1. Trang chủ
  2. » Tất cả

Hoàn thiện pháp luật về phòng, chống tham nhũng đáp ứng yêu cầu nhà nước pháp quyền xhcn

69 8 0
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Hoàn thiện pháp luật về phòng, chống tham nhũng đáp ứng yêu cầu nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa
Tác giả Ngô Công Quang Việt
Người hướng dẫn TS. Nguyễn Thị Ngọc Linh
Trường học Trường Đại Học Nội Vụ Hà Nội
Chuyên ngành Luật Hiến pháp và Luật Hành chính
Thể loại Luận văn thạc sĩ
Năm xuất bản 2022
Thành phố Hà Nội
Định dạng
Số trang 69
Dung lượng 543,39 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

BỘ NỘI VỤ TRƯỜNG ĐẠI HỌC NỘI VỤ HÀ NỘI NGÔ CÔNG QUANG VIỆT “HOÀN THIỆN PHÁP LUẬT VỀ PHÒNG, CHỐNG THAM NHŨNG ĐÁP ỨNG YÊU CẦU NHÀ NƯỚC PHÁP QUYỀN XHCN” LUẬN VĂN THẠC SĨ ĐỊNH HƯỚNG ỨNG D[.]

Trang 1

NGÔ CÔNG QUANG VIỆT

“HOÀN THIỆN PHÁP LUẬT VỀ PHÒNG, CHỐNG THAM NHŨNG

ĐÁP ỨNG YÊU CẦU

NHÀ NƯỚC PHÁP QUYỀN XHCN”

LUẬN VĂN THẠC SĨ ĐỊNH HƯỚNG ỨNG DỤNG LUẬT HIẾN PHÁP VÀ LUẬT HÀNH CHÍNH

Hà Nội, tháng 7 năm 2022

Trang 2

BỘ NỘI VỤ

TRƯỜNG ĐẠI HỌC NỘI VỤ HÀ NỘI

NGÔ CÔNG QUANG VIỆT

“HOÀN THIỆN PHÁP LUẬT VỀ PHÒNG, CHỐNG THAM NHŨNG

ĐÁP ỨNG YÊU CẦU NHÀ NƯỚC PHÁP QUYỀN XHCN”

LUẬN VĂN THẠC SĨ ĐỊNH HƯỚNG ỨNG DỤNG

Chuyên ngành: Luật hiến pháp và luật hành chính

Người hướng dẫn khoa học: TS Nguyễn Thị Ngọc Linh

Hà Nội, tháng 7 năm 2022

Trang 3

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan luận văn thạc sĩ “Hoàn thiện pháp luật về phòng, chống tham nhũng đáp ứng yêu cầu Nhà nước pháp quyền XHCN” là công trình

nghiên cứu độc lập của bản thân tôi trong thời gian qua, không sao chép của cá nhân nào Mọi tài liệu dùng cho luận văn là quá trình nghiên cứu, phân tích một cách khách quan, tham khảo lý luận có trích dẫn rõ ràng, ngoài danh mục tài liệu tham khảo tác giả không sử dụng thêm nguồn tài liệu tham khảo nào khác các bảng số liệu kèm nguồn thông tin cụ thể.

Hà Nội, ngày tháng năm 2022

Tác giả Luận văn

Trang 4

LỜI CẢM ƠN

Đầu tiên, em xin bày tỏ lời cảm ơn đến TS Nguyễn Thị Ngọc Linh giảng viên trường Đại học Nội vụ đã tận tình hướng dẫn, chỉ bảo, giúp đỡ em trong suốt thời gian nghiên cứu luận văn này

Em xin gửi lời cảm ơn sâu sắc đến quý thầy, cô trường đại học Nội Vụ

Hà Nội đã giúp đỡ tôi trong suốt hành trình học tập và nghiên cứu thời gian qua

Cuối cùng, em xin chân thành cảm ơn gia đình và bạn bè, đồng nghiệp những người luôn động viên, cổ vũ, là động lực giúp em hoàn thành luận văn này

Xin chân thành cảm ơn!

Hà Nội, ngày tháng năm 2022

Trang 6

MỤC LỤC

MỞ ĐẦU 1

CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN CỦA PHÁP LUẬT VỀ PHÒNG, CHỐNG THAM NHŨNG VÀ HOÀN THIỆN PHÁP LUẬT PHÒNG, CHỐNG THAM NHŨNG ĐÁP ỨNG YÊU CẦU NHÀ NƯỚC PHÁP QUYỀN XHCN 8

1.1 Những vấn đề lý luận về pháp luật phòng, chống tham nhũng 8

1.1.1 Khái niệm pháp luật phòng, chống tham nhũng 8

1.1.1.1 Khái niệm tham nhũng 8

1.1.1.2 Khái niệm phòng, chống tham nhũng 9

1.1.1.3 Khái niệm pháp luật phòng, chống tham nhũng 10

1.1.2 Đặc trưng của tham nhũng 11

1.1.3 Đặc điểm pháp luật PCTN 11

1.1.4 Vai trò pháp luật PCTN 12

1.2 Những vấn đề lý luận của hoàn thiện pháp luật về phòng, chống tham nhũng đáp ứng yêu cầu nhà nước pháp quyền XHCN 13

1.2.1 Đặc trưng của Nhà nước Pháp quyền xã hội chủ nghĩa 13

1.2.2 Khái niệm hoàn thiện pháp luật về phòng, chống tham nhũng đáp ứng yêu cầu của nhà nước pháp quyền XHCN 14

1.2.3 Nội dung hoàn thiện pháp luật về phòng, chống tham nhũng đáp ứng yêu cầu nhà nước pháp quyền XHCN 15

1.2.4 Tiêu chí đánh giá mức độ hoàn thiện pháp luật PCTN đáp ứng yêu cầu nhà nước pháp quyền XHCN 17

1.2.4.1 Tính công khai 17

1.2.4.2 Tính thống nhất 18

1.2.4.3 Tính phù hợp 19

1.2.4.4 Tính toàn diện 19

1.2.5 Các yếu tố ảnh hưởng đến việc hoàn thiện pháp luật PCTN đáp ứng yêu cầu nhà nước pháp quyền XHCN 20

1.2.5.1 Yếu tố chính trị 20

1.2.5.2 Yếu tố kinh tế 20

Trang 7

1.2.5.3 Ý thức, tư duy của các chủ thể có thẩm quyền 21

1.2.5.4 Yếu tố văn hóa, truyền thống dân tộc 21

1.2.5.5 Yếu tố hội nhập quốc tế 22

1.3 Kinh nghiệm lập pháp về PCTN và bài học kinh nghiệm 22

1.3.1 Kinh nghiệm lập pháp về PCTN của Trung Quốc 22

1.3.2 Kinh nghiệm lập pháp về PCTN của Singapore 23

1.3.3 Bài học kinh nghiệm cho Việt Nam 24

Tiểu kết chương 1 25

CHƯƠNG 2 THỰC TRẠNG PHÁP LUẬT PHÒNG, CHỐNG THAM NHŨNG Ở VIỆT NAM 26

2.1 Quy định pháp luật về phòng, chống tham nhũng 26

2.1.1 Quy định pháp luật về phòng ngừa tham nhũng 26

2.1.2 Quy định pháp luật về phát hiện, xử lý tham nhũng 30

2.1.2.1 Quy định pháp luật về phát hiện tham nhũng 30

2.1.2.2 Quy định pháp luật về xử lý tham nhũng 31

2.1.3 Quy định pháp luật về tổ chức, hoạt động của cơ quan PCTN 31

2.1.4 Quy định pháp luật về vai trò, trách nhiệm của công dân, tổ chức xã hội trong PCTN 32

2.1.5 Quy định pháp luật về hợp tác quốc tế trong PCTN 32

2.2 Đánh giá thực trạng quy định pháp luật về phòng, chống tham nhũng 33

2.2.1 Ưu điểm của quy định pháp luật về PCTN 33

2.2.2 Hạn chế 34

2.2.3 Nguyên nhân hạn chế 37

Tiểu kết chương 2 43

CHƯƠNG 3 QUAN ĐIỂM, GIẢI PHÁP HOÀN THIỆN PHÁP LUẬT VỀ PHÒNG, CHỐNG THAM NHŨNG ĐÁP ỨNG YÊU CẦU NHÀ NƯỚC PHÁP QUYỀN XHCN 44

3.1 Quan điểm hoàn thiện các quy định pháp luật về phòng, chống tham nhũng đáp ứng yêu cầu nhà nước pháp quyền XHCN 44

Trang 8

3.2 Những giải pháp hoàn thiện pháp luật về phòng, chống tham nhũng đáp ứng

yêu cầu Nhà nước pháp quyền XHCN 45

3.2.1 Cụ thể hóa chủ trương, đường lối của Đảng về việc hoàn thiện pháp luật PCTN trong điều kiện xây dựng Nhà nước pháp quyền XHCN 46

3.2.2 Tăng cường cơ chế quản lý, phân công các cơ quan chuyên trách rõ ràng, hợp lý về trách nhiệm 47

3.2.3 Bổ sung các quy định về công khai, minh bạch 48

3.2.4 Tăng cường các quy định về kiểm soát tài sản, thu nhập 49

3.2.5 Nâng cao trách nhiệm của cán bộ, công chức có thẩm quyền xử lý tham nhũng 51

3.2.6 Đảm bảo chất lượng, chế độ của đội ngũ cán bộ, công chức đặc biệt là cán bộ, công chức phụ trách công tác phòng, chống tham nhũng 52

3.2.7 Cơ quan có thẩm quyền cần giám sát thực tiễn áp dụng các quy định pháp luật về PCTN để nâng cao chất lượng của các quy định 53

3.2.8 Phát triển công nghệ thông tin trong quá trình áp dụng pháp luật về phòng, chống tham nhũng 54

Tiểu kết chương 3 56

KẾT LUẬN 57

DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO

Trang 9

MỞ ĐẦU

1 Tính cấp thiết của luận văn

Sự ra đời và phát triển của tham nhũng (TN) gắn liền với bộ máy hành chính

Nhà nước (HCNN) của tất cả các quốc gia trên thế giới Nhà nước pháp quyền XHCN

hình thành là thành tựu to lớn của quá trình tổ chức và vận hành xã hội, trong đó nhà nước hoạt động dưới sự kiểm soát, kiềm chế của luật pháp Như vậy, hoạt động của các quốc gia muốn tốt phải tiếp tục sửa đổi, bổ sung đổi mới và hoàn thiện hệ thống pháp luật nói chung và pháp luật về PCTN nói riêng là rất cần thiết

