một trong những bậc học đầu tiên trong hệ thống giáo dục quốc dân có ý nghĩa quan trọng đối với sự hình thành và phát triển nhân cách Do đó, bên cạnh việc phát triển và tăng cường quản lý nội dung, phương pháp chương trình giáo dục, đội ngũ cán bộ quản lý, giáo viên, quy hoạch mạng lưới, thì công tác quản lý thiết bị giáo dục có vai trò to lớn trong việc tăng cường chất lượng giáo dục mầm non Bởi vậy, để đạt được mục tiêu giáo dục mầm non trong giai đoạn mới phải không ngừng củng cố, hoàn thiện và nâng cao hiệu quả sử dụng hệ thống thiết bị giáo dục Điều đó được thực hiện khi Ban giám hiệu nhà trường thực sực coi trọng, quan tâm đến công tác quản lý hệ thống thiết bị giáo dục, chú trọng nâng cao hiệu quả của công tác này Người quản lý thiết bị giáo dục phải có trình độ, năng lực quản lý, hiểu biết sâu sắc về tình hình kinh tế, xã hội địa phương biết phát huy những tiềm năng sẵn có trong nhà trường và có kế hoạch khả thi
Thực hiện Thông tư số 4470/BGDĐT-CSVC ngày 28 tháng 9 năm 2018 của Bộ Giáo dục và Đào tạo về việc thực hiện nhiệm vụ về cơ sở vật chấ và thiết bị dạy học trong các cơ sở giáo dục mầm non, phổ thông, Đảng bộ và chính quyền tỉnh Bình Phước nói chung, Huyện Chơn Thành nói riêng đang tích cực triển khai công tác bồi dưỡng đội ngũ và tăng cường thiết bị giáo dục, tạo môi trường thuận lợi, phát triển sự bền vững về chất lượng giáo dục, tạo tiền đề cho sự phát triển kinh tế xã hội, khoa học, công nghệ của địa phương trong giai đoạn mới, đặc biệt là giáo dục mầm non
Thiết bị giáo dục ở trường mầm non đóng vai trò quan trọng trong việc giáo dục trẻ, góp phần phát triển các kỹ năng, cảm xúc cho trẻ, từ đó góp phần đạt được mục tiêu giáo dục Bởi vậy, việc quản lý thiết bị giáo dục ở trường mầm non có ý nghĩa trong việc khai thác, sử dụng hiệu quả các tính năng của thiết bị vào thực hiện các hoạt động giáo dục trẻ phát triển toàn diện
Trong những năm gần đây, Phòng GD&ĐT huyện Chơn Thành đã có nhiều cố gắng trong việc tham mưu UBND huyện đầu tư nguồn lực thiết bị dạy học cho các trường học, đặc biệt là việc đầu tư thiết bị dạy học đạt chuẩn cho các trường Mầm non, chấm dứt tình trạng nghèo nàn, thiếu những trang thiết bị tối thiểu, từng bước tạo điều kiện thuận lợi cho hoạt động chăm sóc giáo dục thúc đẩy đổi mới phương pháp dạy học, đáp ứng đòi hỏi trước mắt và lâu dài của sự nghiệp giáo dục
Để các trường học trong hệ thống giáo dục nói chung và các Trường MN tại Huyện Chơn Thành nói riêng phát triển toàn diện cần có điều kiện trang thiết bị giáo dục phù hợp như: hệ thống trang thiết bị hiện đảm bảo đầy đủ theo quy định, hiện đại,
Trang 14cùng với thiết bị giáo dục đạt chuẩn, đội ngũ cán bộ quản lý, giáo viên đầy nhiệt huyết, vững chuyên môn, nghiệp vụ, đồng thời, đặc biệt cần có những biện pháp quản lý công tác này có tính khả thi Đó chính là tiền đề tổ chức hiệu quả hoạt động chăm sóc, giáo dục của các nhà trường, hướng đến đổi mới nâng cao chất lượng chăm sóc, giáo dục mầm non
Xuất phát từ lý do nêu trên, đề tài “Quản lý thiết bị giáo dục tại các trường
Mầm non công lập huyện Chơn Thành tỉnh Bình Phước” được tiến hành nghiên cứu
nhằm đánh giá thực trạng quản lý thiết bị dạy học, từ đó đề xuất các biện pháp quản lý công tác này cho hiệu trưởng các trường Mầm non công lập huyện Chơn Thành tỉnh Bình Phước
2 Mục tiêu nghiên cứu
Trên cơ sở khái quát hóa lý luận về quản lý thiết bị giáo dục ở trường mầm non, đề tài phân tích thực trạng quản lý hệ thống thiết bị giáo dục ở các trường Mầm non công lập trên địa bàn huyện Chơn Thành, tỉnh Bình Phước, đồng thời, đề xuất các biện pháp quản lý thiết bị giáo dục tại các trường mầm non ở địa bàn nghiên cứu
3 Khách thể, đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu
3.1 Khách thể nghiên cứu
Hệ thống thiết bị giáo dục ở trường mầm non
3.2 Đối tượng nghiên cứu
Quản lý thiết bị giáo dục tại các trường Mầm non công lập huyện Chơn Thành tỉnh Bình Phước
3.3 Phạm vi nghiên cứu
Đề tài phân tích thực trạng quản lý thiết bị giáo dục ở các trường mầm non công lập huyện Chơn Thành tỉnh Bình Phước giai đoạn 2020-2021 và đề xuất các biện pháp quản lý công tác này giai đoạn 2022-2026
4 Giả thuyết khoa học
Công tác quản lý thiết bị giáo dục tại các trường Mầm non công lập huyện
Chơn Thành tỉnh Bình Phước ở mức trung bình -khá
Những hạn chế trong công tác quản lý thiết bị giáo dục tại các trường Mầm non công lập huyện Chơn Thành tỉnh Bình Phước xuất phát từ những yếu tố bên trong và bên ngoài nhà trường
Có thể đề xuất được các biện pháp quản lý thiết bị giáo dục tại các trường Mầm non công lập huyện Chơn Thành tỉnh Bình Phước có tính cấp thiết và khả thi, từ đó, góp phần nâng cao hiệu quả công tác quản lý thiết bị giáo dục tại các trường Mầm non công lập ở địa phương
Trang 155 Nhiệm vụ nghiên cứu
Để đạt được mục tiêu nghiên cứu, đề tài thực hiện các nhiệm vụ sau:
Hệ thống hóa cơ sở lý luận về quản lý thiết bị giáo dục ở trường mầm non Khảo sát, đánh giá thực trạng quản lý thiết bị giáo dục tại các trường Mầm non công lập huyện Chơn Thành, tỉnh Bình Phước
Đề xuất các biện pháp quản lý thiết bị giáo dục tại các trường Mầm non công lập huyện Chơn Thành, tỉnh Bình Phước
6 Phương pháp nghiên cứu
6.1 Nhóm phương pháp nghiên cứu lý luận
Tiến hành phân tích, phân loại, tổng hợp các thông tin khoa học thu thập được
từ sách, tạp chí, văn bản chủ trương của Đảng Cộng sản Việt Nam, Luật Giáo dục, các Nghị định, Chỉ thị, văn bản chỉ đạo từ cấp trung ương đến địa phương liên quan đến GD&ĐT nói chung và GDMN nói riêng Tham khảo tài liệu như sách, báo, tạp chí, trang web, các công trình nghiên cứu về GDMN, thiết bị giáo duc, trang bị, bảo quản
và sử dụng TBGD Trên cơ sở đọc, ghi chép, phân tích dữ liệu, hệ thống hóa các tài
liệu, tư liệu, khái quát hóa lý luận nhằm xây dựng cơ sở lý luận của đề tài
6.2 Nhóm phương pháp nghiên cứu thực tiễn
Để đánh giá thực trạng quản lí thiết bị giáo dục ở các trường MN công lập tại huyện Chơn Thành, tỉnh Bình Phước, người nghiên cứu kết hợp nghiên cứu định tính
và định lượng bằng cách sử dụng kết hợp các phương pháp nghiên cứu thực tiễn như: phương pháp điều tra bằng bảng hỏi, phương pháp phỏng vấn, phương pháp quan sát, phương pháp phân tích tài liệu, phương pháp tổng kết kinh nghiệm, phương pháp chuyên gia Trong đó phương pháp điều tra bằng bảng hỏi và phương pháp phỏng vấn
là phương pháp nghiên cứu cơ bản, phương pháp phân tích tài liệu là phương pháp bổ trợ
6.2.1 Phương pháp điều tra bằng bảng hỏi
Để Tìm hiểu thực trạng, thu thập những thông tin cần thiết từ người trả lời về thực trạng thiết bị giáo dục và quản lí, sử dụng thiết bị giáo dục ở các trường mầm non, đề tài có một số phiếu hỏi dành cho cán bộ quản lí (CBQL), Giáo viên (GV) thuộc các trường Mầm non(MN) công lập trên địa bàn huyện Chơn Thành tỉnh Bình Phước
Ngoài ra, chúng tôi còn sử dụng phương pháp điều tra bằng bảng hỏi để khảo nghiệm tính cần thiết và khả thi của các biện pháp đề xuất
6.2.2.Phương pháp phỏng vấn
Phỏng vấn là phương pháp thu thập thông tin dựa trên cơ sở quá trình giao tiếp bằng lời nói có tính đến mục tiêu đặt ra Trong cuộc phỏng vấn, người phỏng vấn nêu
Trang 16những câu hỏi theo một chương trình/ nội dung được định sẵn
Để thu thập ý kiến, thông tin cần thiết từ người được phỏng vấn mà khảo sát qua phiếu hỏi chưa đáp ứng được về thực trạng thiết bị giáo dục, công tác quản lý thiết
bị giáo dục tại các trường MN công lập tại huyện Chơn Thành, tỉnh Bình Phước
Tác giả Sử dụng các câu hỏi mở để phỏng vấn các đối tượng: Cán bộ quản lí (5 người), giáo viên (5 người) có kinh nghiệm trong sử dụng, quản lý, bảo quản thiết bị giáo dục
6.2.3 Phương pháp quan sát
Đề tài sử dụng phương pháp quan sát để thu thập những số liệu thực tế trong môi trường tự nhiên, cụ thể là quan sát một số giờ học có sử dụng TBGD theo quan điểm giáo dục lấy trẻ làm trung tâm và một số giờ học sử dụng TBGD theo phương pháp dạy học truyền thống từ đó so sánh để rút ra những kết luận khoa học
6.2.4 Phương pháp phân tích tài liệu
Để làm rõ thêm những minh chứng, thống kê đầy đủ những tài liệu, văn bản mà nhà trường thực hiện theo quy định trong quá trình quản lý thiết bị giáo dục để làm minh chứng cho đề tài Phương pháp được sử dụng để phát hiện và khai thác những khía cạnh mà các hệ thống văn bản, hồ sơ trang bị, sử dụng, tu sửa, kiểm tra thiết bị giáo dục, các chỉ thị ban hành, các công trình nghiên cứu trước đây chưa đề cập đến, làm cơ sở cho việc nghiên cứu tiếp theo.Liên hệ, xin phép lãnh đạo các trường MN công lập trên địa bàn huyện Chơn Thành, tỉnh Bình Phước, xem và ghi chép lại tất cả những vấn đề liên quan đến công tác quản lý thiết bị giáo dục trong các hồ sơ ghi chép nhà trường cũng như các văn bản pháp quy liên quan khác
6.2.5 Phương pháp chuyên gia
Để nhằm chứng minh tính khả thi và cần thiết của các biện pháp đề xuất trong
quản lí thiết bị giáo dục ở các trường MN công lập tại huyện Chơn Thành, tỉnh Bình Phước Thực hiện khảo nghiệm các biện pháp đã được đề xuất theo 5 mức độ về tính cấn thiết và khả thi ở các trường MN công lập trên địa bàn huyện Chơn Thành, tỉnh Bình Phước Tổ chức khảo nghiệm và thu kết quả khảo nghiệm để phân tích và đánh giá mức độ cần thiết và khả thi trong các biện pháp đề xuất thông qua sự hỗ trợ của phần mềm SPSS phiên bản 22.0 với 95 CBQL và GV đang công tác tại các trường MN công lập trên địa bàn huyện Chơn Thành, tỉnh Bình Phước
Trang 17khách quan về thực trạng quản lý thiết bị giáo dục tại các trường mầm non trên địa bàn huyện Chơn Thành, tỉnh Bình Phước hiện nay.Sau khi thu thập đầy đủ thông tin khảo sát, người nghiên cứu tiến hành nhập liệu vào phần mềm SPSS để tính các giá trị phần trăm, tần suất, giá trị trung bình, độ lệch chuẩn theo yêu cầu khảo sát, đánh giá thực trạng đề tài này
7 Cấu trúc của luận văn:
Ngoài phần mở đầu, kết luận và kiến nghị, tài liệu tham khảo và phụ lục, nội dung của luận văn gồm 3 chương:
Chương 1 Cơ sở lý luận về quản lý thiết bị giáo dục ở trường mầm non
Chương 2 Thực trạng quản quản lý thiết bị giáo dục các trường mầm non công lập huyện Chơn Thành tỉnh Bình Phước
Chương 3 Biện pháp quản lý thiết bị giáo dục ở các trường mầm non công lập huyện Chơn Thành tỉnh Bình Phước
Trang 18CHƯƠNG 1
CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ QUẢN LÝ THIẾT BỊ GIÁO DỤC
Ở TRƯỜNG MẦM NON 1.1 Tổng quan vấn đề nghiên cứu
Giáo dục đang bước vào thời kỳ đổi mới toàn diện, trong đó có giáo dục Việt Nam Hiện nay, các quốc gia trên thế giới đang nỗ lực đổi mới nội dung và phương pháp giáo dục đào tạo với nhiều mô hình và biện pháp khác nhau nhằm mở rộng quy
mô nâng cao tính tích cực trong dạy học: Học một cách toàn diện, dạy làm sao để hướng người học tới việc học tập chủ động, chống lại thói quen học tập thụ động Muốn vậy vần phải nâng cao cải tiến đồng bộ các thành tố liên quan trong đó việc đổi mới Phương pháp dạy học nhằm phát huy tính tích cực và năng lực sáng tạo của học sinh là cần thiết Thiết bị dạy học là một trong những phương tiện quan trọng đổi mới phương pháp dạy học góp phần nâng cao chất lượng giáo dục ở các trường Mầm non
1.1.1 Nghiên cứu ở nước ngoài
Quản lý thiết bị giáo dục ở trường mầm non nhằm góp phần đổi mới căn bản toàn diện trong giáo dục trường MN và đáp ứng yêu cầu về đổi mới chất lượng nội dung và phương pháp giáo dục mầm non theo xu thế phát triển của xã hội Nghiên cứu
về TBGD và quản lý TBGD ở trường mầm non ở nước ngoài có thể kể đến những công trình tiêu biểu sau đây
Nghiên cứu của Singh S và cộng sự nhấn mạnh đến vai trò của đa phương tiện trong việc dạy học ở trường mầm non Theo đó, đa phương tiện làm tăng tính độc lập,
ra quyết định và củng cố kiến thức trước đó của trẻ em, khả năng đọc viết quan trọng
và các khái niệm ngôn ngữ và số cụ thể ở học sinh Nghiên cứu tiến hành khảo sát 120 giáo viên tại khu vực Alambagh Kết quả cho thấy rằng vai trò của các loại thiết bị đa phương tiện khác nhau và ảnh hưởng tích cực của chúng có ý nghĩa rất lớn đối với kết quả học tập và sự phát triển toàn diện của trẻ em [24, tr 80-85]
Nghiên cứu về sự ảnh hưởng của thiết bị chơi đối với việc tham gia các hoạt động chơi ngoài trời của trẻ em trong trường học tại khu phố Đông Suba, quận Migori, Elizabeth A O đã tiến hành lấy mẫu 09 trường, sử dụng kỹ thuật lấy mẫu ngẫu nhiên phân tầng để đảm bảo tính đại diện Từ 09 trường được lấy mẫu, 3 trường (33%) là trường công lập và 6 (67%) trong số đó là trường tư thục Từ các trường mẫu, 05 trẻ
em được chọn để tham gia nghiên cứu và 03 giáo viên mỗi trường với tổng số 45 trẻ,
18 giáo viên và 9 hiệu trưởng Kết quả nghiên cứu cho thấy, trẻ em được chơi ngoài trời với thiết bị chơi không đầy đủ và không có sự giám sát của giáo viên Việc sửa chữa và thay thế thường xuyên các thiết bị chơi đã cũ cũng không được đảm bảo Dựa
Trang 19trên những phát hiện này, các giáo viên mầm non nên giám sát trẻ trong quá trình chơi
để đảm bảo rằng các thiết bị vui chơi mà trẻ sử dụng là an toàn, phù hợp với lứa tuổi
và đầy đủ Nếu có thể, giáo viên nên điều chỉnh thiết bị vui chơi trong trường hợp nhà trường không thể lắp đặt hoặc mua thiết bị vui chơi thương mại như một cách để cải thiện sự tham gia của trẻ em vào các hoạt động vui chơi ngoài trời Giáo viên mầm non cần được phục vụ trong việc sử dụng thiết bị vui chơi trong các hoạt động vui chơi ngoài trời [22]
Trong nghiên cứu của mình, Wudai Y và cộng sự đã chỉ ra rằng, sự kết hợp hiệu quả giữa giáo dục và công nghệ thông tin đã phát triển thành một xu hướng giáo dục mới Nghiên cứu này sử dụng bảng câu hỏi khảo sát để thu thập thông tin, phân tích thực trạng giáo dục mỹ thuật ở trường mầm non trong thời đại mới và những vấn
đề hiện tích hợp các phương tiện truyền thông mới và các lớp giáo dục nghệ thuật truyền thống trong các trường mẫu giáo, và thúc đẩy sự phát triển của giáo dục mầm non [25]
Nghiên cứu của Ma Rebecca A A cùng cộng sự đã chỉ ra vai trò của tài liệu giảng dạy với tư cách là một TBGD Theo các tác giả, tài liệu giảng dạy là công cụ cần thiết để thực hiện quá hiệu quả dạy học và có nghĩa đối với người học Chúng tôi giúp nâng cao việc giảng dạy qua đó nâng cao kiến thức, kỹ năng và khả năng của học sinh Tuy nhiên, giáo viên gặp phải các vấn đề liên quan đến công việc thiếu các tài liệu để đảm bảo các hoạt động giáo dục trẻ [23, tr 476-483]
Như vậy, các nghiên cứu nước ngoài chú trọng phân tích, vai trò của TBGD ở trường mầm non cũng như thực trạng việc vận dụng các TBGD vào các hoạt động giáo dục tại nhà trường mầm non mà chưa nghiên cứu công tác quản lý TBGD ở trường mầm non Đây cũng chính là khoảng trống để luận văn bổ khuyết, nghiên cứu vấn đề này
1.1.2 Nghiên cứu ở trong nước
Từ trước đến nay, Đảng và nhà nước ta đã xác định, giáo dục mầm non là bậc học đầu tiên trong hệ thống giáo dục quốc dân Giáo dục mầm non có một sứ mệnh rất qaun trọng: Thực hiện nhiệm vụ nuôi dưỡng, chăm sóc giáo dục trẻ phát triển về thể chất, tình cảm, trí tuệ, thẩm mỹ, hình thành những yếu tố đầu tiên của nhân cách, chuẩn bị vào lớp 1 Để thực hiện sứ mệnh này bộ giáo dục và đào tạo đã ban hành nhiều văn bản về quản lý thiết bị giáo dục trong các cơ sở giáo dục mầm non Đồng thời cụ thể hóa các học thiết về giáo dục trên thế giới, cũng đã có nhiều công tình nghiên cứu về biện pháp quản lý và sử dụng giáo dục trong trường mầm non :
- Thông tư số 02/2010/TT-BGDĐT ngày 11 tháng 2 năm 2010 của Bộ giáo dục
và đào tạo Về việc Ban hành Danh mục Đồ dùng - Đồ chơi - Thiết bị dạy học tối thiểu
Trang 20dùng cho Giáo dục mầm non;
- Thông tư số 01/VBHN-BGDĐT ngày 23 tháng 3 năm 2015 của Bộ giáo dục
và đào tạo Về việc ban hành danh mục đồ dùng - đồ chơi - thiết bị dạy học tối thiểu
dùng cho giáo dục mầm non
- Thông tư số 34/2013/TT-BGDĐT ngày 17 tháng 09 năm 2013 của Bộ giáo dục và đào tạo về việc sửa đổi, bổ sung một số thiết bị quy định tại danh mục đồ dùng
- đồ chơi -thiết bị dạy học tối thiểu dùng cho giáo dục mầm non ban hành kèm theo thông tư số 02/2010/TT - BGDĐT ngày 11 tháng 2 năm 2010 của bộ trưởng bộ giáo dục và đào tạo;
- Thông tư số: 32/2012/TT - BGDĐT ngày 14 tháng 9 năm 2012 của Bộ giáo dục và đào tạo về việc Ban hành thiết bị và danh mục đồ chơi ngoài trời cho giáo dục mầm non
- Thông tư số: 13/2020/TT - BGDĐT ngày 26 tháng 5 năm 2020 của Bộ giáo dục và đào tạo về việc Ban hành Quy định tiêu chuẩn cơ sở vật chất các trường mầm non, tiểu học, trung học cơ sở, trung học phổ thông và trường phổ thông có nhiều cấp học
Nhìn chung, các văn bản đã quy định khá rõ, chi tiết về CSVC, TBGD của nhà trường mầm non Trong đó, các văn bản đã chỉ rõ những thiết bị giáo dục dạy học tối thiểu cũng như tiêu chuẩn cơ sở vật chất, thiết bị của trường mầm non
Nghiên cứu về quản lý thiết bị giáo dục ở trường mầm non phải kể đến các công trình dưới đây
Nghiên cứu của Nguyễn Thị Mây (2015), đã phân tích, đánh giá thực trạng và
đề xuất các biện pháp quản lý thiết bị giáo dục trường mầm non của phòng giáo dục và đào tạo huyện Hải Hậu, tỉnh Nam Định, Luận văn Thạc sĩ, Trường Đại học Quốc gia
Hà Nội [16]
Trên cơ sở phân tích thực trạng, luận văn của Bùi Lệ Ngân (2017) đã đề xuất quản lý thiết bị giáo dục trong các trường mầm non quận Ngô Quyền, TP Hải Phòng đáp ứng yêu cầu trường chuẩn quốc gia, Luận văn Thạc sĩ, Trường Đại học Sư phạm
Hà Nội, bao gồm: nâng cao nhận thức, trình độ, kỹ năng nghiệp vụ cho cán bộ quản lí, giáo viên, nhân viên phụ trách thiết bị giáo dục; đổi mới xây dựng kế hoạch và nâng cao hiệu quả công tác đầu tư, mua sắm, trang bị và hoạt động tự chế, tự làm đồ dùng, thiết bị giáo dục trong cán bộ, giáo viên; đổi mới nội dung quản lí của Hiệu trưởng trong lĩnh vực quản lí thiết bị giáo dục; tổ chức bồi dưỡng về kĩ năng, nghiệp vụ quản
lí, khái thác, sử dụng hiệu quả thiết bị giáo dục cho cán bộ quản lí, giáo viên và nhân viên; tăng cường công tác thanh tra, kiểm tra, đánh giá việc quản lí sử dụng thiết bị giáo dục [17]
Trang 21Nghiên cứu của Phạm Thế Kiên và cộng sự (2019) đã phân tích thực trạng quản
lý thiết bị và đồ chơi ngoài trời ở các trường mầm non thành phố Vũng Tàu, tỉnh Bà Rịa-Vũng Tàu Kết quả nghiên cứu cho thấy, “quản lý thiết bị và đồ chơi ngoài trời ở các trường mầm non thành phố Vũng Tàu hiện đang được thực hiện khá tốt, tuy nhiên, vẫn còn những hạn chế nhất định về nhận thức; về quản lý việc lập kế hoạch xây dựng, đầu tư; việc quản lý công tác mua sắm cũng chưa thực sự hiệu quả trong phối hợp giữa các bên liên quan và việc phân công nhiệm vụ cũng chưa rõ ràng; quản lý việc khai thác, sử dụng còn hạn chế trong xây dựng kế hoạch cũng như thực hiện tập huấn giáo viên khai thác, sử dụng thiết bị và đồ chơi ngoài trời; ngoài ra, quản lý công tác bảo quản, cải tạo, sửa chữa, kiểm kê, thanh lý thiết bị và đồ chơi ngoài trời vẫn còn nhiều hạn chế cần khắc phục” [13]
Tóm lại, các nghiên cứu trong và ngoài nước đã khẳng định vai trò của TBGD ở trường mầm non, đồng thời phân tích thực trạng về TBGD cũng như một số ít các nghiên cứu đánh giá công tác quản lý TBGD ở trường mầm non, đặc biệt là ở một địa phương cụ thể
1.2 Các khái niệm chính của đề tài
1.2.1 Quản lý, quản lý giáo dục, quản lý nhà trường
1.2.1.1 Khái niệm quản lý
Hiện nay, có rất nhiều cách hiểu khác nhau về khái niệm “quản lý” Mỗi cách hiểu đều nhằm hướng đến mục tiêu, nội dung, chủ thể, đối tượng – khách thể quản lý
Có thể kể đến các quan điểm về nội hàm khái niệm “quản lý” dưới đây:
Theo Harold Koontz: “Quản lí là một hoạt động thiết yếu, nó đảm bảo phối hợp những nỗ lực cá nhân nhằm đạt được các mục đích của nhóm Với thời gian, tiền bạc, vật chất và sự bất mãn ít nhất Với tư cách thực hành thì quản lí là một nghệ thuật, còn với kiến thức thì quản lí là một khoa học” [11]
Theo Nguyễn Ngọc Quang: “Quản lý là tác động có mục đích, có kế hoạch của chủ thể quản lý đến tập thể những người lao động (nói chung là khách thể quản lý) nhằm thực hiện được những mục tiêu dự kiến” [19]
Trong khi đó, Nguyễn Lộc quan niệm rằng, “Quản lí là quá trình lập kế hoạch,
tổ chức, lãnh đạo và kiểm tra công việc của các thành viên tổ chức và sử dụng tất cả những nguồn lực sẵn có của tổ chức để đạt được các mục tiêu của nó” [14]
Theo tác giả Trần Thị Tuyết Oanh, “Quản lí là sự tác động có định hướng của chủ thể quản lí đến đối tượng quản lí nhằm sử dụng có hiệu quả các tiềm lực, các cơ hội của hệ thống để đạt được mục tiêu đã đặt ra trong điều kiện biến đổi của môi trường” [18]
Theo đó, quản lí còn được thể hiện qua 4 chức năng như: lập kế hoạch, tổ chức,
Trang 22lãnh đạo và kiểm tra, cụ thể: (1) Chức năng lập kế hoạch: là nhằm hoàn thành các mục tiêu của tổ chức, là nền tảng của quản lí; (2) Chức năng tổ chức: là sự tổng hợp các hoạt động cần thiết để đạt được các mục tiêu, là sự phân chia các nhiệm vụ thành những công việc, trao quyền hạn, xác định những nguyên tắc và quyền quyết định cho từng bộ phận; (3) Chức năng lãnh đạo: là sự tác động, hay một quá trình tác động đến con người sao cho họ tự nguyện và nhiệt tình phấn đấu để đạt được các mục tiêu của tổ chức; (4) Chức năng kiểm tra: là quá trình đo lường hoạt động và kết quả hoạt động của tổ chức trên cơ sở các tiêu chuẩn đã được xác lập nhằm tìm ra những ưu điểm, những mặt hạn chế để điều chỉnh việc lập kế hoạch, tổ chức và lãnh đạo [15]
Như vậy, quản lí được hiểu là quá trình lập kế hoạch, tổ chức, lãnh đạo và
kiểm tra đánh giá nhằm đạt được mục tiêu của tổ chức
Từ khái niệm trên có thể thấy, quản lý được hiểu là một quá trình với các hoạt động cụ thể từ việc xây dựng các kế hoạch đến việc triển khai tổ chức thực hiện, chỉ đạo thực hiện và kiểm tra đánh giá các hoạt động này của các chủ thể quản lý Mục đích của việc quản lý là nhằm đảm bảo các hoạt động diễn ra có hiệu quả và đem lại những lợi ích của tổ chức
1.2.1.2 Khái niệm quản lý giáo dục
Hiện nay, tồn tại nhiều quan điểm khác nhau về khái niệm quản lý giáo dục Nhìn chung, có các quan điểm nổi bật dưới đây về cách hiểu nội hàm khái niệm nay
Theo tác giả Đỗ Hoàng Toàn “Quản lý giáo dục là tập hợp những biện pháp tổ chức, phương pháp giáo dục, kế hoạch hoá tài chính, cung tiêu nhằm đảm bảo sự vận hành bình thường của các cơ quan trong hệ thống giáo dục, đảm bảo sự tiếp tục phát triển và mở rộng hệ thống cả về mặt số lượng, cũng như về chất lượng” [20]
Từ khái niệm trên có thể hiểu: "Quản lý giáo dục là sự tác động có ý thức của chủ thể quản lý tới khách thể quản lý nhằm đưa ra hoạt động sư phạm của hệ thống giáo dục đạt tới kết quả mong muốn bằng cách hiệu quả nhất" [9]
1.2.1.3 Khái niệm quản lý nhà trường mầm non
Theo Nguyễn Ngọc Quang: “Quản lí nhà trường là những tập hợp tối ưu (cộng tác, tham gia, hỗ trợ, phối hợp, huy động, can thiệp…) của chủ thể quản lí đến tập thể giáo viên, học sinh và các cán bộ khác nhằm tận dụng các nguồn dự trữ do nhà nước đầu tư, xã hội đóng góp, do lao động xây dựng và vốn lao động tự có hướng vào việc đẩy mạnh mọi hoạt động của nhà trường, mà điểm hội tụ là quá trình đào tạo thế hệ trẻ Thực hiện có chất lượng mục tiêu và có kế hoạch đưa nhà trường tiến lên trạng thái mới” [19]
Theo tác giả Thái Duy Tuyên: “Quản lý nhà trường là thực hiện đường lối của Đảng trong phạm vi trách nhiệm của mình, tức là đưa nhà trường vận hành theo
Trang 23nguyên lý giáo dục để tiến tới mục tiêu giáo dục - đào tạo đối với ngành giáo dục, với thế hệ trẻ và từng học sinh” [21]
Theo tác giả Trần Kiểm "Quản lý nhà trường là thực hiện đường lối giáo dục của Đảng trong phạm vi trách nhiệm của mình, tức là đưa nhà trường vận hành theo nguyên lý giáo dục, để tiến tới mục tiêu giáo dục, mục tiêu đào tạo đối với ngành giáo dục, với thế hệ trẻ và với từng học sinh” [12]
Trường mầm non là cơ sở GD trong hệ thống giáo dục quốc dân Quản lí nhà trường MN là nhà quản lí thực hiện đường lối GD của Đảng trong phạm vi trách nhiệm của mình, tức là đưa nhà trường vận hành theo đúng mục tiêu, tính chất của nhà trường xã hội chủ nghĩa Việt Nam nhằm nâng cao chất lượng GDMN
Quản lí nhà trường MN là quá trình tác động có mục đích có kế hoạch của chủ thể quản lí (hiệu trưởng) đến tập thể cán bộ, GV, NV để chính họ tác động trực tiếp đến quá trình nuôi dưỡng, chăm sóc, GD trẻ nhằm thực hiện mục tiêu GD đối với từng
độ tuổi và mục tiêu chung của cấp học trên cơ sở tận dụng các tiềm lực vật chất và tinh thần của xã hội, nhà trường và gia đình
Theo quan niệm của chúng tôi, quản lí trường mầm non là quá trình tác động
của chủ thể quản lí đến các hoạt động của nhà trường, thông qua việc thực hiện các chức năng quản lí: lập kế hoạch, tổ chức, lãnh đạo và kiểm tra đánh giá các mặt hoạt động của nhà trường mà trọng tâm là quá trình chăm sóc, GD trẻ nhằm giúp trẻ em phát triển về thể chất, tình cảm, trí tuệ, thẩm mĩ, hình thành những yếu tố đầu tiên của nhân cách, chuẩn bị cho trẻ em vào lớp một
1.2.2 Thiết bị giáo dục, quản lý thiết bị giáo dục trường mầm non
1.2.2.1 Khái niệm thiết bị giáo dục
Theo Lotx.Klinbơ (Đức) thì TBGD (hay còn gọi là đồ dùng dạy học, thiết bị dạy học, dụng cụ…) là tất cả những phương tiện vật chất cần thiết cho giáo viên và học sinh tổ chức và tiến hành hợp lý, có Hiệu quả quá trình giáo dưỡng và giáo dục ở các môn học, cấp học
Theo các chuyên gia thiết bị giáo dục của Việt Nam, TBGD là thuật ngữ chỉ một vật thể hoặc một tập hợp đối tượng vật chất mà người giáo viên sử dụng với tư cách là phương tiện điều khiển hoạt động nhận thức của học sinh, còn đối với học sinh thì đó là các nguồn tri thức, là các phương tiện giúp học sinh lĩnh hội các khái niệm, định luật, thuyết khoa học… hình thành ở họ các kỹ năng, kỹ xảo, đảm bảo phục vụ mục đích dạy học
TBGD là một bộ phận trong hệ thống CSVC sư phạm, TBGD là tất cả những phương tiện cần thiết được giáo viên và học sinh sử dụng trong hoạt động dạy và học nhằm phát huy tính tích cực, chủ động sáng tạo trong hoạt động, khám phá và lĩnh hội
Trang 24tri thức của học sinh, góp phần nâng cao chất lượng giáo dục, đạt được mục tiêu giáo dục đã đề ra
Điều 1 Quy chế thiết bị giáo dục trong trường Mầm non, phổ thông ban hành kèm theo Quyết định số 41/2000 của Bộ trưởng Bộ Giáo dục - Đào tạo quy định: Thiết
bị giáo dục bao gồm thiết bị phục vụ giảng dạy và học tập tại lớp, thiết bị phòng thí nghiệm, thiết bị thể dục thể thao, thiết bị nhạc, hoạ và các thiết bị khác trong xưởng trường, vườn trường, phòng truyền thống, nhằm đảm bảo cho việc nâng cao chất lượng dạy và học, góp phần thực hiện mục tiêu giáo dục toàn diện
Có hai loại thiết bị dạy học gồm có:
- Thứ 1: TBGD được quy định trong danh mục TBGD tối thiểu bắt buộc các
nhà trường phải đầu tư cho các môn học phải có sử TBGD
- Thứ 2: TBGD tự chế: Tùy theo nhu cầu sử dụng của nhà trường và năng lực
thiết kế sáng tạo của giáo viên và học sinh có thể tạo ra được để phục vụ tối đa cho quá trình dạy học
Trong ngành giáo dục có nhiều trường ở nhiều địa phương với những tấm gương GV tự làm đồ dùng dạy học hấp dẫn lôi cuốn HS giờ học Đồng thời nhà trường sẽ có chế độ thưởng khuyến khích đối với GV tự làm đồ dùng dạy học hoặc sưu tầm đồ dùng dạy học phục vụ cho hoạt động dạy học Hơn nữa, thiết bị dạy học phải phù hợp với yêu cầu về nội dung và phương pháp của chương trình giáo dục; đảm bảo tính khoa học, tính sư phạm; an toàn cho người sử dụng, phù hợp với sự phát triển tâm lý và sinh lý lứa tuổi học sinh
1.2.2.2 Khái niệm quản lý thiết bị giáo dục
Quản lý TBGD là sự tác động có mục đích của người quản lý, phát triển và sử dụng có hiệu quả hệ thống TBGD phục vụ đắc lực cho công tác giáo dục và dạy học Nội dung TBGD mở rộng đến đâu thì tầm quản lý cũng phải rộng và sâu tương ứng Kinh nghiệm thực tiễn đã chỉ ra rằng TBGD chỉ phát huy được tác dụng tốt trong việc giáo dục, dạy học khi được quản lý tốt Do đó, đi đôi với việc đầu tư trang bị, điều quan trọng hơn là phải chú trọng đến việc quản lý TBGD trong nhà trường TBGD là một lĩnh vực vừa mang tính kinh tế - giáo dục, vừa mang tính khoa học - giáo dục nên việc quản lý một mặt phải tuân thủ các yêu cầu chung về quản lý kinh tế, khoa học mặt khác cần tuân theo các yêu cầu quản lý chuyên ngành giáo dục
Như vậy, có thể nói TBGD là một trong những công việc của người cán bộ quản
lý, là đối tượng quản lý trong nhà trường
Điều 12 - Quy chế thiết bị giáo dục trong trường Mầm non, phổ thông ban hành kèm theo Quyết định số 41/2000 của Bộ trưởng Bộ Giáo dục - Đào tạo quy định: Hiệu trưởng nhà trường có trách nhiệm xây dựng kế hoạch mua sắm, trang bị,
Trang 25tiếp nhận, phân phối thiết bị giáo dục theo đúng các quy định hiện hành của Nhà nước, phù hợp với chương trình giáo dục; thường xuyên kiểm tra, đánh giá hiệu quả
sử dụng thiết bị giáo dục; lập báo cáo lên cơ quan cấp trên mỗi năm một lần căn cứ vào quy chế, từng trường xây dựng nội quy quản lý thiết bị giáo dục cụ thể thích hợp với trường mình [3]
Như vậy, TBGD là một thành tố sư phạm, là đối tượng quản lý của người lãnh đạo nhà trường Quản lý TBGD cũng cần tuân thủ theo một chu trình quản lý nhất định, đó là sự kết hợp các chức năng quản lý theo một trật tự thời gian xác định Các chức năng quản lý theo quan điểm quản lý hiện đại được thể hiện trong sơ đồ dưới đây, bao gồm:
Sơ đồ 1.1 Mối quan hệ giữa thông tin và các chức năng quản lý
Để quản lý TBGD có hiệu quả người cán bộ quản lý cần xác định những mục tiêu phát triển của nhà trường, xây dựng kế hoạch chi tiết cụ thể như: cần trang bị các TBGD nào, cần bổ sung, sửa chữa ra sao, kế hoạch bồi dưỡng đội ngũ,… với những biện pháp tốt nhất để thực hiện mục tiêu đó Sau khi đã có kế hoạch cần tổ chức thực hiện, sắp xếp nguồn lực theo những cách thức nhất định (phân công người phụ trách TBGD, người quản lý theo dõi việc sử dụng TBGD của giáo viên,…) nhằm hiện thực hoá các mục tiêu đã đề ra trong kế hoạch Để việc tổ chức thực hiện đạt hiệu quả cao không thể thiếu vai trò chỉ đạo, điều hành của người cán bộ quản lý, không phải cứ giao cho họ làm rồi bỏ mặc mà phải thường xuyên theo dõi, đôn đốc, nhắc nhở, động viên, giám sát và có những điều chỉnh kịp thời khi cần thiết nhằm thúc đẩy các hoạt
Kế hoạch
Kiểm tra Thông tin Tổ chức
Chỉ đạo
Trang 26động phát triển Cuối cùng là chức năng kiểm tra, kiểm tra bao gồm đánh giá và điều chỉnh Quản lý mà không kiểm tra coi như không quản lý, nếu buông lỏng kiểm tra coi như nhà quản lý đã tự tước đi của mình một vũ khí sắc bén nhất Vì vậy, để tăng cường hiệu quả sử dụng TBGD người cán bộ quản lý cần tăng cường kiểm tra, đánh giá để nắm được tình trạng sử dụng TBGD của từng giáo viên
Tóm lại, quản lý TBGD là quá trình tác động có chủ đích, có kế hoạch của chủ
thể quản lý đến hệ thống TBGD để xây dựng, trang bị, bảo quản, sửa chữa và tổ chức
sử dụng có hiệu quả các thiết bị dạy học nhằm nâng cao chất lượng dạy học trong nhà trường
1.2.2.3 Quản lý thiết bị giáo dục trường mầm non
Quản lý TBGD nói chung và quản lý TBGD trường mầm non nói riêng là hoạt động có ý nghĩa hết sức quan trọng trong việc góp phần nâng cao hiệu quả, chất lượng giáo dục trẻ
Trên cơ sở khái niệm về TBGD và quản lý TBGD, có thể hiểu quản lý TBGD
trường mầm non là quá trình tác động có chủ định, có kế hoạch của hiệu trưởng trường mầm non đến hệ thống TBGD nhà trường để trang bị, đầu tư, khai thác, sử dụng, bảo quản, thanh lý các TBGD nhà trường mầm non nhằm nâng cao hiệu quả, chất lượng giáo dục trẻ
Như vậy, nội hàm của khái niệm trên bao gồm:
- Chủ thể quản lý TBGD ở nhà trường mầm non chính là Hiệu trưởng;
- Đối tượng tác động của quản lý TBGD là hệ thống TBGD ở trường mầm non;
- Nội dung quản lý TBGD ở nhà trường mầm non là hoạt động trang bị, đầu tư, khai thác, sử dụng, bảo quản, thanh lý các TBGD;
- Mục đích quản lý TBGD ở nhà trường mầm non là nhằm nâng cao hiệu quả, chất lượng giáo dục trẻ
1.3 Hệ thống thiết bị giáo dục của trường mầm non
1.3.1 Vị trí, vai trò, chức năng của hệ thống thiết bị giáo dục trường mầm non
1.3.1.1 Vị trí, vai trò hệ thống thiết bị giáo dục trường mầm non
TBGD được xem như là “bà đỡ” để các thành tố của quá trình dạy học, giáo dục đạt được mục tiêu của nó TBGD có vị trí quan trọng trong giáo dục mầm non, được thể hiện qua sơ đồ sau:
Trang 27Sơ đồ 1.2 Mối quan hệ của các thành tố trong quá trình dạy học
Quá trình dạy học được cấu thành bởi nhiều thành tố cốt lõi chủ yếu sau: Mục tiêu dạy học; Nội dung dạy học; Phương pháp dạy học; Chủ thể dạy học (GV); Đối tượng dạy học (HS); TBDH Các thành tố này liên quan chặt chẽ và tương tác với nhau, trong đó ba nhân tố Mục tiêu - Nội dung - Phương pháp liên kết, tương tác chặt chẽ và các nhân tố này có mối quan hệ với mục tiêu phát triển kinh tế xã hội với sự tiến bộ khoa học công nghệ, văn hóa của đất nước Ba nhân tố còn lại (GV - HS - TBDH) là các nhân tố để hiện thực hóa mục tiêu đào tạo, tái tạo, sáng tạo nội dung, phương pháp đào tạo Các yếu tố này tạo thành quá trình sư phạm, trong đó TBGD là một bộ phận của CSVC nhà trường, là một thành tố cấu thành quá trình sư phạm TBGD là công cụ để thực hiện các nội dung, phương pháp GDMN, thực hiện hóa mục tiêu GDMN và là đối tượng tác động của giáo viên và học sinh trong quá trình dạy học Thiết bị dạy học là cầu nối để giáo viên tổ chức quá trình dạy học, đưa học sinh tham gia thực sự vào quá trình dạy học, học sinh tự khai thác và tiếp nhận tri thức dưới
sự hướng dẫn của giáo viên
Trẻ ở độ đuổi mầm non là độ tuổi phát triển tư duy trực quan hình ảnh Phương pháp tốt nhất để dạy trẻ ở giai đoạn này là dạy con trẻ thông qua các trò chơi, tình huống thực tế Vì ở giai đoạn này, trẻ có khả năng quan sát và tiếp thu nhận thức mạnh
Mục tiêu GDMN
CSVC, TBGD
Phương pháp GDMN GGDMN GGDMN
Nội dung GDMN
Học sinh mầm non Giáo viên
mầm non
Trang 28một cách mẽ nhất, trẻ sẽ bắt chước theo và tò mò với mọi tình huống ở xung quanh Vì thế những thiết bị dạy học dành cho trẻ mầm non ở giai đoạn quan trọng này có vai trò lớn trong hoạt động giáo dục trẻ TBGD đóng một vai trò quan trọng trong các trường mầm non Cụ thể như sau:
- TBGD là công cụ lao động của người giáo viên Đối với giáo viên, TBGD đóng nhiều vai trò trong quá trình dạy học Các TBGD là tài liệu thay thế cho những sự vật,
sự việc, hiện tượng mà giáo viên và học sinh không thể trực tiếp quan sát, tiếp cận được tại lớp học Từ đó giúp học sinh có thể nhận biết những khái niệm, quy luật một cách trực quan
- TBGD là công cụ nhận thức của học sinh Đối với học sinh, TBGD giúp các em
có thể học theo nhóm, kịch thích kỹ năng làm việc nhóm, tư duy và sáng tạo Các phương tiện như video, phần mềm, băng đĩa giúp các em tiếp cận được kiến thức không thể tái hiệ tại lớp học Đặc biệt, trong tình hình dịch bệnh, học sinh có thể sử dụng những tài liệu này để tự học ở nhà
- TBGD là sự cụ thể hóa nội dung dạy học, vật chất hóa phương pháp dạy học Cùng với sự phát triển của xã hội, ngày càng có nhiều phương pháp giáo dục mới được
ra đời, TBGD là công cụ phục vụ cho những phương pháp dạy học mới Đứng về mặt nội dung và phương pháp dạy học thì TBGD đóng vai trò hỗ trợ tích cực vì có TBGD
ta mới có thể tổ chức được quá trình dạy học khoa học, đưa người học tham gia thực
sự vào quá trình này, tự khai thác và tiếp nhận tri thức dưới sự hướng dẫn của giáo viên TBGD đầy đủ, đồng bộ, hiện đại và phù hợp nội dung chương trình mới triển khai được các phương pháp dạy học một cách hiệu quả
- TBGD tham gia vào thúc đẩy sự hiện thực hóa mục tiêu dạy học, góp phần làm cho quá trình dạy học có chất lượng, hiệu quả Việc sử dụng TBGD giúp thức đẩy sự giao tiếp, trao đổi thông tin, do đó giúp HS học tập có hiệu quả, tăng cường trí nhớ, làm cho việc học tập được lâu bền, giúp phát triển mối quan tâm về các lĩnh vực học tập và khuyến khích HS tham gia chủ động vào quá trình học tập
1.3.1.2 Chức năng của hệ thống thiết bị giáo dục ở trường mầm non
TBGD có chức năng cung cấp kiến thức, giảm nhẹ cường đọ lao động và cụ thể hóa những sự vật, hiện tượng tự nhiên:
- Cung cấp kiến thức cho HS một cách chắc chắn, chính xác và trực quan; do đó hấp dẫn và kích thích được hứng thú học tập của HS Xuất phát từ đặc trưng tư duy hình ảnh, tư duy cụ thể của trẻ trong gia đoạn giáo dục mầm non; sự trực quan đóng vai trò quan trọng đối với sự lĩnh hội kiến thức của người học Tỷ lệ tham gia của các giác quan trong việc duy trì học tập: Nghe chiếm 11%, nhìn chiếm 81%, các giác quan khác chiếm 8% Như vậy, TBDH thực hiện được nguyên tắc trực quan qua kênh nhìn
Trang 29giúp cho lĩnh hội kiến thức tốt hơn Dạy học thông qua TBGD giúp rèn luyện kỹ năng cho người học: học sinh qua trực tiếp làm thí nghiệm, được lắp ráp thao tác, được quan sát, được nhận xét, do đó học bằng tất cả các giác quan, huy động mọi tiềm năng để nhận thức
- Rút ngắn thời gian giảng dạy mà vẫn bảo đảm HS lĩnh hội đủ nội dung học tập TBGD giúp giảm nhẹ cường độ lao động của cả GV và HS; do đó nâng cao hiệu quả dạy học TBGD giúp hỗ trợ hiệu quả cho giáo viên trong quá trình tổ chức các hoạt động nhận thức cho người học bởi đảm bảo quá trình dạy học được sinh động, thuận tiện, chính xác, từ đó rút ngắn thời gian giảng dạy mà vẫn bảo đảm người học lĩnh hội
đủ nội dung học tập một cách vững chắc Đồng thời kích thích hứng thú học tập cho người học, tạo điều kiện thuận lợi cho quá trình lĩnh hội kiến thức của người học
- Thể hiện được những yếu tố trong thực tế khó hoặc không quan sát, tiếp cận được Nhiều nội dung học tập phức tạp phải cần đến sự hổ trợ tích cực của phương tiện trực quan mới giải quyết được như chứng minh các định luật, các hiện tượng khoa học
tự nhiên, các hiện tượng xã hội… Lúc này, TBGD thực hiện chức năng cụ thể, trực quan hóa các hiện tượng tự nhiên và xã hội này
1.3.2 Hệ thống thiết bị giáo dục của trường mầm non
1.3.2.1 Phân loại thiết bị giáo dục ở trường mầm non
Hiện nay có nhiều cách phân loại TBGD ở trường MN Mỗi quan điểm phân loại đều dựa trên tính chất, cấu tạo và mức độ sử dụng TBGD trong quá trình giáo dục
Cơ sở phân loại các TBGD dựa trên các căn cứ chủ yếu như cơ sở khoa học về những con đường nhận thức của HS trong quá trình học tập; Chức năng của các loại hình TBGD; Yêu cầu về mặt sư phạm và khả năng trang bị, sử dụng chúng trong nhà trường hiện nay Từ những cơ sở trên có nhiều cách phân loại khác nhau về TBGD:
a) Phân loại theo căn cứ hình thức tồn tại của đối tượng
- Ấn phẩm: Tranh, ảnh, bản đồ, sơ đồ, biểu bảng, được in trên giấy
- Tài liệu nghe - nhìn: Phim, bản trong, băng đĩa âm thanh, hình ảnh,
- Mô hình: Là vật thay thế cho vật thực được đơn giản hóa, giữ được thuộc tính của sự vật, hiện tượng
- Mẫu vật: Là vật thực nhưng không còn đủ các thuộc tính của nó
- Phương tiện nghe - nhìn, máy tính: để thể hiện các tài liệu trực quan
b) Phân loại theo chức năng
- Phương tiện giáo dục truyền tải thông tin (chứng minh)
- Phương tiện giáo dục luyện tập (thực hành)
- Phương tiện giáo dục kiểm tra
- Phương tiện giáo dục hỗ trợ (phương tiện dùng chung)
Trang 30c) Phân loại theo nguồn gốc, xuất xứ hay giá trị
TBGD theo danh mục quy định của Bộ Giáo dục và Đào tạo, TBGD tự làm d) Phân loại theo hình thức sử dụng
- TBGD dùng chung (phương tiện kĩ thuật dùng chung) gồm: Máy tính, máy chiếu, máy ghi âm, video, cassette, tivi, bảng thông minh
- TBGD bộ môn bao gồm các loại hình chính như: Tranh ảnh; Mô hình, mẫu vật; Phim đèn chiếu; Bản trong; Băng, đĩa hình; băng, đĩa ghi âm; Phần mềm DH ; Giáo án điện tử; Thư viện điện tử; [5]
1.3.2.2 Yêu cầu đối với thiết bị giáo dục ở trường mầm non
Theo Thông tư 52/2020/TT-BGDĐT ngày 31/12/2020 của Bộ trưởng Bộ GD&ĐT Ban hành Điều lệ Trường mầm non; Thông tư số 01/VBHN-BGD ĐT ngày 23/3/2015, ban hành danh mục Đồ dùng - đồ chơi - thiết bị dạy học tối thiểu dùng cho giáo dục mầm non, trong đó có các yêu cầu về TBGD như sau:
- Nhà trường, nhà trẻ phải có đủ thiết bị, đồ chơi, đồ dùng cá nhân, tài liệu cho hoạt động chơi và học có chủ đích theo quy định của Bộ Giáo dục và Đào tạo; sử dụng
có hiệu quả trong nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục trẻ Thiết bị đào tạo đáp ứng danh mục và tiêu chuẩn thiết bị tối thiểu theo yêu cầu của Bộ GD &ĐT, tương ứng quy mô,
độ tuổi của trẻ
- Nhà trường, nhà trẻ sử dụng các thiết bị, đồ dùng, đồ chơi, tài liệu ngoài danh mục do Bộ Giáo dục và Đào tạo ban hành phải đảm bảo tính giáo dục, an toàn, phù hợp với trẻ em mầm non
- Nhà trường, nhà trẻ phải có kế hoạch bảo quản, sửa chữa, thay thế, bổ sung, nâng cấp thiết bị, đồ dùng, đồ chơi, tài liệu Thiết bị đào tạo có hồ sơ quản lý rõ ràng, được sử dụng đúng công năng, quản lý, bảo trì, bảo dưỡng theo quy định của trường
và nhà sản xuất
- Thiết bị, dụng cụ phục vụ đào tạo được bố trí hợp lý, an toàn, thuận tiện cho việc đi lại, vận hành, bảo dưỡng và tổ chức hướng dẫn thực hành; đảm bảo các yêu cầu
sư phạm, an toàn vệ sinh
- Hàng năm có đánh giá và đề xuất biện pháp nâng cao hiệu quả sử dụng thiết bị đào tạo theo quy định
- Các tài liệu của trường được số hóa và tích hợp với thư viện phục vụ hiệu quả cho hoạt động giáo dục ( Điều 17 Yêu cầu về đồ dùng, đồ chơi, học liệu Thông tư 52/2020/TT-BGDĐT ngày 31/12/2020 của Bộ trưởng Bộ GD&ĐT Ban hành Điều lệ Trường mầm non) [7]
Trên cơ sở đó, chúng tôi cho rằng, TBGD ở trường mầm non có những yêu cầu dưới đây:
Trang 31Thứ nhất, yêu cầu về số lượng, TBGD cần đảm bảo về số lượng theo quy định của Bộ Giáo dục và Đào tạo Mỗi loại hình TBGD cần bố trí đủ tại thư viện hoặc cho mỗi lớp học ít nhất 01 bộ, đặc biệt những TBGD bắt buộc phải đảm bảo cho mỗi trẻ có
01 bộ Số lượng TBGD
Thứ hai, yêu cầu chất lượng, TBGD cần đạt chuẩn theo yêu cầu của của Bộ Giáo dục và Đào tạo, phù hợp với từng lứa tuổi khác nhau để có thể góp phần nâng cao chất lượng giáo dục
Thứ ba, yêu cầu về sử dụng, bảo quản: Các TBGD ở trường MN phải được sử dụng và bảo quản theo đúng yêu cầu kỹ thuật của nhà sản xuất trong điều kiện hiện có của nhà trường Hơn nữa, mỗi loại TBGD đặc biệt là phương tiện nhe nhìn (máy móc, thiết bị, phần mềm) đều có hướng dẫn sử dụng riêng, cần tuân thủ hướng dẫn khi sử dụng và không sử dụng vượt quá tần suất, cường độ cho phép Việc sử dụng, bảo quản TBGD không đúng cách ảnh hưởng rất lớn đến chất lượng thiết bị cũng như chất lượng giáo dục trẻ
1.4 Lý luận về quản lý thiết bị giáo dục ở trường mầm non
Quản lý TBGD ở trường MN có ý nghĩa hết sức quan trọng bởi nếu công tác này được thực hiện thường xuyên và có hiệu quả sẽ góp phần khai thác, sử dụng tối ưu các TBGD trong các hoạt động GD, từ đó góp phần nâng cao chất lượng giáo dục trẻ Hơn nữa, công tác này được thực hiện tốt sẽ còn góp phần tăng cường hiệu quả quản
lý nhà trường MN nói chung của người CBQL
Hiện nay có nhiều cách tiếp cận khác nhau về quản lý TBGD ở trường MN Theo đó, với hướng tiếp cận chức năng, công tác quản lý TBGD ở trường mầm non bao gồm: Lập kế hoạch; Tổ chức; Chỉ đạo; Kiểm tra, đánh giá
a Lập kế hoạch quản lý thiết bị giáo dục
Trang 32thực hiện phù hợp với các nguồn lực, điều kiện của nhà trường sao cho đảm bảo quy trình, thời gian đồng thời đưa ra các giải pháp khắc phục những khó khăn, vướng mắc
dự kiến sẽ xảy ra trong quá trình triển khai kế hoạch, đồng thời xây dựng các quy định
cụ thể liên quan đến các công tác quản lý TBGD nhằm đảm bảo thực hiện hoạt động quản lý đạt được mục tiêu ban đầu Cụ thể, bao gồm các kế hoạch đầu tư mua sắm, trang bị, khai thác sử dụng, kế hoạch bảo quản, sửa chữa, kiểm kê, thanh lý TBGD
b Tổ chức và chỉ đạo công tác quản lý thiết bị giáo dục
- Đây là quá trình triển khai các kế hoạch đã được xây dựng, hoạt động này được tiến hành bằng cách sắp xếp, bố trí các nguồn lực; phân công, bố trí công việc, quy định trách nhiệm và quyền hạn cho các bộ phận quản lý; phối hợp các nguồn lực
và các bộ phận sao cho đảm bảo thực hiện được các nhiệm vụ đã đề ra và đạt được hiệu quả tối ưu
- Để thực hiện đ kế hoạch đã xác lập và đảm bảo cho quá trình thực hiện đạt được mục tiêu, công tác chỉ đạo thực sự là không thể thiếu trong bất kỳ giai đoạn nào của quá trình Chỉ đạo là quá trình điều khiển, dẫn dắt, tác động và gây ảnh hưởng tích cực đến các bộ phận, các thành viên trong tổ chức thực hiện kế hoạch theo sự phân công để từng bước đi đến mục tiêu Các nhà quản lý phải truyền đạt và giải thích rõ các mục tiêu, kế hoạch, nhiệm vụ, trách nhiệm và quyền hạn cho từng thành viên và bộ phận, đồng thời phải tổ chức, tập hợp, liên kết, động viên họ thực hiện kế hoạch và hoàn thành tốt nhiệm vụ được giao
- Nhân sự trong quản lý TBGD bao gồm:
+ Nhân sự để thực hiện việc mua sắm TBGD gồm có: nhân viên Hành chính - Tài chính - Kế toán, cán bộ phụ trách quản lý TBGD, nhân viên thư viện và một số giáo viên;
+ Nhân sự thực hiện việc khai thác, sử dụng TBGD do Phó Hiệu trưởng chuyên môn phụ trách cùng với các nhân viên thư viện, nhân viên phụ trách TBGD, các tổ trưởng chuyên môn, giáo viên
+ Nhân sự thực hiện việc bảo quản TBGD: thường có sự kết hợp chặt chẽ giữa
bộ phận quản lý chuyên môn và bộ phận quản lý hành chính - quản trị, vì việc sử dụng các TBGD được thực hiện theo kế hoạch của hoạt động chuyên môn, nhưng phải tuân thủ các quy định về quản lý hành chính trong việc sử dụng, bảo quản TBGD của nhà trường
c Kiểm tra, đánh giá công tác quản lý thiết bị giáo dục
Đây được xem là một khâu quan trọng, vì nó giúp nhà quản lý xác định được hệ thống quản lý của mình đang ở tình trạng nào để có giải pháp điều chỉnh cho phù hợp
Cụ thể là để phát hiện các sai sót, lệch lạc, kịp thời đưa ra các phương án giải quyết
Trang 33những vấn đề phát sinh trong quá trình thực hiện Bên cạnh đó công tác kiểm tra còn giúp cho nhà quản lý xác nhận kết quả, động viên, khích lệ người thực hiện nhiệm vụ một cách kịp thời Vì vậy, công tác kiểm tra đòi hỏi phải được thực hiện thường xuyên, dưới nhiều hình thức Tất cả các điều trên đều nhằm làm cho hoạt động quản lý đạt được mục tiêu một cách tốt nhất
- Kiểm tra công tác quản lý TBGD, bao gồm:
+ Kiểm tra việc huy động và sử dụng các nguồn vốn cho việc mua sắm, trang bị TBGD; kiểm tra tính đồng bộ và chất lượng của TBGD được mua sắm
+ Kiểm tra việc sử dụng TBGD được tiến hành qua kiểm tra giờ dạy của giáo trên lớp, qua hồ sơ theo dõi, quản lý của GV, NV phụ trách TBGD
+ Kiểm tra việc sắp xếp bảo quản, sửa chữa thường xuyên, bảo dưỡng định kỳ trang thiết bị của cán bộ phụ trách TBGD
+ Kiểm tra hồ sơ theo dõi, nhập xuất, tình trạng hư hỏng TBGD trong quá trình
sử dụng để đề xuất hướng xử lý và thanh lý nếu cần thiết
Với cách tiếp cận nội dung, quản lý TBGD ở trường mầm non bao gồm: quản lý đầu tư mua sắm, trang bị TBGD; quản lý khai thác, sử dụng TBGD; quản lý duy tu, bảo quản, thanh lý TBGD ở trường mầm non Nghiên cứu này tiếp cận theo hướng nội dung quản lý TBGD
1.4.1 Quản lý đầu tư mua sắm, trang bị thiết bị giáo dục ở trường mầm non
Công tác quản lý mua sắm và trang bị TBGD cần được triển khai theo các căn
cứ, trình tự và nội dung sau:
- Bảo đảm thực hiện các văn bản quy định, hướng dẫn của nhà nước và của các
Bộ, ngành liên quan về công tác quản lý mua sắm và trang bị TBGD trong nhà trường
MN
- Thành lập Ban kiểm kê của trường để tiến hành kiểm kê định kỳ hàng năm theo quy định nhằm thống kê chính xác về số lượng, chất lượng TBGD hiện có, xác định sự thừa thiếu TBGD so với nhu cầu, đồng thời đánh giá được tình hình bảo quản,
sử dụng, hiệu quả khai thác TBGD trong toàn trường
- Các viên chức, bộ phận chức năng phụ trách TBGD căn cứ vào hiện trạng kiểm kê để lập kế hoạch đầu tư trang bị, mua sắm TBGD bổ sung, đối chiếu với danh mục TBGD đáp ứng yêu cầu của nhà trường, danh mục TBGD của các phòng học trang bị CNTT, thư viện để xác định cụ thể số lượng TBGD, các thông số kỹ thuật, nước sản xuất theo hướng “đầy đủ, đồng bộ, chuẩn hóa, hiện đại hóa”
- Lập dự toán kinh phí từ các nguồn vốn được huy động cho mua sắm TBGD, bảo đảm tính khả thi, phù hợp với tình hình kinh phí các nguồn có thể huy động được
- Quản lý trình tự, thủ tục mua sắm theo đúng các nguyên tắc, quy định của nhà
Trang 34nước, bảo đảm yêu cầu kỹ thuật, thời gian cung ứng và trách nhiệm bảo hành
- Tổ chức nghiệm thu thiết bị và giao cho các bộ phận, cá nhân phụ trách quản lý; thực hiện công tác hành chính, kế toán theo đúng quy định về quản lý tài sản nhà nước
Bên cạnh công tác đầu tư, mua sắm các thiết bị giáo dục, việc tổ chức thực hiện
tự trang bị, thiết kế đồ dùng, thiết bị giáo dục ở trường mầm non hết sức quan trọng Theo đó, công tác tự làm đồ dùng, tự trang bị các thiết bị giáo dục ở trường mầm non bao gồm:
- Xây dựng kế hoạch, phát động phong trào tự làm đồ dùng, thiết bị giáo dục trong toàn bộ nhà trường;
- Phổ biến nội dung, hình thức, phương pháp cũng như quy định về việc tự làm
đồ dùng, thiết bị giáo dục đến từng tổ chuyên môn, các giáo viên của nhà trường;
- Chỉ đạo việc thực hiện tự làm đồ dùng, thiết bị giáo dục của nhà trường;
- Tiến hành kiểm tra, đánh giá các hoạt động tự làm đồ dùng, thiết bị giáo dục Công tác kiểm tra, đánh giá cần chú ý đến việc xây dựng các công cụ, tiêu chí kiểm tra, đánh giá cũng như quy trình thực hiện công tác kiểm tra, đánh giá Hơn nữa, cần công khai các kết quả kiểm tra, đánh giá, để từ đó có những cải tiến cho chu kỳ tiếp theo trong việc quản lý công tác này
Để công tác quản lý việc tự làm đồ dùng, thiết bị giáo dục của nhà trường có hiệu quả, Ban giám hiệu cần xây dựng kế hoạch hợp lý, khoa học; thường xuyên chỉ đạo, đôn đốc công tác này cũng như tăng cường kiểm tra, đánh giá định kỳ, thường xuyên, có những cách thức xử lý hợp lý
Mặt khác, nhà trường cũng cần có những chế độ, chính sách, khen thưởng, phê bình hợp lý trong công tác thiết kế, tự làm đồ dùng, thiết bị giáo dục
1.4.2 Quản lý khai thác, sử dụng thiết bị giáo dục ở trường mầm non
- Có kế hoạch tổ chức đào tạo, bồi dưỡng đội ngũ GV, viên chức phụ trách TBGD nhằm nâng cao trình độ quản lý, sử dụng TBGD đảm bảo yêu cầu kỹ thuật và kinh tế, phát huy vai trò của TBGD trong bảo đảm chất lượng hoạt động giáo dục trong nhà trường Đảm bảo thực hiện đầy đủ, kịp thời chế độ phụ cấp và hỗ trợ vật chất khác cho các viên chức phụ trách TBGD, kiêm nhiệm phụ trách TBDH trong nhà trường
- Trang bị TBGD đầy đủ, đồng bộ và chuẩn hóa cho hệ thống các phòng học và các TBGD dùng chung đảm bảo yêu cầu: dễ nhìn, dễ lấy, thuận lợi cho sử dụng và bảo quản
- Thông tin kịp thời cho CB,GV danh mục TBGD hiện có của nhà trường để
GV lập kế hoạch sử dụng TBGD trong giảng dạy, tránh hiện tượng có TBGD mà
Trang 35không sử dụng Việc sử dụng TBGD phải đúng mục đích, hiệu quả (tiết kiệm, đúng quy trình, thao tác kỹ thuật)
- Xây dựng quy chế sử dụng TBGD; quy định trách nhiệm, nghĩa vụ và quyền lợi cho các bộ phận và cá nhân liên quan để tạo sự đồng bộ, thống nhất trong việc sử dụng TBGD đối với tất cả các thành viên nhà trường
- Kiểm tra đánh giá thường xuyên hiệu quả sử dụng để có biện pháp chế tài để chấn chỉnh, khen thưởng phù hợp nhằm bảo đảm sử dụng hiệu quả TBGD
- Sơ, tổng kết việc khai thác, sử dụng TBGD để rút kinh nghiệm cho kế hoạch trang bị sử dụng cho năm tiếp theo
1.4.3 Quản lý duy tu, bảo quản, thanh lý thiết bị giáo dục ở trường mầm non
- Thành lập hoặc giao kiêm nhiệm công tác bảo quản, sửa chữa cho một bộ phận quản lý Quy định trách nhiệm bảo quản cho bộ phận đảm nhận nhiệm vụ này
Có kế hoạch bố trí tập huấn nghiệp vụ về bảo quản TBGD và thực hiện đầy đủ, kịp thời chế độ chính sách cho các viên chức phụ trách công tác này
- Cân đối nguồn vốn cần thiết bảo đảm phục vụ kịp thời cho việc bảo quản, sửa chữa TBGD trong nhà trường
- Xây dựng cơ chế thông tin phản ánh về tình trạng TBGD định kỳ cho bộ phận quản lý TBGD và lãnh đạo nhà trường
- Thường xuyên tổ chức KT-ĐG việc bảo quản, sửa chữa TBGD Thực hiện bảo dưỡng TBGD theo định kỳ, đồng thời sửa chữa kịp thời TBGD bị hư hỏng còn khắc phục được
- Trên cơ sở kiểm tra thường xuyên và định kỳ, các TBGD hư hỏng không còn khắc phục được cần tổ chức thanh lý kịp thời Việc thành lập Hội đồng thanh lý TBGD, quy trình tiến hành thanh lý phải thực hiện theo đúng các nguyên tắc quy định
1.5 Các yếu tố ảnh hưởng đến quản lý thiết bị giáo dục ở trường mầm non
1.5.1 Yếu tố bên ngoài
- Tình hình kinh tế xã hội và sự phát triển của địa phương
Giáo dục và kinh tế - xã hội có mối quan hệ mật thiết với nhau, chúng vừa là phương tiện vừa là kết quả tác động lẫn nhau Giáo dục vừa chịu sự quy định của kinh
tế - xã hội, vừa tác động đến nền kinh tế - xã hội, thúc đẩy sự phát triển mọi mặt của đời sống xã hội và cá nhân Tuy nhiên, giáo dục muốn phát triển cũng cần có sự tiêu tốn kinh tế nhất định Càng tăng chi phí cho giáo dục, chất lượng và hiệu quả của chúng cũng càng cao Cụ thể, công tác quản lý thiết bị giáo dục ở trường mầm non chịu ảnh hưởng lớn từ tình hình kinh tế - xã hội của địa phương Việc đầu tư, trang bị,
sử dụng, bảo quản, sửa chữa hay thanh lý các TBGD đều chịu ảnh hưởng bởi nguồn kinh phí địa phương phân bổ cho các trường mầm non trên địa bàn huyện
Trang 36Trong địa bàn tỉnh Bình Phước, Chơn Thành là huyện có nhiều yếu tố thuận lợi nhất trong tỉnh để thu hút các nhà đầu tư trong và ngoài nước để phát triển mạnh công nghiệp - dịch vụ Chơn Thành có địa hình tương đối bằng phẳng với vị trí địa lý rất thuận lợi gần các trung tâm công nghiệp lớn Đây là điều kiện thuận lợi để phát triển kinh tế, tạo nguồn huy động TBGD tại các trường mầm non công lập trên địa phương
Tuy nhiên, ngành giáo dục huyện vẫn còn gặp nhiều khó khăn Lượng học sinh tăng đột biến do gia tăng tỷ lệ dân số cơ học trên địa bàn dẫn đến việc thiếu hụt TBGD trong nhà trường UBND huyện đầu tư mỗi năm từ 10-20 tỷ đồng và nguồn vận động
xã hội hóa hơn 4 tỷ đồng/năm, tuy nhiên, vẫn chưa đáp ứng kịp nhu cầu Do đứng chân trên địa bàn có nhiều khu công nghiệp với gần 30 ngàn công nhân, trong đó phần lớn là lao động trẻ nên số lượng học sinh các cấp tăng nhanh và luôn quá tải Theo thống kê, hằng năm trên địa bàn huyện tăng khoảng 1.000 học sinh các cấp [8]
- Chế tài dành cho đội ngũ cán bộ giáo viên, nhân viên
Chế tài chính là một bộ phận không thể thiếu trong một quy phạm pháp luật, là công cụ để thể hiện thái độ của Nhà nước đối với những hành vi vi phạm pháp luật và cũng có tác dụng phòng ngừa, giáo dục để bảo đảm việc tuân thủ pháp luật, từ đó góp phần thực hiện mục đích của Nhà nước trong mọi lĩnh vực: chính trị, kinh tế, quốc phòng, an ninh, văn hoá, xã hội,… Trong trường mầm non, cụ thể là trong công tác quản lý TBGD, chế tài mang tính cảnh cáo, răn đe, Từ đó nâng cao ý thức của cán bộ, giáo viên nhà trường trong công tác quản lý TBGD
Tuy nhiên, hiện nay trong các trường mầm non, mặc dù đã có các biện pháp quản lý giáo dục nhưng vẫn chưa thực sự triệt để Vẫn chưa có các chế tài cụ thể trong các trường hợp sai phạm trong quá trình đầu tư, trang bị, sử dụng, bảo quản, sửa chữa hay thanh lý các TBGD Các trường cần xây dựng bộ quy tắc về quản lý TBGD trong các trường mầm non công lập, các quy tắc cần dựa trên Nghị định số 24/2021/NĐ-CP Trong đó quy định cụ thể quyền hạn và trách nhiệm của Hội đồng trường, Hiệu trưởng, giáo viên, nhân viên nhà trường trong việc quản lý TBGD và chế tài xử phatk khi vi phạm
- Cơ chế, chính sách về quản lý thiết bị giáo dục ở mầm non
Cơ chế, chính sách của nhà nước là cơ sở pháp luật cho công tác quản lý thiết bị giáo dục ở các trường mầm non công lập
Nghị quyết số 14 ngày 11/01/1979 của Bộ Chính trị về cải cách giáo dục đã chỉ rõ: “Cơ sở vật chất kĩ thuật của trường học là những điều kiện vật chất cần thiết giúp học sinh nắm vững kiến thức, tiến hành lao dộng sản xuất, thực nghiệm và nghiên cứu khoa học, hoạt động văn nghệ và rèn luyện thân thể đảm bảo thực hiện tốt phương pháp giáo dục và đào tạo mới” [2]
Trang 37Đặc biệt, Nghị quyết 29-NQ/TW của Ban chấp hành Trung ương Đảng đã nhấn mạnh “Đối với giáo dục mầm non và phổ thông, Nhà nước ưu tiên tập trung đầu tư xây dựng, phát triển các cơ sở giáo dục công lập và có cơ chế hỗ trợ để bảo đảm từng bước hoàn thành mục tiêu phổ cập theo luật định” [1]
Theo Quy chế Thiết bị giáo dục trong trường mầm non, trường phổ thông (Ban hành kèm theo Quyết định ngày 07/9/2000 của Bộ trưởng Bộ Giáo dục và Đào tạo), Chương 1, Điều 1 quy định “Thiết bị giáo dục bao gồm thiết bị phục vụ giảng dạy và học tại lớp, thiết bị phòng thí nghiệm, thiết bị thể dục thể thao, thiết bị nhạc, họa và các thiết bị khác trong xưởng trường, vườn trường, phòng truyền thống, nhằm đảm bảo cho việc nâng cao chất lượng dạy và học, góp phần thực hiện mục tiêu giáo dục toàn diện” [3]
Từ các văn bản trên cho thấy, việc tăng cường đầu tư cơ sở vật chất, trang thiết
bị cho giáo dục luôn được Đảng và Nhà nước quan tâm
Bên cạnh đó, Nhà nước còn ban hành các Thông tư, Chỉ thị hướng dẫn hoạt động quản lý TBGD của các trường mầm non như: Thông tư số Số : 01/VBHN-BGDĐT Thông tư Ban hành danh mục đồ dung- đồ chơi – thiết bị dạy học thối thiểu dung cho giáo dục mầm non,…
- Sự phát triển của khoa học công nghệ thông tin
Đề án “Tăng cường ứng dụng CNTT trong quản lí và hỗ trợ các hoạt động dạy - học, nghiên cứu khoa học góp phần nâng cao chất lượng giáo dục và đào tạo giai đoạn 2016-2020, định hướng đến năm 2025”; ban hành Kế hoạch ứng dụng CNTT của Bộ giai đoạn 2016 - 2020 và Kế hoạch hành động thực hiện NQ36a của Chính phủ đã thể hiện rõ, công nghệ thông tin là xu hướng phát triển mới của hầu hết các lĩnh vực trong đời sống xã hội hiện nay và lĩnh vực giáo dục cung không nằm ngoài xu hướng đó Công nghệ thông tin tác động không nhỏ đến việc thay đổi mô hình quản lý TBGD trong nhà trường, góp phần chuyển đổi từ việc quản lý trên sổ sách sang quản lý bằng phần mềm, kỹ thuật , công nghệ từ đó giúp nâng cao hiệu quả của hoạt động quản lý TBGD
Ứng dụng CNTT trong GD&ĐT là một yêu cầu đặt ra trong những chủ trương chung của Đảng và Nhà nước về đẩy mạnh ứng dụng CNTT trong tất cả các lĩnh vực của đời sống kinh tế - xã hội Ứng dụng CNTT trong giáo dục còn là một điều tất yếu của thời đại Thực tế này yêu cầu các nhà trường phải đưa các kỹ năng công nghệ vào trong chương trình giảng dạy của mình Việc ứng dụng CNTT hiện nay ở trường mầm non có hai nội dung chính: ứng dụng phục vụ công tác quản lý cấp trường và ứng dụng CNTT phục vụ chăm sóc giáo dục trẻ Việc ứng dụng CNTT trong quản lý ở các trường, bao gồm cả quản lý thiết bị dạy học, hiện nay còn lẻ tẻ, thiếu tính hệ thống
Trang 38“mạnh ai nấy làm” [11]
Có thể thấy ứng dụng của công nghệ thông tin quản lý thiết bị giáo dục đã tạo ra một biến đổi về chất trong hiệu quả quản lý của các trường mầm non
1.5.2 Yếu tố bên trong
- Nhận thức của CBQL, GV, NV nhà trường về tầm quan trọng của các thiết bị giáo dục
CBQL, GV, NV là những chủ thể trực tiếp tham gia tring công tác quản lý TBGD Việc nhận thức đúng về vị trí, vai trò của TBGD trong nhà trường giúp nâng cao hiệu quả công tác quản lý Ngược lại, nếu đội ngũ cán bộ, giáo viên nhà trường nhận thức chưa đầy đủ sẽ dẫn đến việc sử dụng, bảo quản TBGD kém hiệu quả, dẫn đến việc lãng phí, thiếu hụt TBGD trong nhà trường Vì thế, yếu tố Nhận thức của GV
và hiệu trưởng về vai trò của TBDH có ảnh hưởng nhiều đến quản lý TBDH trong trường mầm non công lập
- Năng lực của cán bộ quản lý nhà trường MN
Hiệu trưởng là người chịu trách nhiệm tổ chức, quản lý các hoạt động và chất lượng nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục trẻ em của nhà trường Trong các nhiệm vụ của hiệu trưởng bao gồm việc quản lý và sử dụng có hiệu quả các nguồn tài chính, tài sản của nhà trường, tổ chức thực hiện quy chế dân chủ ở cơ sở; thực hiện xã hội hoá giáo dục; phối hợp tổ chức, huy động các lực lượng xã hội cùng tham gia hoạt động giáo dục, phát huy vai trò của nhà trường đối với cộng đồng Có nghĩa là, năng lực của hiệu trưởng sẽ ảnh hưởng trực tiếp đến hoạt động đầu tư, trang bị cũng như chỉ đạp sử dụng
và khai thác các thiết bị giáo dục trong nhà trường
Khoản 3 Điều 16 Quy định về phòng học bộ môn ban hành kèm theo Quyết định số 37/2008/QĐ-BGDĐT quy định chức năng của viên chức làm công tác thiết bị dạy học trong quản lý và hoạt động của phòng học bộ môn như sau: Viên chức làm công tác thiết bị dạy học là người trực tiếp quản lý hoạt động của phòng học bộ môn
và thực hiện chế độ báo cáo theo quy định [4] Do đó, năng lực của cán bộ quản lý TBGD cũng có ảnh hưởng không nhỏ đối với hoạt động quản lý TBGD vì cán bộ quản
lý TBGD là người tiếp xúc gần nhất với TBGD, có trách nhiệm: Cùng tổ chuyên môn
và giáo viên bộ môn chuẩn bị thiết bị dạy học, hỗ trợ hướng dẫn học sinh sử dụng thiết
bị thực hành, thí nghiệm; Cập nhật sổ sách, mô tả, phân loại, sắp xếp khoa học và hệ thống các thiết bị dạy học theo chương trình môn học; Có kế hoạch kiểm tra định kỳ trang thiết bị dạy học, các yêu cầu đảm bảo kỹ thuật, an toàn sử dụng trong phòng học
bộ môn để duy tu, bảo dưỡng hoặc đề xuất sửa chữa, mua sắm bổ sung; Tham gia học tập, bồi dưỡng chuyên môn nghiệp vụ
Từ đó có thể thấy, năng lực của cán bộ quản lý nhà trường MN là một yếu tố
Trang 39quan trọng trong quản lý TBGD
- Cơ chế, môi trường quản lý nhà trường mầm non
Môi trường của một tổ chức là tổng hợp các yếu tố từ bên trong cũng như từ bên ngoài tổ chức có ảnh hưởng trực tiếp hoặc gián tiếp đến hoạt động và kết quả hoạt động của tổ chức Môi trường quản lý của nhà trường mầm non bao gồm môi trường bên ngoài và môi trường bên trong Môi trường bên ngoài gồm kinh tế - chính trị, văn hóa – xã hội, công nghệ - kỹ thuật; môi trường bên trong gồm nhân sự và bộ máy quản
lý, môi trường làm việc và văn hóa nhà trường
Việc xây dựng một cơ chế, môi trường quản lý tốt sẽ giúp nâng cao nhận thức, trách nhiệm của đội ngũ giáo viên nhà trường từ đó tăng cường hiệu quả của công tác quản lý TBGD trong các trường mầm non
Tiểu kết Chương 1
Trên cơ sở tổng thuật các công trình nghiên cứu cho thấy, các nghiên cứu trong
và ngoài nước phần lớn mới chỉ dừng lại ở việc nghiên cứu về tác động của thiết bị giáo dục đến quá trình dạy học Chưa có được công trình nghiên cứu một cách cụ thể
và đầy đủ về vấn đề quản lý TBGD ở các trường mầm non công lập
Quản lý TBGD là quá trình tác động có chủ đích, có kế hoạch của chủ thể quản lý đến hệ thống TBGD để xây dựng, trang bị, bảo quản, sửa chữa và tổ chức sử dụng có hiệu quả các thiết bị dạy học nhằm nâng cao chất lượng dạy học trong nhà trường Quản lý TBGD chịu ảnh hưởng bởi nhiều yếu tố khác nhau bao gồm nhiều yếu tố bên trong và bên ngoài Các yếu tố bên ngoài bao gồm tình hình kinh tế - xã hội của địa phương, chế tài của nhà trường mầm non, sự phát triển của CNTT và cơ chế, chính sách quản lý TBGD ở mầm non Bên cạnh đó, các yếu tố bên trong gồm nhận thức của CBQL, GV, NV nhà trường về tầm quan trọng của các thiết bị giáo dục, năng lực của cán bộ quản lý nhà trường MN và cơ chế, môi trường quản lý nhà trường mầm non cũng có vai trò không nhỏ trong hiệu quả công tác quản lý TBGD
Trên cơ sở tổng thuật các đề tài nghiên cứu trong và ngoài nước, phân tích các khái niệm liên quan và các yếu tố ảnh hưởng đến hoạt động quản lý TBGD, đã chỉ ra hướng nghiên cứu cho đề tài Quản lý thiết bị giáo dục tại các trường Mầm non công lập huyện Chơn Thành tỉnh Bình Phước
Trang 40CHƯƠNG 2 THỰC TRẠNG QUẢN LÝ THIẾT BỊ GIÁO DỤC TẠI CÁC TRƯỜNG MẦM NON CÔNG LẬP HUYỆN CHƠN THÀNH, TỈNH BÌNH PHƯỚC
2.1 Khái quát quá trình khảo sát
2.1.1 Mục đích tổ chức khảo sát
Để có thêm cơ sở cho công tác “Quản lý thiết bị giáo dục tại các trường Mầm
non công lập huyện Chơn Thành tỉnh Bình Phước”, công việc khảo sát thực trạng
nhằm thực hiện với mục đích sau:
- Tìm hiểu thực trạng của thiết bị giáo dục và công tác quản lý thiết bị giáo dục tại các cơ sở giáo dục mầm non công lập trên địa bàn huyện Chơn Thành, tỉnh Bình Phước
- Xác định những khó khăn mà CB.GV.NV gặp phải trong quá trình quản lý thiết bị giáo dục tại đơn vị
2.1.2 Khách thể và thời gian khảo sát
Nghiên cứu tiến hành khảo sát thực trạng qua bảng hỏi, bảng 2.1 cho thấy tổng
số CBQL, GV, tham gia khảo sát là 196 người, bao gồm: 10 Hiệu trưởng, 10 Phó hiệu trưởng phụ trách quản lý thiết bị, 27 tổ trưởng tổ chuyên môn, 149 giáo viên
Bảng 2.1 Cỡ mẫu phân theo trường mầm non
STT Tên trường CBQL, GV, NV
Thông tin về đặc điểm các đối tượng tham gia khảo sát bao gồm 196 CBQL,
GV, NV được thống kê và thể hiện trong bảng 2.2 như sau: