Luận văn Thạc sỹ Kinh tế DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT RRTD Rủi ro tín dụng NHTM Ngân hàng thương mại NHNN Ngân hàng Nhà nước TSĐB Tài sản đảm bảo Maritime Bank Ngân hàng Thương mại cổ phần Hàng Hải Việt N[.]
Trang 2LỜI MỞ ĐẦU
1 Sự cần thiết của đề tài
Hiện nay ở Việt Nam, các Ngân hàng thương mại đang phải chịu áp dụng lực
từ cuộc khủng hoảng tín dụng toàn cầu Sự sụp đổ của hệ thống tài chính Mỹ vàChâu Âu là bài học cảnh báo về chất lượng kiểm soát rủi ro tín dụng trong hệ thốngcác ngân hàng thương mại Đứng trước tình hình đó, đòi hỏi các ngân hàng thươngmại Việt Nam trong đó có Ngân hàng Thương mại cổ phần Hàng Hải Việt Namcàng phải nâng cao công tác kiểm soát rủi ro tín dụng, hạn chế đến mức thấp nhấtnhững nguy cơ tiềm ẩn gây nên rủi ro
Bên cạnh đó, trước những thời cơ và thách thức của tiến trình hội nhập kinh
tế quốc tế, vấn đề nâng cao khả năng cạnh tranh của các ngân hàng thương mạitrong nước với các ngân hàng thương mại nước ngoài, mà cụ thể là nâng cao chấtlượng tín dụng, giảm thiểu rủi ro đã trở nên cấp thiết Mặt khác hoạt động tín dụngcũng tiềm ẩn nhiều rủi ro, bởi vậy các ngân hàng muốn tồn tại, phát triển thì cầnphải có những giải pháp nhằm nâng cao chất lượng công tác kiểm soát rủi ro tíndụng thích hợp
Xuất phát từ thực tế đó, việc nghiên cứu các giải pháp nhằm nâng cao chất
lượng công tác kiểm soát rủi ro tín dụng là hết sức cần thiết Do vậy, đề tài “Quản
lý rủi ro tín dụng tại Ngân hàng Thương mại cổ phần Hàng Hải Việt Nam – Chi nhánh Hà Nội” được lựa chọn để nghiên cứu.
2 Mục đích nghiên cứu của đề tài
- Nghiên cứu những vấn đề lý thuyết cơ bản về rủi ro tín dụng và quản lý
rủi ro tín dụng của ngân hàng thương mại
- Phân tích, đánh giá thực trạng công tác quản lý rủi ro tín dụng của Ngân
hàng Thương mại cổ phần Hàng Hải Việt Nam – Chi nhánh Hà Nội
- Đề xuất một số giải pháp quản lý rủi ro tín dụng tại Ngân hàng Thương
mại cổ phần Hàng Hải Việt Nam – Chi nhánh Hà Nội
Trang 33 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
- Đối tượng: Nghiên cứu rủi ro tín dụng và quản lý rủi ro tín dụng của ngân
hàng thương mại
- Phạm vi: Nghiên cứu hoạt động quản lý rủi ro tín dụng tại Ngân hàng
Thương mại cổ phần Hàng Hải Việt Nam – Chi nhánh Hà Nội từ năm 2007 đếnnăm 2009
4 Phương pháp nghiên cứu
Các phương pháp chủ yếu được sử dụng trong quá trình thực hiện luận vănbao gồm:
- Chương 1: Lý luận chung về tín dụng và quản lý rủi ro tín dụng
- Chương 2: Thực trạng quản lý rủi ro tín dụng tại Ngân hàng Thương mại
cổ phần Hàng Hải Việt Nam – Chi nhánh Hà Nội giai đoạn 2007 – 2009
- Chương 3: Giải pháp quản lý rủi ro tín dụng tại Ngân hàng thương mại cổ
phần Hàng Hải Việt Nam – Chi nhánh Hà Nội trong thời gian tới
Trang 4CHƯƠNG 1
LÝ LUẬN CHUNG VỀ TÍN DỤNG VÀ QUẢN LÝ RỦI RO
TÍN DỤNG
1.1 Tín dụng ngân hàng
1.1.1 Khái niệm tín dụng ngân hàng
Tín dụng là một hoạt động quan trọng của ngân hàng thương mại, theo đó ngân hàng chuyển một lượng tiền cho khách hàng với điều kiện khách hàng hoàn trả cả gốc và lãi đúng hạn theo cam kết trong hợp đồng tín dụng.
Trong nền kinh tế thị trường, đại bộ phận quỹ cho vay tập trung qua ngânhàng và từ đó đáp ứng nhu cầu vốn bổ sung cho các doanh nghiệp và cá nhân Tíndụng ngân hàng không những chỉ đáp ứng nhu cầu vốn ngắn hạn để bổ sung vốnlưu động cho các doanh nghiệp và cá nhân mà còn tham gia cấp tín dụng trung, dàihạn cho các dự án đầu tư xây dựng cơ bản, cải tiến đổi mới kỹ thuật góp phần mởrộng sản xuất kinh doanh và nâng cao hiệu quả sử dụng vốn; ngoài ra tín dụng ngânhàng còn phục vụ cho nhu cầu tiêu dùng cá nhân
Như vậy, tín dụng ngân hàng là hình thức tín dụng chủ yếu trong nền kinh tếthị trường, nó đáp ứng nhu cầu về vốn cho mọi thành phần kinh tế một cách linhhoạt và kịp thời Đối với ngân hàng, tín dụng là hoạt động kinh doanh truyền thốngbên cạnh hoạt động huy động vốn, chiếm tỷ trọng lớn nhất trên bảng tổng kết tài sản
và đem lại phần lớn lợi nhuận cho ngân hàng
1.1.2 Phân loại tín dụng
Các khoản vay của ngân hàng có thể được phân loại theo nhiều tiêu thứckhác nhau Tuỳ thuộc vào mục đích nghiên cứu mà người ta có thể phân loại tíndụng ngân hàng theo hình thức cấp tín dụng, theo thời hạn trong quan hệ tín dụng,theo tính chất bảo đảm hoặc theo thành phần kinh tế, cụ thể như sau:
1.1.2.1 Phân loại theo thời gian
Trang 5- Tín dụng ngắn hạn: Là loại hình cho vay có thời hạn đến 12 tháng để bù
đắp sự thiếu hụt vốn lưu động của doanh nghiệp và nhu cầu chi tiêu ngắn hạn của cánhân
- Tín dụng trung hạn: Là loại hình cho vay có thời hạn từ trên 12 tháng đến
60 tháng Tín dụng trung hạn chủ yếu được sử dụng để đầu tư mua sắm tài sản cốđịnh, cải tiến hoặc đổi mới thiết bị, công nghệ, mở rộng sản xuất kinh doanh, xâydựng các dự án mới có quy mô nhỏ và thời gian thu hồi vốn nhanh…
- Tín dụng dài hạn: Là loại hình cho vay có thời hạn từ trên 60 tháng Tín
dụng dài hạn được cung cấp để đáp ứng các nhu cầu dài hạn như xây dựng nhà ở,
các thiết bị, phương tiện vận tải có quy mô lớn, xây dựng các xí nghiệp mới
1.1.2.2 Phân loại theo hình thức cấp tín dụng
- Cho vay: Là việc ngân hàng đưa tiền cho khách hàng với cam kết khách
hàng phải hoàn trả cả gốc và lãi trong khoảng thời gian xác định, gồm các hìnhthức cho vay chủ yếu như cho vay từng lần, cho vay theo hạn mức, cho vay luânchuyển, cho vay trả góp, cho vay thấu chi
- Chiết khấu thương phiếu: Là việc ngân hàng ứng trước tiền cho khách
hàng tương ứng với giá trị của thương phiếu trừ đi phần thu nhập của ngân hàng để
sở hữu một thương phiếu chưa đến hạn (hoặc một giấy nợ) Về mặt đpháp lý, ngânhan không phải đã cho chủ thương phiếu vay, đây chỉ là hình thức trao đổi tráiquyền Tuy nhiên, đối với ngân hàng, việc bỏ tiền ra hiện tại để thu về một khoảnlớn hơn trong tương lai với lãi suất xác định trước được coi như là hoạt động tíndụng Ngân hàng tuy ứng trước tiền cho người bán, song thực chất là thay thế ngườimua trả tiền trước cho người bán
- Cho thuê tài sản: Trong nhiều trường hợp khách hàng không đủ điều kiện
vay để mua tài sản, ngân hàng đã mua các tài sản theo yêu cầu của khách hàng đểcho khách hàng thuê Tài sản vẫn thuộc sở hữu của ngân hàng nên ngân hàng có thểthu hồi để bán hoặc cho người khác thuê khi người thuê không trả được nợ
- Bảo lãnh: Là cam kết của ngân hàng dưới hình thức thư bảo lãnh về việc
thực hiện nghĩa vụ tài chính thay cho khách hàng của ngân hàng khi khách hàng
Trang 6không thực hiện đúng nghĩa vụ như cam kết Bảo lãnh có các hình thức sau: Bãolãnh đảm bảo tham gia dự thầu, Bảo lãnh thực hiện hợp đồng, Bảo lãnh đảm bảohoàn trả tiền ứng trước, Bão lãnh đảm bảo hoàn trả vốn vay, Bảo lãnh đảm bảothanh toán…
1.1.2.3 Phân loại theo hình thức bảo đảm
Tài sản đảm bảo của khoản tín dụng cho phép ngân hàng có được nguồn thu
nợ thứ hai bằng cách bán các tài sản đó khi nguồn thu nợ thứ nhất (từ quá trình sảnxuất kinh doanh) không có hoặc không đủ
Tín dụng có thể chia thành tín dụng có bảo đảm bằng uy tín của chính kháchhàng (hay tín dụng không có TSĐB) và tín dụng có bảo đảm bằng thế chấp, cầm cốtài sản
- Tín dụng không có TSĐB có thể được cấp cho các khách hàng có uy tín,
thường là khách hàng có quan hệ thường xuyên có lãi, tình hình tài chính vữngmạnh, luôn trả nợ đầy đủ, đúng hạn; hoặc đối với các khoản cho vay theo chỉ địnhcủa Chính phủ cũng thường không có TSĐB
- Tín dụng dựa trên cam kết bảo đảm yêu cầu ngân hàng và khách hàng
phải ký hợp đồng bảo đảm Theo đó, ngân hàng phải kiểm tra, đánh giá được tìnhtrạng của TSĐB (quyền sở hữu, giá trị, tính thị trường, khả năng thanh khoản, khảnăng tài chính của người thứ ba…), có khả năng giám sát việc sử dụng hoặc có khảnăng bảo quản TSĐB
1.1.2.4 Phân loại theo rủi ro
Để phân loại theo tiêu thức này, ngân hàng cần nghiên cứu các mức độ, cáccăn cứ để chia loại rủi ro Một số ngân hàng lớn chia tới 10 thang bậc rủi ro theo cácdấu hiệu rủi ro từ thấp đến cao cho các khoản mục tài sản, bao gồm cả nội bảng vàngoại bảng, cho vay, bảo lãnh, chứng khoán Cách phân loại này giúp ngân hàngthường xuyên đánh giá lại tính an toàn của các khoản tín dụng, trích lập dự phòngtổn thất kịp thời
- Nợ đủ tiêu chuẩn: bao gồm các khoản nợ được đánh giá là có khả năng thu
Trang 7- Nợ cần chú ý: bao gồm các khoản nợ được đánh giá là có khả năng thu hồi
nợ gốc và lãi nhưng có dấu hiệu khách hàng suy giảm khả năng trả nợ
- Nợ dưới tiêu chuẩn: bao gồm các khoản nợ được đánh giá là không có khả
năng thu hồi nợ gốc và lãi đúng hạn
- Nợ nghi ngờ: bao gồm các khoản nợ được đánh giá là có khả năng tổn thất
cao
- Nợ có khả năng mất vốn: bao gồm các khoản nợ được đánh giá là không
có khả năng thu hồi, mất vốn
1.2 Rủi ro tín dụng
1.2.1 Khái niệm rủi ro tín dụng
Rủi ro tín dụng gắn liền với hoạt động quan trọng nhất của NHTM - hoạtđộng tín dụng Các khoản cho vay thường chiếm tỷ trọng lớn nhất trong tổng tài sản
có của NHTM, mang lại phần lớn thu nhập cho ngân hàng, song cũng tiềm ẩn rủi rolớn
Rủi ro tín dụng là khả năng xảy ra những tổn thất ngoài dự kiến mà ngân hàng phải gánh chịu do khách hàng vay không trả đầy đủ vốn và lãi hoặc trả không đúng hạn hoặc không trả.
Như vậy, RRTD là khả năng khách hàng không trả, hoặc không trả đầy đủ,hoặc không trả đúng hạn gốc và lãi cho ngân hàng Nói một cách khác, RRTD là rủi
ro mà bên vay trong một giao dịch không thực hiện được đúng các cam kết của hợpđồng tín dụng làm cho người cho vay phải gánh chịu tổn thất tài chính RRTD là rủi
ro phức tạp nhất, quản lý và phòng ngừa khó khăn nhất, nó đòi hỏi ngân hàng phải
có những giải pháp đồng bộ, hữu hiệu mới có thể hạn chế, ngăn ngừa bớt rủi ro,giảm tối thiểu những thiệt hại có thể xảy ra
Ngày nay, mặc dù có rất nhiều hình thức kinh doanh mới trong hoạt độngngân hàng ở nhiều lĩnh vực khác nhau, nhưng tín dụng vẫn là hoạt động kinh doanhchủ yếu của các ngân hàng; do vậy, RRTD luôn là vấn đề được đặc biệt quan tâmtrong hoạt động của các ngân hàng Các ngân hàng luôn tìm cực đại lợi nhuận quaviệc tìm kiếm lợi tức cao nhất có thể ở các món vay và chứng khoán, đồng thời cố
Trang 8gắng giảm thiểu rủi ro liên quan đến hoạt động cho vay, như sàng lọc và giám sátkhách hàng vay, thiết lập mối quan hệ khách hàng lâu dài, quy định các mức tíndụng, TSĐB và hạn chế tín dụng.
1.2.2 Đặc trưng của rủi ro tín dụng
1.2.2.1 Rủi ro tín dụng là tất yếu, khách quan
Trước khi cho vay, ngân hàng cố gắng phân tích các yếu tố của người vaysao cho độ an toàn là cao nhất Nhìn chung, ngân hàng chỉ quyết định cho vay khithấy rằng RRTD sẽ không xảy ra Tuy nhiên, không phải bao giờ ngân hàng cũng
dự tính chính xác các vấn đề sẽ xảy ra Khả năng hoàn trả tiền vay của khách hàng
có thể bị thay đổi do nhiều nguyên nhân Nhiều trường hợp cán bộ tín dụng ngânhàng không có khả năng thực hiện phân tích tín dụng thích đáng Mặt khác dokhông thể có được thông tin cân xứng về việc sử dụng vốn vay cho hoạt động kinhdoanh của khách hàng đi vay (người trực tiếp sử dụng tiền vay trong một khoảngthời gian dài), bất cứ một khoản cho vay nào cũng tiềm ẩn những nguy cơ rủi ro đốivới ngân hàng (không thu hồi vốn, thu hồi không đúng hạn, không đầy đủ…) Dovậy trên quan điểm quản lý, RRTD là không thể tránh khỏi, là khách quan Nhiềuquan điểm nhất trí rằng, RRTD là bạn đường trong kinh doanh, có thể đề phòng,hạn chế, chứ không thể loại trừ
1.2.2.2 Rủi ro tín dụng có tính chất đa dạng, phức tạp
Tính chất đa dạng, phức tạp của RRTD biểu hiện rõ nhất ở các hình thứcphân chia của RRTD RRTD bao gồm rủi ro giao dịch và rủi ro danh mục
Rủi ro giao dịch là rủi ro phát sinh trong quá trình ngân hàng xét duyệt và
cho vay, nó bao gồm rủi ro lựa chọn, rủi ro bảo đảm và rủi ro nghiệp vụ Rủi ro lựachọn là rủi ro liên quan đến hoạt động thẩm định và phân tích tín dụng Rủi ro bảođảm là rủi ro xuất phát từ các tiêu chuẩn bảo đảm của khoản tín dụng như các điềukhoản trong hợp đồng tín dụng, các loại TSĐB và mức độ an toàn của TSĐB Rủi
ro nghiệp vụ là những rủi ro liên quan tới các quá trình thao thác nghiệp vụ tín dụng
từ việc xây dựng và thực hiện các chính sách tín dụng, xem xét và quản lý danh
Trang 9Rủi ro danh mục bao gồm rủi ro nội tại và rủi ro tập trung Rủi ro nội tại chi
xuất phát từ những đặc điểm riêng biệt của chủ thể đi vay hay cua ngành kinh tế.Rủi ro tập trung là rủi ro xảy ra khi mức dư nợ của ngân hàng tập trung vào một sốkhách hàng, một số ngành kinh tế, một khu vực địa lý hoặc một số hình thức chovay
Như vậy, có thể thấy RRTD có thể phát sinh từ rất nhiều khâu trong quátrình cấp tín dụng với tính chất đa dạng và phức tạp
1.2.2.3 Rủi ro tín dụng có khả năng tạo phản ứng dây chuyền
Không chỉ là vấn đề quan trọng của hệ thống ngân hàng trong nước, RRTDcòn là mối quan tâm lớn của các hệ thống ngân hàng thế giới bởi một đặc tính quantrọng của RRTD là nó có tính lan truyền nhanh Hoạt động ngân hàng không chỉgiới hạn trong một nước mà nó còn có mối liên kết ra ngoài lãnh thổ Như vậy, khi
có RRTD xảy ra thì không những các ngân hàng trong nước bị ảnh hưởng mà cácngân hàng nước ngoài cũng bị ảnh hưởng theo, mức độ ảnh hưởng thấp hơn hoặc cóthể cao hơn
Điển hình vừa qua là cuộc khủng hoảng tài chính tiền tệ năm 1997 bắt đầu ởThái Lan không những làm tê liệt hệ thống ngân hàng của các nước trong khu vực
và còn ảnh hưởng tới các cường quốc có nền kinh tế mạnh như Mỹ, Nhật Bản…Năm 2007, cuộc khủng hoảng trên thị trường cho vay nhà đất dưới tiêu chuẩn ở Mỹ
đã tác động tiêu cực đến thị trường tài chính thế giới Hàng loạt các định chế tàichính ở Mỹ đã công bố những tổn thất nặng nề mà họ phải gánh chịu xuất phát từhậu quả của cuộc khủng hoảng này gây nên Hơn thế nữa, cuộc khủng hoảng này đãlan rộng sang một số nước khu vực Châu Âu và Châu Á… Một số ngân hàng lớn ởcác quốc gia này cũng lâm vào tình trạng khủng hoảng tương tự
Trang 101.2.3 Nguyên nhân dẫn đến rủi ro tín dụng
1.2.3.1 Nguyên nhân khách quan
Trong các nguyên nhân gây ra RRTD cho ngân hàng thì nhóm nguyên nhânkhách quan là những nguyên nhân khó phòng tránh nhất thậm chí là bất khả kháng.Những nguyên nhân này thường không trực tiếp ảnh hưởng tới hoạt động kinhdoanh của ngân hàng nhưng nó lại có ảnh hưởng tới hoạt động của các doanhnghiệp, các khách hàng của ngân hàng, từ đó gián tiếp ảnh hưởng đến ngân hàng.Các nguyên nhân khách quan bao gồm:
- Môi trường tự nhiên
Những biến động lớn về thời tiết, khí hậu gây ảnh hưởng tới hoạt động sảnxuất kinh doanh đặc biệt là lĩnh vực sản xuất nông nghiệp, điều kiện tự nhiên là yếu
tố khó dự đoán, nó thường xảy ra bất ngờ với thiệt hại lớn nằm ngoài tầm kiểm soátcủa con người Vì vậy khi có thiên tai, địch hoạ xảy ra khách hàng cùng ngân hàng
sẽ có nguy cơ tổn thất lớn, phương án kinh doanh không có nguồn thu… điều đóđồng nghĩa với việc ngân hàng phải cùng chia sẻ rủi ro với khách hàng của mình
- Môi trường kinh tế
Là một tế bào trong nền kinh tế, sự tồn tại và phát triển của ngân hàng cũngnhư doanh nghiệp chịu ảnh hưởng rất nhiều của môi trường kinh tế Sự biến độngcủa nền kinh tế tốt hay xấu sẽ tác động tới hiệu quả hoạt động của ngân hàng vàdoanh nghiệp biến động theo chiều hướng tương tự Những tác động do môi trườngkinh tế gây ra có thể là trực tiếp với ngân hàng (ví dụ: những rủi do thay đổi tỷ giá,lãi suất, lạm phát làm cho ngân hang bị thiệt về thu nhập) hoặc gián tiếp tác độngxấu đến hiệu quả kinh doanh của doanh nghiệp đều có thể là nguyên nhân dẫn đếnRRTD Trong giai đoạn kinh tế phát triển, người vay hoạt động hiệu quả nhưngtrong giai đoạn khủng hoảng kinh tế, khả năng trả nợ của người vay sẽ bị giảm sút,làm gia tăng RRTD cho ngân hàng
- Sự quản lý vĩ mô của Nhà nước
Trang 11Mỗi một sự thay đổi về cơ chế chính sách của Nhà nước đều có thể tác độngtới hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp và ngân hàng Chính sách kinh tế vĩ mô
ổn định sẽ giúp cho hoạt động của doanh nghiệp ít bị biến động, do vậy mà việc dựbáo về tình hình tài chính, kinh doanh của khách hàng cũng thuận lợi hơn cho ngânhàng Ngược lại, chính sách kinh tế vĩ mô không ổn định thì ngân hàng rất khó cóthể phân tích, dự báo chính xác hoạt động kinh doanh, tài chính của khách hàngtrong tương lai cũng như khó có thể lường trước được những rủi ro khách hàng phảiđối mặt, do vậy ngân hàng không thể đánh giá đúng khả năng trả nợ của khách hàng
trong tương lai, và sẽ tiềm ẩn rủi ro khi cấp tín dụng cho khách hàng
- Nguyên nhân từ phía khách hàng vay vốn
Nguyên nhân từ phía khách hàng là một trong những nguyên nhân chính và
cổ điển nhất gây ra RRTD, bao gồm những nguyên nhân sau:
Khách hàng yếu kém trong quản lý, đặc biệt là quản lý tài chính: Trường
hợp người vay có trình độ yếu kém về quản lý, không tính toán kỹ lưỡng hoặckhông có khả năng tính toán kỹ lưỡng những bất trắc có thể xảy ra, không có khảnăng thích ứng và khắc phục khó khăn trong kinh doanh sẽ dẫn tới vốn vay khôngđược sử dụng hiệu quả Ngoài ra, việc yếu kém trong quản lý tài chính có thể dẫntới trường hợp dù dự án hay quá trình sản xuất kinh doanh có hiệu quả song nguồntrả nợ ngân hàng sẽ không được đảm bảo Như vậy, doanh nghiệp không có khảnăng hoàn trả nợ gốc và lãi đầy đủ, đúng hạn cho ngân hàng
Khách hàng gặp rủi ro trong hoạt động sản xuất kinh doanh: Khi người vay
gặp những rủi ro từ thị trường (ví dụ nhu cầu về loại sản phẩm của doanh nghiệp bấtngờ giảm sút do một số thông tin bất lợi), từ bạn hàng (ví dụ doanh nghiệp bị bạnhàng chiếm dụng vốn và không hoàn trả đúng thời hạn quy định) hoặc từ những rủi
ro không dự kiến được tác động đến nguồn thu của doanh nghiệp và khả năng trả nợngân hàng
Trang 12Khách hàng chủ định lừa đảo ngân hàng: Trường hợp này người vay kinh
doanh có lãi song vẫn không trả nợ cho ngân hàng đúng hạn hoặc không muốn trả
nợ ngân hàng Họ chây ì với hy vọng có thể quỵt nợ hoặc sử dụng vốn vay càng lâucàng tốt
1.2.3.2 Nguyên nhân chủ quan
- Quan điểm của lãnh đạo điều hành: Nếu NHTM có quan điểm đặt mục
tiêu lợi nhuận lên trên nhất thì cơ chế quản lý sẽ khuyến khích và tạo điều kiện để
bộ phận có liên quan tìm kiếm, quyết định những khoản cho vay, đầu tư có thu nhập
kỳ vọng cao nhưng tiềm ẩn rủi ro lớn; đồng thời các quy định về kiểm tra, kiểmsoát, đặc biệt là tiêu chuẩn để xem xét, đánh giá khi quyết định cho vay cũng sẽthấp hơn trong khi tiêu chí về khả năng sinh lời rất được coi trọng Trường hợpngược lại nếu quan điểm kinh doanh lấy an toàn làm chính thì các quy định về cơchế quản lý tài sản trong việc thẩm định, xem xét trước khi ra quyết định cho vay,đầu tư sẽ chặt chẽ hơn, cụ thể hơn, các tiêu chuẩn để phục vụ cho việc ra quyếtđịnh, việc kiểm tra, giám sát cũng được đặt ở mức cao hơn, và vì thế RRTD củangân hàng sẽ ở mức thấp hơn
- Sự yếu kém về công nghệ của ngân hàng: Ngày nay trình độ công nghệ là
yếu tố quan trọng trong tổ chức kinh doanh ngân hàng, đặc biệt là đối với quản lýRRTD Vì trình độ công nghệ càng cao càng trợ giúp cho ngân hàng sàng lọc nhữngkhách hàng, ngành nghề đang có mức độ rủi ro cao cũng như các cơ sở dữ liệuthông tin về từng khách hàng Ở các nước phát triển, công nghệ ngân hàng cũng rấtphát triển, đặc biệt là trong điều kiện có sự hỗ trợ hết sức hiệu quả của công nghệthông tin như ngày nay Công nghệ ngân hàng yếu kém sẽ ảnh hưởng đến mức độtập trung thông tin, khả năng phân tích, xử lý thông tin để từ đó rút các kết luận,nhận định phục vụ cho quản trị ngân hàng như các nhân tố ảnh hưởng đến chấtlượng, tình hình phân bổ tài sản, mức độ tập trung rủi ro
- Trình độ của cán bộ ngân hàng: Nguyên nhân của RRTD có thể xuất phát
từ sự hạn chế về khả năng phân tích của cán bộ tín dụng Nếu yếu kém về chuyên
Trang 13vay vốn, từ đó sẽ làm phát sinh những hợp đồng tín dụng kém an toàn Ngoài ra,gắn liền với sự hạn chế về khả năng phân tích là vấn đề phẩm chất đạo đức của cán
bộ Đánh giá rủi ro tín dụng là một công việc hết sức phức tạp Đặc thù nghề nghiệpbuộc một cán bộ tín dụng vừa phải có trình độ và phẩm chất đạo đức tốt Trước sựcám dỗ của vật chất, nhiều cán bộ tín dụng đã sa ngã Họ có thể hành động vônguyên tắc, vô tổ chức, làm trái quy định, gây những tổn thất to lớn cho ngân hàng
1.2.4 Các chỉ tiêu phản ánh rủi ro tín dụng
Để quản lý nhằm hạn chế RRTD, ngân hàng cần nắm bắt được thực trạng rủi
ro của hoạt động tín dụng Xét dưới giác độ ngân hàng, RRTD được phán ánh quacác chỉ tiêu sau đây:
1.2.4.1 Tỷ lệ nợ quá hạn
Tỷ lệ nợ quá hạn là tỷ lệ phần trăm giữa nợ quá hạn cho vay với tổng dư nợcho vay Chỉ tiêu tỷ lệ nợ quá hạn cho vay được xác định theo công thức sau:
Tỷ lệ nợ quá hạn = Nợ quá hạn cho vay (Công thức 1)
Tổng dư nợ cho vayTrong đó chỉ tiêu Nợ quá hạn cho vay được xác định là những khoản nợ màmột phần hoặc toàn bộ nợ gốc và/hoặc lãi đã đến hạn thanh toán mà khách hàngkhông trả được nợ Khi đáo hạn, người vay không trả được nợ cho ngân hàng thìngân hàng sẽ chuyển khoản nợ này từ nợ trong hạn sang nợ quá hạn
Tỷ lệ nợ quá hạn phản ánh lượng đơn vị tiền tệ ngân hàng không thể thu hồiđúng hạn trong 100 đơn vị tiền tệ ngân hàng đã cho vay tại thời điểm xác định Việcphân tích chỉ tiêu này sẽ giúp các ngân hàng đánh giá được RRTD, cụ thể tỷ lệ nợquá hạn cao thể hiện RRTD cao
Nợ quá hạn có thể chia ra thành nhiều loại tuỳ theo tiêu thức đã chọn Việcphân loại nợ quá hạn có ý nghĩa trong việc đánh giá mức độ RRTD theo các khíacạnh khác nhau Đồng thời, phân loại nợ quá hạn cũng giúp tìm ra các giải pháptrong phòng ngừa và hạn chế RRTD
Theo khả năng thu hồi, có thể chia nợ quá hạn thành các loại cụ thể sau:
- Nợ quá hạn thông thường: là các khoản nợ đến ngày đáo hạn người vay
Trang 14chưa trả được nợ cho ngân hàng nhưng khả năng hoàn trả là khá cao, sự chậm trễtrong việc trả nợ là ngắn.
- Nợ quá hạn khó đòi (nợ khó đòi): là những khoản nợ đã quá hạn một thời
gian dài mà con nợ không có khả năng thanh toán đầy đủ nợ gốc và lãi cho ngânhàng, khả năng thu hồi khoản nợ này là thấp và quá trình thu nợ thường gặp khókhăn, phức tạp
- Nợ quá hạn không có khả năng thu hồi (mất vốn): là những khoản nợ quá
hạn mà ngân hàng đã sử dụng nhiều biện pháp để thu nợ nhưng không thể thu đựoctoàn bộ hoặc một phần nợ gốc Con nợ không còn nguồn để trả nợ cho ngân hàng cảhiện tại và trong tương lai, khả năng thu hồi nợ của ngân hàng là bằng không vàngân hàng xác định khoản nợ này là không thu hồi được
Việc phân loại các khoản nợ quá hạn theo khả năng thu hồi phản ánh rõ nhất
về mức độ RRTD của ngân hàng Nợ quá hạn không có khả năng thu hồi càng caothì nguy cơ mất vốn của ngân hàng càng lớn
Theo thời gian quá hạn, có thể chia nợ quá hạn thành các loại cụ thể sau:
- Nợ quá hạn dưới 6 tháng: là các khoản nợ mà tại thời điểm thống kê, thời
gian quá hạn thanh toán là dưới 6 tháng và người vay vẫn chưa thanh toán đầy đủ
nợ gốc cho ngân hàng
- Nợ quá hạn từ 6 tháng đến 12 tháng: là các khoản nợ mà tại thời điểm
thống kê, thời gian quá hạn thanh toán là từ 6 tháng đến 12 tháng và người vay vẫnchưa thanh toán đầy đủ nợ gốc cho ngân hàng
- Nợ quá hạn trên 12 tháng: là các khoản nợ mà tại thời điểm thống kê, thời
gian quá hạn thanh toán là trên 12 tháng và người vay vẫn chưa thanh toán đầy đủ
nợ gốc cho ngân hàng
Những khoản nợ quá hạn dưới 6 tháng được coi là có độ rủi ro thấp, nợ quáhạn từ 6 - 12 tháng được coi là có độ rủi ro trung bình còn nợ quá hạn trên 12 thángđược coi là có độ rủi ro cao, có khả năng gây mất vốn cho ngân hàng
Trang 151.2.4.2 Tỷ lệ nợ xấu
Tỷ lệ nợ xấu là tỷ lệ phần trăm giữa nợ xấu với tổng dư nợ cho vay Chỉ tiêu
nợ xấu được xác định theo công thức:
Tổng dư nợ cho vayĐây là chỉ tiêu phản ánh RRTD tiếp cận với thông lệ quốc tế So với chỉ tiêu
nợ quá hạn, chỉ tiêu tỷ lệ nợ xấu phản ánh chính xác hơn RRTD của NHTM bởi lẽ:
do dư nợ quá hạn và tổng dư nợ được đo tại một thời điểm nhất định nên tỷ lệ nợquá hạn không phản ánh đúng thực chất RRTD của ngân hàng Tỷ lệ này chỉ phảnánh các khoản nợ đã quá thời hạn thanh toán chứ chưa phản ánh được mức độ rủi rocủa các khoản nợ chưa đến thời hạn thanh toán Một số các khoản nợ loại này có thểcòn chứa đựng nhiều rủi ro hơn các khoản nợ đã được xác định là nợ quá hạn
Tỷ lệ nợ xấu được xác định là tỷ lệ những khoản nợ khó có khả năng thu hồihoặc có dấu hiệu khó thu Nợ xấu bao gồm các khoản nợ từ nhóm 3 đến nhóm 5, cụthể:
- Nhóm 3 - Nợ dưới tiêu chuẩn: Bao gồm các khoản nợ được đánh giá là
không có khả năng thu hồi nợ góc và lãi đúng hạn
- Nhóm 4 - Nợ nghi ngờ: Bao gồm các khoản nợ được đánh giá là có khả
năng tổn thất cao
- Nhóm 5 - Nợ có khả năng mất vốn: bao gồm các khoản nợ được đánh giá
là không có khả năng thu hồi, mất vốn
Trang 16Hiện nay tỷ lệ nợ xấu được xem là một trong những dấu hiệu chính để đánhgiá RRTD của tổ chức tín dụng Tỷ lệ nợ xấu cũng có thể được tính cho từng loạicho vay theo thành phần kinh tế hoặc theo thời hạn, tuỳ theo mục đích và giác độtiếp cận của người nghiên cứu Nếu một NHTM có nhiều khoản nợ xấu thì ngânhàng đó sẽ gặp nhiều khó khăn trong kinh doanh, có nguy cơ mất vốn, dễ dẫn đếnmất khả năng thanh toán, thậm chí có thể dẫn đến phá sản Nếu NHTM nào có tỷ lệ
nợ xấu cao thì sẽ bị đánh giá RRTD cao, việc phân tích chỉ tiêu này sẽ giúp các tổchức tín dụng đánh giá một cách đầy đủ và chính xác hơn RRTD cũng như chấtluợng của hoạt động tín dụng
1.2.4.3 Tỷ lệ dư nợ có tài sản đảm bảo
Tỷ lệ dư nợ có TSĐB là tỷ lệ phần trăm giữa dư nợ có TSĐB với tổng dư nợ chovay, được xác định theo công thức:
Tỷ lệ dư nợ có TSĐB = Dư nợ có TSĐB (Công thức 3)
Tổng dư nợTài sản đảm bảo là nguồn thu nợ thứ hai cho ngân hàng Khi khách hàngkinh doanh thua lỗ, dự án đầu tư không hiệu quả, khách hàng không còn khả năngtrả nợ thì nếu khoản vay có TSĐB, ngân hàng có thể phát mại tài sản để thu hồi nợ,giảm thiểu RRTD cho ngân hàng Vì vậy tỷ lệ dư nợ có TSBĐ lớn thì rủi ro mấtvốn của ngân hàng sẽ giảm
Theo thông lệ quốc tế, các ngân hàng cần tính toán mức tổn thất dự kiếntrong hoạt động tín dụng để trích lập quỹ dự phòng rủi ro nhằm bù đắp tổn thất khixảy ra RRTD Do ngân hàng có thể phát mại TSĐB để thu hồi vốn nên giá trịTSBĐ được khấu trừ khi tính toán mức trích lập dự phòng rủi ro tín dụng, trong đóTSĐB có tính lỏng càng cao thì tỷ lệ khấu trừ càng lớn
Như vậy để đánh giá chính xác RRTD của ngân hàng thì ngoài chỉ tiêu tỷ lệ
dư nợ có TSBĐ, cần quan tâm đến chất lượng TSĐB thông qua việc đánh giá vềchủng loại TSĐB, giá trị và khả năng phát mại tài sản
Trang 171.2.5 Hậu quả của rủi ro tín dụng
1.2.5.1 Đối với ngân hàng
- Rủi ro tín dụng ảnh hưởng tới khả năng thanh toán của ngân hàng.
Rủi ro tín dụng xảy ra làm cho ngân hàng không thu được gốc và lãi theođúng thời hạn trong hợp đồng tín dụng, thậm chí còn làm mất vốn của ngân hàng
Từ đó, RRTD sẽ làm giảm tốc độ quay vòng vốn của ngân hàng dẫn tới làm giảmhiệu quả sử dụng vốn, giảm khả năng thanh toán của ngân hàng
Mặt khác hoạt động chủ yếu của ngân hàng là nhận tiền gửi và cho vay, nếucác khoản tín dụng gặp rủi ro thì việc thu hồi nợ vay sẽ gặp nhiều khó khăn trongkhi đó các khoản tiền gửi vẫn phải thanh toán đúng hạn Trong lúc không huy độngđược vốn do mất uy tín, người rút tiền ngày càng tăng lên kết quả là ngân hàng gặpkhó khăn trong khâu thanh toán
- Rủi ro tín dụng làm giảm lợi nhuận của ngân hàng.
Như đã biết, hoạt động tín dụng là hoạt động cơ bản và thường xuyên nhấtcủa NHTM, phần lớn thu nhập của ngân hàng có được là từ hoạt động tín dụng Vìvậy, khi xảy ra RRTD sẽ ảnh hưởng trực tiếp tới lợi nhuận của ngân hàng Khi phátsinh các khoản nợ quá hạn, ngân hàng sẽ phải có các khoản chi phí để quản lý, giámsát, thu nợ, chi phí thanh lý phát mại tài sản trong tương lai nếu không thu được nợ.Đồng thời, khoản nợ này đóng băng, không còn đem lại thu nhập cho ngân hànghoặc rất ít, không đáng kể, trong khi ngân hàng vẫn phải trả lãi cho các khoản tiềnhuy động được, điều này làm giảm lợi nhuận của ngân hàng Mặt khác, khi xảy raRRTD thì không chỉ làm giảm thu nhập từ hoạt động tín dụng mà còn có tác độnglớn làm giảm thu nhập từ các hoạt động kinh doanh khác của ngân hàng, bởi lẽ hoạtđộng tín dụng có tác động rất lớn tới các hoạt động khác của ngân hàng Nếu hoạtđộng tín dụng được mở rộng, chất lượng tín dụng được nâng cao thì sẽ thúc đẩy cáchoạt động khác phát triển, ngược lại, sẽ kìm hãm các hoạt động khác làm giảm lợinhuận và gây ảnh hưởng xấu tới tình hình tài chính của ngân hàng
Trang 18- Rủi ro tín dụng làm giảm uy tín của ngân hàng.
Khi xảy ra RRTD, ngoài những tổn thất về tài chính, những thiệt hại về uytín của ngân hàng, mất lòng tin xã hội là những tổn thất còn lớn hơn rất nhiều
Một ngân hàng có mức độ RRTD cao, cụ thể là tỷ lệ nợ quá hạn và nợ xấu vượtquá mức cho phép, có chất lượng tín dụng không tốt và gây ra nhiều vụ thất thoát lớnthường đứng trước nguy cơ mất uy tín trên thị trường Thông tin về việc một ngân hàng
có mức độ rủi ro cao thường được báo chí thông báo và lan truyền trong dân chúng,điều này sẽ khiến cho việc huy động vốn của ngân hàng gặp rất nhiều khó khăn Bêncạnh đó, việc giảm uy tín còn ảnh hưởng đến khả năng cạnh tranh của ngân hàng, cànglàm cho hoạt động của ngân hàng gặp nhiều khó khăn hơn
Mặt khác khi ngân hàng xảy ra nhiều rủi ro trong hoạt động tín dụng sẽ gâymất lòng tin của các đối tác trong kinh doanh cũng như của những người gửi tiền tại
NH Khi đã mất lòng tin của đối tác kinh doanh cũng như của những người gửi tiềnthì hậu quả là thị phần của ngân hàng đó sẽ bị giảm, nguồn huy động cũng giảm và
do đó ngân hàng sẽ lâm vào tình trạng khó khăn Đặc biệt nguy hiểm hơn khi nhữngngười gửi tiền tại NH có xu hướng rút tiền ra, nếu trong trường hợp đó ngân hàngkhông có những biện pháp để xử lý tốt thì rất có thể ngân hàng sẽ bị phá sản và sẽgây ảnh hưởng xấu lan ra trong toàn hệ thống ngân hàng và nền kinh tế
1.2.5.2 Đối với nền kinh tế
Tín dụng ngân hàng có vai trò rất quan trọng trong việc điều hoà vốn trongnền kinh tế và trong sự thành công của chính sách tiền tệ quốc gia RRTD xảy ralàm ngân hàng chậm hoặc không có khả năng thu hồi được vốn để tiếp tục cho vay,
do đó RRTD làm giảm vòng quay sử dụng vốn của ngân hàng, giảm khả năng cungcấp vốn cho nền kinh tế
Trang 19Bên cạnh đó NHTM hoạt động trong lĩnh vực kinh doanh tiền tệ tín dụng với
tư cách là một trung tâm của đời sống kinh tế, nó có quan hệ trực tiếp và thườngxuyên với các tổ chức kinh tế, do đó khi RRTD xảy ra có thể gây tổn thất lan truyềnđến mọi tổ chức kinh tế và cá nhân khác Người gửi tiền bị mất tiền, người vay tiềngặp khó khăn trong việc huy động vốn dẫn tới tăng chi phí huy động vốn hoặc thiếuvốn cho quá trình sản xuất kinh doanh Các doanh nghiệp làm ăn kém hiệu quả, khó
có thể thanh toán nợ vay sẽ ảnh hưởng tới cả nền kinh tế cũng như đối với cácNHTM khác mà doanh nghiệp đó vay vốn
Mặt khác, hoạt động ngân hàng có tính chất xã hội hoá cao, hoạt động củamột ngân hàng có ảnh hưởng đến các ngân hàng khác Khi một ngân hàng đối mặtvới tình trạng RRTD cao, sẽ ảnh hưởng đến tình hình tài chính của ngân hàng, dẫnđến mất lòng tin của đối tác kinh doanh và của công chúng Lúc đó rất có thể ngânhàng sẽ mất khả năng thanh toán và điều này sẽ gây ra phản ứng lan truyền trongtoàn hệ thống ngân hàng, tác động xấu tới nền kinh tế trong nước
Nhìn chung rủi ro được xem như một yếu tố không thể tách rời với quá trìnhhoạt động của NHTM Rủi ro trong cho vay còn được nhân lên gấp đôi, bởi ngânhàng không những phải hứng chịu rủi ro do những nguyên nhân chủ quan của mình
mà còn gánh chịu những rủi ro do khách hàng gây ra Chính vì vậy công tác hạn chếRRTD để bảo đảm an toàn trong hoạt động, nâng cao hiệu quả và chất lượng tíndụng của NHTM là rất cần thiết và là một nhu cầu tất yếu khách quan
1.3 Quản lý rủi ro tín dụng của ngân hàng thương mại
Rủi ro tín dụng luôn là mối quan tâm hàng đầu của các ngân hàng trên toànthế giới Hiệu quả và chất lượng tín dụng là cơ sở chủ yếu để đánh giá chất lượnghoạt động ngân hàng Hoạt động tín dụng giữ vai trò quan trọng đối với bất kỳ mộtngân hàng nào Nó luôn nhận được sự chú ý đặc biệt trong quản trị ngân hàng cũngnhư trong công tác giám sát, điều chỉnh hoạt động ngân hàng của Ngân hàng trungương Việc quản lý tín dụng nhằm hạn chế RRTD có ảnh hưởng rất lớn đến sựthành công hay thất bại của ngân hàng Trong hầu hết các trường hợp, một danhmục cho vay được quản lý kém là tác nhân chủ yếu gây nên sự thất bại của ngân
Trang 20hàng và do tính chất nhạy cảm đặc biệt của loại hình doanh nghiệp này, ảnh hưởngđến cả hệ thống tài chính và đôi khi là mở đầu một cuộc khủng hoảng kinh tế.
1.3.1 Nội dung hoạt động quản lý rủi ro tín dụng của NHTM
Quản lý RRTD là sự ngăn ngừa khả năng xảy ra những tổn thất do hoạt độngtín dụng đưa lại và nếu xảy ra thì giảm thiểu tổn thất cho ngân hàng Quản lý RRTDnhằm hạn chế RRTD luôn là mối quan tâm hàng đầu của các ngân hàng Hoạt độngquản lý RRTD của NHTM gồm các bước sau:
Sơ đồ 1.1: Các bước quản lý rủi ro tín dụng của NHTM
1.3.1.1 Xây dựng cơ chế, chính sách quản lý rủi ro tín dụng
Hoạt động tín dụng liên quan tới nhiều bộ phận trong ngân hàng đòi hỏi phải
có sự kết hợp và chỉ đạo chung thông qua chính sách, quy tắc và sự kiểm soát chung
để đảm bảo kiểm soát và hạn chế được RRTD
Xây dựng cơ chế, chính sách quản lý RRTD
Tổ chức bộ máy, xây dựng các quy trình, quy định
để triển khai thực hiện chính sách quản lý RRTD
Giám sát, kiểm tra việc thực hiện và tuân thủ quy
trình, chính sách về quản lý RRTD
Đánh giá hiệu quả, tác động của chính sách và các
biện pháp quản lý RRTD
Trang 21Chính sách quản lý RRTD là một trong những công cụ quan trọng để quản lýRRTD trong toàn hệ thống ngân hàng một cách có bài bản và hiệu quả, đảm bảo tíndụng hoạt động trong phạm vi rủi ro chấp nhận được, hỗ trợ việc phân bổ vốn hiệuquả hơn trong hoạt động tín dụng, giảm thiểu các thiệt hại phát sinh từ RRTD vàtăng thêm lợi nhuận kinh doanh của ngân hàng Chính sách quản lý RRTD được Hộiđồng quản trị phê duyệt sẽ là một trong những căn cứ quan trọng để ngân hàng xâydựng chính sách tín dụng phù hợp trong từng thời kỳ, đồng thời là cơ sở để hìnhthành nên quy trình tín dụng với những hướng dẫn nghiệp vụ chi tiết, các bước cụthể trong quá trình cấp tín dụng
Một chính sách quản lý RRTD tốt là một chính sách quản lý RRTD đượctrình bày bằng những thuật ngữ chính xác, những hướng dẫn được thể hiện rõ ràngđối với các loại hình tín dụng khác nhau và phải là một ứng dụng thông minh củanhững nguyên tắc tín dụng thích hợp với những thay đổi của các nhân tố và môitrường kinh tế Chính sách phải vạch ra cho cán bộ tín dụng phương hướng hoạtđộng và một khung tham chiếu rõ ràng để làm căn cứ xem xét các nhu cầu vay vốn.Điều này tạo sự thống nhất chung trong hoạt động tín dụng nhằm hạn chế rủi ro vànâng cao khả năng sinh lời
Nội dung Chính sách quản lý RRTD đưa ra các nguyên tắc quy định cơ bảncủa ngân hàng trong việc xây dựng cơ cấu tổ chức hoạt động tín dụng và giám sátRRTD của ngân hàng; xây dựng hệ thống văn bản chế độ trong hoạt động cấp tíndụng; xây dựng Chính sách tín dụng; xây dựng hệ thống công cụ đo lường và địnhhạng RRTD; Quản lý giám sát danh mục cho vay…
1.3.1.2 Tổ chức bộ máy, xây dựng các quy trình, quy định để triển khai thực hiện chính sách quản lý rủi ro tín dụng
Sau khi xây dựng và ban hành Chính sách quản lý RRTD, bước tiếp theo làngân hàng cần phải tổ chức bộ máy, xây dựng các quy trình, quy định để triển khaithực hiện chính sách quản lý RRTD
Trang 22Một trong những phương pháp quan trọng nhất mà một ngân hàng có thể vậndụng để đảm bảo rằng hoạt động cấp tín dụng tuân thủ và thoả mãn được những tiêuchuẩn quản lý ngân hàng đặt ra trong việc quản lý và hạn chế RRTD là phải thiết lậpmột hệ thống chính sách, quy trình, quy định cho vay bằng văn bản Các quy trìnhquy định chính trong hoạt đông tín dụng của NHTM nhằm triển khai chính sáchquản lý RRTD gồm:
- Chính sách tín dụng
Nội dung Chính sách tín dụng bao gồm những nguyên tắc chuẩn mực cănbản trong hoạt động cấp tín dụng như xác định thị trường mục tiêu, sản phẩm tíndụng, chính sách khách hàng trong hoạt động tín dụng, các vấn đề về hồ sơ vay vốn,định giá tiền vay, TSĐB, phê duyệt tín dụng, quản lý tín dụng, kiểm tra giám sát tíndụng… Ngoài ra, một nội dung quan trọng khác của Chính sách tín dụng là xác địnhnhững giới hạn trong hoạt động cấp tín dụng nhằm hạn chế những rủi ro vốn có củahoạt động này Những giới hạn này bao gồm: Giới hạn tín dụng chung như Tỷ trọngcho vay trung dài hạn trong Tổng dư nợ, Dư nợ cho vay tối đa một khách hàng trênvốn tự có, tỷ lệ nợ xấu trên tổng dư nợ, tỷ lệ dư nợ có TSBĐ trên tổng dư nợ ; Giớihạn tín dụng theo ngành kinh tế; Giới hạn tín dụng theo xếp hạng RRTD; Giới hạntín dụng theo vùng địa lý; Giới hạn tín dụng theo thời hạn…
Chính sách tín dụng chỉ nêu ra những nguyên tắc và chuẩn mực căn bảntrong hoạt động tín dụng, do vậy nó sẽ được bổ trợ bằng những quy định, quy trình,thủ tục chi tiết để các đơn vị trong ngân hàng triển khai thực hiện
Xét ở giác độ vi mô trong thời gian qua cho thấy chính sách tín dụng có tínhchất quyết định tới sự thành công hay thất bại của một NHTM Một chính sách tíndụng hợp lý và đúng đắn rõ ràng sẽ mang lại nhiều lợi thế và thuận lợi cho ngânhàng Nó hướng dẫn cho đội ngũ nhân viên tín dụng các thủ tục, các bước phải tuânthủ và chỉ rõ phạm vi, trách nhiệm của họ Nó giúp ngân hàng hướng tới một danhmục cho vay hiệu quả và đạt được nhiều mục tiêu như: tăng cường khả năng sinhlợi, hạn chế rủi ro và đáp ứng tốt những đòi hỏi của các cơ quan quản lý
Trang 23- Quy trình tín dụng
Quy trình tín dụng bao gồm những công việc phải thực hiện theo một trình tựnhất định trong quá trình cho vay, thu nợ nhằm đảm bảo an toàn vốn tín dụng Nóđược bắt đầu từ khi chuẩn bị cho vay, phát tiền vay, kiểm tra quá trình cho vay chođến khi thu hồi nợ Chất lượng tín dụng có đảm bảo hay không tuỳ thuộc vào việcthực hiện tốt các quy định ở từng bước và sự phối hợp chặt chẽ, nhịp nhàng giữacác bước trong quy trình tín dụng Sự phối hợp nhịp nhàng sẽ tạo điều kiện cho vốntín dụng được luân chuyển bình thường, theo đúng kế hoạch đã định, nhờ đó đảmbảo chất lượng tín dụng và hạn chế rủi ro cho ngân hàng
Theo thông lệ tiên tiến nhất, trong quy trình cho vay có sự tham gia, phốihợp đồng bộ của nhiều bộ phận nghiệp vụ và quy trình cho vay được đặc trưng bởi
sự phân tách giữa các chức năng: Khởi tạo tín dụng, Quản lý RRTD và tác nghiệptrong toàn bộ quá trình
- Chính sách khách hàng
Nội dung chính sách khách hàng bao gồm các chính sách chung như Chínhsách về tiếp thị khách hàng, Chính sách về cấp tín dụng (cho vay, chiết khấu, bảolãnh), Chính sách về lãi suất cho vay, Chính sách về bảo đảm tiền vay, Chính sách
về dịch vụ, phí dịch vụ, Chính sách về tiền gửi, ngoài ra còn có chính sách kháchhàng đặc thù như Chính sách ưu đãi đặc biệt dành cho khách hàng VIP, khách hànghoạt động trong các lĩnh vực, ngành nghề kinh tế được ngân hàng ưu tiên phát triểntrong từng thời kỳ; Chính sách hạn chế đối với khách hàng hoạt động trong các lĩnhvực, ngành nghề kinh tế mà ngân hàng không ưu tiên phát triển
- Hệ thống xếp hạng tín dụng nội bộ
Một công cụ quan trọng trong quản lý RRTD đối với từng khách hàng cũngnhư toàn bộ danh mục tín dụng là việc sử dụng Hệ thống XHTD
Trang 24Hệ thống XHTD là hệ thống bao gồm bộ các chỉ tiêu tài chính và phi tàichính liên quan đến tình hình tài chính, hoạt động sản xuất kinh doanh, các thôngtin định lượng và định tính liên quan tới khách hàng Thông qua việc chấm điểmtheo hệ thống này NHTM sẽ xếp hạng được các khách hàng có quan hệ tín dụng vớingân hàng mình Hệ thống XHTD nội bộ được NH xây dựng nhằm mục đích phục
vụ quản lý tín dụng toàn hệ thống, cụ thể như sau:
Một là, hệ thống này sẽ giúp NH xác định một cách hợp lý, chính xác ở mức
độ cao nhất lượng tổn thất tín dụng theo từng lĩnh vực hay ngành kinh tế Đây làđiều kiện quan trọng để xây dựng chiến lược trong hoạt động tín dụng đạt chấtlượng cao
Hai là, căn cứ vào các mức xếp hạng, ngân hàng sẽ xây dựng các quy trình
tín dụng và chính sách khách hàng một cách đồng bộ, rõ ràng, chi tiết và cụ thể
Ba là, kết quả XHTD nội bộ là một trong các căn cứ để đưa ra các phán
quyết tín dụng, giúp cho Maritime Bank Hà Nội có thể kiểm soát và đo lường chínhxác mức độ rủi ro của danh mục tín dụng
Song song với việc xây dựng các quy trình quy định nhằm quản lý rủi rotrong tín dụng, ngân hàng cần tổ chức sắp xếp bộ máy nhân sự để thực hiện quản lýRRTD
Hội đồng quản trị: là cấp phê duyệt cao nhất Thông qua Hội đồng quản lý
rủi ro, Hội đồng quản trị sẽ phê duyệt kế hoạch quản lý RRTD của ngân hàng vàchịu trách nhiệm giám sát việc thực hiện chiến lược quản lý rủi ro tổng thể, chínhsách và sự tuân thủ với luật định
Hội đồng quản lý rủi ro: có trách nhiệm giám sát và đảm bảo là văn hoá,
thông lệ và hệ thống quản lý rủi ro thiết yếu trong ngân hàng đều được thực hiệntrong toàn ngân hàng, xem xét chính sách và phản ứng của ngân hàng trước nhữngrủi ro và xu hướng mới phát sinh, rà soát các vấn đề tuân thủ đồng thời cả tính hiệuquả của các hệ thống quản lý rủi ro trong ngân hàng
Trang 25Ban điều hành ngân hàng: có trách nhiệm chính trong việc xác định và đánh
giá những rủi ro lớn đối với ngân hàng và thực hiện các quy trình kiểm soát rủi ro cóhiệu quả Trách nhiệm thực hiện chính sách rủi ro và đảm bảo một khuôn khổ kiểmsoát rủi ro có hiệu quả được Tổng giám đốc giao cho Phó tổng giám đốc phụ tráchKhối Quản lý Rủi ro
Khối Quản lý rủi ro: là đơn vị tham mưu và trực tiếp chỉ đạo, hướng dẫn,
thực hiện nhiệm vụ quản lý RRTD, rủi ro thị trường và rủi ro hoạt động Nhiệm vụcủa khối quản lý rủi ro trong việc quản lý RRTD là xây dựng chính sách QLRR,xây dựng và thiết lập các công cụ quản lý chất lượng tín dụng (định hạng kháchhàng, đánh giá TSĐB; phân loại nợ; xử lý nợ xấu, ); đánh giá năng lực, trình độ,khả năng của CBTD; Đánh giá độc lập các đề xuất tín dụng; Phân tích và giám sátchất lượng danh mục tín dụng tổng thể; Phân tích và giám sát các hạn mức, tậptrung rủi ro và số dư rủi ro, đưa ra các khuyến nghị về những thay đổi cần thiết
Khối quản trị tín dụng: độc lập với bộ phận phát sinh nghiệp vụ kinh doanh,
có trách nhiệm đánh giá liên tục, phát hiện sớm các khoản nợ có vấn đề tiềm tàngbáo cáo ban lãnh đạo, đề xuất xử lý các khoản nợ có vấn đề
1.3.1.3 Giám sát, kiểm tra việc thực hiện và tuân thủ quy trình, chính sách về quản lý rủi ro tín dụng
Một nội dung quan trọng khác của công tác quản lý RRTD là giám sát kiểmtra việc thực hiện và tuân thủ quy trình, chính sách về quản lý RRTD, nhằm đảmbảo chính sách quản lý RRTD đã ban hành được tuân thủ và phát huy hiệu quảtrong việc hạn chế RRTD
Tại chi nhánh, việc giám sát kiểm tra được thực hiện trong dây chuyền Bộphận quản lý RRTD chịu trách nhiệm kiểm tra, rà soát các nội dung của khoản vay
đề xuất có tuân thủ đúng theo các quy trình, quy định, chính sách tín dụng đã banhành Tại Hội sở chính, công tác giám sát kiểm tra việc thực hiện và tuân thủ quytrình, chính sách về quản lý RRTD do Bộ phận Quản lý RRTD thực hiện
Công cụ giám sát kiểm tra chính gồm:
- Tổ chức các đoàn kiểm tra, kiểm soát của Hội sở chính xuống làm việc
Trang 26trực tiếp tại các chi nhánh để giám sát kiểm tra việc thực hiện và tuân thủ quy trình,chính sách về quản lý RRTD của đơn vị
- Hệ thống thông tin báo cáo quản trị RRTD: báo cáo thực trạng tín dụng,
báo cáo xu hướng RRTD, báo cáo định kỳ về các kết quả rà soát RRTD, báo cáotổng kết hoạt động tín dụng, báo cáo đột xuất theo yêu cầu khi phát sinh các vấn đề
về cơ chế, chính sách…
Các báo cáo này sẽ được gửi tới Hội đồng Quản trị, Ban điều hành, BanQuản lý rủi ro của ngân hàng để đề xuất và đưa ra các biện pháp chỉ đạo nhằm đảmbảo hoạt động cấp tín dụng của NH tuân thủ theo đúng các quy trình, quy định,chính sách về quản lý RRTD để hạn chế RRTD cho ngân hàng
1.3.1.4 Đánh giá hiệu quả, tác động của chính sách và các biện pháp quản lý rủi ro tín dụng
Bên cạnh công tác giám sát, kiểm tra nhằm đảm bảo hoạt động cấp tín dụngcủa ngân hàng tuân thủ theo các quy trình, chính sách về quản lý RRTD, ngân hàngcần phải đánh giá hiệu quả, tác động của các chính sách, quy định, biện pháp quản
lý RRTD đang thực hiện Định kỳ hàng năm, bộ phận quản lý RRTD phải lập báocáo đánh giá hiệu quả, tác động của của chính sách và các biện pháp quản lý RRTD
mà ngân hàng đang thực hiện, dự báo phân tích xu hướng RRTD trong năm tiếptheo, từ đó đề xuất các nội dung chính sách, quy trình, quy định cần sửa đổi bổsung, đề xuất các biện pháp quản lý tín dụng mới trình Hội đồng QLRR và Hộiđồng quản trị ngân hàng phê duyệt, nhằm đảm bảo chính sách và các biện pháp quản
lý RRTD của ngân hàng phát huy hiệu quả trong việc hạn chế RRTD, nâng cao chấtlượng tín dụng và mang lại nguồn thu nhập tối đa cho ngân hàng
Trên đây là bốn nội dung quan trọng trong hoạt động quản lý RRTD củaNHTM Theo thông lệ quốc tế của uỷ ban Basel về giám sát ngân hàng, hoạt độngQLRR tín dụng của ngân hàng cần tuân thủ 7 nguyên tắc cơ bản sau:
- Nguyên tắc 1: Chiến lược, phương hướng hoạt động, các hướng dẫn và các
phương pháp về tín dụng
Trang 27Chiến lược, phương hướng hoạt động, các hướng dẫn và các phương pháp vềtín dụng cần được tiến hành xem xét một cách liên tục và được thể hiện qua nhiềuhình thức, bao gồm các chính sách bằng văn bản, các cẩm nang quy trình, hànhđộng của Ban lãnh đạo, Một trong những vấn đề mấu chốt là việc thông qua chiếnlược tín dụng hay tầm nhìn tín dụng Chiến lược này được thể hiện như một tuyênngôn về các mục tiêu và xác định thái độ của Ban lãnh đạo ngân hàng đối với RRTD
và thái độ sẵn sàng chấp nhận các rủi ro đó
- Nguyên tắc 2: Xác định các rủi ro hiện có và rủi ro tiềm tàng trong các sản
phẩm và hoạt động tín dụng của ngân hàng
Cơ sở cho việc quản lý RRTD dụng hiệu quả là việc xác định những rủi rotiềm tàng và rủi ro hiện có trong bất cứ sản phẩm hay hoạt động nào của ngân hàng.Một mức độ RRTD chấp nhận được có thể được thiết lập chỉ sau khi đã xác địnhđược những nhân tố tạo nên RRTD Việc ngân hàng phát hiện tất cả các RRTDtrong các sản phẩm và hoạt động của mình là rất quan trọng Để làm được như vậyngân hàng cần xem xét kỹ lưỡng các đặc thù RRTD của từng sản phẩm hay hoạtđộng
Rủi ro tín dụng có thể được phát hiện qua những yếu tố tạo nên RRTD, gồm:Các khách hàng khác nhau và ngành nghề khác nhau thể hiện các rủi ro khác nhau;Các sản phẩm tín dụng khác nhau thể hiện các rủi ro khác nhau; Khả năng cấp tíndụng và chuyên môn của cán bộ tín dụng; Mức độ tập trung của danh mục tín dụng
- Nguyên tắc 3: Xây dựng và thực hiện chính sách tín dụng rõ ràng, được
thể hiện một cách chính thức bằng văn bản – những chính sách này thể hiện các tônchỉ về tín dụng của ngân hàng và các thông số mà theo đó, RRTD được quản lý vàkiểm soát
Trang 28Một điều tối quan trọng trong quản lý RRTD là việc thiết kế và thực hiện cácchính sách và quy trình bằng văn bản liên quan đến việc phát hiện, đánh giá, giámsát và kiểm soát RRTD Các chính sách tín dụng cần phải được lập một cách rõràng, thống nhất với các thông lệ thận trọng trong kinh doanh ngân hàng và với cácquy định của Nhà nước, đồng thời phải phù hợp với bản chất và mức độ phức tạpcủa các hoạt động của ngân hàng Các chính sách và quy trình được xây dựng vàthực hiện hợp lý sẽ cho phép ngân hàng đạt được những mục tiêu như: Duy trì cácchuẩn mực cấp tín dụng an toàn; Giám sát và kiểm soát RRTD; Đánh giá đúngnhững cơ hội kinh doanh mới; Phát hiện và quản lý các khoản tín dụng có vấn đề.
- Nguyên tắc 4: Kỹ thuật kiểm tra và giám sát tín dụng nhằm hỗ trợ cho việc
nhận biết RRTD
Giám sát từng khoản vay một cách thường xuyên nhằm phát hiện “dấu hiệucảnh báo sớm” để có hành động khắc phục kịp thời Giám sát tổng thể danh mục tíndụng – phân tích tổng thể danh mục tín dụng nhằm phát hiện tập trung tín dụng
- Nguyên tắc 5: Cơ cấu tổ chức trong đó các chức năng liên quan đến tín
dụng được tiến hành - bao gồm vai trò, trách nhiệm, và các kênh báo cáo
Xác định rõ ràng vai trò và trách nhiệm của Ban lãnh đạo và nhân viên tronghoạt động tín dụng và quản lý RRTD là rất cần thiết nhằm đảm bảo:
Những quyết định quan trọng liên quan tới các chiến lược tín dụng, cho điểmtín dụng và quản lý RRTD được được đưa ra một cách thích hợp bởi một tập thể các
cá nhân với kinh nghiệm và kiến thức phù hợp
Những trách nhiệm do Ban giám đốc giao phó được thực hiện đúng với sự uỷnhiệm đó
Các cá nhân được giao những vai trò thích hợp cho phép phân tách nhiệm vụmột cách phù hợp nhằm tạo ra môi trường tín dụng có kiểm soát
- Nguyên tắc 6: Trách nhiệm đối với chất lượng tín dụng, thể hiện qua cơ
cấu thưởng phạt và đánh giá phù hợp
Trang 29Không một hệ thống quản lý hay kiểm tra nội bộ nào hoạt động có hiệu quảnếu không được quan tâm đúng mức Hệ thống ấy sẽ yếu đi nếu không có các hìnhthức kỷ luật cho những vi phạm Những nhân tố chính khuyến khích nhân viên làmviệc tốt, chấp nhận trách nhiệm và hành động có trách nhiệm chính là cơ cấu thù lao
và hệ thống đánh giá nhân sự
- Nguyên tắc 7: Một quy trình đánh giá RRTD chặt chẽ, bao gồm: Hệ thống
chấm điểm RRTD và Chức năng kiểm tra tín dụng độc lập
Việc kiểm tra tín dụng độc lập đưa ra các đánh giá độc lập về RRTD củangân hàng và từ đó sẽ đưa ra các quy trình quản lý rủi ro cần thiết Bộ phận kiểm tratín dụng sẽ phân tích một cách có hệ thống và độc lập về danh mục tín dụng, tínhđầy đủ của các khoản dự phòng và tính chính xác của việc cho điểm tín dụng Ngoài
ra, bộ phận này cũng được yêu cầu đánh giá các chính sách, quy trình quản lý tíndụng
1.3.2 Biện pháp hạn chế rủi ro tín dụng của ngân hàng thương mại
Rủi ro tín dụng luôn là vấn đề nổi cộm của các ngân hàng Mỗi ngân hàngđều phải rút ra các bài học cho mình từ những kinh nghiệm quá khứ Để hạn chếRRTD, các ngân hàng thường sử dụng các biện pháp sau:
1.3.2.1 Biện pháp phòng ngừa rủi ro tín dụng
a) Xây dựng chính sách tín dụng hợp lý, phù hợp với từng giai đoạn phát triển của nền kinh tế
Chính sách tín dụng bằng văn bản là yếu tố căn bản, là nền tảng để quản trịtín dụng hiệu quả Chính sách tín dụng đặt ra mục tiêu, tham số định hướng cho cán
bộ ngân hàng, những người làm công tác cho vay và quản trị danh mục đầu tư
Chính sách được xây dựng khoa học, cẩn thận, thông suốt từ trên xuống dưới
sẽ tạo điều kiện cho ngân hàng duy trì tiêu chuẩn tín dụng của mình, tránh rủi ro quámức và đánh giá đúng về cơ hội kinh doanh
Trang 30Chính sách tín dụng đúng đắn sẽ thu hút được nhiều khách hàng, đảm bảokhả năng sinh lợi trên cơ sở phân tán rủi ro Một chính sách không hợp lý sẽ ảnhhưởng đến việc kiểm soát quy trình kinh doanh, đầu tư tín dụng vào nhiều dự ánlớn, tỷ trọng nợ vay dài hạn cao…
Chính sách tín dụng không hợp lý làm cho trách nhiệm của cán bộ tín dụngkhông cao dẫn đến tình trạng cho vay tràn lan và cho vay nhiều khoản tín dụngkhông có cơ sở đảm bảo Các tổ chức giám sát hoạt động NH trên thế giới đều coimột chính sách tín dụng được xây dựng đúng đắn là điều kiện thiết yếu để quản trịtốt và hạn chế RRTD
b) Xây dựng Giới hạn cấp tín dụng
Để hạn chế rủi ro, mỗi ngân hàng nên quy định hạn mức cấp tín dụng tối đacho từng cấp quản trị (mức phán quyết) Mức phán quyết có thể được quy định chocác chi nhánh ngân hàng, các phòng giao dịch, tùy theo quy mô hoạt động, năng lựclàm việc của chi nhánh; theo loại sản phẩm tín dụng, tính chất có hay không cóTSĐB của khoản vay
Ngoài ra, ngân hàng cũng cần xác định một mức giới hạn tín dụng đối vớitừng khách hàng riêng biệt Nó được hiểu là mức tín dụng an toàn tối đa trong đódoanh nghiệp quản trị hiệu quả được hoạt động của mình và ở mức này, rủi ro ngânhàng có thể chịu đối với doanh nghiệp là thấp nhất
Giới hạn tín dụng được xác định trên cơ sở chính sách tín dụng từng thời kỳ,XHTD của doanh nghiệp, ngành nghề và quy mô hoạt động của họ, khả năng cungứng và quản trị vốn của ngân hàng
c) Thực hiện đa dạng hoá danh mục đầu tư, phân tán rủi ro trong hoạt động cấp tín dụng
Một công cụ khác luôn được nhắc đến của quản trị tín dụng ở tất cả các ngânhàng trên thế giới là quản trị danh mục đầu tư Quản trị danh mục đầu tư làm cânđối và kiềm chế rủi ro danh mục bằng cách nhận dạng, dự báo và kiểm soát mức độrủi ro với từng thị trường, ngành hàng, khách hàng, loại sản phẩm tín dụng và điều
Trang 31Trên cơ sở đó phân tán rủi ro trong hoạt động tín dụng bằng việc thực hiệncấp tín dụng cho nhiều ngành, nhiều lĩnh vực, khu vực sản xuất kinh doanh nhằmtránh những tổn thất lớn xảy ra cho NHTM Phân tán rủi ro là một giải pháp chủyếu thường được các NHTM áp dụng NH chia nguồn tiền của mình vào nhiều loạihình đầu tư, nhiều ngành nghề khác nhau cũng như nhiều khách hàng ở những địabàn khác nhau Điều này vừa mở rộng được phạm vi hoạt động tín dụng của ngânhàng, khuếch trương thanh thế, vừa đạt được mục đích phân tán rủi ro Các hìnhthức phân tán rủi ro chủ yếu bao gồm:
Một là, đa dạng hoá danh mục đầu tư, không tập trung cấp tín dụng cho một
ngành, một lĩnh vực hay một khu vực
Để hạn chế rủi ro không nên tập trung vốn quá nhiều vào một loại hình kinhdoanh, một vùng kinh tế Đó là khuyến cáo và cũng là bài học hết sức có ý nghĩa màcác nhà kinh doanh trước kia rút ra khi họ gánh chịu những thiệt hại, đổ vỡ dokhông tuân thủ những nguyên tắc này
Khi ngân hàng tập trung cấp tín dụng vào một lĩnh vực kinh tế sẽ giống như
“Bỏ trứng vào một rổ” điều đó có nghĩa là khi lĩnh vực kinh tế mà ngân hàng tậptrung vốn đầu tư gặp phải những biến động bất lợi thì thiệt hại của ngân hàng sẽ là
kế hoạch cơ cấu lại nền kinh tế
+ Đầu tư vào nhiều đối tượng sản xuất kinh doanh nhiều loại hàng hoákhác nhau, tránh tập trung cho vay sản xuất một số loại sản phẩm đặc biệt là nhữngloại sản phẩm không thiết yếu mà Nhà nước không khuyến khích hay những sảnphẩm đã xuất hiện quá nhiều trên thị trường
Trang 32Hai là, không nên dồn vốn đầu tư vào một hoặc một số khách hàng Cùng
với mục đích như trên là phân tán rủi ro, đây là lời khuyến cáo quan trọng cho việc
ra quyết định cấp tín dụng của ngân hàng Cho dù một khách hàng kinh doanh hiệuquả hay có quan hệ lâu năm với ngân hàng thì yêu cầu trên vẫn cần được tuân thủbởi vì nếu khách hàng gặp khó khăn rủi ro đột xuất xảy ra thì ngân hàng cũng chịutổn thất lớn, hơn nữa những thay đổi trong chu kỳ kinh doanh của khách hàng làkhó tránh khỏi
Ba là, đa dạng hoá các sản phẩm tín dụng Đa dạng hoá các sản phẩm tín
dụng có tác dụng phân tán rủi ro theo danh mục tài sản, giảm thiệt hại xảy ra khi córủi ro đối với một vài loại tài sản nhất định
d) Xây dựng và áp dụng hệ thống xếp hạng tín dụng
Một trong những công cụ quản lý RRTD mà các cơ quan giám sát hoạt độngngân hàng theo Tiêu chuẩn quản lý tốt nhất theo khuyến nghị của Basel II đềuhướng tới đó là hệ thống XHTD nội bộ (IRS – Internal Rating System)
Lượng hóa RRTD mà cụ thể là ước lượng xác suất vỡ nợ đối với mỗi kháchhàng vay và tỷ lệ tổn thất khi xảy ra rủi ro đối với danh mục tín dụng là một yêu cầubắt buộc về quản lý giám sát an toàn ngân hàng của các cơ quan giám sát cũng như
về tăng cường quản trị điều hành trong ngân hàng Hệ thống XHTD nội bộ là mộtcông cụ quản lý tín dụng cho phép các tổ chức tín dụng đưa ra các mức ước lượng
về xác suất vỡ nợ khách hàng và tỷ lệ tổn thất vỡ nợ làm cơ sở cho việc định giá tíndụng và trích lập dự phòng rủi ro
Có nhiều phương pháp XHTD như phương pháp chuyên gia (Delphi),phương pháp cho điểm theo tiêu chuẩn (Scoring), phương pháp so sánh, phươngpháp kết hợp Ở mỗi quốc gia, tùy theo sự phát triển kinh tế - xã hội, tùy theo sựphát triển của hệ thống ngân hàng, các phương pháp phân tích và xếp hạng doanhnghiệp có sự khác nhau Trong hai thập niên gần đây, NHTM ở các nước trên thếgiới phổ biến áp dụng phương pháp lượng hóa các chỉ tiêu phân tích bằng điểm số.Sau đó, căn cứ vào điểm số để XHTD doanh nghiệp
Trang 33Công tác XHTD doanh nghiệp của ngân hàng nhằm thực hiện hai mục đíchchính là phân tích tín dụng và quản lý tín dụng Mục đích sử dụng cho phân tích tíndụng bao gồm: báo cáo về cơ cấu rủi ro theo danh mục cho vay, trích lập dự phòngrủi ro khi cho vay, phân bổ danh mục cho vay, định giá sản phẩm Mục đích sửdụng cho quản lý tín dụng bao gồm: xác lập các điều kiện quản lý rủi ro trước khicho vay (điều kiện về lãi suất, TSĐB, vốn tự có tham gia dự án…), xác lập các điềukiện quản lý sau khi cho vay (phương thức cho vay, tần suất kiểm tra doanh nghiệp,các yêu cầu về báo cáo bổ sung…).
Với Basel II, việc xây dựng hệ thống XHTD nội bộ trở thành một trongnhững công cụ xác định và quản trị RRTD được khuyến nghị Tại hầu hết các quốcgia, trong đó có Việt Nam, ngân hàng Trung ương đều có những chính sách yêu cầuhoặc khuyến khích các tổ chức tín dụng trong hệ thống của mình xây dựng hệ thốngXHTD nội bộ
e) Thực hiện tốt công tác kiểm soát, giám sát trong quy trình cho vay
Kiểm tra, giám sát trong quy trình cho vay là một việc làm cần thiết đểphòng ngừa và ngăn chặn RRTD Thực hiện thường xuyên sẽ giúp ngân hàng pháthiện kịp thời những sai phạm của doanh nghiệp đồng thời giúp ngân hàng luôn bámsát tình hình hoạt động thực tế của doanh nghiệp cũng như dự án vay vốn, nắm bắtđược những vấn đề mới nảy sinh trong quá trình thực hiện dự án để có biện phápđối phó kịp thời
Chất lượng tín dụng tuỳ thuộc vào mức độ phát hiện kịp thời nguyên nhâncác sai sót phát sinh trong quá trình thực hiện một khoản tín dụng Một trong nhữngbiện pháp để phát hiện kịp thời các dấu hiệu tiềm ẩn rủi ro của khoản vay là ngânhàng cần thực hiện việc kiểm tra sử dụng vốn vay sau khi giải ngân, kiểm tra hoạtđộng sản xuất kinh doanh của khách hàng vay theo định kỳ
Trong các hợp đồng tín dụng, luôn có điều khoản yêu cầu khách hàng vaycung cấp đầy đủ và kịp thời các thông tín liên quan đến tình hình hoạt động, nhữngthay đổi tác động nhiều đến bên vay
Trang 34Ngoài ra, ngân hàng còn sử dụng các hệ thống giám sát khác như hệ thốngthông tin tín dụng, thông tin trên thị trường chứng khoán, thông tin từ các đối thủcạnh tranh, các cơ quan quản lý Trong hệ thống giám sát nêu trên, hệ thống thôngtin tín dụng thường do ngân hàng trung ương hoặc cơ quan giám sát hoạt động ngânhàng thiết lập và tổ chức hoạt động Hệ thống thông tin tín dụng làm nhiệm vụ thuthập tất cả các thông tin liên quan đến hoạt động của tất cả các đối tượng được cấptín dụng và sẽ cung cấp cho các thành viên trong hệ thống thông tin này hoặc cungcấp (bán) cho những đối tượng khác có nhu cầu
Việc kiểm tra kiểm soát sau cho vay giúp ngân hàng nắm được các thông tin
về tình trạng kinh doanh, tình hình sử dụng vốn vay, TSĐB tiền vay của doanhnghiệp, để từ đó điều chỉnh chính sách cấp tín dụng phù hợp cho khách hàng hoặcthực hiện những biện pháp cần thiết nhằm thu hồi nợ trước hạn nếu phát hiện khoảnvay, TSĐB có dấu hiệu bất thường ảnh hưởng đến khả năng thu hồi nợ vay, gópphần hạn chế rủi ro cho ngân hàng
f) Thực hiện phân loại nợ để kiểm soát các khoản nợ xấu
Ngân hàng phải thường xuyên kiểm soát danh mục cho vay, đặc biệt là cáckhoản nợ xấu, nợ có vấn đề để có những biện pháp xử lý kịp thời khi có rủi ro xảy
ra Ngân hàng tiến hành phân loại nợ để phân loại các khoản nợ vào các nhóm nợtrong hạn, nợ cần đặc biệt lưu ý, nợ dưới chuẩn, nợ nghi ngờ và nợ có khả năng mấtvốn Ngân hàng kiểm soát đối với các khoản nợ dưới chuẩn, nợ nghi ngờ và nợ cókhả năng mất vốn- đây là những khoản nợ xấu của ngân hàng Ngoài ra, ngân hàngcũng cần hết sức lưu ý đến các khoản nợ đặc biệt chú ý vì khi có biến động bất lợixảy ra đối với hoạt động cho vay của ngân hàng, các khoản này dễ bị chuyển thành
nợ xấu
Trên cơ sở phân loại nợ và phân tích nguyên nhân, thực trạng, khả nănggiải quyết đối với các khoản nợ xấu, nợ có vấn đề, ngân hàng đưa ra các biệnpháp quản lý các khoản nợ trên để đảm bảo chất lượng tín dụng, hạn chế rủi rocho ngân hàng
Trang 35Trường hợp người vay có khó khăn tài chính tạm thời song vẫn còn khả năng
và ý chí trả nợ, ngân hàng áp dụng chính sách hỗ trợ như cơ cấu lại nợ, miễn giảmlãi… Trường hợp người vay lừa đảo và không có khả năng trả nợ, ngân hàng ápdụng chính sách phát mại TSĐB, phong toả tiền gửi trên tài khoản, …
1.3.2.2 Biện pháp xử lý rủi ro tín dụng
Xử lý RRTD hay xử lý nợ xấu là việc ngân hàng sử dụng đồng thời các biệnpháp để thu hồi hoặc làm giảm số lượng các khoản nợ xấu Xử lý nợ RRTD cũngđược coi là một trong những công cụ quản lý và hạn chế rủi ro tín dụng, góp phầnkhông nhỏ vào việc nâng cao chất lượng tín dụng của ngân hàng Ngoài ra, xử lýRRTD còn giúp giải phóng các khoản nợ đọng góp phần nâng cao năng lực sản xuấtcủa nền kinh tế, làm lành mạnh môi trường tín dụng và nâng cao năng lực tài chínhcủa ngân hàng
Ngân hàng sử dụng nhiều biện pháp khác nhau để xử lý RRTD tuỳ theo tínhchất, đặc điểm, mức độ rủi ro của từng khoản vay, từng trường hợp của hồ sơ tíndụng (qui mô, tài sản thế chấp, nguyên nhân nợ xấu ) Các biện pháp xử lý RRTDgồm có:
a) Cơ cấu lại khoản nợ
Cơ cấu lại khoản nợ là việc tổ chức tín dụng chấp thuận điều chỉnh kỳ hạn trả
nợ hoặc gia hạn khoản nợ cho khách hàng do tổ chức tín dụng đánh giá khách hàngsuy giảm khả năng trả nợ gốc hoặc lãi đúng thời hạn ghi trong hợp đồng tín dụngnhưng tổ chức tín dụng có đủ cơ sở để đánh giá khách hàng có khả năng trả đầy đủ
nợ gốc và lãi theo thời hạn trả nợ đã cơ cấu lại
b) Yêu cầu trả nợ hay biện pháp thu nợ
Ngân hàng tiến hành rà soát các khoản nợ xấu trên nguyên tắc có nguồn thuchắc chắn trong một khoản thời gian ngắn (tối đa 2 năm), tiến hành các biện phápthuyết phục khách hàng trả nợ Điều này thường dẫn đến việc thương lượng lại thờihạn và các điều kiện cho vay, hoặc thương lượng thanh toán thông qua việc bán tàisản thế chấp
Trang 36c) Phát mại TSĐB hoặc tiến hành các thủ tục pháp lý liên quan đến các tài sản khác
Nếu khi cho vay, ngân hàng nhận tài sản thế chấp, cầm cố làm TSĐB thìngân hàng là chủ nợ có bảo đảm Khi khách hàng không hoàn thành nghĩa vụ trả nợvới ngân hàng theo đúng cam kết trong hợp đồng tín dụng, ngân hàng có quyền phátmại TSĐB để thu hồi nợ Sau khi bán tài sản thế chấp, cầm cố mà không đủ thanhtoán nợ cho ngân hàng thì ngân hàng sẽ là chủ nợ không bảo đảm và có quyền yêucầu tuyên bố phá sản doanh nghiệp để thu hồi được nợ từ tài sản còn lại của doanhnghiệp
d) Chuyển đổi khoản nợ của khách hàng thành vốn cổ phần đối với các khách hàng là doanh nghiệp
Trong một số trường hợp, ngân hàng có thể chuyển vốn cho vay thành vốngóp vào doanh nghiệp kèm theo là việc cử người tham gia vào Hội đồng quản trịcủa doanh nghiệp ngân hàng chuyển số tiền đó từ hình thức cho vay sang hình thứcđầu tư Việc chuyển đổi thành vốn cổ phần sẽ giúp ngân hàng tham gia trực tiếp vàohoạt động kinh doanh của khách hàng, thực hiện các giải pháp khôi phục, phát triển
và thu được lợi nhuận
e) Biện pháp bán nợ cho các công ty mua bán nợ
Hiện nay ở một số quốc gia đã thành lập các tổ chức xử lý nợ với mục đíchtối đa hóa giá trị thu hồi để giảm thiểu gánh nặng ngân sách mà Chính phủ phải bỏ
ra để hỗ trợ cho chương trình xử lý nợ tồn đọng Ngân hàng bán các khoản nợ tồnđọng cho các tổ chức xử lý nợ với giá bán thấp hơn để thu hồi được một phần vốnvay, giảm thiểu một phần rủi ro mất vốn cho ngân hàng
f) Biện pháp xử lý bằng quỹ dự phòng rủi ro
Sử dụng dự phòng là việc tổ chức tín dụng sử dụng dự phòng rủi ro để bùđắp tổn thất đối với các khoản nợ Biện pháp này được sử dụng cho các trường hợpđánh giá khách hàng bị suy giảm tài chính và khoản vay của khách hàng thuộcnhóm nợ rủi ro cao, khó có khả năng thu hồi
Trang 37Để thực hiện được biện pháp này, ngân hàng cần thực hiện trích lập dự phòngrủi ro đầy đủ Dự phòng RRTD không phải là một cách ngân hàng loại bỏ đượchoàn toàn mọi rủi ro trong lĩnh vực tín dụng nhưng nó sẽ là một phương thức tốtgiúp ngân hàng chủ động hơn, định hướng và đánh giá trước được những rủi ro tiềmtàng trong lĩnh vực này, cụ thể như sau:
- Khi rủi ro xảy ra, ngân hàng có thể sử dụng các nguồn khác nhau để bù
đắp cho những tổn thất xảy ra Dự phòng rủi ro được trích từ chi phí hoạt động hàngquý là một biện pháp giúp các NHTM đảm bao an toàn về vốn, giảm thiểu nhữngtổn thất trong quá trình hoạt động kinh doanh
- Cũng do nguồn dự phòng được tính vào chi phí hoạt động của ngân hàng,
các ngân hàng tính trên cơ sở phân loại tài sản có Đây là nguồn quỹ mà ngân hàng
có thể chủ động sứ dụng khi cần và nó cũng thể hiện tính tự chịu trách nhiệm của v,
tự cân đối giữa thu nhập và chi phí để đảm bảo hiệu quả hoạt động
- Nguồn dự phòng rủi ro còn góp phần làm sạch tình hình tài chính của các
NHTM, bởi lẽ nguồn quỹ này giúp ngân hàng chủ động xử lý được các khoản nợxấu trên bảng cân đối Nó cũng kích thích ngân hàng tìm mọi biện pháp để thu hồi
nợ Do vậy trên bảng cân đối của ngân hàng nợ quá hạn sẽ giảm xuống tình hình tàichính của ngân hàng sẽ lành mạnh hơn
Trang 38CHƯƠNG 2
THỰC TRẠNG QUẢN LÝ RỦI RO TÍN DỤNG TẠI NGÂN HÀNG TMCP HÀNG HẢI VIỆT NAM – CHI NHÁNH HÀ
NỘI GIAI ĐOẠN 2007 - 2009
2.1 Tổng quan về Ngân hàng TMCP Hàng Hải Việt Nam – Chi nhánh
Hiện nay hoạt động kinh doanh chính của Ngân hàng TMCP Hàng Hải ViệtNam bao gồm:
- Hoạt động huy động vốn: Nhận tiền gửi, phát hành các chứng chỉ tiền gửi,
vay vốn của các tổ chức tín dụng…
- Hoạt động sử dụng vốn: Hoạt động cho vay, chiếu khấu thương phiếu và
các giấy tờ có giá khác, hùn vốn tham gia đầu tư vào tổ chức kinh tế…
Trang 39nước, các hoạt động ngân quỹ, kinh doanh ngoại hối…
Với mục tiêu phát triển của Ngân hàng TMCP Hàng Hải Việt Nam: xâydựng Ngân hàng TMCP Hàng Hải Việt Nam là một trong những NHTM cổ phầnlớn hàng đầu Việt Nam, có thương hiệu uy tín, phát triển bền vững, an toàn và lợinhuận cao
Với 18 năm phát triển vừa qua, Ngân hàng TMCP Hàng Hải Việt Nam đãthiết lập được mạng lưới hoạt động tương đối hiệu quả và thuận lợi cho khách hàng.Với tổng số Chi nhánh, Phòng Giao dịch đến nay đã lên tới 110 chi nhánh và phònggiao dịch được trải khắp từ Bắc vào Nam, cụ thể miền Bắc có 72 chi nhánh vàphòng giao dịch, miền Trung có 12 chi nhánh và phòng giao dịch, miền Nam có 26chi nhánh và phòng giao dịch Các chi nhánh được phân bổ ở hầu hết các tỉnh thành
từ Quảng Ninh, Hải Phòng, Hà Nội, Vĩnh Phúc, Đà Nẵng, Nha Trang, Vũng Tàu,Thành phố Hồ Chí Minh, Cần Thơ… Các điểm giao dịch đều hoạt động đa năng,đáp ứng đầy đủ nhu cầu của khách hàng về dịch vụ của một ngân hàng hiện đại vớicác sản phẩm tiện ích đa dạng
Hiện nay, Ngân hàng TMCP Hàng Hải Việt Nam đang trong quá trình cơ cấulại tổ chức nhằm xây dựng và củng cố hình ảnh của ngân hàng thông qua việc cungcấp đa dạng các sản phẩm dịch vụ có chất lượng cho khách hàng Với khẩu hiệu
“Tạo lập giá trị bền vững”, trên cơ sở thế mạnh của các cổ đông là các Tổng Công
ty lớn hoạt động trong các lĩnh vực: Bưu chính viễn thông, Đại lý vận tải tàu biển,Bảo hiểm, Hàng không Ngân hàng TMCP Hàng Hải Việt Nam đã hoạch địnhchiến lược phát triển cân đối giữa thế mạnh nguồn vốn, đầu tư vào khách hàngdoanh nghiệp tiềm năng, các tập đoàn kinh tế mạnh, kết hợp với phát triển các sảnphẩm có chất lượng để thu hút, phát triển hoạt động của khách hàng cá nhân, đầu tưtài chính vào các khu kinh tế chủ đạo của Việt Nam
Trang 402.1.2 Cơ cấu tổ chức, bộ máy, chức năng, nhiệm vụ của Ngân hàng TMCP Hàng Hải Việt Nam - Chi nhánh Hà Nội
Tên giao dịch quốc tế: Vietnam Maritime Joint Stock Bank - Ha Noi Branch.Tên đầy đủ bằng tiếng Việt: Ngân hàng thương mại cổ phần Hàng Hải- Chinhánh Hà Nội
Tên viết tắt: Maritime Bank Hà Nội
Địa chỉ: Số 71 Hai Bà Trưng - Quận Hoàn Kiếm - Thành phố Hà Nội
Maritime Bank Hà Nội được thành lập ngày 15/04/1998, đóng vai trò là một
tổ chức kinh doanh trong lĩnh vực ngân hàng
Các chi nhánh chịu sự quản lý trực tiếp của Maritime Bank Việt Nam,Maritime Bank Hà Nội chỉ quản lý các Phòng Giao dịch Các Phòng Giao dịch nàythực chất là các cơ sở giao dịch được thành lập làm tăng khả năng quy mô hoạtđộng của ngân hàng Hoạt động mang tính “phát triển” của Maritime Bank Hà Nộiđược thể hiện chủ yếu qua tín dụng ngân hàng Trong những năm qua tín dụng ngânhàng đã góp phần không nhỏ trong sự chuyển dịch cơ cấu kinh tế tại địa bàn, giảm
sự phân hoá giàu nghèo giữa nội thành và ngoại thành
Maritime Bank Hà Nội là một trong những chi nhánh quan trọng củaMaritime Bank Việt Nam, đóng vai trò tạo lập nguồn vốn, cung cấp các hình thứcdịch vụ ngân hàng, đáp ứng nhu cầu tín dụng của các thành phần kinh tế trên địabàn, góp phần thực hiện định hướng phát triển kinh doanh của Maritime Bank, qua
đó góp phần vào công cuộc công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước
Trong sự phát triển đầy tiềm năng của nền kinh tế đất nước vững tin vàonăng lực của chính mình, Maritime Bank Hà Nội tiếp tục đạt được những thànhcông, góp phần lớn vào thành công chung của Maritime Bank Việt Nam- xứng đáng
là ngân hàng thương mại cổ phần đầu tiên tại Việt Nam đi đầu trong sự nghiệp côngnghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước, ngân hàng đáng tin cậy của mọi khách hàngtrong và ngoài nước
Maritime Bank Hà Nội có các chức năng chính sau đây: