1. Trang chủ
  2. » Tất cả

Trách nhiệm bồi thường của nhà nước trong hoạt động quản lý hành chính nhà nước

63 7 0
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Trách nhiệm bồi thường của nhà nước trong hoạt động quản lý hành chính nhà nước
Tác giả Lưu Ngọc Cảnh
Người hướng dẫn PGS.TS. Nguyễn Bá Chiến
Trường học Học viện Nội vụ Hà Nội
Chuyên ngành Luật Hiến pháp và Luật Hành chính
Thể loại Luận văn thạc sĩ
Năm xuất bản 2022
Thành phố Hà Nội
Định dạng
Số trang 63
Dung lượng 732,24 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

BỘ NỘI VỤ TRƢỜNG ĐẠI HỌC NỘI VỤ HÀ NỘI LƢU NGỌC CẢNH TRÁCH NHIỆM BỒI THƢỜNG CỦA NHÀ NƢỚC TRONG HOẠT ĐỘNG QUẢN LÝ HÀNH CHÍNH NHÀ NƢỚC LUẬN VĂN THẠC SỸ ĐỊNH HƢỚNG ỨNG DỤNG CHUYÊN NGÀNH LUẬT HIẾN PHÁP VÀ[.]

Trang 1

LƯU NGỌC CẢNH

TRÁCH NHIỆM BỒI THƯỜNG CỦA NHÀ NƯỚC

TRONG HOẠT ĐỘNG QUẢN LÝ HÀNH CHÍNH NHÀ NƯỚC

LUẬN VĂN THẠC SỸ ĐỊNH HƯỚNG ỨNG DỤNG

CHUYÊN NGÀNH LUẬT HIẾN PHÁP

VÀ LUẬT HÀNH CHÍNH

Hà Nội, tháng 7 năm 2022

Trang 2

LƯU NGỌC CẢNH

TRÁCH NHIỆM BỒI THƯỜNG CỦA NHÀ NƯỚC

TRONG HOẠT ĐỘNG QUẢN LÝ HÀNH CHÍNH NHÀ NƯỚC

LUẬN VĂN THẠC SỸ ĐỊNH HƯỚNG ỨNG DỤNG

CHUYÊN NGÀNH LUẬT HIẾN PHÁP

VÀ LUẬT HÀNH CHÍNH, Mã số: 8380102 NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC: PGS.TS NGUYỄN BÁ CHIẾN

Hà Nội, tháng 7 năm 2022

Trang 3

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan: Luận văn với đề tài: “Trách nhiệm bồi thường của Nhà nước trong hoạt động quản lý hành chính nhà nước” là nghiên cứu của

riêng tôi, các kết quả nghiên cứu có tính độc lập riêng, không sao chép bất cứ tài liệu nào và chưa công bố nội dung này ở bất kỳ đâu Các nội dung số liệu trong luận văn được sử dụng trung thực có nguồn trích dẫn, chú thích rõ ràng, minh bạch, có tính kế thừa, phát triển, đã được công bố trong các báo cáo của cơ quan Nhà nước, các trang Web, đầu sách của các tác giả uy tín đã được in ấn phát hành rộng rãi trên toàn quốc

Hà Nội, ngày tháng 7 năm 2022

Học viên

Lưu Ngọc Cảnh

Trang 4

LỜI CẢM ƠN

Tôi xin cảm ơn Ban Giám Hiệu trường Đại học Nội vụ Hà Nội vì đã tạo điều kiện về cơ sở vật chất cùng hệ thống thư viện hiện đại phục vụ cho quá trình học tập, nghiên cứu

Tôi xin cảm ơn các thầy, cô Khoa Pháp luật hành chính - Trường Đại học Nội vụ Hà Nội đã tận tình giảng dạy cho tôi

Tôi xin chân thành cảm ơn PGS.TS Nguyễn Bá Chiến đã tận tình hướng dẫn tôi trong quá trình học tập cũng như trong việc hoàn thành luận văn với những chỉnh sửa, nhận xét quý báu

Do giới hạn kiến thức và thời gian nghiên cứu, kính mong sự chỉ dẫn và đóng góp của các Thầy, Cô để luận văn của tôi được hoàn thiện hơn

Xin chân thành cảm ơn!

Trang 5

DANH MỤC CÁC KÝ HIỆU, CÁC CHỮ VIẾT TẮT

TNBTCNN Trách nhiệm bồi thường của nhà nước

QLHCNN Quản lý hành chính nhà nước

Trang 6

MỤC LỤC

LỜI CAM ĐOAN 1

LỜI CẢM ƠN 2

DANH MỤC CÁC KÝ HIỆU, CÁC CHỮ VIẾT TẮT 3

CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ PHÁP LUẬT VỀ TRÁCH NHIỆM BỒI THƯỜNG CỦA NHÀ NƯỚC TRONG HOẠT ĐỘNG QUẢN LÝ HÀNH CHÍNH NHÀ NƯỚC 11

1.1 Khái niệm, đặc điểm, ý nghĩa của trách nhiệm bồi thường của Nhà nước trong hoạt động quản lý hành chính nhà nước 11

1.1.1 Khái niệm 11

1.1.2 Đặc điểm 12

1.1.3 Ý nghĩa 14

1.2 Quy định của pháp luật về trách nhiệm bồi thường của Nhà nước trong hoạt động quản lý hành chính nhà nước 16

1.2.1 Phạm vi trách nhiệm bồi thường 16

1.2.2 Nguyên tắc bồi thường 18

1.2.3 Căn cứ xác định trách nhiệm bồi thường 19

1.2.4 Thẩm quyền giải quyết bồi thường 22

1.2.5 Thủ tục giải quyết bồi thường 23

TIỂU KẾT CHƯƠNG 1 28

CHƯƠNG 2: THỰC TRẠNG THỰC HIỆN PHÁP LUẬT VỀ TRÁCH NHIỆM BỒI THƯỜNG CỦA NHÀ NƯỚC TRONG HOẠT ĐỘNG QUẢN LÝ HÀNH CHÍNH NHÀ NƯỚC 29

2.1 Thực trạng quy định của pháp luật về trách nhiệm bồi thường của nhà nước trong hoạt động quản lý hành chính nhà nước 29

2.1.1 Nguyên tắc bồi thường 29

2.1.2 Căn cứ xác định trách nhiệm bồi thường 30

2.1.3 Phạm vi trách nhiệm bồi thường 32

2.1.4 Thẩm quyền giải quyết bồi thường 32

2.1.5 Thủ tục giải quyết bồi thường 33

Trang 7

2.2 Thực trạng áp dụng quy định của pháp luật về trách nhiệm bồi thường của nhà

nước trong hoạt động quản lý hành chính nhà nước 34

2.2.1 Khái quát tình hình áp dụng quy định của pháp luật về trách nhiệm bồi thường của nhà nước trong hoạt động quản lý hành chính nhà nước 34

2.2.2 Kết quả và nguyên nhân trong áp dụng quy định của pháp luật về trách nhiệm bồi thường của nhà nước trong hoạt động quản lý hành chính nhà nước 35

2.2.3 Hạn chế và nguyên nhân trong áp dụng quy định của pháp luật về trách nhiệm bồi thường của nhà nước trong hoạt động quản lý hành chính nhà nước 39

TIỂU KẾT CHƯƠNG 2 44

CHƯƠNG 3: PHƯƠNG HƯỚNG VÀ GIẢI PHÁP BẢO ĐẢM THỰC HIỆN PHÁP LUẬT VỀ TRÁCH NHIỆM BỒI THƯỜNG CỦA NHÀ NƯỚC TRONG HOẠT ĐỘNG QUẢN LÝ HÀNH CHÍNH NHÀ NƯỚC 45

3.1 Phương hướng hoàn thiện trách nhiệm bồi thường của nhà nước trong hoạt động quản lý hành chính nhà nước 45

3.1.1 Phù hợp với hệ thống pháp luật 45

3.1.2 Phù hợp với tình hình kinh tế - xã hội 45

3.1.3 Kế thừa kinh nghiệm quốc tế 47

3.2 Một số giải pháp bảo đảm thực thi pháp luật về trách nhiệm bồi thường của nhà nước trong hoạt động quản lý hành chính nhà nước 48

3.2.1 Về khía cạnh lập pháp 48

3.2.2 Về công tác tổ chức cơ quan giải quyết bồi thường 50

3.2.3 Về cơ chế kiểm tra, giám sát 52

3.2.4 Về nâng cao ý thức pháp luật 53

TIỂU KẾT CHƯƠNG 3 55

KẾT LUẬN 56

DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 58

PHỤ LỤC 1 Các bản án được sử dụng làm căn cứ trong luận văn 61

Trang 8

PHẦN MỞ ĐẦU

1 Lý do chọn đề tài

Một trong các yêu cầu trong xây dựng nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của dân, do dân và vì dân là việc xây dựng và hoàn thiện các quy định pháp luật, trong đó có pháp luật trách nhiệm bồi thường của nhà nước đối với các thiệt hại do hành vi trái pháp luật của cán bộ, công chức gây ra trong quá trình thực thi công vụ Việc ghi nhận chế định này không chỉ nhằm bảo vệ quyền

và lợi ích hợp pháp của các cá nhân, tổ chức mà còn góp phần nâng cao trách nhiệm của đội ngũ cán bộ, công chức trong thực thi các nhiệm vụ do Nhà nước giao Luật TNBTCNN năm 2017 sau 5 năm có hiệu lực thi hành, bên cạnh những kết quả cũng đã bộc lộ nhiều điểm còn hạn chế, vướng mắc Do vậy, việc nghiên cứu các quy định của pháp luật là vấn đề cần thiết Bởi việc chỉnh sửa, bổ sung quy định của pháp luật phải đưa ra các phương án tối ưu trong bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của người bị thiệt hại nhưng vẫn đảm bảo tạo thế cân bằng giữa một bên chủ thể là Nhà nước và một bên chủ thể là các cá nhân, tổ chức

Ngoài ra, hoạt động quản lý hành chính nhà nước là hoạt động mang tính quyền lực tác động tới các quan hệ xã hội, liên quan đến quyền và lợi ích hợp pháp của các cá nhân, tổ chức Hoạt động QLHCNN vừa mang tính chủ động vừa mang tính bị động Tính bị động ở việc phải chấp hành các quy định pháp luật đặt ra trong quá trình thực hiện nhiệm vụ Tính chủ động thể hiện ở việc thực hiện pháp luật cần sáng tạo, linh hoạt theo tình hình, đặc điểm của từng đối tượng quản lý và các điều kiện, yếu tố liên quan Theo đó, hoạt động QLHCNN

là hoạt động phức tạp, đa dạng, phong phú, dễ dẫn tới vi phạm quyền và lợi ích hợp pháp của các cá nhân, tổ chức Trong văn kiện Đại hội Đảng XIII vẫn tiếp tục khẳng định việc phải hoàn thiện đồng bộ hệ thống pháp luật, cơ chế phát huy dân chủ xã hội chủ nghĩa, quyền làm chủ của nhân dân, xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam trong sạch, vững mạnh Việc ghi nhận, bảo vệ, bảo đảm việc giải quyết bồi thường thiệt hại giữa cơ quan hành chính

Trang 9

Nhà nước và người bị thiệt hại là đòi hỏi khách quan trong một xã hội dân chủ, thể hiện trách nhiệm của Nhà nước pháp quyền

Với lẽ nêu trên, tác giả chọn đề tài: “Trách nhiệm bồi thường của Nhà nước trong hoạt động quản lý hành chính nhà nước” làm luận văn thạc sĩ luật

học, chuyên ngành Luật Hiến pháp và luật hành chính

2 Tổng quan tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài

Trên cơ sở quy định của pháp luật về TNBTCNN, trong quá trình tìm hiểu, tác giả có thể kể đến một số công trình nghiên cứu có liên quan như:

Thứ nhất, Sách chuyên khảo “Pháp luật Việt nam về trách nhiệm bồi thường của Nhà nước “của Đỗ Văn Đại, Nguyễn Trương Tín

Thứ hai, các luận văn, luận án có liên quan như: Luận án tiến sĩ “Trách nhiệm bồi thường của Nhà nước theo pháp luật Việt Nam” của Lê Thái Phương; Luận văn thạc sĩ “Thực hiện pháp luật về trách nhiệm bồi thường của Nhà nước trong hoạt động quản lý hành chính” của Nguyễn Thị Thanh Nga, Luận án tiến sĩ

“Thực hiện pháp luật về trách nhiệm bồi thường của nhà nước do công chức cơ quan hành chính nhà nước gây ra ở Việt Nam” của Nguyễn Đỗ Kiên, Luận văn thạc sĩ “Căn cứ xác định trách nhiệm BTTH của nhà nước theo quy định của pháp luật Việt Nam” của Nguyễn Thị Oanh

Thứ ba, các bài viết tạp chí liên quan như: Lê Thị Thu Hằng (2021), Giải quyết yêu cầu bồi thường nhà nước góp phần bảo đảm quyền lợi hợp pháp của người dân, Tạp chí Dân chủ và Pháp luật, Số chuyên đề 5; Nguyễn Thị Tươi (2021), Hoàn thiện thể chế về bồi thường nhà nước theo yêu cầu của Hiến pháp năm 2013, Tạp chí Dân chủ và Pháp luật, Số chuyên đề 5; Trần Văn Hùng (2018), Luật Trách nhiệm bồi thường của nhà nước và vấn đề bảo vệ quyền con người, Tạp chí Luật sư Việt Nam, Số 4/2018; Nguyễn Đình Chung (2017), Những vấn đề cần sửa đổi, bổ sung Luật Trách nhiệm bồi thường của Nhà nước, Tạp chí Kiểm sát, Số 9/2017; Anh Minh (2017), Luật Trách nhiệm bồi thường của Nhà nước năm 2017: Người thi hành công vụ vô ý gây thiệt hại cũng phải bồi thường, Tạp chí Luật sư Việt Nam, Số 8/2017; Lê Thị Hoa (2017), Một số

Trang 10

kiến nghị sửa đổi, bổ sung Luật Trách nhiệm bồi thường của nhà nước, Tạp chí Quản lý nhà nước, Số 254 (3/2017); Trịnh Ngọc Thuý (2017), Góp ý Dự thảo Luật Trách nhiệm bồi thường của Nhà nước, Tạp chí Tòa án nhân dân, Số 6/2017; Chu Hồng Thanh (2016), Chế định pháp lý BTTH và hoàn thiện Luật Trách nhiệm bồi thường của Nhà nước, Tạp chí Luật sư Việt Nam, Số 10/2016; Phạm Quang Hùng (2015), Bàn về việc yêu cầu bồi thường và giải quyết bồi thường theo Luật Trách nhiệm bồi thường của Nhà nước, Tạp chí Kiểm sát, số 14/2015

Các công trình kể trên đã tiếp cận được các nội dung cơ bản liên quan đến TNBTCNN nói chung, TNBTCNN trong hoạt động QLHCNN nói riêng như: khái niệm, nguyên tắc, quy định của pháp luật, thực hiện pháp luật trong một số tình huống, một số địa bàn Song các công trình tiếp cận Luật TNBTCNN năm

2017 còn rất hạn chế Theo đó, công trình của học viên trên cơ sở kế thừa các kết quả nghiên cứu trước đó, các quy định của pháp luật hiện hành về TNBTCNN trong hoạt động QLHCNN, thực hiện thực hiện pháp luật về QLHCNN theo cả pháp luật cũ và mới để đưa ra kết quả nghiên cứu cập nhật, khách quan hơn

3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu

Mục đích nghiên cứu: đề tài nghiên cứu những vấn đề lý luận và thực tiễn thực thi pháp luật về TNBTCNN trong hoạt động QLHCNN Trên cơ sở đó, đề xuất các phương hướng và giải pháp hoàn thiện quy định pháp luật và nâng cao hiệu quả thực hiện pháp luật về TNBTCNN trong hoạt động QLHCNN

Nhiệm vụ nghiên cứu:

Thứ nhất, làm rõ vấn đề lý luận cơ bản và pháp luật về TNBTCNN trong hoạt động QLHCNN

Thứ hai, nghiên cứu, đánh giá thực trạng các quy định pháp luật và thực trạng áp dụng pháp luật về TNBTCNN trong hoạt động QLHCNN

Thứ ba, đề xuất các phương hướng và giải pháp về hoàn thiện pháp luật

và nâng hiệu quả quả thực hiện pháp luật về TNBTCNN trong hoạt động QLHCNN

Trang 11

4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

+ Đối tượng nghiên cứu: TNBTCNN trong hoạt động QLHCNN dưới góc

độ lý luận, góc độ pháp luật thực định và góc độ thực tiễn thi hành

+ Phạm vi nghiên cứu: Thời gian nghiên cứu của đề tài tập trung vào giai đoạn từ khi Luật Trách nhiệm bồi thường Nhà nước năm 2017 có hiệu lực cho đến nay

5 Phương pháp nghiên cứu

Trên cơ sở phương pháp luận của chủ nghĩa Mác – Lê nin, tác giả sử dụng các phương pháp nghiên cứu cụ thể sau đây:

- Phương pháp phân tích và bình luận để làm rõ những nội dung cơ bản và pháp luật của TNBTCNN trong hoạt động QLHCNN, đánh giá thực trạng pháp luật cũng như thực tiễn thi hành Luật TNBTCNN;

- Phương pháp tổng hợp nhằm khái quát tình hình thực tiễn áp dụng pháp luật về TNBTCNN trong hoạt động QLHCNN

- Phương pháp so sánh để tìm ra những điểm tương đồng và khác biệt về TNBTCNN trong hoạt động QLHCNN trong pháp luật Việt Nam và pháp luật nước ngoài

6 Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của đề tài

Luận văn là công trình nghiên cứu về TNBTCNN từ khi Luật Trách nhiệm bồi thường của nhà nước năm 2017 có hiệu lực cho tới nay Luận văn góp phần hoàn thiện pháp luật và nâng cao hiệu quả thực thi pháp luật về TNBTCNN

Luận văn cũng có thể được sử dụng làm tài liệu tham khảo, để nghiên cứu, giảng dạy, học tập, phục vụ cho việc hoàn thiện các quy định của pháp luật

về TNBTCNN

7 Bố cục của luận văn

Ngoài phần mở đầu và kết luận, đề tài gồm 3 chương:

Chương 1: Cơ sở lý luận và pháp luật về trách nhiệm bồi thường của nhà

nước trong hoạt động quản lý hành chính nhà nước

Trang 12

Chương 2: Thực trạng thực hiện pháp luật về trách nhiệm bồi thường của

nhà nước trong hoạt động quản lý hành chính nhà nước

Chương 3: Phương hướng và giải pháp bảo đảm thực hiện pháp luật về trách nhiệm bồi thường của nhà nước trong hoạt động quản lý hành chính nhà

nước

Trang 13

PHẦN NỘI DUNG CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ PHÁP LUẬT VỀ TRÁCH NHIỆM BỒI THƯỜNG CỦA NHÀ NƯỚC TRONG HOẠT ĐỘNG QUẢN LÝ HÀNH CHÍNH NHÀ NƯỚC

1.1 Khái niệm, đặc điểm, ý nghĩa của trách nhiệm bồi thường của Nhà nước trong hoạt động quản lý hành chính nhà nước

1.1.1 Khái niệm

Theo nhận thức thông thường, khi một người nào đó gây ra thiệt hại từ hành vi trái pháp luật thì phải chịu trách nhiệm đối với hành vi do mình gây ra Hiện nay, trách nhiệm BTTH đã được luật hóa trở thành một loại trách nhiệm dân sự Các tổn hại hay thiệt hại được ghi nhận thành hai loại chính là thiệt hại

về vật chất và thiệt hại về tinh thần Việc BTTH là sự khôi phục lại những tổn hại trên Nhà nước cũng phải chịu trách nhiệm BTTH, bởi đó vừa là nghĩa vụ, trách nhiệm của một nhà nước dân chủ, vừa thể hiện sự bình đẳng giữa Nhà nước với các chủ thể khác khi tham gia vào các quan hệ pháp luật

Nhà nước với tư cách là một chủ thể đặc biệt sử dụng quyền lực công dựa trên sự ủy quyền, giao quyền của Nhân dân Nhà nước thực hiện quản lý xã hội bằng pháp luật thông qua bộ máy nhà nước Việc quản lý nhà nước được tiến hành để duy trì sự phát triển ổn định của toàn thể xã hội Ngày nay, Nhà nước thực hiện chức năng, nhiệm vụ để phục vụ lợi ích về mọi mặt cho nhân dân Điều 2 Hiến pháp 2013 khẳng định “Nhà nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam là nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của Nhân dân, do Nhân dân, vì Nhân dân” Theo đó, với trách nhiệm của mình, Nhà nước không thể tiến hành các hành vi xâm phạm đến các quyền và lợi ích hợp pháp của các chủ thể khác trong xã hội Về nguyên tắc, nếu gây thiệt hại thì phải bồi thường

Trong quá trình hoạt động của mình, Nhà nước thực hiện nhiều chức năng của mình để thực hiện các nhiệm vụ chiến lược, mục tiêu cơ bản chi phối đến sự tồn tại, phát triển của đất nước Để tiến hành những công việc đó, Nhà nước phải thực hiện thông qua các cơ quan nhà nước, cụ thể là thông qua đội ngũ cán bộ,

Trang 14

công chức Trong phạm vi nhiệm vụ, quyền hạn, đội ngũ cán bộ, công chức khi thi hành công vụ phải bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của các cá nhân, tổ chức Tuy nhiên, trong thực tiễn thi hành, vì nhiều lý do khác nhau, các cán bộ, công chức có thể gây ra thiệt hại cho người dân Và Nhà nước – chủ sử dụng lao động đặc biệt phải đứng ra bồi thường cho người bị thiệt hại

QLHCNN là hoạt động thực thi quyền hành pháp Đây là hoạt động mang tính quyền lực nhà nước dựa trên cơ sở pháp luật để tác động tới các mặt của đời sống xã hội Đồng thời, khi thực hiện hoạt động QLHCNN cũng góp phần quan trọng trong việc hiện thực hóa các mục tiêu, ý tưởng, chủ trương, đường lối chính trị trong xã hội Hoạt động QLHCNN do các cơ quan hành chính nhà nước thực hiện, đứng đầu là Chính phủ Phạm vi diễn ra hoạt động QLHCNN rất rộng

cả về không gian và thời gian, và được thể hiện rõ nhất thông qua các quyết định hành chính, hành vi hành chính Các quyết định, hành vi đó luôn có tác động đến quyền và lợi ích hợp pháp của các cá nhân, tổ chức Đồng thời, chúng rất đa dạng, phong phú và phức tạp và khi được tiến hành có thể là các hành vi trái pháp luật Vì vậy, chúng luôn tiềm ẩn các nguy cơ gây thiệt hại đến các cá nhân,

tổ chức Mặt khác, bộ mặt của Nhà nước được thể hiện cụ thể qua hiệu quả hoạt động của các cơ quan hành chính nhà nước Hiệu quả hoạt động cao thể hiện trách nhiệm của Nhà nước cũng như trách nhiêm công vụ của cán bộ, công chức,

từ đó tạo dựng được hình ảnh đẹp của Nhà nước trong xã hội

Từ những phân tích trên, có thể đưa ra khái niệm về trách nhiệm BTTH của Nhà nước trong hoạt động QLHCNN như sau: “Trách nhiệm BTTHCNN trong hoạt động QLHCNN là TNBTCNN khi người thi hành công vụ có hành vi trái pháp luật gây thiệt hại cho các cá nhân, tổ chức trong quá trình thực hiện hoạt động QLHCNN”

1.1.2 Đặc điểm

Trách nhiệm BTTH của Nhà nước là một loại trách nhiệm pháp lý có nhiều nét riêng biệt Do vậy, chúng vừa có đặc điểm chung của trách nhiệm bồi thường dân sự vừa có điểm khác biệt

Trang 15

1.1.2.1 Đặc điểm chung

Thứ nhất, về nguồn gốc phát sinh Trong quá trình tiến hành hoạt động QLHCNN giữa các cá nhân, tổ chức và Nhà nước không có hợp đồng mà được quy định trên cơ sở pháp luật Các QĐHC, HVHC mang tính quyền lực nhà nước Trong các trường hợp theo quy định của pháp luật, các cơ quan, cá nhân được nhà nước trao quyền mới được tiến hành Hơn nữa, khi chúng được thực hiện mang lại lợi ích cho Nhà nước Do đó, mặc dù không có vi phạm các nghĩa

vụ trong hợp đồng, nhưng Nhà nước phải chịu trách nhiệm bồi thường đối với các hành vi đó, nếu hành vi đó gây thiệt hại

Thứ hai, về điều kiện phát sinh Các điều kiện phát sinh TNBTCNN theo quy định hiện hành có nhiều điểm giống với điều kiện phát sinh trách nhiệm BTTH ngoài hợp đồng nói chung Bao gồm: có thiệt hại xảy ra, có hành vi trái pháp luật và có mối liên hệ nhân quả giữa chúng

Thứ ba, về thiệt hại được bồi thường Thiệt hại được bồi thường tương đồng với quy định trong trách nhiệm BTTH ngoài hợp đồng nói chung, gồm thiệt hại về vật chất và thiệt hại về tinh thần Các thiệt hại về vật chất mang tính chất hữu hình bởi các chủ thể có thể đo lường tương đối chính xác để làm căn cứ bồi thường Các thiệt hại về tinh thần mang tính chất vô hình bởi các chủ thể không thể đo, đếm được, có thể kể tới là sự giảm sút niềm tin của người dân đối với Nhà nước, gây ra những bất ổn về kinh tế - chính trị, khiến cho đất nước không thể phát triển bền vững

1.1.2.2 Đặc điểm riêng

Thứ nhất, Nhà nước - chủ thể luôn chịu trách nhiệm bồi thường Như đã phân tích ở trên, khi thi hành công vụ các cán bộ, công chức thực thi nhân danh Nhà nước Theo đó, việc cán bộ, công chức có hành vi gây thiệt hại cũng tương đồng với Nhà nước đã có hành vi gây thiệt hại Tất nhiên, theo nguyên tắc chung, Nhà nước có thể được loại trừ trách nhiệm BTTH khi người bị thiệt hại

có lỗi hoàn toàn hoặc thiệt hại xảy ra do tình thế cấp thiết, sự kiện bất khả kháng

Trang 16

Thứ hai, yếu tố công vụ Công vụ là hoạt động đặc biệt được thực hiện bởi cán bộ, công chức trong quá trình thực hiện chức năng quản lý nhà nước Mục tiêu của công vụ để nhằm phục vụ nhân dân Khi thực hiện công vụ, người công chức có thể được trao cho những quyền hạn nhất định Các quyền hạn được trao phải tương xứng với nhiệm vụ trên cơ sở quy định của pháp luật Theo đó, khi thực hiện các quyền hạn, nhiệm vụ được giao mà gây thiệt hại thì Nhà nước phải bồi thường Ngược lại, công chức tiến hành các hành vi không gắn với công vụ

mà gây thiệt hại thì phải chịu trách nhiệm cá nhân

Thứ ba, điều kiện phát sinh trách nhiệm bồi thường Điều kiện phát sinh TNBTCNN có điểm khác biệt so với các trường hợp khác Theo đó, trong đa số các trường hợp, người yêu cầu bồi thường phải có căn cứ xác định hành vi trái pháp luật của người thi hành công vụ và yêu cầu bồi thường tương ứng Người bị thiệt hại mặc dù có thiệt hại trên thực tế nhưng không đương nhiên được bồi thường Khi thực hiện yêu cầu bồi thường, người bị thiệt hại phải xuất trình được văn bản làm căn cứ bồi thường Hay yếu tố lỗi (của Nhà nước) đang được nhắc đến là một điều kiện bắt buộc trong trách nhiệm BTTH của Nhà nước

1.1.3 Ý nghĩa

a, Bảo đảm quyền và lợi ích hợp pháp của các cá nhân, tổ chức bị thiệt hại Xuất phát từ đặc thù của quan hệ pháp luật hành chính, các cá nhân, tổ chức luôn ở vị thế bất lợi so với các cơ quan nhà nước Còn bản thân hoạt động QLHCNN luôn tiềm ẩn nguy cơ xâm hại đến quyền và lợi ích hợp pháp của các

cá nhân, tổ chức Để chống lại sự xâm hại, các cá nhân, tổ chức có thể sử dụng nhiều công cụ khác nhau để tự bảo vệ, trong đó có công cụ pháp luật Khi bị vi phạm bởi các QĐHC, HVHC, các cá nhân, tổ chức có quyền yêu cầu xem xét lại theo các thủ tục khiếu nại, khiếu kiện Sau đó, khi đã xác định được các hành vi

đó là hành vi trái pháp luật thì họ có quyền yêu cầu bồi thường theo quy định của pháp luật về TNBTCNN Đây sẽ là cơ chế hiệu quả để cá nhân, tổ chức bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp Theo đó, quy định về trách nhiệm BTTH của Nhà nước trong hoạt động QLHCNN là rất cần thiết

Trang 17

b, Nâng cao trách nhiệm của người thi hành công vụ khi thực hiện hoạt động QLHCNN

Nhà nước với tư cách là chủ thể duy nhất có chức năng quản lý và điều hành xã hội thông qua quyền lực được pháp luật quy định, do đó không tránh khỏi tình trạng cán bộ, công chức nhà nước quan liêu tham nhũng sách nhiễu người dân Khi thực thi công vụ, mỗi cơ quan, cá nhân bị tác động của các yếu tố lợi ích khác nhau Vì vậy, muốn hoạt động thực thi công vụ trong hoạt động QLHCNN được hiệu quả, chúng ta cần thiết lập nhiều cơ chế khác nhau để kiểm tra, đánh giá việc thực hiện những công việc đã được phân giao cho các cơ quan,

cá nhân Cơ chế điều chỉnh bằng pháp luật là cơ chế hữu hiệu, cụ thể là quy định của pháp luật trách nhiệm BTTH của Nhà nước trong hoạt động QLHCNN Quy định này có tác dụng hạn chế sự lạm quyền, lợi dụng quyền lực của đội ngũ cán

bộ công chức giúp họ ý thức hơn về trách nhiệm và nghĩa vụ của mình

c, Tạo ra cơ chế pháp lý đồng bộ, hiệu quả trong tiến trình xây dựng Nhà nước pháp quyền

Chế định về trách nhiệm BTTH của Nhà nước ngày càng được hoàn thiện qua các Luật Trách nhiệm bồi thường của Nhà nước Các quy định đều được xây dựng trên cơ sở Hiến pháp năm 2013 và yêu cầu về bảo vệ quyền con người, quyền công dân Các quy định về TNBTCNN trong hoạt động QLHCNN tiến tới tính thống nhất, đồng bộ với các văn bản pháp luật khác trong hệ thống pháp luật Đồng thời, các quy định phù hợp với điều kiện và trình độ phát triển kinh tế

- xã hội, năng lực, thực trạng đội ngũ cán bộ, công chức hiện hành trong tiến trình cải cách hành chính, hướng tới phòng ngừa các hành vi vi phạm pháp luật của người thi hành công vụ làm phát sinh trách nhiệm bồi thường của Nhà nước Theo đó, các quy định đã tạo ra cơ chế pháp lý minh bạch, khả thi, đáp ứng quyền yêu cầu bồi thường của các cá nhân, tổ chức bị thiệt hại, trách nhiệm của Nhà nước với các thiệt hại mà mình gây ra Điều đó thể hiện cho ý chí, khát vọng trong việc xây dựng nền công vụ hiệu lực, hiệu quả, đáp ứng các mục tiêu

Trang 18

xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam của nhân dân, do nhân dân và vì nhân dân và hội nhập quốc tế

1.2 Quy định của pháp luật về trách nhiệm bồi thường của Nhà nước trong

hoạt động quản lý hành chính nhà nước

1.2.1 Phạm vi trách nhiệm bồi thường

Hoạt động QLHCNN là hoạt động có phạm vi rất rộng, trải dài trên nhiều lĩnh vực của đời sống xã hội Tuy nhiên, hiện nay việc xác định phạm vi bồi thường trong hoạt động QLHCNN được các nhà làm luật xây dựng theo phương thức liệt kê cụ thể các trường hợp Theo đó, có 14 trường hợp được bồi thường

được ghi nhận tại Điều 17 Luật TNBTCNN năm 2017

“1 Ra quyết định xử phạt vi phạm hành chính trái pháp luật;

2 Áp dụng biện pháp ngăn chặn và bảo đảm việc xử lý vi phạm hành chính trái pháp luật;

3 Áp dụng một trong các biện pháp khắc phục hậu quả vi phạm hành chính sau đây trái pháp luật:

a) Buộc tháo dỡ công trình, phần công trình xây dựng không có phép hoặc xây dựng không đúng với giấy phép;

b) Buộc loại bỏ yếu tố vi phạm trên hàng hóa, bao bì hàng hóa, phương tiện kinh doanh, vật phẩm;

c) Buộc thu hồi sản phẩm, hàng hóa không bảo đảm chất lượng;

4 Áp dụng biện pháp cưỡng chế thi hành quyết định xử phạt vi phạm hành chính trái pháp luật;

5 Áp dụng một trong các biện pháp xử lý hành chính sau đây trái pháp luật: a) Giáo dục tại xã, phường, thị trấn;

b) Đưa vào trường giáo dưỡng;

c) Đưa vào cơ sở giáo dục bắt buộc;

d) Đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc;

6 Không áp dụng hoặc áp dụng không đúng quy định của Luật Tố cáo các biện pháp sau đây để bảo vệ người tố cáo khi người đó yêu cầu:

Trang 19

a) Đình chỉ, tạm đình chỉ, hủy bỏ một phần hoặc toàn bộ quyết định xử lý kỷ luật hoặc quyết định khác xâm phạm quyền, lợi ích hợp pháp của người tố cáo; khôi phục vị trí công tác, vị trí việc làm, các khoản thu nhập và lợi ích hợp pháp khác

từ việc làm cho người tố cáo tại nơi công tác;

b) Đình chỉ, tạm đình chỉ, hủy bỏ một phần hoặc toàn bộ quyết định hành chính, hành vi hành chính xâm phạm quyền, lợi ích hợp pháp của người tố cáo; khôi phục các quyền, lợi ích hợp pháp của người tố cáo đã bị xâm phạm tại nơi cư trú; c) Áp dụng biện pháp ngăn chặn, xử lý hành vi xâm hại hoặc đe dọa xâm hại đến tính mạng, sức khỏe, tài sản, danh dự, nhân phẩm, uy tín của người tố cáo theo quy định của pháp luật;

7 Thực hiện hành vi bị nghiêm cấm theo quy định của Luật Tiếp cận thông tin

về cố ý cung cấp thông tin sai lệch mà không đính chính và không cung cấp lại thông tin ;

8 Cấp, thu hồi, không cấp Giấy chứng nhận đăng ký doanh nghiệp, Giấy chứng nhận đăng ký hộ kinh doanh, Giấy chứng nhận đăng ký đầu tư, giấy phép và các giấy tờ có giá trị như giấy phép do cơ quan nhà nước có thẩm quyền cấp trái pháp luật;

9 Áp dụng thuế, phí, lệ phí trái pháp luật; thu thuế, phí, lệ phí trái pháp luật; truy thu thuế, hoàn thuế trái pháp luật; thu tiền sử dụng đất trái pháp luật;

10 Áp dụng thủ tục hải quan trái pháp luật;

11 Giao đất, cho thuê đất, thu hồi đất, cho phép chuyển mục đích sử dụng đất trái pháp luật; bồi thường, hỗ trợ, giải phóng mặt bằng, tái định cư trái pháp luật; cấp hoặc thu hồi Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất trái pháp luật;

12 Ra quyết định xử lý vụ việc cạnh tranh trái pháp luật;

13 Cấp văn bằng bảo hộ khi có căn cứ pháp luật cho rằng người nộp đơn không

có quyền nộp đơn hoặc có căn cứ pháp luật cho rằng đối tượng không đáp ứng điều kiện bảo hộ; từ chối cấp văn bằng bảo hộ với lý do đối tượng không đáp

Trang 20

ứng điều kiện bảo hộ mà không có căn cứ pháp luật; chấm dứt hiệu lực văn bằng bảo hộ mà không có căn cứ pháp luật;

14 Ra quyết định xử lý kỷ luật buộc thôi việc trái pháp luật đối với công chức từ Tổng Cục trưởng và tương đương trở xuống.”

Như vậy, phạm vi BTTH trong hoạt động QLHCNN bao gồm các trường

hợp: (i) xử lý vi phạm hành chính; (ii) xử lý kỷ luật cán bộ, công chức; (iii) trong

lĩnh vực bảo vệ người tố cáo, (iv) trong thực hiện nghĩa vụ cung cấp thông tin, (v) trong một số hoạt động có tính chất pháp lý, (vi) trong lĩnh vực đất đai; (vii) trong lĩnh vực xử lý về vụ việc cạnh tranh, bảo hộ Theo đó, khi cá nhân, tổ chức thấy mình bị thiệt hại thuộc các trường hợp trên họ có quyền nộp đơn yêu cầu bồi thường

1.2.2 Nguyên tắc bồi thường

Nguyên tắc bồi thường được ghi nhận cụ thể tại Điều 4 Luật TNBTCNN năm 2017

a, Nguyên tắc kịp thời, công khai, đúng pháp luật

Nhà nước có trách nhiệm bồi thường kịp thời Tương tự như trách nhiệm BTTH ngoài hợp đồng, tính kịp thời giúp người bị thiệt hại khắc phục được những tổn thất trên thực tế, ổn định tình hình để tiếp tục tham gia vào đời sống

Việc bồi thường phải được công khai các thông tin như: cơ quan gây thiệt hại, người trực tiếp gây thiệt hại, ai được bồi thường, khoản tiền bồi thường để đảm bảo tính minh bạch trong tài chính

Bồi thường đúng pháp luật là việc áp dụng đúng các quy định của pháp luật để giải quyết bồi thường

b, Nguyên tắc thỏa thuận thương lượng

Nguyên tắc này bảo đảm quyền tự do định đoạt ý chỉ của bên bị thiệt hại

và cơ quan giải quyết BTTH của Nhà nước, một mặt nó bảo đảm quyền bình đẳng của các chủ thể trong quan hệ trách nhiệm BTTH của Nhà nước, mặt khác nhằm giải quyết thỏa đáng việc bồi thường cho người bị thiệt hại, đồng thời cũng nhằm giảm thiểu tối đa việc khiếu nại, yêu cầu nhiều lần của bên bị thiệt hại gây

Trang 21

ra những hậu quả không chỉ về mặt kinh tế Tòa án giải quyết tranh chấp bồi thường của Nhà nước là một thủ tục tố tụng quan trọng nhưng được hiểu biện pháp này chỉ là biện pháp cuối cùng và không phải là duy nhất để giải quyết việc BTTH của Nhà nước

c, Bồi thường bằng tiền theo nguyên tắc chi trả một lần

Về nguyên tắc, BTTH phải được tiến hành kịp thời và toàn bộ Nếu các thiệt hại đã xảy ra và xác định được được bồi thường một lần thì càng có lợi cho người bị thiệt hại Bồi thường một lần giúp người bị thiệt hại nhanh chóng chấm dứt gánh nặng về sự việc trong quá khứ Một mặt nó bảo đảm quyền tài sản của người bị thiệt hại, mặt khác nó bảo đảm kỷ cương pháp luật trong việc thực hiện trách nhiệm BTTH của Nhà nước Theo thuộc tính của tiền tệ, việc BTTH bằng tiền khá phổ biến trong nhân dân và pháp luật quy định nguyên tắc BTTH của Nhà nước cũng được thực hiện bằng tiền là phù hợp với đời sống xã hội

1.2.3 Căn cứ xác định trách nhiệm bồi thường

Trách nhiệm BTTH của Nhà nước trong hoạt động QLHCNN được thực hiện khi có đủ các căn cứ sau:

1.2.2.1 Có thiệt hại

Thiệt hại là yếu tố quan trọng trong trách nhiệm bồi thường của Nhà nước Thiệt hại này phải là thiệt hại do người thi hành công vụ thực hiện hành vi trái pháp luật gây ra Tuy nhiên, việc xác định chính xác thiệt hại để Nhà nước tiến hành bồi thường là công việc khó khăn Theo đó, từ Điều 22 đến Điều 28 Luật TNBTCNN 2017 đã quy định về cơ chế xác định thiệt hại, ngoài ra còn được quy định chi tiết từ Điều 3 đến Điều 12 của Nghị định số 68/2018/NĐ-CP

a, Xác định thiệt hại vật chất

Thứ nhất, thiệt hại do tài sản bị xâm phạm: Đây là những thiệt hại thực tế xảy ra khi tài sản đã bị phát mại, bị mất; tài sản bị hư hỏng;… Đối với các thiệt hại này, các bên có thể dễ dàng xác định chính xác mức độ thiệt hại thông qua việc đo lường Các tiêu chí để tính toán có thể kể đến: giá thị trường của tài sản cùng loại hoặc tài sản có cùng tính năng, tiêu chuẩn kĩ thuật, tác dụng; mức độ

Trang 22

hao mòn; mức giá thuê trung bình nếu tài sản có cho thuê; phần vượt quá yêu cầu của tình thế cấp thiết

Thứ hai, thiệt hại do thu nhập thực tế bị mất hoặc bị giảm sút Theo quy định tại Điều 24 Luật TNBTCNN 2017, trong trường hợp này nguyên lý để xác định được thiệt hại do thu nhập thực tế bị mất hoặc giảm sút là xác định được số ngày thu nhập bị ảnh hưởng và số lượng thu nhập bị ảnh hưởng trong các ngày

đó sau đó tính tổng số thu nhập thực tế bị mất hoặc giảm sút Do thực tiễn rất đa dạng, nên để xác định chính xác thiệt hại do thu nhập thực tế mất hoặc giảm sút pháp luật cần phải xem xét đến các yếu tố: người bị thiệt hại là cá nhân hoặc tổ chức, thu nhập là ổn định hay không ổn định từ lương, tiền công hay là thu nhập theo mùa vụ, người bị thiệt hại có tham gia bảo hiểm xã hội hay không, cụ thể theo quy định tại các Điều 5, 6, 7 và 9 Nghị định số 68/2018/NĐ-CP

Thứ ba, thiệt hại về vật chất do người bị thiệt hại chết Các thiệt hại này bao gồm 2 phần Một là, thiệt hại trước khi chết Hai là, thiệt hại sau khi chết

Thứ tư, thiệt hại về vật chất do sức khỏe bị xâm hại Thông thường người

bị thiệt hại được bồi thường: (i) chi phí khám bệnh, chữa bệnh; (ii) chi phí bồi dưỡng sức khỏe; (iii) chi phí cho người chăm sóc người bị thiệt hại Trường hợp đặc biệt còn có thêm chi phí cho người chăm sóc và tiền cấp dưỡng cho người

mà người bị thiệt hại đang thực hiện nghĩa vụ cấp dưỡng

b, Xác định thiệt hại về tinh thần

c, Các chi phí khác được bồi thường

Luật TNBTCNN năm 2017 ghi nhận các chi phí khác được bồi thường bao gồm: thuê phòng nghỉ, đi lại, in ấn tài liệu, gửi đơn thư trong quá trình khiếu

Trang 23

nại, tố cáo; thuê người bào chữa, người bảo vệ Các chi phí này thông thường được thanh toán theo hợp đồng, hoá đơn, chứng từ hợp pháp

1.2.2.2 Hành vi gây thiệt hại là hành vi trái pháp luật của người thi hành công vụ trong hoạt động quản lý hành chính gây ra

Hành vi trái pháp luật trong hoạt động QLHCNN là các hành vi do người

có năng lực chủ thể thực hiện dưới hạn như: hành vi bị pháp luật cấm, hành vi không thực hiện những nghĩa vụ mà pháp luật bắt buộc phải thực hiện, hành vi

sử dụng quyền hạn vượt quá giới hạn cho phép Trong lĩnh vực QLHCNN, các hành vi này biểu hiện ở nhiều hoạt động: xử phạt vi phạm hành chính, xử lý vụ việc cạnh tranh, áp dụng biện pháp ngăn chặn,…

Các hành vi trái pháp luật này không chỉ do chủ thể có năng lực chủ thể thực hiện, mà còn là các chủ thể đặc thù xâm hại tới các quan hệ xã hội được pháp luật bảo vệ Bởi chủ thể tiến hành hành vi này là người thi hành công vụ, tức là các chủ thể được pháp luật trao những nhiệm vụ, quyền hạn nhất định Nếu hành vi đó diễn ra trong hoạt động QLHCNN nhưng không do người thi hành công vụ gây ra thì Nhà nước không có trách nhiệm bồi thường

1.2.2.3 Có mối liên hệ nhân quả giữa hành vi trái pháp luật của người thi hành công vụ trong hoạt động quản lý hành chính và thiệt hại xảy ra

Giữa hai yếu tố này phải hình thành mối quan hệ của sự vận động nội tại Thông thường, hành vi trái pháp luật là nguyên nhân trực tiếp, tất yếu gây ra thiệt hại Khi xác định chính xác mối quan hệ nhân quả, chúng ta sẽ có cơ sở để xác định mức bồi thường trong trách nhiệm BTTH của Nhà nước

Xuất phát từ cặp phạm trù nguyên nhân kết quả trong triết học, rõ ràng hành vi trái pháp luật (hay nguyên nhân) phải xảy ra trước khi thiệt hại xảy ra (hay kết quả) trong một khoảng thời gian nhất định Tuy nhiên, sự nối tiếp về thời gian chưa thể khẳng định chắc chắn mối liên hệ nhân quả Một hành vi có thể gây nhiều thiệt hại, và thiệt hại đó có thể có mối liên hệ bản chất hoặc mối liên hệ bên ngoài với hành vi Ngược lại, một thiệt hại có thể được gây ra bởi nhiều hành vi khác nhau, và hành vi đó có thể là nguyên nhân chủ yếu hoặc thứ

Trang 24

yếu gây ra thiệt hại Tuy nhiên, khi đề cập tới trách nhiệm BTTH trong hoạt động QLHCNN, thiệt hại phải do hành vi trái pháp luật của người thi hành công

vụ gây ra một cách chủ yếu, có ý nghĩa quyết định đối với thiệt hại xảy ra

Vì vậy, phải xác định xem hành vi trái pháp luật gây thiệt hại của người thi hành công vụ là hành vi độc lập hay có liên hệ với các chủ thể khác Nếu là hành vi có liên hệ với các chủ thể khác thì phải xác định gây thiệt hại của các chủ thể Từ đó, chúng ta mới có thể xác định một cách chính xác chủ thể nào phải chịu trách nhiệm BTTH và bồi thường mức độ nào

1.2.2.4 Có văn bản của cơ quan nhà nước có thẩm quyền xác định hành vi của người thi hành công vụ là trái pháp luật

Việc cung cấp được văn bản của cơ quan nhà nước có thẩm quyền xác định hành vi của người thi hành công vụ là trái pháp luật gần như là bắt buộc trong các trường hợp đòi bồi thường Ngoại lệ chỉ xảy ra khi vì lý do nào đó mà người bị thiệt hại không được gửi hoặc không thể có văn bản Trong đó, Điều 8 Luật TNBTCNN năm 2017 ghi nhận 7 loại văn bản gồm bản án, quyết định, văn bản khác

Theo đó, yếu lỗi lỗi không được quy định trực tiếp là một trong các căn cứ

để xác định trách nhiệm bồi thường của Nhà nước Nhưng theo quy định tại Điều

8 thì chúng ta cần văn bản xác định yếu tố lỗi để tạo điều kiện cho các cá nhân,

tổ chức thực hiện quyền yêu cầu Nhà nước bồi thường cũng như giúp các cơ quan có trách nhiệm bồi thường và giải quyết bồi thường có căn cứ xem xét, đánh giá và thực hiện việc giải quyết bồi thường khi có yêu cầu

1.2.4 Thẩm quyền giải quyết bồi thường

Hoạt động QLHCNN là một quá trình liên tục có sự tham gia của nhiều người thi hành công vụ Do vậy, để có thể giải quyết bồi thường thì việc trước tiên cần xác định cụ thể cơ quan có trách nhiệm BTTH trong hoạt động QLHCNN Điều 33 Luật TNBTCNN năm 2017 quy định cơ quan giải quyết bồi thường gồm cơ quan ở trung ương và cơ quan ở tỉnh, thành phố trực thuộc trung

Trang 25

ương, ủy ban nhân dân cấp huyện, ủy ban nhân dân cấp xã, Tòa án có thẩm quyền và các cơ quan khác

Các cơ quan giải quyết bồi thường được quy định cụ thể, chi tiết giúp tiến trình giải quyết bồi thường được nhanh chóng hơn do người bị thiệt hại biết mình cần tiến hành yêu cầu bồi thường tại cơ quan nào, đồng thời các cơ quan cũng biết rõ chức năng, nhiệm vụ để không gây khó dễ cho người bị thiệt hại

1.2.5 Thủ tục giải quyết bồi thường

Thủ tục giải quyết bồi thường được ghi nhận cụ thể, chi tiết trong các quy định của Luật TNBTCNN năm 2017 Đây là cách thức để cá nhân, tổ chức bị thiệt hại bởi hoạt động công vụ thực hiện quyền yêu cầu bồi thường đối với Nhà nước Theo đó thủ tục giải quyết bồi thường có hai trình tự: tại cơ quan có trách nhiệm bồi thường và tại Tòa án

Có thể nhận thấy, trình tự giải quyết bồi thường theo quy định của Luật TNBTCNN năm 2017 khuyến khích sự thỏa thuận, thương lượng của các bên (người bị thiệt hại và cơ quan có trách nhiệm bồi thường) Tuy nhiên, nếu cơ quan có trách nhiệm bồi thường không thực hiện đúng theo quy định của pháp luật hoặc khi người bị thiệt hại không đồng ý với kết quả trong quyết định giải quyết bồi thường thì vụ việc sẽ được đưa ra xét xử tại Tòa án, theo thủ tục tư pháp công khai, minh bạch, bình đẳng về quyền và nghĩa vụ của các bên

1.2.5.1 Thủ tục giải quyết bồi thường tại cơ quan trực tiếp quản lý người thi hành công vụ

Thủ tục này thường được lựa chọn thực hiện trước khi cá nhân, tổ chức yêu cầu bồi thường thông qua Tòa án

Hồ sơ yêu cầu bồi thường chia làm hai loại: thứ nhất là cho chính người bị thiệt hại, thứ hai là cho các loại chủ thể còn lại do Luật TNBTCNN năm 2017 quy định quyền yêu cầu bồi thường của nhiều loại chủ thể

a, Hồ sơ yêu cầu bồi thường:

Đối với hồ sơ do người bị thiệt hại trực tiếp yêu cầu theo khoản 1 Điều 41 Luật TNBTCNN năm 2017 cần 4 loại giấy tờ:

Trang 26

“1 Văn bản yêu cầu bồi thường;

2 Văn bản làm căn cứ yêu cầu bồi thường, trừ trường hợp người bị thiệt hại không được gửi hoặc không thể có văn bản làm căn cứ yêu cầu bồi thường;

3 Giấy tờ chứng minh nhân thân của người bị thiệt hại;

4 Tài liệu, chứng cứ có liên quan đến việc yêu cầu bồi thường (nếu có).” Đối với hồ sơ cho các chủ thể còn lại, phải bổ sung các giấy tờ khác theo quy định tại khoản 2 Điều 41 Luật TNBTCNN năm 2017

b, Thủ tục tiếp nhận và xử lý hồ sơ

Người yêu cầu bồi thường có thể nộp hồ sơ trực tiếp hoặc gửi qua dịch vụ bưu chính Đối với hồ sơ trực tiếp, cơ quan giải quyết bồi thường tiếp nhận, ghi vào sổ nhận và cấp giấy xác nhận đã nhận hồ sơ cho người yêu cầu bồi thường Đối với hồ sơ gửi qua dịch vụ bưu chính, cơ quan giải quyết bồi thường phải thông báo bằng văn bản về việc nhận hồ sơ trong thời hạn 02 ngày làm việc kể từ ngày nhận được

Sau khi tiếp nhận hồ sơ, sau 05 ngày làm việc, Thủ trưởng cơ quan giải quyết bồi thường tiến hành các công việc: a, yêu cầu bổ sung hồ sơ nếu hồ sơ chưa đầy đủ; b, yêu cầu các chủ thể có thẩm quyền cung cấp văn bản làm căn cứ yêu cầu bồi thường trong trường hợp người yêu cầu bồi thường đề nghị cơ quan giải quyết bồi thường thu thập văn bản đó hoặc làm rõ nội dung văn bản làm căn

cứ yêu cầu bồi thường trong trường hợp không rõ ràng;

Các chủ thể phải hoàn thiện sau 05 ngày làm việc kể từ khi nhận được yêu cầu ở trên

c, Thụ lý hồ sơ và cử người giải quyết bồi thường

Việc thụ lý hồ sơ là bước tiếp theo của bước tiếp nhận và xử lý hồ sơ và được thực hiện sau 02 ngày, trong đó cơ quan giải quyết bồi thường sẽ xem xét nội dung của hồ sơ để quyết định có giải quyết bồi thường hay không Khoản 2 Điều 43 Luật TNBTCNN năm 2017 nêu ra các căn cứ để xác định yêu cầu giải quyết bồi thường có được chấp nhận hay không và được sử dụng trong suốt quá trình giải quyết yêu cầu bồi thường, bất cứ thời điểm nào khi yêu cầu giải quyết

Trang 27

bồi thường mà không đáp ứng căn cứ này đều sẽ bị đình chỉ giải quyết yêu cầu bồi thường

Sau khi thụ lý, cơ quan giải quyết bồi thường phải cử người giải quyết bồi thường Yêu cầu đối với người giải quyết bồi thường: (i) phải là người có kinh nghiệm về chuyên môn, nghiệp vụ; (ii) không có liên quan đến vụ việc hoặc là người thân thích

d, Tạm ứng kinh phí bồi thường:

Khi có đề nghị của người yêu cầu bồi thường thì cơ quan giải quyết bồi thường tạm ứng kinh phí bồi thường theo trình tự, thủ tục do pháp luật quy định Việc tạm ứng kinh phí bồi thường được áp dụng đối với các thiệt hại về tinh thần, và các thiệt hại khác có thể tính ngay được mà không phải xác minh Mức tạm ứng không nhỏ hơn 50% giá trị các thiệt hại đã được xác định ở trên

e, Xác minh thiệt hại

Việc xác minh các thiệt hại thuộc thẩm quyền của người giải quyết bồi thường Tuy nhiên khi cần thiết, người giải quyết bồi thường có thể yêu cầu các chủ thể cung cấp tài liệu, chứng cứ; đề nghị định giá tài sản, giám định thiệt hại hoặc lấy ý kiến của cá nhân tổ chức có liên quan về thiệt hại, mức bồi thường

Từ thời điểm thụ lý hồ sơ, người giải quyết bồi thường phải hoàn thành việc xác minh thiệt hại sau 15 ngày với các vụ việc đơn giản, 30 ngày đối với những vụ việc phức tạp hoặc phải xác minh tại nhiều địa điểm Hơn nữa, theo thoả thuận giữa người yêu cầu bồi thường và người giải quyết bồi thường, thời hạn xác minh có thể được kéo dài thêm 15 ngày

Người giải quyết bồi thường có trách nhiệm phải hoàn thành báo cáo xác minh thiệt hại làm căn cứ để thương lượng việc bồi thường

f, Thương lượng việc bồi thường

Sau khi hoàn thành báo cáo xác minh thiệt hại, việc thương lượng phải được tiến hành Thời gian thương lượng diễn ra trong vòng 10 ngày đối với các

vụ việc thông thường, 15 ngày đối với các vụ việc có nhiều tình tiết phức tạp

Trang 28

Hơn nữa, theo thoả thuận giữa người yêu cầu bồi thường và người giải quyết bồi thường, thời hạn thương lượng có thể được kéo dài thêm 10 ngày

Việc thương lượng thông thường được tiến hành tại trụ sở Ủy ban nhân dân cấp xã, trừ trường hợp các bên có thỏa thuận khác Quá trình thương lượng phải đảm bảo về nguyên tắc thương thượng, thành phần tham gia thương lượng, trình tự thương lượng

g, Quyết định giải quyết bồi thường

Sau khi có kết quả thương lượng thành, thủ trưởng cơ quan giải quyết bồi thường phải ra quyết định giải quyết bồi thường Quyết định được ban hành và trao cho người yêu cầu bồi thường tại buổi thương lượng Quyết định này có hiệu lực sau 15 ngày

h, Hủy, sửa chữa, bổ sung quyết định giải quyết bồi thường

Việc hủy, sửa chữa, bổ sung quyết định giải quyết bồi thường được tiến hành sau 2 ngày làm việc khi có các căn cứ do pháp luật quy định Quyết định hủy, sửa chữa, bổ sung quyết định giải quyết bồi thường phải được gửi ngay cho các chủ thể có liên quan

i, Hoãn giải quyết yêu cầu bồi thường

Quy định về hoãn giải quyết yêu cầu bồi thường được quy định tại Điều

49 Luật TNBTCNN năm 2017, tạo điều kiện khắc phục, giải quyết hoàn cảnh khó khăn riêng của người yêu cầu bồi thường mà vẫn đảm bảo quyền lợi cho họ Việc hoãn xảy ra khi có một trong các căn cứ: do ốm nặng có xác nhận của cơ sở

y tế từ cấp huyện trở lên hoặc có lý do chính đáng khác; do bị ốm nặng Khi hoãn phải có quyết định hoãn giải quyết bồi thường và được gửi cho các chủ thể

có liên quan

k, Tạm đình chỉ giải quyết yêu cầu bồi thường

Việc tạm đình chỉ giải quyết bồi thường xảy ra khi có căn cứ theo quy định của pháp luật Các căn cứ này có thể xuất phát từ cơ quan, người có thẩm quyền và người yêu cầu bồi thường

l, Đình chỉ giải quyết yêu cầu bồi thường

Trang 29

Việc đình chỉ giải quyết yêu cầu bồi thường được thực hiện trong vòng 5 ngày kể từ khi xuất hiện các căn cứ theo quy định của pháp luật Về nguyên tắc, khi có quyết định đình chỉ giải quyết thì người yêu cầu bồi thường không được yêu cầu giải quyết lại, trừ trường hợp chứng minh được việc rút yêu cầu bồi thường do bị lừa dối, ép buộc

1.2.5.2 Thủ tục giải quyết bồi thường tại Tòa án

Người yêu cầu bồi thường được quyền khởi kiện yêu cầu Tòa án giải quyết yêu cầu bồi thường khi rơi vào các trường hợp dưới đây:

+ Người yêu cầu chưa yêu cầu bồi thường,

+ Người yêu cầu rút yêu cầu bồi thường trước khi cơ quan giải quyết xác minh thiệt hại

+ Người yêu cầu không đồng ý với quyết định giải quyết bồi thường, + Người yêu cầu có biên bản kết quả thương lượng thành mà không ra quyết định giải quyết bồi thường

+ Người yêu cầu có biên bản kết quả thương lượng không thành

Tòa án có thẩm quyền xét xử sơ thẩm có thể là Tòa án nhân dân cấp huyện hoặc Tòa án nhân dân cấp tỉnh Các trường hợp cụ thể theo thẩm quyền được ghi nhận tại Điều 33 và Điều 53 Luật TNBTCNN năm 2017

Các quyết định, bản án của Tòa án có hiệu lực pháp luật sẽ được nghiêm chỉnh thi hành Khi thi hành các quyết định, bản án này giúp BTTH đã xảy ra và khôi phục quyền, lợi ích hợp pháp khác cho người bị thiệt hại

Trang 30

Cũng tại Chương 1, học viên đã nghiên cứu các quy định của pháp luật về trách nhiệm BTTH của Nhà nước trong hoạt động QLHCNN Các nội dung được nghiên cứu gồm: phạm vi, nguyên tắc, căn cứ xác định, thẩm quyền, thủ tục Dựa trên các quy định của pháp luật, học viên sẽ sử dụng để làm căn cứ đánh giá thực trạng thực hiện pháp luật về trách nhiệm BTTH của Nhà nước trong hoạt động QLHCNN ở Chương 2

Trang 31

CHƯƠNG 2: THỰC TRẠNG THỰC HIỆN PHÁP LUẬT VỀ TRÁCH NHIỆM BỒI THƯỜNG CỦA NHÀ NƯỚC TRONG HOẠT ĐỘNG QUẢN

LÝ HÀNH CHÍNH NHÀ NƯỚC

2.1 Thực trạng quy định của pháp luật về trách nhiệm bồi thường của nhà nước trong hoạt động quản lý hành chính nhà nước

2.1.1 Nguyên tắc bồi thường

Các cá nhân, tổ chức bị thiệt hại muốn được bồi thường bắt buộc phải thuộc các trường hợp được bồi thường trong hoạt động QLHCNN được quy định trong Luật TNBTCNN năm 2017 Theo đó, không phải ai bị thiệt hại cũng đều được Nhà nước bồi thường Nhà nước chỉ bồi thường khi thuộc các trường hợp thuộc phạm vi được Luật TNBTCNN ghi nhận Điều đó khiến các cá nhân, tổ chức cảm thấy bị đối xử bất bình đẳng khi đều là những người bị Nhà nước gây thiệt hại

Thủ tục thương lượng là thủ tục thể hiện nhiều tính dân chủ Theo đó, khi giải quyết bồi thường trong lĩnh vực QLHCNN cũng ghi nhận việc tiến hành thương lượng Thành phần tham gia thương lượng rất đa dạng, trong đó hai chủ thể chính là người yêu cầu bồi thường và cơ quan giải quyết bồi thường Các nội dung thương lượng rất cụ thể, chi tiết Việc ghi nhận thủ tục thương lượng thể hiện góc độ dân sự theo đúng tinh thần về trách nhiệm BTTH ngoài hợp đồng trong BLDS Song quá trình thượng phải đảm bảo dân chủ, thiện chí của các chủ thể bởi vì các chủ thể trong quá trình giải quyết bồi thường, cụ thể là giữa cơ quan giải quyết bồi thường và người yêu cầu bồi thường có vị trí không bình đẳng Từ đó có thể dẫn đến sự tùy tiện, lạm dụng quyền lực của cơ quan nhà nước trực tiếp thương lượng Hơn nữa, việc giao cho cơ quan có trách nhiệm bồi thường chủ trì việc thương lượng có thể dẫn đến việc thiếu khách quan trong khi đánh giá mức độ thiệt hại của cá nhân, tổ chức và phần nào cũng làm cá nhân, tổ chức bị thiệt hại ở thế yếu hơn trong một cuộc thương lượng

Quy định pháp luật hiện hành đã mở rộng cách thức tiến hành yêu cầu bồi thường Người bị thiệt hại có quyền khởi kiện ngay ra tòa án sau khi có văn bản

Ngày đăng: 08/02/2023, 21:57

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w