Ở Việt Nam, TN đã và đang gây nên những hậu quả to lớn đối với nền kinh

tế, kìm hãm sự phát triển của đất nước, làm xói mòn giá trị đạo đức, văn hóa, gia đình, xã hội, làm mất niềm tin của nhân dân vào Đảng, Nhà nước, thậm chí TN sẽ là tác nhân làm chệch định hướng quá trình xây dựng Nhà nước pháp quyền XHCN hiện nay của nước ta Do vậy, yêu cầu cấp thiết hiện nay của Nhà nước Pháp quyền XHCN là phải xây dựng một hệ thống pháp luật về PCTN thật chặt chẽ và hoàn thiện nhất

Pháp luật Việt Nam thời gian qua đã đặc biệt quan tâm PCTN, các Nghị quyết của Đảng luôn xác định công cuộc đấu tranh PCTN là nhiệm vụ hàng đầu của tất cả các cơ quan, tổ chức, các ban ngành từ trung ương đến địa phương Bên cạnh đó, Đảng đã đề ra nhiệm vụ rõ ràng đối với các cấp, các ngành,… đồng thời quán triệt việc thực hiện có hiệu quả công tác này nhằm phòng ngừa, ngăn chặn, đẩy lùi và xử

lý TN một cách nghiêm túc Với việc ra đời và có hiệu lực của luật PCTN năm 2018 thay thế cho thay thế cho Luật PCTN năm 2005, nước ta đang đổi mới dần dần pháp luật về TN trên cơ sở tiếp thu, kế thừa những tư duy pháp lý sáng suốt của luật cũ, phù hợp hơn với hoàn cảnh thực tiễn và bắt kịp những đổi thay của thực trạng trong nước thì các nhà làm luật đã cho ra đời một văn bản pháp luật toàn diện, ngoài ra có nghị định số 59/2019/NĐ-CP quy định một số điều và biện pháp thi hành luật PCTN Trên cơ sở quyết tâm chống TN, lãng phí, Đảng và Nhà nước ta đã có nhiều chủ trương, đường lối sáng suốt để tránh thiệt hại đáng kể cho nhân dân nói chung Hiện nay, hệ thống pháp luật nói chung và pháp luật về PCTN nói riêng đang gặp phải một số hạn chế như pháp luật PCTN chưa điều chỉnh hết được các biến

Trang 10

tướng của hành vi TN, một số mối quan hệ có nguy cơ TN nhưng pháp luật vẫn chưa điều chỉnh đến hoặc luật mới ban hành nhưng nhiều quy định chưa được cụ thể hoá

để áp dụng dễ dàng hơn Đặc biệt, luật mới ra đời có một số quy định khi triển khai cho thấy không phù với tình hình thực tiễn, có mâu thuẫn chức vụ quyền hạn áp dụng,

xử lý TN

Xuất phát từ những lý do trên, học viên lựa chọn đề tài: “Hoàn thiện pháp luật

về phòng, chống tham nhũng đáp ứng yêu cầu Nhà nước pháp quyền XHCN” làm

luận văn tốt nghiệp thạc sĩ ngành luật Hiến pháp và luật Hành chính của mình, với

mong muốn vận dụng kiến thức lý luận vào thực tiễn nhằm nghiên cứu những quy định của pháp luật về PCTN từ đó đưa ra quan điểm, giải pháp nhằm hoàn thiện pháp luật về PCTN đáp ứng yêu cầu nhà nước pháp quyền XHCN

2 Tình hình nghiên cứu liên quan đến luận văn

Đề tài liên quan đến hoàn thiện pháp luật PCTN đã được các nhà khoa học nghiên cứu thông qua công trình nghiên cứu như bài viết trên tạp chí và bài viết tại

các hội thảo quốc gia, quốc tế, giáo trình, sách chuyên khảo, ví dụ như:

Một là, sách và đề tài khoa học

Sách "Ngành Nội chính Đảng - 50 năm xây dựng và trưởng thành (1966-2016)",

Ban Nội chính Trung ương, Hà Nội, 2016 Sách đi sâu phân tích chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước ta về công tác PCTN

Sách "Pháp luật phòng, chống tham nhũng những vấn đề lý luận và thực tiễn",

Nxb Tư pháp, Hà Nội, 2018 Sách đã đưa ra khá toàn diện các vấn đề khái niệm, nguyên nhân của TN, các quy định hiện hành về PCTN

Đề tài khoa học cấp bộ: “Phòng chống tham nhũng trong xây dựng pháp luật ở

Việt Nam” do TS Nguyễn Quốc Văn, Phó Vụ trưởng Vụ Pháp chế, Thanh tra Chính

phủ làm chủ nhiệm, 2017 [14] Đề tài đã làm rõ một số vấn đề như làm rõ nguy cơ, biểu hiện TN, pháp luật và thực tiễn Việt Nam về PCTN trong xây dựng pháp luật, đưa ra được những dự báo về tình hình TN trong xây dựng pháp luật ở Việt Nam trong thời gian tới

Đề tài nghiên cứu khoa học cấp cơ sở: "Phòng chống tham nhũng trong các cơ

quan thực hiện chức năng phòng, chống tham nhũng" do Ths Tạ Thu Thủy, Viện

Trang 11

Khoa học Thanh tra, Thanh tra Chính phủ làm chủ nhiệm đề tài, 2015 [37] Nghiên cứu đặc điểm về công tác PCTN, các nguy cơ TN và thực tiễn áp dụng quy định pháp luật, đề xuất một số giải pháp, kiến nghị nhằm hoàn thiện các quy định về thẩm quyền

và giám sát việc thực hiện thẩm quyền của các cơ quan thực hiện chức năng PCTN Tuy nhiên đề tài chưa đề cập đến vai trò của công tác PCTN, chưa nêu ra được các yêu tố ảnh hưởng đến công tác này, trên cơ sở đề tài tác giả kế thừa những vấn đề lý luận như đặc điểm PCTN, nghiên cứu thêm về thực trạng và hoàn thiện thêm những khoảng trống mà đề tài chưa nghiên cứu

Hai là, luận án Tiến sĩ, luận văn Thạc sĩ

Luận văn Tiến sĩ chính sách công "Chính sách phòng, chống tham nhũng ở Việt

Nam hiệu nay" của tác giả Nguyễn Thị Thu Nga, Học viện Khoa học Xã hội, 2019

[18] Luận văn đưa ra hệ thống lý luận về chính sách PCTN, phân tích, đánh giá, dự báo tình hình TN thời gian tới, xác định các yêu cầu và đề xuất các giải pháp, kiến nghị

cụ thể để hoàn thiện chính sách PCTN ở Việt Nam hiện nay

Luận án Tiến sĩ chuyên ngành lý luận và lịch sử nhà nước và pháp luật “Phòng,

chống tham nhũng trong các cơ quan hành chính nhà nước cấp trung ương thông qua công tác kiểm tra của Đảng cộng sản Việt Nam” của tác giả Trần Văn Tĩnh, Học viện

Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh, 2020 [26] Luận án đã tập trung làm rõ bốn vấn đề cốt lõi là: thứ nhất tác giả đã tổng quan rõ tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài và những vấn đề cần tiếp tục nghiên cứu; thứ hai tác giả tập trung hệ thống cơ sở lý luận

về PCTN trong các cơ quan hành chính nhà nước cấp trung ương thông qua công tác kiểm tra của Đảng cộng sản Việt Nam; thứ ba tác giả đánh đánh giá sâu thực trạng về PCTN trong các cơ quan hành chính nhà nước cấp trung ương thông qua công tác kiểm tra của Đảng cộng sản Việt Nam, cuối cùng trên cơ sở thực trạng tác giả đã đưa ra được các giải pháp PCTN trong các cơ quan hành chính nhà nước cấp trung ương thông qua công tác kiểm tra của Đảng cộng sản Việt Nam

Luận văn Thạc sĩ Luật Hiến pháp và Luật hành chính “ Pháp luật về phòng,

chống tham nhũng-Từ thực tiễn tỉnh Gia Lai” của tác giả Bùi Minh Phúc, Học viện

Hành chính quốc gia, 2017 [1] Luận văn đã phân tích cơ sở khoa học về TN và pháp luật PCTN, đồng thời đi sâu nghiên cứu thực trạng pháp luật và tổ chức thực hiện pháp

Trang 12

luật về PCTN ở tỉnh Gia Lai, qua đó tác giả đã đưa ra phương hướng và giải pháp nhằm hoàn thiện pháp luật PCTN trên địa bàn tỉnh Gia Lai

Luận văn Thạc sĩ Luật Hiến pháp và Luật Hành chính “ Phổ biến pháp luật về

phòng, chống tham nhũng cho cán bộ, công chức, viên chức tại tỉnh Trà Vinh” của tác

giả Kiên Văn Dung, trường Đại học Trà Vinh, 2021 [16] Tác giả đã giải quyết được các vấn đề khái niệm TN, PCTN, đặc điểm, vai trò của hoạt động phổ biến pháp luật PCTN cho CBCC, viên chức, đồng thời nêu ra các mục đích, nguyên tắc, chủ thể, đối tượng, nội dung, hình thức, phương pháp phổ biến pháp luật PCTN cho CBCC, viên chức Trên cơ sở lý luận tác giả Kiên Văn Dung đã đánh giá thực trạng và đưa ra hệ thống các quan điểm và giải pháp đổi mới hoạt động pháp luật PCTN cho CBCC, viên chức tại tỉnh Trà Vinh

Ba là, bài báo khoa học đăng trên các tạp chí

Các công trình nghiên cứu đề cập đến công tác phòng, chống tham nhũng đó là:

"Công tác kiểm tra, giám sát, kỷ luật của Đảng trong cuộc đấu tranh phòng, chống tham nhũng" của TS Tô Quang Thu, đăng trên Tạp chí Cộng sản số 910(8-2019)

[39]; "Gương mẫu đi đầu trong lãnh đạo, chỉ đạo triển khai thực hiện các nhiệm vụ,

giải pháp phòng, chống tham nhũng" của Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng, Trưởng

Ban Chỉ đạo Trung ương về phòng, chống tham nhũng, đăng trên Tạp chí Nội chính

số 56 (6-2018) [40]

Nhìn chung các công trình nghiên cứu khoa học nói trên đã đề cập đến công tác PCTN và quản lý nhà nước về công tác PCTN ở nhiều góc độ nghiên cứu khác nhau Tuy nhiên, cho đến nay chưa có công trình nào đi sâu nghiên cứu cụ thể từng khía cạnh mà đặc biệt là đề tài nghiên cứu về hoàn thiện pháp luật PCTN trong điều kiện xây dựng nhà nước pháp quyền XHCN

3 Mục đích và nhiệm vụ của luận văn

3.1 Mục đích nghiên cứu

Trên cơ sở làm rõ những vấn đề lý luận và thực trạng quy định PCTN ở Việt Nam, luận văn đề xuất quan điểm, giải pháp góp phần hoàn thiện pháp luật về PCTN đáp ứng yêu cầu nhà nước pháp quyền XHCN

3.2 Nhiệm vụ nghiên cứu

Trang 13

Thực hiện mục đích nghiên cứu nêu trên, đề tài tập trung vào các nhiệm vụ chính sau đây:

Thứ nhất, tác giả tập trung nghiên cứu một số vấn đề lý luận liên quan đến pháp

luật về PCTN và hoàn thiện pháp luật PCTN đáp ứng yêu cầu Nhà nước pháp quyền XHCN gồm:

Khái niệm, đặc điểm, vai trò của pháp luật PCTN

Tiêu chí đánh giá, các yếu tố ảnh hưởng đến việc hoàn thiện pháp luật PCTN đáp ứng yêu cầu của nhà nước pháp quyền XHCN

Kinh nghiệm lập pháp và bài học kinh nghiệm về hoàn thiện pháp luật PCTN

Thứ hai, dựa trên cơ sở lý luận, tác giả nghiên cứu nội dung các quy định pháp

luật PCTN ở Việt Nam

Phân tích sâu các nội dung Luật PCTN điều chỉnh

Đánh giá thực trạng, tổng hợp các ưu điểm và hạn chế của pháp luật PCTN, từ

đó chỉ ra nguyên nhân của hạn chế

Thứ ba, từ những hạn chế rút ra, tác giả đưa ra hệ thống quan điểm và các giải

pháp hoàn thiện các quy định của pháp luật về phòng, chống tham nhũng đáp ứng yêu cầu Nhà nước pháp quyền XHCN

4 Đối tượng, phạm vi nghiên cứu

4.1 Đối tượng nghiên cứu

Đối tượng nghiên cứu của luận văn là hoàn thiện pháp luật về phòng, chống tham nhũng đáp ứng yêu cầu Nhà nước pháp quyền XHCN

4.2 Phạm vi nghiên cứu

Về nội dung: Hoàn thiện pháp luật về phòng, chống tham nhũng đáp ứng yêu

cầu Nhà nước pháp quyền XHCN trong phạm vi những vấn đề về các quy định pháp luật về phòng ngừa, phát hiện và xử lý tham nhũng, về tổ chức, hoạt động của cơ quan PCTN; các quy định pháp luật về vai trò, trách nhiệm của công dân, tổ chức xã hội trong PCTN, hợp tác quốc tế trong PCTN tại Luật PCTN năm 2018

Về thời gian: kể từ khi luật PCTN 2018 có hiệu lực

Về không gian: tại Việt Nam

Trang 14

5 Phương pháp nghiên cứu

5.1 Phương pháp luận

Đề tài nghiên cứu dựa trên cơ sở các phương pháp luận của chủ nghĩa duy vật biện chứng và chủ nghĩa duy vật lịch sử của triết học Mác-Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh và quan điểm, đường lối của Đảng Cộng sản Việt Nam và Nhà nước ta về hoàn thiện pháp luật về PCTN đáp ứng yêu cầu Nhà nước pháp quyền XHCN

5.2 Phương pháp nghiên cứu cụ thể

Phương pháp nghiên cứu và thu thập tài liệu

Phương pháp này được dùng trong quá trình nghiên cứu tài liệu liên quan đến

đề tài, giúp tóm tắt, cô đọng những nội dung chính và tìm ra những khoảng trống tài liệu cần nghiên cứu tiếp Hơn nữa, học viên cũng sử dụng phương pháp này để kế thừa các nội dung về mặt lý luận của hoàn thiện pháp luật về PCTN Để các nội dung được trình bày một cách khoa học thì học viên nghiên cứu, thu thập các tài liệu có giá trị với đề tài, xác định được nội dung nào cần thu thập, nội dung nào sẽ giúp đề tài hoàn thiện một cách tốt nhất Ngoài ra, học viên dùng phương pháp này nhằm tìm các nội dung và con số trong báo cáo hằng năm của Chính phủ về thực trạng thực

hiện các quy định của pháp luật PCTN

Phương pháp phân tích - tổng hợp

Dựa vào các số liệu đã có, phương pháp này sẽ giúp học viên nghiên cứu Chương 2 là chủ yếu để phân tích các vấn đề liên quan đến thực trạng các quy định

về PCTN Ngoài ra còn sử dụng để phân tích thực trạng, các nội dung liên quan đến các quy định về PCTN Phương pháp tổng hợp, giúp học viên rút ra được những ưu điểm, hạn chế và hệ thống hoá các giải pháp nhằm hoàn thiện pháp luật về PCTN

Phương pháp so sánh

Đây là một phương pháp được sử dụng chủ yếu ở chương 2 của luận văn, dùng

để phân tích các quy định của pháp luật PCTN Thông qua phương pháp so sánh, tác giả tìm ra những điều luật được thừa kế từ luật cũ và phân tích các điểm mới của các quy định, trên cơ sở đó, tác giả rút ra được những ưu điểm, hạn chế một cách khoa học và chính xác

Trang 15

Và cuối cùng, học viên vận dụng thêm các phương pháp khác như phân loại, chứng minh,…Toàn bộ phương pháp trên được vận dụng kết hợp nhằm làm sáng tỏ mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu của đề tài

6 Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của đề tài

6.1 Ý nghĩa lý luận

Qua kết quả nghiên cứu, đề tài góp phần khái quát và làm rõ thêm cơ sở lý luận, đánh giá thực trạng, tìm ra những ưu điểm, hạn chế của pháp luật về PCTN và giải pháp nhằm hoàn thiện pháp luật PCTN

6.2 Ý nghĩa thực tiễn

Kết quả nghiên cứu sẽ được sử dụng làm tài liệu tham khảo trong quá trình hoàn thiện các quy định của pháp luật về PCTN ở nước ta hiện nay; Luận văn là tài liệu phục vụ cho việc nghiên cứu, học tập, giảng dạy, tuyên truyền pháp luật về PCTN ở Việt Nam

7 Kết cấu của luận văn

Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo, nội dung của luận văn gồm 3 chương:

Chương 1: Cơ sở lý luận của pháp luật về phòng, chống tham nhũng và hoàn

thiện pháp luật phòng, chống tham nhũng đáp ứng yêu cầu Nhà nước pháp quyền XHCN

Chương 2: Thực trạng quy định pháp luật phòng, chống tham nhũng ở Việt

Nam

Chương 3: Quan điểm, giải pháp hoàn thiện pháp luật về phòng, chống tham

nhũng đáp ứng yêu cầu Nhà nước pháp quyền XHCN

Trang 16

CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN CỦA PHÁP LUẬT VỀ PHÒNG,

CHỐNG THAM NHŨNG VÀ HOÀN THIỆN PHÁP LUẬT PHÒNG, CHỐNG THAM NHŨNG ĐÁP ỨNG YÊU CẦU NHÀ NƯỚC PHÁP QUYỀN XHCN

1.1 Những vấn đề lý luận về pháp luật phòng, chống tham nhũng

1.1.1 Khái niệm pháp luật phòng, chống tham nhũng

1.1.1.1 Khái niệm tham nhũng

Bộ máy HCNN sẽ hoạt động kém đi nếu TN ngày càng tăng, thậm chí TN còn

đe dọa sự suy vong của một đất nước

Các quan điểm về khái niệm TN gồm:

TN là hành vi của những người tin cậy giao phó nhiệm vụ công hoặc tư nhưng không tôn trọng trách nhiệm và nghĩa vụ của mình nhằm đạt được các lợi ích chính đáng theo quy định của Hội đồng Châu Âu và Tổ chức Hợp tác Kinh tế phát triển Theo E.Berenbeim, TN gồm ba biểu hiện như: thứ nhất chủ động đưa hối lộ, thứ hai là nhận hối lộ, thứ ba là TN gắn với giao dịch thương mại [45]

Theo Transparency International, TN là những hành vi vi phạm của công chức trong khu vực công, hành vi đó là làm giàu không đúng đắn, bất hợp pháp bằng cách lạm dụng quyền lực công đã giao cho họ

Ngân hàng thế giới đưa ra định nghĩa về TN là hành vi lạm dụng quyền lực

công để thu về những lợi ích chung [46].

Montesquiers chỉ rõ, mọi người có quyền lực đều có khuynh hướng sử dụng nó

để TN, thay đổi theo tiền cảnh kinh tế, xã hội, phụ thuộc vào mối quan hệ giữa các

trung tâm xã hội đối với vấn đề TN và dân chủ [18]

Từ điển Tiếng Việt nêu rõ khái niệm TN là lợi dụng quyền hạn cá nhân, tổ chức

để nhũng nhiễu với quần chúng nhân dân [8]

Luật PCTN năm 2018 của Việt Nam quy định như sau: Những hành vi của

người có chức vụ, quyền hạn dùng để vụ lợị gọi là TN [20]

Như vậy, theo tác giả tham nhũng là hành vi của người có chức vụ, quyền hạn

trong một tổ chức lợi dụng vị thế của mình để thực hiện những việc làm đi ngược lại

Trang 17

với quy định của pháp luật, đồng thời hành vi đó gây thiệt hại, thất thoát tài sản công, tiền, suy thoái nền kinh tế của đất nước với mục đích phục vụ lợi ích của bản thân, tổ chức, hành động đó đe dọa đến lợi ích của nhà nước, của nhân dân, xâm phạm đến quyền và lợi ích hợp pháp của tổ chức, cá nhân khác

1.1.1.2 Khái niệm phòng, chống tham nhũng

PCTN là tổng hợp các biện pháp, cách làm mà cơ quan có thẩm quyền dùng để phòng ngừa những hành vi TN, đồng thời kịp thời phát hiện sớm và xử lý nghiêm các đơn vi, tổ chức, cá nhân có nguy cơ hoặc biểu hiện TN hay nói cách khác là hoạt động chống lại những hành vi vi phạm pháp luật, chống lại lòng tham của con người, đồng thời kiểm soát có hiệu quả việc thực hiện quyền lực công là bản chất của hoạt động PCTN

PCTN có ý nghĩa rất quan trọng trong hành trình chống TN của đất nước, giúp ngăn chặn, đẩy lùi TN, ổn định chính trị xã hội, phát triển kinh tế, củng cố lòng tin của nhân dân hoạt động của cơ quan HCNN, xây dựng Đảng, Nhà nước trong sạch, vững mạnh

Công ước của Liên hợp quốc quy định về duy trì chống TN tại Điều 5 Công ước như sau:

“1 Trên cơ sở phù hợp với các nguyên tắc cơ bản của pháp luật nước mình,

mỗi Quốc gia thành viên sẽ xây dựng và thực hiện hoặc duy trì các chính sách chống tham nhũng hiệu quả và đồng bộ, những chính sách thúc đẩy sự tham gia của xã hội và thể hiện các nguyên tắc của chế độ pháp quyền, việc quản lý đúng đắn công vụ và tài sản công, sự liêm khiết, tính minh bạch và trách nhiệm.” [2]

Xác định được tầm quan trọng của công tác PCTN, văn kiện Đại hội XIII đã

đưa ra những chủ trương, giải pháp liên quan đến PCTN như: “Triển khai đồng bộ có

hiệu quả quy định của pháp luật về PCTN Nâng cao hiệu quả thu hồi tài sản TN, bảo đảm đúng pháp luật Thực hiện quyết liệt nghiêm minh có hiệu quả cuộc đấu tranh PCTN.”[4]

Hoạt động chống TN và phòng TN là hai hoạt động khác nhau tuy nhiên có quan hệ tác động lẫn nhau, hỗ trợ nhau

Trang 18

Công tác phòng ngừa TN là sử dụng các phương pháp làm hạn chế môi trường

TN như: Ban hành các VBQPPL điều chỉnh hành vi TN; tuyên truyền, giáo dục nâng cao nhận thức;

Công tác chống TN là hoạt động phát hiện và xử lý TN, bao gồm các hoạt động như: khiếu nại, tố cáo và giải quyết khiếu nại, tố cáo

Trên cơ sở nghiên cứu trên, tác giả rút ra khái niệm PCTN như sau: PCTN là

hoạt động của cơ quan có thẩm quyền đưa ra các biện pháp phòng ngừa, ngăn chặn

và thực hiện các biện pháp phòng ngừa, phát hiện và xử lý những hành vi tham nhũng nhằm bảo vệ lợi ích hợp pháp của Nhà nước, cơ quan, tổ chức và công dân, góp phần quan trọng vào việc giữ vững an ninh chính trị - xã hội, bảo vệ chế độ và bảo đảm cho kinh tế - xã hội đất nước phát triển bền vững

1.1.1.3 Khái niệm pháp luật phòng, chống tham nhũng

Pháp luật là hệ thống các quy tắc xử sự mang tính bắt buộc chung do Nhà nước ban hành hoặc thừa nhận, là sản phẩm phản ánh ý chí, nguyện vọng của nhân dân, đồng thời là sự thể chế hóa quan điểm, đường lối, chủ trương của Đảng, các văn bản luật được xây dựng nên nhằm ổn định trật tự xã hội,

Luật PCTN là một khuôn khổ pháp lý vững chắc làm tiền đề cho việc xây dựng chiến lược toàn diện và lâu dài cho hành trình đấu tranh chống lại các hành vi TN, là

cơ sở nâng cao ý thức, trách nhiệm của các cấp, các ngành, cơ quan, tổ chức, đơn vị, cán bộ, công chức, viên chức và công dân về công tác PCTN

Bên cạnh đó, hoạt động PCTN muốn thực hiện được đòi hỏi phải có một công

cụ hữu hiệu nhất đấy chính là các văn bản quy phạm pháp luật do nhà nước ban hành liên quan đến TN, PCTN Hệ thống pháp luật PCTN sẽ quy định rõ ràng, cụ thể các hành vi vi phạm nào được coi là TN, hành vi nào không phải TN; đồng thời quy định thẩm quyền, trình tự, thủ tục xử lý TN, quy định trách nhiệm, vai trò của các tổ chức,

cá nhân khi tham gia vào công tác PCTN

“Pháp luật về PCTN là tổng thể các quy phạm pháp luật do cơ quan nhà nước

có thẩm quyền ban hành nhằm xác định các biện pháp phòng ngừa, phát hiện, xử lý tham nhũng, tổ chức, hoạt động của cơ quan PCTN phát huy vai trò, trách nhiệm của

Trang 19

công dân, tổ chức trong PCTN, hợp tác quốc tế về PCTN và các biện pháp bảo đảm nhằm PCTN có hiệu quả ” [42]

Như vậy pháp luật PCTN là: tổng thể các văn bản quy phạm pháp luật do cơ

quan có thẩm quyền ban hành liên quan đến tất cả các vấn đề về công tác phòng ngừa TN và chống TN

1.1.2 Đặc trưng của tham nhũng

Một là, người có chức vụ, quyền hạn là chủ thể của TN Nhóm đối tượng này

có những đặc thù khác so với các nhóm đối tượng khác như họ là người công tác lâu năm, có uy tín, được đào tạo hệ thống, là những chuyên gia trong các lĩnh vực khác nhau, thậm chí họ là người được nhiều người tin tưởng

Hai là, chủ thể TN lợi dụng chức vụ, quyền hạn được giao.Người TN phải sử

dụng chức vụ, quyền hạn của mình là phương tiện thu về lợi ích, vụ lợi cho mình Đây là đặc trưng cơ bản để xác định hành vi TN

Ba là, mục đích của hành vi TN là vụ lợi Hành vi TN là hành vi cố ý Mục đích

của hành vi TN là vụ lợi Vụ lợi ở đây được hiểu là lợi ích vật chất hoặc lợi ích tinh

thần mà người có chức vụ, quyền hạn đã đạt được thông qua hành vi TN

1.1.3 Đặc điểm pháp luật PCTN

Một là, đối tượng điều chỉnh là những mối quan hệ xã hội phát sinh trong hoạt

động phòng ngừa, phát hiện TN, các phương pháp, cách thức điều chỉnh khác nhau, tùy theo tính chất, mức độ của hành vi TN; đồng thời, quy định vai trò, trách nhiệm của cơ quan, tổ chức, cá nhân trong PCTN

Hai là, phương pháp điều chỉnh mang tính mệnh lệnh, phục tùng, buộc các chủ

thể tham gia vào quan hệ pháp luật phải tuân theo từ đó giúp bảo vệ lợi ích của Nhà nước, quyền và lợi ích hợp pháp của tổ chức, cá nhân và hạn chế, ngăn chặn, phòng ngừa, phát hiện, xử lý các hành vi TN,

Ba là, nội dung gồm các quy định về tổ chức và hoạt động của các cơ quan

PCTN; các quy định về hợp tác quốc tế và phát huy vai trò, trách nhiệm của tổ chức,

cá nhân trong PCTN; xác định rõ hành vi nào là hành vi TN và những biện pháp cưỡng chế nhà nước cần áp dụng đối với các chủ thể có hành vi đó; đồng thời quy định các biện pháp bảo đảm nhằm PCTN có hiệu quả

Trang 20

1.1.4 Vai trò pháp luật PCTN

Thứ nhất, pháp luật PCTN giúp thể chế hóa quan điểm của Đảng và Nhà nước

Pháp luật PCTN ra đời giúp trật tự xã hội ổn định, cụ thể hoá các quan điểm của Đảng thành những quy phạm pháp luật để điều chỉnh các mối quan hệ trong xã hội nhằm ngăn chặn và từng bước đẩy lùi TN; áp dụng pháp luật PCTN giúp Đảng và Nhà nước phát hiện sớm và xử lý nghiêm các hành vi TN; giảm thiểu những tiêu cực của TN đến sự phát triển của kinh tế và xã hội; bảo vệ được lợi ích của công dân và góp phần cho Đảng và Nhà nước ta trong sạch vững mạnh

Thứ hai, pháp luật PCTN là hành lang pháp lý quan trọng để nhận diện hành

vi tham nhũng của cá nhân, cơ quan, tổ chức

Luật PCTN đã quy định rõ các dấu hiệu đặc thù của TN, tạo điều kiện để các cơ quan, tổ chức, cá nhân căn cứ vào đó để xác định được đâu là hành vi TN xảy ra trên thực tế, phân biệt được hành vi TN với hành vi vi phạm pháp luật khác, giữa hành vi

TN này với hành vi TN khác

Thứ ba, pháp luật PCTN tạo lập khuôn khổ pháp lý để phòng ngừa tham nhũng

Pháp luật PCTN đã quy định rõ các biện pháp phòng ngừa TN, căn cứ vào cách thức, nội dung và trách nhiệm để các cơ quan, tổ chức, cá nhân trong xã hội thực hiện các biện pháp phòng ngừa TN Tùy vào điều kiện cụ thể mà mỗi quốc gia quy định cách thức, biện pháp phòng ngừa TN khác nhau

Thứ tư, căn cứ vào luật PCTN giúp cho cá nhân, cơ quan, tổ chức có thẩm quyền kịp thời phát hiện, xử lý tham nhũng

Căn cứ vào luật để phát hiện TN kịp thời, từ đó có biện pháp khắc phục thiệt hại, ra quyết định xử lý các cơ quan, tổ chức, cá nhân đã có hành vi TN Dựa vào tính chất, mức độ của tội phạm TN để có hình thức xử lý hoặc là truy cứu trách nhiệm hình sự đúng người đúng sự việc Qua đó răn đe, giáo dục, trong một số trường hợp, hình thức xử lý mang tính cưỡng chế rất cao, nghiêm khắc, nhằm mục đích thu hồi tài sản về cho nhà nước và trả lại cho chủ tài sản

Thứ năm, pháp luật về PCTN giúp phát huy vai trò, trách nhiệm của công dân,

tổ chức trong PCTN

Trang 21

Công dân và các tổ chức chính trị xã hội chủ động tham gia vào công tác PCTN bằng nhiều cách thức khác nhau, dựa vào các quy định, bộ phận này thực hiện quyền giám sát của mình đối với các hoạt động của các cơ quan HCNN để phát hiện hành

vi vi phạm pháp luật; công dân và các tổ chức chính trị xã hội là kênh thông tin hữu ích giúp các cơ quan có thẩm quyền PCTN phát hiện sớm, tiến hành kiểm tra, thanh tra nhanh chóng để không bỏ lọt tội phạm TN Pháp luật cũng là cơ sở pháp lý để bảo

vệ công dân khi thực hiện tố cáo, khuyến khích, khen thưởng đối với những tổ chức,

cá nhân có thành tích trong PCTN, xử lý những trường hợp bao che, thiếu tích cực trong PCTN

Thứ sáu, pháp luật PCTN là nền tảng để tiến hành các hoạt động hợp tác quốc

tế về PCTN

Thực tiễn cho chúng ta thấy, có rất nhiều tội phạm TN xuyên quốc gia, đòi hỏi phải có những quy định tương đồng, tương thích giữa các nước thì việc xử lý TN xuyên quốc gia mới trở nên thuận lợi hơn Để hoàn thiện cơ sở pháp luật hỗ trợ công tác PCTN với các nước, chúng ta phải cùng nhau tuân thủ Công ước của LHQ về chống TN Trong quá trình hợp tác quốc tế các nước có quan hệ ngoại giao cũng đã thống nhất xây dựng các thỏa thuận hoặc điều ước quốc tế về các vấn đề liên quan đến pháp luật PCTN

Tóm lại, pháp luật PCTN đóng vai trò quan trọng đối với hoạt động PCTN của tất cả các quốc gia trên thế giới, vì vậy luận văn đi sâu nghiên cứu, rà soát nhằm góp phần HTPL về PCTN

1.2 Những vấn đề lý luận của hoàn thiện pháp luật về phòng, chống

tham nhũng đáp ứng yêu cầu nhà nước pháp quyền XHCN

1.2.1 Đặc trưng của Nhà nước Pháp quyền xã hội chủ nghĩa

Căn cứ vào Hiến Pháp năm 2013, căn cứ Nghị quyết số 27-NQ/TW, ngày 9/11/2022 về tiếp tục xây dựng và hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam trong giai đoạn mới quy định về đặc trưng của Nhà nước pháp quyền Xã hội chủ nghĩa như sau:

Trang 22

Thứ nhất, nhà nước pháp quyền XHCN Việt Nam do Đảng Cộng sản Việt Nam lãnh đạo "Đặc trưng này thể hiện tính đặc thù của nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam, phù hợp với hệ thống chính trị Việt Nam”

Thứ hai, nhà nước pháp quyền XHCN Việt Nam là nhà nước của nhân dân, do nhân dân và vì nhân dân

Thứ ba, nhà nước pháp quyền XHCN Việt Nam là quyền con người, quyền công dân được công nhận, tôn trọng, bảo vệ và bảo đảm theo Hiến pháp và pháp luật Thứ tư, nhà nước pháp quyền XHCN Việt Nam là nhà nước được tổ chức và hoạt động theo Hiến pháp và pháp luật, quản lý xã hội bằng Hiến pháp và pháp luật Thứ năm, nhà nước pháp quyền XHCN Việt Nam là quyền lực nhà nước thống nhất, có sự phân công rành mạch, phối hợp chặt chẽ và kiểm soát hiệu quả giữa các

cơ quan nhà nước trong việc thực hiện các quyền lập pháp, hành pháp, tư pháp Thứ sáu, nhà nước pháp quyền XHCN Việt Nam là hệ thống pháp luật dân chủ, công bằng, nhân đạo, đầy đủ, kịp thời, đồng bộ, thống nhất, khả thi, công khai, minh bạch, ổn định, dễ tiếp cận, được thực hiện nghiêm minh và nhất quán

Thứ bảy, nhà nước pháp quyền XHCN Việt Nam là bảo đảm tính độc lập của tòa án theo thẩm quyền xét xử, thẩm phán, hội thẩm xét xử độc lập và chỉ tuân theo pháp luật

Thứ tám, nhà nước pháp quyền XHCN Việt Nam là tôn trọng và bảo đảm thực hiện các điều ước quốc tế mà nhà nước đã ký kết hoặc gia nhập, bảo đảm cao nhất lợi ích quốc gia-dân tộc trên cơ sở các nguyên tắc cơ bản của Hiến chương Liên hợp quốc, pháp luật quốc tế

1.2.2 Khái niệm hoàn thiện pháp luật về phòng, chống tham nhũng đáp ứng yêu cầu của nhà nước pháp quyền XHCN

Hoàn thiện hệ thống pháp luật nói chung và pháp luật về PCTN nói riêng phải

bám sát vào quan điểm chỉ đạo của Đảng là “Xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội

chủ nghĩa của nhân dân, do nhân dân và vì nhân dân dưới sự lãnh đạo của Đảng.” Một là, hoàn thiện pháp luật về PCTN phải bảo đảm nguyên tắc quyền lực nhà

nước là thống nhất, có sự phân công, phối hợp và kiểm soát giữa các cơ quan trong việc thực hiện các quyền lập pháp, hành pháp, tư pháp

Trang 23

Hai là, hoàn thiện pháp luật về PCTN phải đáp ứng yêu cầu giám sát của Quốc

hội, HĐND và giám sát của nhân dân đối với hoạt động quản lý, sử dụng ngân sách, tiền và tài sản nhà nước

Ba là, hoàn thiện pháp luật PCTN phải góp phần đảm bảo minh bạch, công khai

và lành mạnh các quan hệ giữa các cơ quan tổ chức

Bốn là, hoàn thiện pháp luật PCTN phải góp phần phòng ngừa, chống TN, làm

trong sạch bộ máy nhà nước ở nước ta hiện nay

Trong xu thế phát triển hiện nay, các hành vi TN được biến tấu ngày càng đa dạng, tinh vi, phức tạp và rất khó phát hiện, xử lý; Do đó, pháp luật về PCTN cũng cần phải có sự thay đổi để kịp điều chỉnh các quan hệ phát sinh khi các hành vi TN xảy ra, các cơ quan chức năng cần đưa ra dự báo các hành vi TN trong tương lai để xác định phương đề ra giải pháp cụ thể trong việc HTPL về PCTN, trong đó có đưa

ra phương án xây dựng mới các văn bản quy phạm pháp luật còn thiếu, hủy bỏ những quy định không phù hợp, thiếu tính khả thi, sửa đổi các quy định chưa thực sự phù hợp để thực hiện được mục tiêu phòng ngừa, ngăn chặn được các hành vi TN có thể xảy ra, đồng thời, phát hiện và xử lý được các hành vi TN xảy ra trên thực tế, có như vậy pháp luật mới góp phần thực hiện được mục tiêu ngăn chặn và đẩy lùi tham nhũng

Việc nghiên cứu để HTPL về PCTN là nhu cầu tất yếu của các quốc gia trên thế giới, đòi hỏi cũng phải bảo đảm được những tiêu chuẩn và yêu cầu nhất định

Như vậy, trên cơ sở nghiên cứu, theo tác giả: Hoàn thiện pháp luật về PCTN

đáp ứng yêu cầu của nhà nước pháp quyền XHCN là quá trình mà cơ quan có thẩm quyền từng bước nghiên cứu, ban hành, sửa đổi, bổ sung các quy định của pháp luật về PCTN ngày càng toàn diện, thống nhất, đồng bộ, phù hợp với thực tiễn xây dựng nhà nước pháp quyền XHCN

1.2.3 Nội dung hoàn thiện pháp luật về phòng, chống tham nhũng đáp ứng yêu cầu nhà nước pháp quyền XHCN

Thứ nhất, phòng ngừa tham nhũng trong cơ quan, đơn vị

Luật PCTN tập trung quy định đầy đủ và chặt chẽ nội dung, hình thức, trách nhiệm thực hiện công khai, minh bạch của các cơ quan, đơn vị, tổ chức

Trang 24

Ngoài ra, các cơ quan, đơn vị, tổ chức có trách nhiệm giải trình, báo cáo về công tác PCTN như giải trình thông tin kịp thời, đầy đủ về các quyết định, hành vi của mình, người đứng đầu hoặc người được phân công, uỷ quyền có trách nhiệm giải trình; cơ quan có thẩm quyền về PCTN xây dựng báo cáo, công khai báo cáo về tình

hình TN và công tác PCTN

Xây dựng và thực hiện định mức, tiêu chuẩn, chế độ được thực hiện theo luật

Ngân sách Nhà nước, các luật chuyên ngành khác và được giao cho nhiều cấp khác

nhau phụ thuộc vào từng loại định mức, tiêu chuẩn, chế độ

Tập trung vào quy tắc ứng xử của người có chức vụ, quyền hạn trong cơ quan,

tổ chức, đơn vị; tặng quà và nhận quà tặng; kiểm soát xung đột lợi ích ví dụ như: các

cơ quan, đơn vị, tổ chức, người có chức vụ, quyền hạn không được trực tiếp hoặc gián tiếp nhận quà tặng dưới mọi hình thức liên quan đến công việc có thẩm quyền giải quyết hoặc thuộc phạm vi quản lý; bên cạnh đó người trực tiếp quản lý, sử dụng người có chức vụ, quyền hạn được áp dụng các biện pháp kiểm soát xung đột trong

cơ quan, tổ chức, đơn vị mình

Quy định cụ thể việc chuyển đổi vị trí công tác đối với cơ quan, tổ chức, đơn vị chỉ có một vị trí phải định kỳ chuyển đổi công tác sẽ do người đứng đầu cơ quan, tổ chức, đơn vị sử dụng người có chức vụ, quyền hạn đề nghị với cơ quan có thẩm quyền chuyển đổi

Liên quan đến kiểm soát tài sản, thu nhập của người có chức vụ, quyền hạn trong cơ quan, tổ chức; Luật đã tập trung quy định cơ quan nào có thẩm quyền kiểm soát tài sản, thu nhập; nghĩa vụ, phương thức kê khai tài sản, thu nhập; mở rộng thêm đối tượng kê khai và quy định rõ ràng về phương thức xử lý hành vi kê khai không trung thực; ngoài ra cơ sở dữ liệu quốc gia về kiểm soát tài sản, thu nhập chi tiết về nội dung và hình thức nhằm thực hiện tốt công tác PCTN

Thứ hai, phát hiện, xử lý tham nhũng trong cơ quan, tổ chức, đơn vị

Nội dung tập trung vào công tác kiểm tra của cơ quan quản lý nhà nước; công tác tự kiểm tra của các cơ quan, tổ chức, đơn vị; đồng thời phát hiện TN thông qua hoạt động giám sát, thanh tra, kiểm toán như giám sát của cơ quan dân cử, đại biểu dân cử và xử lý đề nghị của cơ quan dân cử, đại biểu dân cử, quy định thêm về xử lý

Trang 25

vụ việc có dấu hiệu TN được phát hiện qua hoạt động thanh tra, kiểm toán; luật cũng

mở rộng hơn nội dung các hình thức tiếp nhận phản ánh, tố cáo, báo cáo về hành vi

TN

Thứ ba, quy định pháp luật về tổ chức, hoạt động của cơ quan PCTN

Nội dung tập trung xác định trách nhiệm của người đứng đầu cơ quan, tổ chức, đơn vị để xảy ra TN khi không thực hiện hoặc thực hiện không đúng trách nhiệm được giao; áp dụng các biện pháp đối vớp người đứng đầu như tạm đình chỉ công tác, tạm thời chuyển sang vị trí công tác khác khi để TN trong phạm vi mình quản lý

Thứ tư, trách nhiệm của công dân, tổ chức của xã hội trong phòng, chống tham nhũng

Các nội dung của luật tập trung vào các vấn đề cơ bản như bổ sung thêm quyền công dân trong PCTN, các quy định chặt chẽ nhằm bảo vệ công dân, khen thưởng công dân tích cực tham gia PCTN; Công dân có quyền kiến nghị và giám sát việc

thực hiện pháp luật về PCTN của cơ quan HCNN

Luật quy định chặt chẽ hơn sự tham gia của Mặt trận Tổ quốc và các tổ chức thành viên vào công tác PCTN, cụ thể hoá trách nhiệm của cơ quan báo chí, nhà báo, của doanh nghiệp, hiệp hội doanh nghiệp, hiệp hội ngành nghề, ban Thanh tra Nhân dân, ban Giám sát đầu tư của Cộng đồng

Trong Thanh tra Chính phủ quy định thêm về các đơn vị chuyên trách chống

TN, tổ chức bộ máy của Bộ Công an đã có sự thay đổi nhưng vẫn có chức năng chuyên trách chống TN

Thứ năm, hợp tác quốc tế về phòng, chống tham nhũng

Nội dung này cơ bản quy định về hợp tác quốc tế đối với thu hồi tài sản TN trong tố tụng hình sự; tiếp nhận, xử lý yêu cầu tương trợ tư pháp hình sự của nước ngoài về thu hồi tài sản TN và đề nghị nước ngoài thực hiện yêu cầu tương trợ tư pháp hình sự về thu hồi tài sản tham nhũng của Việt Nam

1.2.4 Tiêu chí đánh giá mức độ hoàn thiện pháp luật PCTN đáp ứng yêu cầu nhà nước pháp quyền XHCN

1.2.4.1 Tính công khai

Trang 26

Trong điều kiện xây dựng nhà nước pháp quyền XHCN hiện nay, tính công khai phải được thể hiện từ quá trình xây dựng, lấy ý kiến đóng góp rộng rãi từ các cơ quan liên quan, các chuyên gia, đến công tác ban hành pháp luật, thanh tra, kiểm tra, rà soát những nội dung chưa phù hợp và từ đó hoàn thiện các văn bản quy phạm pháp luật nói chung và các văn bản quy phạm pháp luật về PCTN nói riêng Những năm qua, pháp luật về PCTN đã được công khai trên các phương tiện thông tin đại chúng, nhất thông qua công tác tuyên truyền, phổ biến, giáo dục pháp luật Hoàn thiện pháp luật PCTN theo hướng công khai là các quy định phải chính xác, mục đích của điều luật rõ ràng, các cơ quan ban hành pháp luật và cơ quan tổ chức thực thi pháp luật phải bảo đảm rằng tất cả người dân đều có thể tiếp cận với các quy định của pháp luật, từ đó khuyến khích người dân tham gia tích cực vào các quan hệ pháp luật, góp phần hoàn thiện pháp luật TN đáp ứng yêu cầu của thực tiễn

1.2.4.2 Tính thống nhất

Hoàn thiện hệ thống pháp luật là một nhiệm vụ cơ bản đáp ứng yêu cầu xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa, góp phần ổn định và thiết lập trật tự xã hội, tạo điều kiện cho sự phát triển kinh tế của đất nước Tuy nhiên, hệ thống pháp luật sẽ không thể tránh khỏi một số hạn chế như: cồng kềnh, mất cân đối, không nhất quán, khó kiểm soát, khó áp dụng… Một trong những nguyên nhân dẫn đến tình trạng trên là do tính thống nhất giữa các quy phạm pháp luật chưa được bảo đảm

Vậy để đánh giá mức độ hoàn thiện pháp luật PCTN phải xét đến tính thống nhất như: Thể chế về PCTN phải bảo đảm không có sự chồng chéo, mâu thuẫn, xung đột, khoảng hở giữa các văn bản pháp luật, giữa văn bản pháp luật với quy định của Đảng và giữa văn bản pháp luật với văn bản hướng dẫn; Các chiến lược, chương trình, kế hoạch PCTN phải xác định đúng lộ trình, trình tự thực hiện các mục tiêu, nhiệm vụ, giải pháp; Bảo đảm mối quan hệ nhân - quả giữa mục tiêu đề ra với nhiệm

vụ cần làm, phân định rõ nhiệm vụ nào giải pháp đó, giai đoạn nào mục tiêu, nhiệm

vụ đó; Trong xác định và thực thi các nhiệm vụ, giải pháp PCTN, phải phân loại để xác định đúng vai trò, vị trí, tác dụng của từng nhiệm vụ, giải pháp và mối quan hệ tương tác giữa chúng để sắp xếp hợp lý trong một chỉnh thể thống nhất Trong đó, cần làm rõ nhiệm vụ, giải pháp nào là tiền đề, tạo ra điều kiện bảo đảm cho nhiệm

Trang 27

vụ, giải pháp khác để ưu tiên thực hiện trước, hoàn thành trước Bên cạnh đó, đối với những nhiệm vụ có tính chiến lược, lâu dài thì phải đề ra được các mục tiêu, giải pháp

cụ thể cho từng thời kỳ, giai đoạn và các bước thực hiện; Hoạt động của các chủ thể PCTN, trên cơ sở chức năng, nhiệm vụ, thẩm quyền được quy định, các cơ quan, tổ chức có chức năng PCTN, cơ sở phải tạo được cơ chế phối hợp nhịp nhàng, thực hiện

“đúng vai, thuộc bài” trong lãnh đạo, chỉ đạo, điều hành, tổ chức thực hiện và kiểm tra, giám sát việc thực hiện nhiệm vụ PCTN, tránh chồng chéo, để lọt; có sự kiểm soát, chế ước lẫn nhau trong thực hiện quyền lực được giao để loại bỏ lợi ích cục bộ, không để xảy ra tình trạng chia cắt, đùn đẩy trách nhiệm khi cùng thực hiện nhiệm

vụ PCTN, tiêu cực, nhất là trong kiểm tra, giám sát, phát hiện, xử lý tham nhũng

1.2.4.3 Tính phù hợp

Tiêu chí này là xem xét lợi ích giữa nhà nước và xã hội có phù hợp với pháp luật PCTN hay không, văn bản quy phạm pháp luật phải phù hợp với từng vấn đề, với các đối tượng thực hiện không, có cần thiết, hợp với nhu cầu quản lý không

Bên cạnh đó tính phù hợp của pháp luật PCTN phải phản ánh trung thực trình

độ cuộc sống xã hội, bám sát thực tiễn và phát hiện ra các vấn đề TN phát sinh để từ

đó kịp thời đưa ra các biện pháp phòng chống hiệu quả Luật PCTN chính là thực tiễn cuộc sống được nâng lên thành luật có chọn lọc và phù hợp với sự phát triển đất nước

Để kiểm tra, đánh giá lại pháp luật có phù hợp không, có hiệu lực, hiệu quả không, các biện pháp phòng ngừa cũng như phát hiện, xử lý tham nhũng có bảo đảm được tính khả thi trên thực tế hay không, có phù hợp với đạo đức, văn hóa truyền thống

của dân tộc không thì cần dựa vào thực tiễn để hoàn thiện pháp luật PCTN

1.2.4.4 Tính toàn diện

Tính toàn diện của pháp luật PCTN thể hiện ở cấu trúc hình thức, nghĩa là pháp luật PCTN phải có khả năng điều chỉnh các mối quan hệ pháp luật trên lĩnh vực PCTN của xã hội

Tính toàn diện cần phải được đánh giá ở nhiều cấp độ khác nhau như cấu trúc lô-gic, chặt chẽ, mỗi chế định có đầy đủ các quy phạm pháp luật cần thiết

Bên cạnh các tiêu chí để đánh giá tính toàn diện của pháp luật PCTN đáp ứng yêu cầu nhà nước pháp quyền XHCN thì Nghị định 59/2019/NĐ-CP quy định:

Trang 28

“ Điều 17 Tiêu chí đánh giá việc xây dựng và hoàn thiện chính sách, pháp luật

về phòng, chống tham nhũng

Tiêu chí đánh giá việc xây dựng và hoàn thiện chính sách, pháp luật về phòng, chống tham nhũng bao gồm các tiêu chí thành phần sau:

1 Việc lãnh đạo, chỉ đạo, thực hiện công tác xây dựng và hoàn thiện chính sách, pháp luật về phòng, chống tham nhũng;

2 Việc lãnh đạo, chỉ đạo, thực hiện công tác kiểm tra, rà soát, hệ thống hóa văn bản quy phạm pháp luật về phòng, chống tham nhũng;

3 Việc lãnh đạo, chỉ đạo, thực hiện công tác phổ biến, giáo dục pháp luật, kiểm

tra và theo dõi thi hành văn bản quy phạm pháp luật về phòng, chống tham nhũng ”

1.2.5 Các yếu tố ảnh hưởng đến việc hoàn thiện pháp luật PCTN đáp ứng yêu cầu nhà nước pháp quyền XHCN

1.2.5.1 Yếu tố chính trị

Môi trường chính trị - xã hội của đất nước ổn định, phát triển bền vững là điều kiện thuận lợi cho việc tiến hành các hoạt động PCTN và cũng là điều kiện thuận lợi

để các nhà làm luật truyền tải ý chí của giai cấp cầm quyền thể chế hóa thành luật Nhận thức chính trị của các cơ quan, tổ chức, cá nhân có thẩm quyền ban hành pháp luật và thực hiện pháp luật PCTN và quyết tâm chính trị của họ là yếu tố quan trọng, nếu các chủ thể không có nhận thức, ý chí quyết tâm, không coi việc hoàn thiện pháp luật PCTN là trách nhiệm cao cả, là nhiệm vụ thiêng liêng, là sứ mệnh quan trọng của mình trước Đảng, trước nhân dân thì sẽ rất khó để nâng cao chất lượng của hoàn thiện pháp luật PCTN

1.2.5.2 Yếu tố kinh tế

TN là gắn liền với lợi ích kinh tế, do đó yếu tố kinh tế có ảnh hưởng không nhỏ tới hoàn thiện pháp luật PCTN

Chính sách tiền lương, chế độ đãi ngộ không bảo đảm cho cuộc sống và nhu cầu của đội ngũ CB, CC thì hành vi TN sẽ xuất hiện Vì vậy, nếu nhà nước có chính sách về mặt kinh tế tốt thì họ sẽ không phải tính toán, tìm cách trục lợi cá nhân trong quá trình thực thi công vụ của mình và chuyên tâm về việc hỗ trợ các nhà làm luật

Trang 29

đưa pháp luật PCTN vào thực hiện một cách nghiêm túc và cùng nhau hỗ trợ tìm ra những điều bất cập của luật nhằm sửa đổi bổ sung, hoàn thiện pháp luật PCTN Chính sách kinh tế minh bạch, khách quan, công bằng thì TN khó phát sinh; Ngược lại, nếu pháp luật, chính sách kinh tế không chặt chẽ, nhiều kẽ hở thì sẽ là mảnh đất màu mỡ để các hành vi TN phát triển Chính vì thế, để góp phần vào công cuộc hoàn thiện pháp luật PCTN thì các chủ trương, chính sách, pháp luật trong lĩnh vực kinh tế phải chặt chẽ, thống nhất

Như vậy, nếu nhà nước hài hòa được các lợi ích kinh tế thì sẽ hạn chế được các hành vi TN, tạo niềm tin cho công dân an tâm sát cánh cùng các cơ quan nhà nước trong hành trình đấu tranh PCTN, góp phần hoàn thiện pháp luật PCTN

1.2.5.3 Ý thức, tư duy của các chủ thể có thẩm quyền

“Ý thức pháp luật là điều kiện quan trọng để hình thành, phát triển và hoàn thiện hệ thống pháp luật.” [43]

Đổi mới mạnh mẽ hơn nữa tư duy trong xây dựng, sửa đổi, bổ sung thể chế, pháp luật và tổ chức thi hành pháp luật có vai trò rất quan trọng trong quá trình hoàn thiện pháp luật PCTN; chú trọng lấy ý kiến của các đối tượng chịu sự tác động trực tiếp của pháp luật PCTN; đối với các vấn đề lớn, phức tạp cần tư duy kịp thời xin ý kiến chỉ đạo của cơ quan có thẩm quyền; tăng cường kiểm tra, giám sát PCTN, giám sát tiêu cực, lợi ích nhóm trong xây dựng thể chế; Tiếp tục nghiên cứu, hiện đại hóa

kỹ thuật lập pháp, tăng cường ứng dụng công nghệ thông tin đối với công tác này

1.2.5.4 Yếu tố văn hóa, truyền thống dân tộc

Bằng lao động sáng tạo và ý chí đấu tranh kiên cường, người dân đã xây đắp nên một nền văn hoá kết tinh sức mạnh và in đậm dấu ấn bản sắc dân tộc, chứng minh sức sống mãnh liệt và sự trường tồn của dân tộc mình đó là: tinh thần yêu nước, lòng

tự hào dân tộc, sự đoàn kết, tính cộng đồng Những yếu tố văn hóa này nếu biết cách khơi gợi, khích lệ hợp lý sẽ có tác dụng tích cực đối với công tác đấu tranh PCTN Quá trình xây dựng pháp luật PCTN, nhiều quy phạm pháp luật được xác lập dựa trên cơ sở nền tảng của văn hóa dân tộc, yếu tố này tác động đến việc hoàn thiện pháp luật PCTN ở chỗ: pháp luật về PCTN là cơ sở pháp lý quan trọng để nuôi dưỡng các yếu tố văn hóa phát triển lành mạnh và là công cụ để bảo vệ những chuẩn mực

Trang 30

đạo đức, những ứng xử có văn hóa trong xã hội, là chuẩn mực để góp phần vào việc phòng ngừa, ngăn chặn và xử lý các trường hợp lợi dụng văn hóa ứng xử để thực hiện các hành vi TN

Như vậy, trong quá trình hoàn thiện pháp luật PCTN cũng cần đặc biệt quan tâm đến các yếu tố văn hóa, truyền thống dân tộc nhằm phát huy, bảo vệ giá trị văn hóa, ngăn chặn sự xâm nhập các luồng văn hóa độc hại từ trong và ngoài nước du nhập vào, xử lý nghiêm những cá nhân, tổ chức lợi dụng các ứng xử văn hóa để TN, làm hại đến lợi ích của dân tộc và đất nước

1.2.5.5 Yếu tố hội nhập quốc tế

Toàn cầu hóa và hội nhập là một đặc trưng cho sự phát triển kinh tế của thế giới Điều này có nghĩa là, các quan hệ xã hội quốc tế, các vấn đề pháp lý mang yếu tố nước ngoài sẽ ngày càng nhiều, phong phú, phức tạp hơn Trong bối cảnh TN và đấu tranh PCTN nhận được sự quan tâm đặc biệt của các quốc gia trên thế giới thì việc ban hành, sửa đổi, bổ sung các điều luật về PCTN là điều không tránh khỏi

Do đó, đòi hỏi cấp thiết là các cơ quan PCTN phải đổi mới để có thể thực hiện được đầy đủ và nghiêm chỉnh những cam kết quốc tế Hơn nữa, trong quá trình hội nhập, Việt Nam ngày càng có điều kiện tham gia các tổ chức quốc tế, giúp chúng ta

có điều kiện bắt nhịp xu hướng phát triển chung của thế giới; Mặt khác, đòi hỏi chúng

ta phải theo những quy định chung của các nước về TN

Như vậy, bối cảnh quốc tế và luật pháp quốc tế là yếu tố quan trọng tác động đến việc hoàn thiện pháo luật PCTN, để hội nhập sâu rộng đòi hỏi chúng ta phải cùng nhau hợp thức hóa các đạo luật, cùng nhau chung sức chống lại các tội phạm TN mang tính chất quốc tế

1.3 Kinh nghiệm lập pháp về PCTN và bài học kinh nghiệm

1.3.1 Kinh nghiệm lập pháp về PCTN của Trung Quốc

Pháp luật PCTN của Trung Quốc hiện nay hướng đến 4 tiêu chí (không dám

TN, không thể TN, không muốn TN, không cần TN)

Không dám TN: tập trung tác động vào tâm lý, dùng các biện pháp sự răn đe ngăn chặn ý chí và động cơ muốn thu lợi bất chính, khiến cho mọi cá nhân không dám và không có cơ hội TN Để tăng tính răn đe, Trung Quốc tập trung vào xây dựng,

Trang 31

củng cố ý chí chính trị vững vàng; Trừng trị TN một cách nghiêm khắc, triệt để; Tăng cường hợp tác quốc tế trong PCTN; Xây dựng một hệ thống giám sát TN chặt chẽ [21]

Không thể TN: Trung Quốc làm cho người nắm giữ quyền lực, có thẩm quyền không thể lợi dụng quyền lực để tiến hành TN được bằng các biện pháp kiểm soát quyền lực chặt chẽ như: phòng ngừa xung đột lợi ích, kê khai, công khai tài sản, thu nhập…

Không muốn TN: Trung Quốc thực hiện các biện pháp làm cho người có quyền lực, thẩm quyền mất đi động cơ muốn tiến hành hoạt động TN Để thực hiện được tiêu chí này, Trung Quốc thực thi 3 biện pháp là: Giáo dục pháp luật và sự liêm chính; Nâng cao đạo đức của các cán bộ, đảng viên; Giáo dục lòng yêu nước, ý thức cộng đồng

Không cần TN: TN do nhiều nguyên nhân, trong đó có nguyên nhân nhu cầu thiết yếu của cuộc sống gặp khó khăn dẫn tới CBCC suy nghĩ nhiều cách TN Vì vậy, Trung Quốc đã thực hiện hoàng loạt giải pháp để đội ngũ CBCC yên tâm làm việc

1.3.2 Kinh nghiệm lập pháp về PCTN của Singapore

PCTN gồm 4 yếu tố dưới đây:

Thứ nhất, những đạo luật tốt: các quy định của pháp luật chặt chẽ, toàn diện là

có ý nghĩa lớn để phòng ngừa và xử lý những hành vi lạm dụng quyền lực công để thu lợi riêng, đạo luật chính trong lĩnh vực này là Luật PCTN (Prevention of Corruption Act – PCA) Luật này quy định các hành vi TN và tổ chức, hoạt động của

cơ quan PCTN là CPIB.[3]

Thứ hai, cơ quan PCTN mạnh: ở nước này Cục điều tra TN (CPIB) là cơ quan

quyền lực duy nhất được trao quyền điều tra các hành vi TN Cơ quan có tính độc lập gần như tuyệt đối trong hoạt động PCTN, có thể điều tra bất kì CBCC, cơ quan HCNN, cá nhân hay công ty nào, cho dù những đối tượng đó có địa vị và quyền lực như thế nào

Thứ ba, xử lý vi phạm nghiêm minh: các vụ án TN được tòa án xử lý một nghiêm

minh, công khai, minh bạch dưới sự giám sát của nhân dân Các tiêu chuẩn về tố tụng,

Trang 32

dân chủ đều được áp dụng và tôn trọng, tòa án Singapore luôn nghiêm khắc với những tội phạm, hành vi TN

Thứ tư, bộ máy công vụ liêm chính: đất nước này đã bộ máy HCNN tinh gọn

dựa trên những quy tắc và tập quán liêm chính Hệ thống công vụ là cơ sở để kiểm soát quyền lực của đội ngũ CBCC, hệ thống công việc công chức phải làm và không được làm

1.3.3 Bài học kinh nghiệm cho Việt Nam

Thứ nhất, kiểm soát chặt chẽ quyền lực của các cơ quan có thẩm quyền PCTN,

bởi đây là các cơ quan nắm giữ quyền lực lớn trong cuộc chiến chống TN Do tính chất làm việc tương đối khép kín của các cơ quan của Đảng, lại thêm việc được giao

quyền lực lớn, khả năng lạm dụng quyền lực trong các cơ quan PCTN là khá cao, bên

cạnh đó quyết liệt chống TN song vẫn phải dựa trên các nguyên tắc pháp quyền và phải tôn trọng, bảo đảm hài hòa với các tiêu chuẩn nhân quyền được cả cộng đồng quốc tế thừa nhận

Thứ hai, thành lập cơ quan chuyên trách duy nhất chống TN, tập trung quyền

lực tránh phân tán quyền lực, cơ quan đó trực thuộc Thủ tướng và có chức năng, nhiệm vụ chống lại tất cả các hành vi TN từ trung ương đến địa phương

Thứ ba, thực hiện tối ưu việc tinh gọn nhẹ bộ máy HCNN, đây là yêu tố đầu

tiên làm giảm tải số lượng CBCC tham gia vào hành chính và làm trong sạch bộ máy HCNN hơn

Thứ tư, xây dựng một hệ thống luật pháp chặt chẽ và thực hiện một cách nghiêm

minh kết hợp cùng đội ngũ CBCC có tâm và có tầm sẽ tạo nên sức mạnh tổng thể ngăn chặn mọi hành vi TN

Thứ năm, hoạch định hợp lý chính sách tiền lương và chính sách đãi ngộ đối

với CBCC hợp lý sẽ kiểm soát được vấn đề TN, chúng ta có thể học hỏi từ Singapore

Trang 33

Tiểu kết chương 1

Chương 1, luận văn đã làm rõ cơ sở lý luận của pháp luật về PCTN và hoàn

thiện pháp luật PCTN đáp ứng yêu cầu nhà nước pháp quyền XHCN Trong đó nêu

một cách rõ ràng, cụ thể các khái niệm, đặc điểm, vai trò, nội dung, tiêu chí đánh giá,

các yếu tố ảnh hưởng, kinh nghiệm từ các nước về hoàn thiện pháp luật PCTN

Đây chính là cơ sở để tác giả đánh giá thực trạng pháp luật PCTN ở Việt Nam tại chương 2

Trang 34

CHƯƠNG 2 THỰC TRẠNG PHÁP LUẬT PHÒNG, CHỐNG THAM NHŨNG Ở VIỆT NAM

2.1 Quy định pháp luật về phòng, chống tham nhũng

2.1.1 Quy định pháp luật về phòng ngừa tham nhũng

Quy định pháp luật về phòng ngừa TN theo Luật PCTN năm 2018:

Một là, quy định về thực hiện công khai, minh bạch trong hoạt động của các cơ quan, đơn vị, tổ chức để phòng ngừa tham nhũng

Nguyên tắc công khai, minh bạch đã được quy định là: “phải bảo đảm chính

xác, rõ ràng, đầy đủ, kịp thời theo trình tự, thủ tục do cơ quan, tổ chức, đơn vị có thẩm quyền quy định và phù hợp với quy định của pháp luật.” [21]

Để khắc phục những thiếu sót của quy định PCTN cũ, Luật 2018 đã quy định chặt chẽ hơn trong việc công khai, minh bạch, quy định chung cho tất cả các cơ quan HCNN phải tiến hành nội dung này chính xác nhất, tất cả vấn đề công khai, minh bạch phải rõ ràng, đầy đủ, tránh chậm trễ Bên cạnh đó phải thực hiện đúng quy trình theo quy định của đơn vị có thẩm quyền và của luật Do đó, có thể thấy việc bổ sung thêm nguyên tắc này có ý nghĩa rất lớn trong việc hạn chế các đơn vị, cá nhân có thẩm quyền lợi dụng để công khai, minh bạch mập mờ, thiếu sót nội dung và sai quy trình làm giảm hiệu quả công tác phòng ngừa TN

Thêm vào đó nội dung công khai, minh bạch cũng được quy định gói gọn trong Điều 10 của Chương 2 luật PCTN, nội dung công khai, minh bạch không còn đi sâu vào các lĩnh vực khác nhau vì sẽ có các luật chuyên ngành quy định cụ thể cả nội dung, trình tự, thủ tục Luật 2018 đã nhìn nhận và khắc phục các vấn đề liên quan đến chồng chéo, mâu thuẫn trong mối quan hệ giữa pháp luật PCTN với các bộ luật chuyên ngành khác

Hình thức công khai được bổ sung thêm họp báo, đây là điểm mới của Luật, theo quy định của pháp luật hiện hành, báo chí được bổ sung vào bộ luật giúp cho dư luận theo dõi, phát hiện những vụ việc TN, tiêu cực; Ví dụ như thông qua họp báo có thể truyền tải thông tin về công tác PCTN đến người dân Việc bổ sung thêm quy

Ngày đăng: 08/02/2023, 21:57

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
2. Công ước năm 2003 chống tham nhũng (Việt Nam ký 10.12.2003, có hiệu lực từ 18.9.2009) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Công ước năm 2003 chống tham nhũng
Năm: 2003
3. Đảng Cộng sản Việt Nam (1991), “Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VII”, Nxb Sự thật, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VII
Tác giả: Đảng Cộng sản Việt Nam
Nhà XB: Nxb Sự thật
Năm: 1991
4. Đảng Cộng sản Việt Nam (2021), “Văn kiện đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII”, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, tập 2, tr.145 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn kiện đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII
Tác giả: Đảng Cộng sản Việt Nam
Nhà XB: Nxb Chính trị quốc gia
Năm: 2021
5. Đảng Cộng sản Việt Nam (2021), “Văn kiện đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII”, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, Sđd, tr.146 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn kiện đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII
Tác giả: Đảng Cộng sản Việt Nam
Nhà XB: Nxb Chính trị quốc gia
Năm: 2021
6. Đảng Cộng sản Việt Nam (2021), “Văn kiện đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII”, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, Sđd, tr.147 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn kiện đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII
Tác giả: Đảng Cộng sản Việt Nam
Nhà XB: Nxb Chính trị quốc gia
Năm: 2021
9. Hoàng Thị Kim Quế (2008), “Tham nhũng – những khía cạnh xã hội, pháp lý và các giải pháp phòng, chống trong giai đoạn hiện nay ở nước ta”, Đề tài nghiên cứu cấp Đại học Quốc Gia Hà Nội, 2008 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tham nhũng – những khía cạnh xã hội, pháp lý và các giải pháp phòng, chống trong giai đoạn hiện nay ở nước ta
Tác giả: Hoàng Thị Kim Quế
Nhà XB: Đề tài nghiên cứu cấp Đại học Quốc Gia Hà Nội
Năm: 2008
10. Hồ Chí Minh (1995), “Toàn tập, tập 6”, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Toàn tập, tập 6
Tác giả: Hồ Chí Minh
Nhà XB: Nxb Chính trị quốc gia
Năm: 1995
11. Lý Văn Kỳ (2016), "Nâng cao chất lượng công tác tham mưu trong phòng, chống tham nhũng ở tỉnh Bắc Kạn của Ban Nội chính, giai đoạn 2016-2020", Đề tài nghiên cứu khoa học cấp cơ sở, Học viện Chính trị khu vực I, Hà Nội, 2016 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nâng cao chất lược công tác tham mưu trong phòng, chống tham nhũng ở tỉnh Bắc Kạn của Ban Nội chính, giai đoạn 2016-2020
Tác giả: Lý Văn Kỳ
Nhà XB: Học viện Chính trị khu vực I
Năm: 2016
12. Nguyễn Duy Hiền (2001), "Đổi mới tư duy pháp lý đấu tranh chống tham nhũng" , Luận văn Thạc sĩ Luật học, Học viện Hành chính Quốc gia Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đổi mới tư duy pháp lý đấu tranh chống tham nhũng
Tác giả: Nguyễn Duy Hiền
Nhà XB: Học viện Hành chính Quốc gia
Năm: 2001
14. Nguyễn Quốc Văn (2017), “Phòng chống tham nhũng trong xây dựng pháp luật ở Việt Nam”, Đề tài khoa học cấp bộ, Phó Vụ trưởng Vụ Pháp chế, Thanh tra Chính phủ làm chủ nhiệm, 2017 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phòng chống tham nhũng trong xây dựng pháp luật ở Việt Nam
Tác giả: Nguyễn Quốc Văn
Nhà XB: Đề tài khoa học cấp bộ
Năm: 2017
16. Nguyễn Thị Thu Nga (2019), "Chính sách phòng, chống tham nhũng ở Việt Nam hiệu nay", Luận văn Tiến sĩ chính sách công, Học viện Khoa học Xã hội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Chính sách phòng, chống tham nhũng ở Việt Nam hiệu nay
Tác giả: Nguyễn Thị Thu Nga
Nhà XB: Học viện Khoa học Xã hội
Năm: 2019
19. Phạm Trọng Đạt (2013), “Kiểm soát thu nhập của người có chức vụ, quyền hạn”, Đề tài cấp bộ, Thanh tra Chính phủ Sách, tạp chí
Tiêu đề: Kiểm soát thu nhập của người có chức vụ, quyền hạn
Tác giả: Phạm Trọng Đạt
Nhà XB: Thanh tra Chính phủ
Năm: 2013
20. Quốc Hội (2005), “Luật Phòng, chống tham nhũng”, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Luật Phòng, chống tham nhũng
Tác giả: Quốc Hội
Nhà XB: Nxb Chính trị quốc gia
Năm: 2005
21. Quốc Hội (2016), “Luật tiếp cận thông tin”, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Luật tiếp cận thông tin
Tác giả: Quốc Hội
Nhà XB: Nxb Chính trị quốc gia
Năm: 2016
22. Quốc Hội (2018), “ Khoản 2 điều 9 Luật phòng, chống tham nhũng năm 2018”, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Khoản 2 điều 9 Luật phòng, chống tham nhũng năm 2018
Tác giả: Quốc Hội
Nhà XB: Nxb Chính trị quốc gia
Năm: 2018
23. Quốc Hội (2018), “ Khoản 2, điều 20 Luật phòng, chống tham nhũng năm 2018”, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Khoản 2, điều 20 Luật phòng, chống tham nhũng năm 2018
Tác giả: Quốc Hội
Nhà XB: Nxb Chính trị quốc gia
Năm: 2018
24. Quốc Hội (2018), “Căn cứ khoản 1 điều 14 Luật phòng, chống tham nhũng năm 2018”, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Căn cứ khoản 1 điều 14 Luật phòng, chống tham nhũng năm 2018
Tác giả: Quốc Hội
Nhà XB: Nxb Chính trị quốc gia
Năm: 2018
25. Quốc Hội (2018), “Điểm e, khoản 2, điều 20 Luật phòng, chống tham nhũng năm 2018”, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Điểm e, khoản 2, điều 20 Luật phòng, chống tham nhũng năm 2018
Tác giả: Quốc Hội
Nhà XB: Nxb Chính trị quốc gia
Năm: 2018
26. Quốc Hội (2018), “Điều 59 Luật phòng, chống tham nhũng năm 2018”, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Điều 59 Luật phòng, chống tham nhũng năm 2018
Tác giả: Quốc Hội
Nhà XB: Nxb Chính trị quốc gia
Năm: 2018
27. Quốc Hội (2018), “Điều 62 Luật phòng, chống tham nhũng năm 2018”, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Điều 62 Luật phòng, chống tham nhũng năm 2018
Tác giả: Quốc Hội
Nhà XB: Nxb Chính trị quốc gia
Năm: 2018

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm