1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Một số giải pháp tăng cường thu ngân sách nhà nước trên địa bàn huyện đức thọ tỉnh hà tĩnh

91 7 0
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Một số giải pháp tăng cường thu ngân sách nhà nước trên địa bàn huyện Đức Thọ tỉnh Hà Tĩnh
Tác giả Đào Quang Thương
Người hướng dẫn PGS.TS. Hà Đức Trụ
Trường học Trường đại học Kinh doanh và Công nghệ Hà Nội
Chuyên ngành Tài chính - Ngân hàng
Thể loại Luận văn thạc sĩ kinh tế
Năm xuất bản 2016
Thành phố Hà Nội
Định dạng
Số trang 91
Dung lượng 479,57 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH DOANH VÀ CÔNG NGHỆ HÀ NỘI ĐÀO QUANG THƯƠNG MỘT SỐ GIẢI PHÁP TĂNG CƯỜNG THU NGÂN SÁCH NHÀ NƯỚC TRÊN ĐỊA BÀN HUYỆN ĐỨC THỌ TỈNH HÀ TĨNH Chuyên ngành TÀI CHÍNH[.]

Trang 1

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH DOANH VÀ CÔNG NGHỆ HÀ NỘI

ĐÀO QUANG THƯƠNG

MỘT SỐ GIẢI PHÁP TĂNG CƯỜNG THU NGÂN SÁCH NHÀ NƯỚC TRÊN ĐỊA BÀN HUYỆN ĐỨC THỌ

TỈNH HÀ TĨNH

Chuyên ngành : TÀI CHÍNH - NGÂN HÀNG

LUẬN VĂN THẠC SĨ KINH TẾ

Người hướng dẫn khoa học: PGS.TS HÀ ĐỨC TRỤ

Trang 2

LỜI CAM ĐOAN

Trong quá trình thực hiện luận văn, tác giả đã sử dụng các số liệu, tàiliệu tại Chi cục thuế huyện Đức Thọ, các phòng ban thuộc UBND huyện ĐứcThọ cung cấp, đảm bảo hoàn toàn chính xác và không có sự thay đổi, chỉnhsửa Đồng thời, tác giả cũng cam kết luận văn này là công trình nghiên cứukhoa học của chính bản thân, không có sự sao chép, chỉnh sửa từ bất kỳ côngtrình nghiên cứu nào khác

Tác giả

Đào Quang Thương

Trang 3

MỤC LỤC LỜI CAM ĐOAN

DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT

DANH MỤC BẢNG BIỂU

PHẦN MỞ ĐẦU 1 CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU VÀ MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CƠ BẢN VỀ THU NGÂN SÁCH NHÀ NƯỚC 4

1.1 Tổng quan tình hình nghiên cứu 41.2 Một số vấn đề lý luận cơ bản về Ngân sách nhà nước và Thu ngân sáchnhà nước 71.2.1 Ngân sách Nhà nước 71.2.2 Thu ngân sách nhà nước 11

CHƯƠNG 2: THỰC TRẠNG THU NGÂN SÁCH NHÀ NƯỚC TRÊN ĐỊA BÀN HUYỆN ĐỨC THỌ GIAI ĐOẠN 2011 – 2015 27

2.1 Đặc điểm kinh tế xã hội ảnh hưởng đến thu NSNN của Huyện ĐứcThọ, tỉnh Hà Tĩnh 272.1.1 Đặc điểm điều kiện tự nhiên và tài nguyên thiên nhiên 272.1.2 Đặc điểm nguồn lực phát triển KTXH 292.2 Thực Trạng Thu Ngân Sách Nhà Nước Huyện Đức Thọ, Tỉnh Hà TĩnhGiai Đoạn 2011 – 2015 312.2.1 Thực trạng các nguồn thu ngân sách trên địa bàn huyện so với dựtoán 312.2.2 Một số nguồn thu chiếm tỷ lệ lớn của NSNN huyện Đức Thọ, HàTĩnh từ 2011-2015 382.2.2 Đánh giá chung 442.2.3 Tác động của tăng thu ngân sách đối với phát triển kinh tế xã hộihuyện Đức Thọ, Hà Tĩnh 50

CHƯƠNG 3: MỘT SỐ GIẢI PHÁP TĂNG CƯỜNG THU NGÂN SÁCH NHÀ NƯỚC TRÊN ĐỊA BÀN HUYỆN ĐỨC THỌ, HÀ TĨNH 55

3.1 Mục tiêu của cải cách hệ thống thuế đến năm 2020 của chính phủ 553.1.1 Mục tiêu tổng quát 55

Trang 4

3.2 Mục tiêu phát triển KT-XH của huyện Đức Thọ, Hà Tĩnh đến năm 2020 56

3.2.1 Mục tiêu tổng quát 56

3.2.2 Mục tiêu cụ thể đển năm 2020 56

3.3 Một số giải pháp tăng cường thu ngân sách Nhà nước trên địa bàn huyện Đức Thọ, Hà Tĩnh 57

3.3.1 Kiên trì thực hiện giải pháp cơ bản và lâu dài là đẩy mạnh phát triển sản xuất, kinh doanh trên địa bàn để phát triển kinh tế bền vững nhằm tăng nguồn thu từ nội tại bản thân nền kinh tế, giải pháp thực hiện cụ thể cho từng ngành 57

3.3.2 Tăng cường công tác quản lý Nhà nước đối với các nguồn thu trong cân đối ngân sách trên địa bàn, đảm bảo thu đúng, đủ và kịp thời, đặc biệt tập trung cho các khoản thu chiếm tỷ trọng lớn 61

3.3.3 Giải pháp về hoàn thiện và cải tiến công tác tổ chức cán bộ và bộ máy quản lý thu thuế 63

3.3.4 Giải pháp về tăng cường vận động, giáo dục, tuyên truyền về thuế 64

3.3.5 Giải pháp về sự phối hợp giữa cơ quan thuế với chính quyền, đoàn thể các cấp và các cơ quan đơn vị liên quan trên địa bàn về công tác quản lý thu 65

3.3.6 Công tác thanh tra, kiểm tra, xử lý vi phạm và thực hiện chế độ khen thưởng 66

3.3.7 Tăng cường phân cấp quản lý ngân sách 66

3.3.8 Nâng cao chất lượng công tác lập dự toán thu ngân sách 67

3.4 Kiến nghị 67

3.4.1 Các kiến nghị với Trung ương 67

3.4.2 Đối với các đơn vị cấp tỉnh 68

3.4.3 Kiến nghị với chính quyền cấp huyện 69

3.4.4 Kiến nghị với Chi cục thuế Huyện Đức Thọ 69

KẾT LUẬN 71

DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 73

PHỤ LỤC 76

Trang 5

DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT

STT Ký hiệu viết tắt Chữ viết đầy đủ

Trang 6

DANH MỤC BẢNG BIỂU

Bảng 2.1: Diện tích và cơ cấu các loại đất năm 2011 của Huyện Đức Thọ, HàTĩnh 28Bảng 2.2: Tình hình thực hiện dự toán thu NSNN trên địa bàn Huyện Đức Thọgiai đoạn 2011 – 2015 32Bảng 2.3: Tình hình thực hiện dự toán thu NSNN trên địa bàn huyện Đức Thọnăm 2011 33Bảng 2.4: Tình hình thực hiện dự toán thu NSNN trên địa bàn huyện Đức Thọnăm 2012 34Bảng 2.5: Tình hình thực hiện dự toán thu NSNN trên địa bàn huyện Đức Thọnăm 2013 35Bảng 2.6: Tình hình thực hiện dự toán thu NSNN trên địa bàn huyện Đức Thọnăm 2014 36Bảng 2.7: Tình hình thực hiện dự toán thu NSNN trên địa bàn huyện Đức Thọnăm 2015 37Bảng 2.8: Tình hình thực hiện thu thuế Ngoài quốc doanh so với dự toán giai đoạn

2011 – 2015 39Bảng 2.9: Tình hình thực hiện thu phí và lệ phí so với dự toán được giao củahuyện Đức Thọ thời kỳ 2011 – 2015 41Bảng 2.10: Công tác tổ chức cấp quyền sử dụng đất của huyện Đức Thọ giaiđoạn 2011 - 2015 42Bảng 2.11: Thu tiền cấp quyền sử dụng đất giai đoạn 2011– 2015 43Bảng 2.12: Thu khác trong ngân sách huyện Đức Thọ giai đoạn 2013 – 2015 44Bảng 2.13: Đánh giá biến động nguồn thu ngân sách trên địa bàn huyện Đức Thọgiai đoạn 2011 – 2015 45

Trang 7

PHẦN MỞ ĐẦU

1 Tính cấp thiết của đề tài

Ngân sách nhà nước, một bộ phận quan trọng trong nền tài chính quốcgia, một công cụ hữu hiện mà các quốc gia vẫn sử dụng trong quá trình vậnđộng và tồn tại của mình Chính vì vậy, nhiệm vụ quản lý ngân sách nhà nước

là nhiệm vụ hàng đầu của mỗi quốc gia và nước ta cũng không loại trừ Việchoạch định và tổ chức thực hiện chính sách tài chính quốc gia là một khâutrọng yếu trong việc thực hiện vai trò quản lý xã hội và điều tiết vĩ mô nềnkinh tế của Nhà nước; trong đó, quản lý thu Ngân sách nhà nước là một bộphận rất quan trọng của chính sách tài chính quốc gia Thu NSNN là mộtcông tác rất quan trọng, nó quyết định việc thực hiện các vai trò của NSNNnói chung cũng như ảnh hưởng trực tiếp đến các khoản chi NSNN nói riêng

Quá trình chuyển sang nền KTTT định hướng XHCN ở nước ta đòi hỏiNhà nước phải sử dụng một cách có hiệu quả các công cụ, chính sách tàichính, tiền tệ, đặc biệt là chính sách thu, chi NSNN Trong điều kiện cơ cấukinh tế và cơ chế quản lý thay đổi thì hệ quả tất yếu là chính sách tài chínhnói chung và công tác quản lý, điều hành hoạt động thu ngân sách nói riêngcũng phải đổi mới Do vậy, cơ chế quản lý Ngân sách nhà nước của các cấpchính quyền địa phương cũng cần được cải tiến trên một số mặt nhất định

Huyện Đức Thọ tỉnh Hà Tĩnh là một huyện có quy mô kinh tế nhỏ, lựclượng sản xuất kém phát triển, giá trị sản xuất không cao từ đó làm cho khảnăng huy động nguồn thu ngân sách nhà nước thấp trong khi nhu cầu chi chođầu tư phát triển kinh tế xã hội là rất lớn Thời gian qua, công tác quản lý thuNgân sách nhà nước trên điạ bàn, đặc biệt là nguồn thu trong cân đối đã đượcchú trọng cải tiến thu ngân sách cơ bản đáp ứng nhu cầu chi, góp phần kíchthích tăng trưởng kinh tế Tuy nhiên, nguồn thu Ngân sách nhà nước trên địabàn huyện hàng năm chưa đảm bảo tự cân đối chi, chủ yếu là từ nguồn cấpquyền sử dụng đất (hàng năm chiếm trên 65%) Việc phát hiện và nuôi dưỡng

Trang 8

các nguồn thu, triển khai các giải pháp tăng thu ngân sách để ổn định và pháttriển kinh tế - xã hội trên địa bàn vẫn còn nhiều bất cập cần được giải quyết Cácgiải pháp mà huyện áp dụng đã thực sự thiết thực, phù hợp với tình hình pháttriển kinh tế xã hội của địa phương nhằm đẩy mạnh nguồn thu ngân sách nhànước chưa? Xuất phát từ đòi hỏi cần làm rõ những vấn đề trên, từ giác độquản lý để góp phần đẩy mạnh công tác tăng thu ngân sách nhà nước, đó cũng

chính là lí do mà tác giả chọn đề tài: “Một số giải pháp tăng cường thu ngân sách nhà nước trên địa bàn huyện Đức Thọ, tỉnh Hà Tĩnh” để viết

luận văn thạc sỹ của mình

2 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu

2.1 Mục tiêu chung

Dựa trên cơ sở lý luận về thu Ngân sách nhà nước và kết quả phân tíchđánh giá thực trạng thu ngân sách trên địa bàn, đề xuất một số giải pháp tăngcường thu trong cân đối ngân sách ở huyện Đức Thọ, tỉnh Hà Tĩnh

3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu:

- Đối tượng nghiên cứu: Công tác thu ngân sách nhà nước trên địa bàn

Huyện Đức Thọ, tỉnh Hà Tĩnh

- Phạm vi nghiên cứu

+ Về không gian: Địa bàn huyện Đức Thọ, tỉnh Hà Tĩnh.

+ Về thời gian: Phân tích đánh giá thực trạng công tác thu ngân sách

nhà nước giai đoạn 2011 – 2015 và đề xuất giải pháp đến năm đến 2020

Trang 9

4 Bố cục của luận văn

Luận văn gồm Phần mở đầu, kết luận và 03 chương, cụ thể như sau: CHƯƠNG 1: Tổng quan tình hình nghiên cứu và một số vấn đề lý luận cơbản về thu ngân sách nhà nước

CHƯƠNG 2: Thực trạng Thu ngân sách nhà nước trên địa bàn Huyện ĐứcThọ, tỉnh Hà Tĩnh giai đoạn 2011 – 2015

CHƯƠNG 3: Một số giải pháp tăng cường thu ngân sách nhà nước trên địabàn Huyện Đức Thọ, tỉnh Hà Tĩnh

Trang 10

CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU VÀ MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ

LUẬN CƠ BẢN VỀ THU NGÂN SÁCH NHÀ NƯỚC

1.1 Tổng quan tình hình nghiên cứu

Việc nghiên cứu quản lý thu, chi ngân sách nhà nước ở nước ta trongnhững năm qua có rất nhiều các công trình nghiên cứu các nhà khoa học, các

cơ quan trung ương và địa phương như:

“Một số vấn đề về quản lý và điều hành NSNN”(2005), Đặng Văn

Thanh, NXB Chính trị Quốc gia Tác giả đã phân tích một số vấn đề về quản

lý Ngân sách nhà nước trong thời gian từ 2005 trở về trước, đánh giá nhữngmặt được và những mặt còn hạn chế trong quản lý; đề xuất một số định hướngtrong quản lý và điều hành Ngân sách Nhà nước hiệu quả trong thời gian tới

Luận án tiến sĩ “Sử dụng công cụ chính sách tài chính để phát triển nền kinh tế trong quá trình hội nhập” của tác giả Lê Công Toàn, trường Đại học

Tài chính Kế toán Hà Nội, năm 2003

Hoàng Công Uẩn (2002), Phương hướng hoàn thiện phân cấp quản lý ngân sách địa phương theo đặc điểm của mỗi cấp chính quyền ở Việt Nam,

Luận án tiến sĩ kinh tế, Trường Đại học Kinh tế TP Hồ Chí Minh Công trìnhnày đã nghiên cứu cơ chế phân cấp quản lý NSNN từ trung ương trở xuống.Tuy nhiên chưa nghiên cứu cụ thể cơ chế phân cấp quản lý NSNN giữa ngânsách cấp tỉnh và ngân sách cấp huyện, đặc biệt tại một địa bàn cụ thể Ở côngtrình này tác giả đã kế thừa về mặt cơ sở lý luận của cơ chế phân cấp quản lýNSNN áp dụng vào cơ chế phân cấp quản lý NSNN cấp tỉnh và cấp huyệncho luận văn của mình

Luận văn thạc sỹ kinh tế “Thực trạng và giải pháp chủ yếu nhằm hoànthiện công tác quản lý ngân sách cấp huyện ở tỉnh Thái Nguyên” năm 2007của tác giả Hà Việt Hoàng

Trang 11

- Luận văn thạc sỹ “Hoàn thiện quản lý thu, chi ngân sách nhà nước của thành phố Nha Trang, tỉnh Khánh Hòa” năm 2005 của Nguyễn Hoài

Phương Luận văn đã làm rõ và khắc hoạ những nét nổi bật sau: Khái quát lạinhững lý luận cơ bản về ngân sách nhà nước, quản lý thu, chi ngân sách;Khảo sát, phân tích thực trạng quản lý thu, chi ngân sách nhà nước trên địabàn thành phố Nha Trang, tỉnh Khánh Hòa từ năm 2001; Nguyên nhân kháchquan và chủ quan về yếu kém của công tác thu, chi ngân sách để làm cơ sở đềxuất một số quan điểm và giải pháp chủ yếu có tính thực thi nhằm hoàn thiệnquản lý thu, chi NSNN của Thành phố Nha Trang trong thời gian tới Côngtrình này mặc dù cũng nghiên cứu trên một địa bàn cụ thể tuy nhiên thời giannghiên cứu đã lâu, tác giả đã nghiên cứu đồng thời cả mảng thu và chi ngânsách Qua đây tác giả kế thừa được một số nội dung trong công tác thu ngânsách và một số giải pháp trên một địa bàn nghiên cứu cụ thể cho luận văn củamình

Đặng Văn Thanh (2005), “Phát triển tài chính Việt Nam giai đoạn 2001 –

2005 và định hướng giai đoạn 2006 – 2010”, Tạp chí Cộng sản số 19, tháng

10/2005 Bài viết đã nêu rõ công cuộc đổi mới trong lĩnh vực tài chính sau gần

20 năm đổi mới, những thành tự đạt được của hoạt động tài chính, cũng nhưnhững hạn chế yếu kém cần khắc phục Quán triệt quan điểm tài chính làmạch máu của nền kinh tế, có vai trò thúc đẩy, mở đường cho phát triển kinh

tế xã hội bền vững, xác định nhiệm vụ và giải pháp trong thời gian tới

Nguyễn Văn Tranh (2005), “Quản lý chi ngân sách ở các tỉnh duyên hải

miền Trung”, Tạp chí Thuế Luận văn đã làm rõ hệ thống cơ sở lý luận về thu

chi ngân sách nhà nước Đánh giá thực trạng công tác quản lý thu chi ngânsách tại các tỉnh duyên hải miền trung Tác giả đã đưa ra được kết quả, hạnchế và nguyên nhân từ đó đưa ra các giải pháp tích cực nhằm tăng cườngquản lý thu chi ngân sách cho các tỉnh duyên hải miền trung Tác giả đã kếthừa từ luận văn này một số cơ sở lý luận về thu ngân sách nhà nước nói

Trang 12

chung, một số phương pháp nghiên cứu, một số giải pháp quản lý cho quátrình nghiên cứu của mình

“Giải pháp thu ngân sách nhà nước năm 2013: nhìn từ bài học năm2012” TS.Vũ Sỹ Cường - Học Viện tài chính Tạp chí tài chính ngày06/3/2013 Bài viết nhìn lại một số nét khái quát về tình hình thu ngân sáchnăm 2012, đề xuất những bài học và giải pháp cho thực hiện dự toán thu ngânsách nhà nước năm 2013 Bài viết đã đề xuất một số giải pháp cụ thể về tăngthu ngân sách năm 2013 của cả nước Trên cớ sở đó, tác giả nghiên cứu giảipháp cụ thể của địa bàn Huyện áp dụng trong thời gian nghiên cứu thực tế

Hội thảo khoa học bàn về vấn đề Ngân sách nhà nước như: “Nâng caohiệu quả và tăng trưởng bền vững” ( Hà nội ngày 30 - 31/10/2013 tại Hà Nội,Viện Chiến lược phát triển (Viện CLPT) thuộc Bộ Kế hoạch & Đầu tư ViệtNam phối hợp với Viện Phát triển Hàn Quốc (KDI) tổ chức Hội nghị khu vựcChâu Á trong khuôn khổ chương trình chia sẻ tri thức năm 2013) Các ý kiếntrong hội nghị chỉ ra hiệu quả công tác đầu tư công tại Việt nam trong thờigian qua; Những kinh nghiệm của Hàn Quốc trong việc quản lý đầu tư côngđược đánh giá là gần gũi và phù hợp với nhiều nước đang phát triển ở châu Á,trong đó có Việt Nam Các tài liệu sử dụng trong hội thảo với phạm vi nghiêncứu rộng bao gồm thu, chi NSNN; quản lý trên tất cả các lĩnh vực kinh tế, anninh quốc phòng, xã hội

Nhìn chung các luận án, đề tài này đã tiếp cận và đi vào nghiên cứu sâu

về từng vấn đề như: quản lý chi NSNN, quản lý thu chi trên nhiều địa bàn(các tỉnh duyên hải miền trung) (dự toán, kiểm soát chi, quản lý định mức chitiêu) Các luận án, đề tài đã đưa ra những kết luận, kiến nghị chủ yếu tậptrung vào giải quyết những vấn đề bức xúc, những nhiệm vụ cụ thể của giaiđoạn trước năm 2010 Điều có thể nhận thấy rõ nhất là hầu như các công trìnhnghiên cứu, các luận án, đề tài chỉ tập trung vào vấn đề quản lý thu, chiNSNN cho các tỉnh nói chung Phần lớn các tác giả đều xuất phát từ mục tiêu

Trang 13

tăng cường, nâng cao hiệu quản lý chi tiêu của NSNN cho các hoạt động sựnghiệp, nên cách tiếp cận vấn đề nghiên cứu chưa thật sự thoát ra khỏi tư duybao cấp, chỉ mới nghiên cứu để tháo gỡ những vấn đề bất cập trong thực tế

mà thôi; Chưa có một luận án, đề tài nào đề cập đến nghiên cứu về quản lý vàhoàn thiện quản lý thu ngân sách nhà nước trên địa bàn huyện

Riêng đối với quản lý thu ngân sách nhà nước của huyện Đức Thọ đến naychưa có công trình nào nghiên cứu về vấn đề này Chỉ có một số bài báo của tỉnh,nhưng chưa đi sâu nghiên cứu một cách cụ thể nội dung nói trên

Điều đó cho thấy việc nghiên cứu đề tài này là vấn đề mới đang đặt ra,vừa khó khăn, đòi hỏi phải nghiên cứu những điều kiện đặc thù của huyện đểquản lý thu, chi ngân sách có hiệu quả hơn, đồng thời có những giải pháp cụthể, thiết thực, hữu ích để tăng thu NSNN trên địa bàn huyện

1.2 Một số vấn đề lý luận cơ bản về Ngân sách nhà nước và Thu ngân sách nhà nước

1.2.1 Ngân sách Nhà nước

1.2.1.1 Khái niệm

Thuật ngữ "NSNN " có từ lâu và ngày nay được dùng phổ biến trong đờisống kinh tế - xã hội và được diễn đạt dưới nhiều góc độ khác nhau Songquan niệm NSNN được bao quát nhất cả về lý luận và thực tiễn của nước tahiện nay là:

NSNN là hệ thống các mối quan hệ kinh tế giữa Nhà nước với các chủ thểkhác nhau trong xã hội, phát sinh trong quá trình Nhà nước huy động, phânphối và sử dụng quỹ tiền tệ tập trung lớn nhất của Nhà nước dựa trên nguyêntắc không hoàn trả trực tiếp nhằm đảm bảo thực hiện chức năng quản lý vàđiều hành nền kinh tế - xã hội của Nhà nước theo luật định

“Ngân sách nhà nước là toàn bộ các khoản thu, chi của Nhà nước đã được

cơ quan nhà nước có thẩm quyền quyết định và được thực hiện trong một năm

để bảo đảm thực hiện các chức năng, nhiệm vụ của Nhà nước.” (Điều 1 - LuậtNgân sách nhà nước 2002)

Trang 14

1.2.1.2 Đặc điểm của Ngân sách nhà nước

Trong thực tế nhìn bề ngoài, hoạt động NSNN là hoạt động thu chi tàichính của Nhà nước Hoạt động đó đa dạng, phong phú, được tiến hành hầuhết trên các lĩnh vực, tác động đến mọi chủ thể kinh tế - xã hội Tuy đa dạng,phong phú như vậy, nhưng chúng có những đặc điểm chung:

Các hoạt động thu chi của NSNN luôn luôn gắn chặt với quyền lựckinh tế - chính trị của Nhà nước, được Nhà nước tiến hành trên cơ sở nhữngluật lệ nhất định Đằng sau những hoạt động thu chi tài chính đó chứa đựngnội dung kinh tế - xã hội nhất định và chứa đựng các quan hệ kinh tế, quan hệlợi ích nhất định Trong các quan hệ lợi ích đó, lợi ích quốc gia, lợi ích chungbao giờ cũng được đặt lên hàng đầu và chi phối các mặt lợi ích khác trongthu, chi ngân sách Nhà nước

Quá trình thực hiện các chỉ tiêu thu, chi NSNN nhằm hình thành quỹtiền tệ tập trung của Nhà nước và là quá trình phân phối và phối lại giá trịtổng sản phẩm xã hội phục vụ cho việc thực hiện chức năng, nhiệm vụ củaNhà nước trên các lĩnh vực, trong từng giai đoạn lịch sử nhất định

Như vậy, chúng ta thấy rằng thu, chi của NSNN hoàn toàn không giốngbất kỳ một hình thức thu chi của một loại quỹ nào Thu của NSNN phần lớnđều mang tính chất bắt buộc, còn các khoản chi của NSNN lại mang tính chấtkhông hoàn lại Đây là đặc trưng nổi bật của NSNN trong bất cứ một Nhànước nào Xuất phát từ quyền lực của Nhà nước và các nhu cầu về tài chính

để thực hiện chức năng quản lý và điều hành của Nhà nước đối với nền kinh

tế - xã hội Do nhu cầu chi tiêu của mình, Nhà nước đã sử dụng quyền lựcthông qua hệ thống pháp luật tài chính buộc mọi pháp nhân và thể nhân phảiđóng góp một phần thu nhập của mình cho NSNN, tức là các chủ thể kinh tếthực hiện nghĩa vụ của mình với Nhà nước Sự bắt buộc đó là hoàn toànkhách quan, vì lợi ích của toàn xã hội chứ không phải phục vụ cho lợi íchriêng của Nhà nước Các đối tượng nộp thuế cũng hoàn toàn ý thức đượcnghĩa vụ của mình trong việc đảm bảo sự tồn tại và phát triển của Nhà nước

Trang 15

Họ cũng hiểu được vai trò của Nhà nước trong việc sử dụng các nguồn lực tàichính nhằm thực hiện các chức năng kinh tế, xã hội, do nhân dân giao phó Sựtồn tại và hoạt động của Nhà nước chính là yếu tố quyết định tính chất hoạtđộng của NSNN, nói lên bản chất của NSNN Mọi hoạt động của NSNN đềunhằm vào việc tạo lập và sử dụng các nguồn lực tài chính, nó phản ánh hệthống các quan hệ kinh tế giữa Nhà nước và các chủ thể trong xã hội, phátsinh do Nhà nước tạo lập thông qua NSNN Đó là mối quan hệ kinh tế giữaphần nộp vào NSNN và phần để lại cho các chủ thể kinh tế trong xã hội Phầnnộp vào ngân sách sẽ tiếp tục được phân phối lại nhằm thực hiện các chứcnăng của Nhà nước và phục vụ cho các nhu cầu phát triển kinh tế - xã hội.

Với quyền lực tối cao của mình, Nhà nước có thể sử dụng các công cụsẵn có để bắt buộc mỗi thành viên trong xã hội cung cấp cho mình các nguồnlực tài chính cần thiết Song cơ sở tạo lập các nguồn lực tài chính xuất phát từsản xuất, mà chủ thể của sản xuất chính là các thành viên trong xã hội Mọithành viên đều có lợi ích kinh tế và đấu tranh bảo vệ lợi ích kinh tế đó, nghĩa

là thông qua quyền lực của mình, Nhà nước sử dụng các công cụ, chính sáchgiải quyết hài hoà giữa lợi ích Nhà nước và lợi ích của các thành viên trong xãhội Do vậy muốn có NSNN đúng đắn, lành mạnh thì phải tôn trọng và vậndụng các quy luật kinh tế một cách khách quan, phải dựa trên cơ sở đảm bảohài hoà lợi ích của Nhà nước và lợi ích cho các thành viên trong xã hội MộtNSNN lớn mạnh phải đảm bảo sự cân đối trên cơ sở khuyến khích phát triểnsản xuất kinh doanh, bao quát hết toàn bộ các nguồn thu, nuôi dưỡng nguồnthu để đáp ứng nhu cầu chi ngày càng tăng

Như vậy bản chất của NSNN là hệ thống các mối quan hệ kinh tế giữa Nhànước và các thành viên trong xã hội, phát sinh trong quá trình Nhà nước huyđộng và sử dụng các nguồn lực tài chính, nhằm đảm bảo thực hiện các chứcnăng quản lý và điều hành nền kinh tế, xã hội của Nhà nước

Trang 16

1.2.1.3 Vai trò của NSNN

- NSNN là công cụ huy động nguồn tài chính để đảm bảo các nhu cầu chitiêu của Nhà nước Bất kỳ một Nhà nước nào, muốn tồn tại và duy trì đượccác chức năng của mình, trước hết phải có nguồn lực tài chính Đó là cáckhoản chi cho bộ máy quản lý Nhà nước, cho lực lượng quân đội, cảnh sát,cho nhu cầu văn hoá, giáo dục, y tế, phúc lợi xã hội, chi cho đầu tư phát triểnv.v Nhưng muốn tạo lập được NSNN, trước hết phải tập hợp các khoản thutheo luật định, cân đối chi tiêu theo tiêu chuẩn định mức đúng với chính sáchhiện hành Đó chính là sự huy động các nguồn lực tài chính và đảm bảo nhucầu chi tiêu theo kế hoạch của Nhà nước, thực hiện việc cân đối thu chi bằngtiền của Nhà nước

Mức động viên các nguồn tài chính từ các chủ thể trong nguồn kinh tế đòihỏi phải hợp lí nếu mức động viên quá cao hoặc quá thấp thì sẽ ảnh hưởngđến sự phát triển của nền kinh tế, vì vậy cần phải xác định mức huy động vàongân sách nhà nước một cách phù hợp với khả năng đóng góp tài chính củacác chủ thể trong nền kinh tế

- NSNN là công cụ điều tiết vĩ mô nền kinh tế - xã hội:

Ngân sách nhà nước là công cụ định hướng hình thành cơ cấu kinh tế mới,kích thích phát triển sản xuất kinh doanh và chống độc quyền

Trước hết, Chính phủ sẽ hướng hoạt động của các chủ thể trong nền kinh tế đivào quỹ đạo mà chính phủ đã hoạch định để hình thành cơ cấu kinh tế tối ưu,tạo điều kiện cho nền kinh tế phát triển ổn định và bền vững

Thông qua hoạt động chi Ngân sách, Nhà nước sẽ cung cấp kinh phíđầu tư cho cơ sở kết cấu hạ tầng, hình thành các doanh nghiệp thuộc cácngành then chốt trên cơ sở đó tạo môi trường và điều kiện thuận lợi cho sự rađời và phát triển các doanh nghiệp thuộc mọi thành phần kinh tế (có thể thấy

rõ nhất tầm quan trọng của điện lực, viễn thông, hàng không đến hoạt độngkinh doanh của các Doanh nghiệp) Bên cạnh đó, việc cấp vốn hình thành cácdoanh nghiệp Nhà nước là một trong những biện pháp căn bản để chống độc

Trang 17

quyền và giữ cho thị trường khỏi rơi vào tình trạng cạnh tranh không hoànhảo Và trong những điều kiện cụ thể, nguồn kinh phí trong ngân sách cũng

có thể được sử dụng để hỗ trợ cho sự phát triển của các doanh nghiệp, đảmbảo tính ổn định về cơ cấu hoặc chuẩn bị cho việc chuyển sang cơ cấu mớihợp lý hơn Thông qua hoạt động thu, bằng việc huy động nguồn tàichính thông qua thuế, ngân sách nhà nước đảm bảo thực hiện vai trò địnhhướng đầu tư, kích thích hoặc hạn chế sản xuất kinh doanh

Về mặt kinh tế kích thích sự tăng trưởng kinh tế theo sự định hướng

phát triển kinh tế xã hội thông qua các công cụ thuế và thuế suất của nhà nước

sẽ góp phần kích thích sản xuất phát triển thu hút sự đầu tư của các doanhnghiệp Ngoài ra nhà nước còn dùng ngân sách nhà nước đầu tư vào cơ sở hạtầng tạo điều kiện và môi trường thuận lợi cho các doanh nghiệp hoạt động

Về mặt xã hội vai trò điều tiết thu nhập giữa các tần lớp dân cư trong

xã hội Trợ giúp trực tiếp dành cho những người có thu nhập thấp hay có hoàncảnh đặc biệt như chi về trợ cấp xã hội, trợ cấp gián tiếp dưới hình thức trợgiá cho các mặt hàng thiết yếu, các khoản chi phí để thực hiện chính sách dân

số, chính sách việc làm, chống mù chữ, hỗ trợ đồng bào bão lụt

Về mặt thị trường nhà nước sẽ sử dụng ngân sách nhà nước như một

công cụ để góp phần bình ổn giá cả và kiềm chế lạm phát Nhà nước chỉ điềutiết những mặt hàng quan trọng những mặt hàng mang tính chất chiến lược

Cơ chế điều tiết thông qua trợ giá, điều chỉnh thuế suất thuế xuất nhập khẩu,

dự trữ quốc gia Thị trường vốn sức lao động: thông qua phát hành trái phiếu

và chi tiêu của chính phủ Kiềm chế lạm phát: Cùng với ngân hàng trungương với chính sách tiền tệ thích hợp NSNN góp phần điều tiết thông quachính sách thuế và chi tiêu của chính phủ

1.2.2 Thu ngân sách nhà nước

1.2.2.1 Khái niệm

Để có kinh phí chi cho mọi hoạt động của mình, nhà nước đã đặt ra cáckhoản thu (các khoản thuế khóa) do mọi công dân đóng góp để hình thành

Trang 18

nên quỹ tiền tệ của mình Thực chất, thu ngân sách nhà nước là việc nhà nướcdùng quyền lực của mình để tập trung một phần nguồn tài chính quốc gia hìnhthành quỹ ngân sách nhà nước nhằm thỏa mãn các nhu cầu của nhà nước.

Ở Việt Nam, đứng về phương diện pháp lý, thu NSNN bao gồm những

khoản tiền Nhà nước huy động vào ngân sách để thỏa mãn nhu cầu chi tiêucủa Nhà nước Về mặt bản chất, thu NSNN là hệ thống những quan hệ kinh tếgiữa Nhà nước và xã hội phát sinh trong quá trình Nhà nước huy động cácnguồn tài chính để hình thành nên quỹ tiền tệ tập trung của Nhà nước nhằmthỏa mãn các nhu cầu chi tiêu của mình Thu NSNN chỉ bao gồm nhữngkhoản tiền Nhà nước huy động vào ngân sách mà không bị ràng buộc bởitrách nhiệm hoàn trả trực tiếp cho đối tượng nộp

Thu NSNN là quá trình nhà nước sử dụng quyền lực công để tập trung

một bộ phận của cải xã hội hình thành nên quỹ NSNN phục vụ cho việc chidùng của Nhà nước Thu NSNN ở xã hội nào cũng gắn liền với quyền lựcchính trị, các chức năng nhiệm vụ của Nhà nước Do vậy, thu NSNN mangtính bắt buộc cưỡng chế Nhà nước là đại diện của nhân dân, chủ sở hữu toàn

bộ tài sản quốc gia, tài nguyên đất nước, các cơ sở kinh tế Thành quả hoạtđộng của các nguồn lực được tập trung vào quỹ NSNN dưới các hình thứckhác nhau, phù hợp với từng ngành, từng lĩnh vực, sản phẩm và nhu cầu tàichính của Nhà nước

Thu NSNN tạo nên sức mạnh tài chính của Nhà nước, có vị trí đặc biệtquan trọng để thực hiện chức năng tổ chức và quản lý đất nước của Nhà nước.Nắm vững bản chất của thu NSNN để đề ra các biện pháp quản lý thu, cũngnhư xác định mức động viên phù hợp, bảo đảm mối quan hệ lợi ích hợp lýgiữa Nhà nước và các chủ thể khác trong xã hội Đó là cơ sở, nền tảng đảmbảo thu đúng, thu đủ, chống thất thu cho NSNN

Nhà nước dùng quyền lực để thu NSNN thể hiện bằng nhiều hình thứckhác nhau như: ban hành các chủ trương, chính sách thu NSNN; hướng dẫn

Trang 19

thực hiện quy trình thủ tục thu NSNN; áp dụng các biện pháp thoái thu hoặccưỡng chế chấp hành nghĩa vụ nộp NSNN

Thu ngân sách huyện: Là quá trình tạo lập, hình thành ngân sách

huyện Thu ngân sách đóng vai trò quan trọng quyết định đến chi ngân sách

Để đảm bảo nguồn thu cho ngân sách cần phải có chính sách thu hợp lý, hiệuquả

Chính sách thu ngân sách là tập hợp các biện pháp, chủ trương nhằmhuy động nguồn thu vào cho NSNN

Ngân sách huyện là một bộ phận hữu cơ của Ngân sách Nhà nước,cùng ra đời, tồn tại và phát triển cùng với sự tồn tại phát triển của hệ thốngNSNN Từ đó Ngân sách huyện đã trở thành một cấp ngân sách đã làm cho bộmặt NSNN mang một diện mạo, sắc thái mới Nền tài chính quốc gia trở nênmạnh hơn đảm bảo chức năng, nhiệm vụ được ủy quyền từ ngân sách Trungương

1.2.2.2 Phân loại thu NSNN

- Căn cứ vào nội dung kinh tế của các khoản thu:

Thu thuế: Thuế là một khoản đóng góp bắt buộc cho nhà nước do luật quy

định đối với các pháp nhân và thể nhân nhằm đáp ứng nhu cầu chi tiêu củanhà nước Thuế phản ánh các quá trình phân phối lại thu nhập trong xã hội,thể hiện các mối quan hệ tài chính giữa nhà nước với các pháp nhân và thểnhân trong phân phối các nguồn tài chính và là công cụ cơ bản thực hiện phânphối tài chính

Phí và lệ phí: Phí và lệ phí là khoản thu có tính chất bắt buộc, nhưng

mang tính đối giá, nghĩa là phí và lệ phí thực chất là khoản tiền mà mọi côngdân trả cho nhà nước khi họ hưởng thụ các dịch vụ do nhà nước cung cấp Sovới thuế, tính pháp lý của phí và lệ phí thấp hơn nhiều Phí gắn liền với vấn đềthu hồi một phần hay toàn bộ chi phí đầu tư đối với hàng hóa dịch vụ côngcộng hữu hình Lệ phí gắn liền với việc thụ hưởng những lợi ích do việc cungcấp các dịch vụ hành chính, pháp lý cho các thể nhân và pháp nhân

Trang 20

Các khoản thu từ các hoạt động kinh tế của nhà nước

Các khoản thu này bao gồm:

 Thu nhập từ vốn góp của nhà nước vào các cơ sở kinh tế có vốn góp thuộc

sở hữu nhà nước;

 Tiền thu hồi vốn tại các cơ sở của nhà nước;

 Thu hồi tiền cho vay của nhà nước

Thu từ hoạt động sự nghiệp: Các khoản thu có lãi và chênh lệch từ

các hoạt động của các cơ sở sự nghiệp có thu của nhà nước

Thu từ bán hoặc cho thuê tài nguyên, tài sản thuộc sở hữu nhà nước:

Khoản thu này mang tính chất thu hồi vốn và có một phần mang tính chấtphân phối lại, vừa có tính chất phân phối lại, vừa có tác dụng nâng cao hiệuquả sử dụng tài sản quốc gia vừa tăng nguồn thu cho ngân sách nhà nước Cácnguồn thu từ bán hoặc cho thuê tài sản, tài nguyên, thiên nhiên; thu về bán tàisản thuộc sở hữu nhà nước

Thu từ phạt, tịch thu, tịch biên tài sản: Các khoản thu này cũng là

một phần thu quan trọng của thu ngân sách nhà nước và được pháp luật quyđịnh

+ Thu từ hoạt động hợp tác với nước ngoài

+ Thu khác…

- Căn cứ vào tính chất phát sinh các khoản thu:

+ Thu thường xuyên

+ Thu không thường xuyên

- Căn cứ vào tính chất cân đối NSNN:

+ Thu trong cân đối NSNN

+ Thu ngoài cân đối NSNN (thu bù đắp thiếu hụt NSNN)

1.2.2.3 Đặc điểm của thu ngân sách nhà nước

Một là, tuyệt đại đa số các khoản thu NSNN là các khoản thu mang tính

chất bắt buộc Tính chất bắt buộc ở mỗi khoản thu có sự khác nhau Có những

Trang 21

khoản thu tính bắt buộc dựa trên trách nhiệm của công dân được quy địnhtrong Hiến pháp, hoàn toàn không mang tính thỏa thuận, mà do quyền lực củaNhà nước quyết định Có những khoản thu mang tính bắt buộc nhưng nó gắnvới những điều kiện nhất định như các khoản thu NSNN về phí, lệ phí về bántài nguyên khoáng sản, tài nguyên quốc gia, các khoản thu do thực hiện chủtrương liên doanh liên kết giữa Nhà nước với các đơn vị sản xuất kinh doanhtrong các ngành kinh tế trọng điểm Điều kiện ở đây chính là sự trao đổi giữaNhà nước với các chủ thể trong nền kinh tế.

Hai là, các khoản thu NSNN về cơ bản là những khoản thu chuyển dịch

nguồn lực tài chính từ khu vực tư sang khu vực công Mức độ chuyển dịchlớn hay nhỏ phụ thuộc vào nhu cầu chi tiêu của NSNN và kết quả hoạt độngsản xuất kinh doanh của toàn xã hội Cho dù nhu cầu chi tiêu của NSNN lớn,nhưng kế hoạch sản xuất kinh doanh còn hạn chế thì mức độ động viên thuNSNN cũng không thể thoát ly được thực trạng của nền kinh tế Chính vì vậymối quan hệ giữa mức động viên của thu NSNN với kết quả hoạt động sảnxuất kinh doanh của xã hội là rất cơ bản, có nhạy cảm trong lĩnh vực quản lý,điều hành tài chính của Nhà nước Thu NSNN là một hình thức phân phốinguồn tài chính của một quốc gia giữa nhà nước với các chủ thể trong xã hộidựa trên quyền lực của nhà nước nhằm giải quyết hài hòa các mối quan hệ vềlợi ích kinh tế Sự phân phối này xuất phát từ yêu cầu tồn tại và phát triển của

bộ máy nhà nước cũng như yêu cầu thực hiện các chức năng của nhà nước.Thu NSNN là tiền đề cần thiết để duy trì quyền lực chính trị và thực hiện cácchức năng, nhiệm vụ của Nhà nước Mọi khoản thu của Nhà nước đều đượcthể chế hóa bởi các chính sách, chế độ và pháp luật của Nhà nước

Ba là, các khoản thu NSNN nói chung là những khoản thu hoàn toàn chứa

đựng các mối quan hệ chính trị, kinh tế, xã hội Các khoản thu của NSNNluôn luôn chứa đựng quan điểm của một Nhà nước cầm quyền, phản ánh hoạtđộng sản xuất kinh doanh của xã hội, mang những đặc trưng nhất định của

Trang 22

mỗi quốc gia Tuy nhiên trong điều kiện toàn cầu hóa, mở cửa và hội nhập,mối quan hệ này còn chịu bởi tác động của thế giới bên ngoài.

Bốn là, mức độ và cơ cấu các khoản thu NSNN của mỗi quốc gia về cơ

bản phản ánh mức độ và cơ cấu phát triển của nền kinh tế Về tổng thể mức

độ, xu hướng chuyển dịch cơ cấu kinh tế của một quốc gia phần nào đượcphản ánh ở mức độ, cơ cấu của thu NSNN Có thể nhìn vào mức độ và cơ cấucác khoản thu NSNN hiểu được phần nào về quá trình phát triển và chuyểndịch cơ cấu của nền kinh tế Đồng thời, thông qua mức độ và cơ cấu cáckhoản thu NSNN có thể phân tích, đánh giá tính bền vững của NSNN nóichung và tính bền vững của thu NSNN nói riêng

Năm là, các khoản thu NSNN dù có tính bắt buộc hay tự nguyện đều được

thể chế bằng các văn bản pháp luật ở những mức độ khác nhau tùy theo tínhchất, tầm quan trọng của các khoản thu Có khoản thu NSNN được thể chếbằng pháp lệnh như thuế và một số loại phí quan trọng, có những khoản thuđược thể chế bằng các nghị định , quyết định, thông tư Việc bắt buộc cáckhoản thu NSNN phải được thể chế bằng các văn bản pháp luật bởi lẽ thựcchất thu NSNN là sự phân chia lợi ích Sự phân chia này luôn có tính mâuthuẫn Nếu sự phân chia lợi ích đó không có tính chuẩn mực, tùy tiện dễ dẫnđến mâu thuẫn đối kháng, chia rẽ trong xã hội Chính vì lẽ đó mà tất cả cáckhoản thu NSNN phải được thể chế bằng các văn bản pháp luật ở những mức

độ khác nhau

Sáu là, thu NSNN được thực hiện theo nguyên tắc hoàn trả không trực tiếp

là chủ yếu Thu NSNN chỉ bao gồm các khoản tiền Nhà nước huy động vàoNSNN mà không bị ràng buộc bởi trách nhiệm hoàn trả trực tiếp cho các đốitượng nộp Các chủ thể nộp NSNN được chuyển trả một cách gián tiếp vàcông cộng

1.2.2.4 Vai trò thu ngân sách nhà nước

NSNN gồm hai mặt hoạt động cơ bản là thu và chi NSNN Trong hai mặtnày, thu NSNN đóng vai trò tạo lập và hình thành quỹ NSNN, tạo nguồn tài

Trang 23

chính để nhà nước thực hiện các chức năng, nhiệm vụ của mình Đồng thời,thu NSNN là một kênh phân phối lại thu nhập quốc dân trong hệ thống tàichính quốc gia.

Thứ nhất, dưới góc độ là hoạt động tạo nguồn tài chính của Nhà nước, thu

NSNN nhằm đảm bảo nguồn tài chính để duy trì hoạt động của bộ máy nhànước, đảm bảo trật tự xã hội, an ninh quốc phòng

Về mặt kinh tế, thu NSNN tạo ra nguồn lực kinh tế vững chắc, là công cụ

để Nhà nước thực hiện vai trò quản lý vĩ mô đối với nền kinh tế: củng cố vàphát triển thành phần kinh tế nhà nước và kinh tế tập thể, xây dựng nền kinh

tế thị trường theo định hướng kinh tế xã hội chủ nghĩa; tạo lập các cân đối lớncủa nền kinh tế gồm cơ cấu ngành, vùng và cơ cấu các thành phần kinh tế;đầu tư cơ sở hạ tầng kinh tế - kỹ thuật, phát triển các ngành kinh tế then chốt

và vùng kinh tế trọng điểm để thúc đẩy tăng trưởng; tạo môi trường kinh tếthuận lợi cho các hoạt động kinh tế thông qua các hoạt động điều chỉnh lãisuất, tỷ giá, tỷ lệ lạm phát của Nhà nước Trong nền kinh tế thị trường, thuNSNN là một trong những công cụ quan trọng của Nhà nước để định hướng,hướng dẫn, kích thích, điều tiết sản xuất và tiêu dùng

Về mặt xã hội, thu NSNN tạo nguồn tài chính để đảm bảo phúc lợi xã hội,đáp ứng các nhu cầu về y tế, giáo dục, văn hóa xã hội, thể thao, nghệ thuật,thực hiện công bằng xã hội

Thứ hai, dưới góc độ biểu hiện quan hệ kinh tế giữa Nhà nước và các chủ

thể khác trong nền kinh tế, thu NSNN là một công cụ kinh tế của Nhà nước đểđiều tiết vĩ mô nền kinh tế theo định hướng, kế hoạch

Trong nền kinh tế hàng hóa – tiền tệ, sự vận động của nền kinh tế đượcthông qua sự vận động của hàng hóa và sự vận động của luồng tiền tệ Sự vậnđộng của hai luồng này luôn trái chiều nhau, song có mối quan hệ tác độngqua lại lẫn nhau và có ảnh hưởng lớn đến mục tiêu của kinh tế vĩ mô ThuNSNN có tác động mạnh đến sự vận động của luồng tiền tệ và từ đó tác độngđến mục tiêu của kinh tế vĩ mô Kinh tế vĩ mô nghiên cứu và xử lý các vấn đề

Trang 24

kinh tế lớn mang tính đại cục như: thất nghiệp, lạm phát, năng suất, lãi suất,thâm hụt ngân sách, thâm hụt ngoại thương Đó là những vấn đề lớn tác độngđến toàn bộ nền kinh tế Trong nền kinh tế thị trường, các vấn đề lớn đó luôn

có sự biến động do những tác động của quy luật kinh tế thị trường Nhữngbiến động đó có thể tác động tích cực hoặc tiêu cực đối với quá trình pháttriển nền kinh tế của mỗi quốc gia

Vấn đề của Chính phủ đảm bảo được cho nền kinh tế phát triển ổn định,đạt được hiệu quả cao, bảo đảm công bằng trong phân phối của cải trong xãhội Để thực hiện được mục tiêu đó, Chính phủ phải sử dụng hệ thống phápluật, công cụ kinh tế, tài chính nhằm tác động đến các vấn đề lớn của nền kinh

tế vĩ mô trong đó có công cụ thu NSNN

Chính phủ sử dụng công cụ thu NSNN bằng cách xây dựng hệ thống chínhsách thu tương thích với hiện trạng nền kinh tế trong mỗi giai đoạn phát triển.Khi nền kinh tế phát triển nóng, tiềm ẩn nguy cơ lạm phát cao, Chính phủtăng mức động viên thu NSNN nhằm góp phần kiềm chế lạm phát, góp phầntạo ra sự tăng trưởng kinh tế ổn định, bền vững Ngược lại khi nền kinh tế ởgiai đoạn suy thoái, đầu tư xã hội giảm sút, doanh lợi của nền kinh tế suygiảm, mức tiêu dùng xã hội thấp, thất nghiệp có chiều hướng gia tăng, trongbối cảnh đó Chính phủ phải dùng công cụ thu NSNN theo chiều giảm mứcđộng viên NSNN qua đó kích thích tăng mức đầu tư xã hội, tạo ra nhiều việclàm, kích thích tiêu dùng xã hội, đưa nền kinh tế vượt qua giai đoạn suy thoái.Trong quá trình sử dụng công cụ thu NSNN để điều chỉnh các chính sách vĩ

mô phải hết sức thận trọng, phù hợp với thời gian, không gian trong quá trìnhvận hành các vấn đề lớn của nền kinh tế, vì sử dụng công cụ này không phùhợp dễ dẫn đến rối loạn nền kinh tế

Muốn sử dụng công cụ thu NSNN tốt có khả năng điều chỉnh vĩ mô đượcnền kinh tế đòi hỏi vấn đề phân tích, dự báo, nắm chắc được thực trạng cácvấn đề kinh tế vĩ mô với những thời gian và không gian phù hợp

Trang 25

Thu NSNN chỉ thực sự trở thành công cụ tích cực trong việc huy độngnguồn lực tài chính cho nhà nước cũng như trong điều chỉnh các vấn đề kinh

tế vĩ mô của đất nước khi và chỉ khi công tác quản lý thu NSNN được tổ chứctốt và có hiệu quả

1.2.2.5 Quản lý thu ngân sách nhà nước

- Khái niệm quản lý thu NSNN:

Quản lý thu NSNN là quá trình Nhà nước sử dụng hệ thống các công cụchính sách, pháp luật để tiến hành quản lý thu thuế và các khoản thu ngoàithuế vào NSNN nhằm đảm bảo tính công bằng khuyến khích SXKD pháttriển Đây là khoản tiền Nhà nước huy động vào ngân sách mà không bị ràngbuộc bởi trách nhiệm hoàn trả trực tiếp cho đối tượng nộp ngân sách Phầnlớn các khoản thu NSNN đều mang tính chất cưỡng chế, bắt buộc mọi ngườidân, mọi thành phần kinh tế phải tuân thủ thực hiện

Trong việc quản lý các nguồn thu ngân sách, thuế là nguồn thu quan trọngnhất Thuế không chỉ chiếm một tỷ trọng lớn trong tổng số thu NSNN hàngnăm mà còn là công cụ của nhà nước để quản lý vĩ mô trong nền kinh tế quốcdân Để phát huy tốt tác dụng điều tiết vĩ mô của các chính sách thuế, ở nước

ta cũng như các nước khác trên thế giới, nội dung của chính sách thuế thườngxuyên thay đổi cho phù hợp với diễn biến thực tế của đời sống kinh tế - xã hội

và phù hợp với yêu cầu của quản lý kinh tế, tài chính Các sắc thuế chủ yếuhiện đang được áp dụng ở nước ta hiện nay gồm có: Thuế giá trị gia tăng,thuế tiêu thụ đặc biệt, thuế thu nhập doanh nghiệp, thuế xuất nhập khẩu, thuếthu nhập đối với người có thu nhập cao, thuế tài nguyên, thuế sử dụng đấtnông nghiệp, thuế chuyển quyền sử dụng đất, thuế nhà,đất

- Đặc điểm của quản lý thu ngân sách nhà nước:

Quản lý thu NSNN là một bộ phận quan trọng của quản lý tài chính công,

nó mang những đặc trưng vốn có của quản lý tài chính công

Thứ nhất, quản lý thu NSNN được xác lập trên cơ sở các văn bản quản lý

pháp luật do Nhà nước ban hành

Trang 26

Quản lý thu NSNN được xác lập trên cơ sở các văn bản quản lý pháp luật

do Nhà nước ban hành phải được thể hiện rõ từ khâu lập kế hoạch thu đế khâu

tổ chức thực hiện kế hoạch thu và quá trình kiểm tra, giám sát, đánh giá quátrình thực hiện và kết quả thực hiện kế hoạch thu Thoát ly cơ sở các văn bảnpháp luật do Nhà nước ban hành, công tác quản lý thu NSNN sẽ mất phươnghướng, thậm chí có thể dẫn tới hậu quả tiêu cực

Thứ hai, quản lý thu NSNN là sự phối hợp đồng bộ, chặt chẽ giữa các

khâu công việc, giữa các cơ quan, bộ phận liên quan đến việc thực hiện nghĩa

vụ đối với NSNN

Đây là một trong những đặc điểm quan trọng của quản lý thu NSNN.Trách nhiệm quản lý thu NSNN không chỉ là trách nhiệm của cơ quan quản lýthu mà là trách nhiệm chung của cả bộ máy nhà nước Tùy theo vị trí của từng

cơ quan nhà nước mà phạm vi, mức độ trách nhiệm của mỗi cơ quan có khácnhau trong quản lý thu NSNN Tuy nhiên trong quản lý thu NSNN nếu thiếu

sự phối hợp chặt chẽ, việc quản lý thu NSNN sẽ gặp không ít khó khăn, thậmchí khó hoàn thành nhiệm vụ thu do Nhà nước đề ra Chính vì vậy, trong quản

lý thu NSNN phải coi việc phối hợp vừa là một đặc điểm quan trọng, vừa làmột yêu cầu có tính nguyên tắc không thể bỏ qua

Thứ ba, quản lý thu NSNN luôn bám sát với quá trình vận động của nền

kinh tế

Nói chung sự vận động của nền kinh tế sẽ có ảnh hưởng đến công tác lập

kế hoạch thu, đến việc tổ chức triển khai các biện pháp thực hiện kế hoạchthu Nếu không bám sát với quá trình vận động của nền kinh tế thì tổ chứccông tác quản lý thu NSNN từ khâu lập kế hoạch thu cho đến khâu tổ chứctriển khai các biện pháp, quy trình thu và kiểm tra giám sát quá trình thựchiện kế hoạch thu sẽ mất phương hướng và không sát với thực tiễn, mang tínhchủ quan phiêu lưu

Trang 27

Thứ tư, quản lý thu NSNN là sự quản lý mang tính chất tổng hợp, là sự

phối kết hợp giữa quản lý mang tính chất nghiệp vụ thu và quản lý các hoạtđộng kinh tế của các chủ thể thực hiện nghĩa vụ đối với NSNN

- Yêu cầu quản lý thu ngân sách nhà nước:

Bảo đảm động viên đầy đủ, kịp thời các khoản thu của NSNN theo đúngchính sách, chế độ, văn bản pháp luật của Nhà nước Đây là yêu cầu tất yếumang tính chất bắt buộc của công tác quản lý thu NSNN; bởi lẽ không bảođảm động viên đầy đủ, kịp thời số thu NSNN đã được xác định thì mọi kếhoạch chỉ tiêu của NSNN cho phát triển kinh tế xã hội của đất nước sẽ bị phá

vỡ và không thực hiện được Để đảm bảo động viên đầy đủ, kịp thời số thuNSNN đã được xác định, công tác quản lý thu NSNN phải nắm chắc diễnbiến nguồn thu phát sinh tại các cơ sở sản xuất kinh doanh, kịp thời có biệnpháp động viên thích hợp số thu vào NSNN; đồng thời có biện pháp chốngthất thu, gian lận thương mại, đi sâu vào phân tích diễn biến tình hình giá cả,lãi suất trên thị trường đối với các loại hàng hóa dịch vụ

Bảo đảm thực thi nghiêm chỉnh các văn bản pháp luật về thu NSNN từ các

cơ quan quản lý thu cũng như từ đối tượng thực hiện nghĩa vụ đối với NSNN.Kịp thời phát hiện những bất hợp lý trong chính sách, chế độ và các văn bảnpháp luật về thu NSNN để kiến nghị những giải pháp bổ sung, sửa đổi

Xác lập cơ chế, quy trình quản lý thu thích hợp, tuân thủ các yêu cầu cảicách hành chính trong lĩnh vực tài chính, NSNN; tận dụng tối đa những thànhquả công nghệ tin học, bảo đảm cơ chế, quy trình quản lý thu NSNN theohướng hiện đại, phù hợp với xu thế chung của thế giới và khu vực, tạo mọiđiều kiện thuận lợi tối đa cho tổ chức và cá nhân thực hiện nghĩa vụ đối vớiNSNN

Trong quản lý thu NSNN phải có sự phân định trách nhiệm rõ ràng; đồngthời phải phối kết hợp giữa các bộ phận một cách đồng bộ, nhịp nhàng

Trang 28

- Nội dung quản lý thu ngân sách nhà nước:

Một là, quản lý quá trình huy động nguồn thu của NSNN

Quản lý quá trình huy động nguồn thu của NSNN bao gồm công tác quản

lý quá trình xây dựng kế hoạch thu, quản lý quá trình triển khai các biện pháphành thu, quản lý quá trình thu nộp các khoản thu vào NSNN Quản lý quátrình xây dựng kế hoạch thu thực chất là xem xét, đánh giá tính xác thực của

kế hoạch thu, xem xét kế hoạch thu được xây dựng dựa trên những cơ sở nào,

có phù hợp với hệ thống chính sách, chế độ và văn bản pháp luật thu của Nhànước, có phản ánh được những diễn biến của quá trình sản xuất kinh doanhhay không

Quản lý quá trình triển khai các biện pháp hành thu NSNN thực chất làviệc xem xét việc xác lập quy trình thu và tổ chức triển khai quy trình thu cóphù hợp với thực tế hay không, có tạo điều kiện thuận lợi cho tổ chức và cánhân thực hiện nghĩa vụ đối với NSNN hay không, có tiết kiệm chi phí hànhthu hay không Ngoài ra, quản lý quá trình triển khai các biện pháp hành thucòn bao gồm việc xem xét, đánh giá cách thức quản lý và sử dụng nguồn lựcphục vụ cho việc triển khai các biện pháp hành thu có hiệu quả hay không.Trong điều kiện hiện nay ở nước ta việc quản lý quá trình triển khai cácbiện pháp hành thu là xem xét các biện pháp hành thu đó có đáp ứng đượcyêu cầu động viên đầy đủ, kịp thời, đúng chính sách chế độ số thu về NSNNhay không và có chống được tình trạng thất thu, gian lận thương mại haykhông

Song song với việc quản lý quá trình triển khai các biện pháp hành thu,phải không ngừng cải tiến quy trình thu nộp, bảo đảm cho số thu được tậptrung đầy đủ và kịp thời vào NSNN, không để tình trạng xâm tiêu tiền thu củaNSNN Ðó cũng là một trong những nội dung quan trọng trong công tác quản

lý thu NSNN Để thực hiện được nội dung này cần đòi hỏi phải không ngừngcải tiến, đổi mới công tác thống kê, kế toán phải phản ánh trung thực, chínhxác, đầy đủ số thu của NSNN

Trang 29

Hai là, quản lý sự tuân thủ các chính sách, chế độ và các văn bản pháp luật về thu NSNN

Các chính sách, chế độ và các văn bản pháp luật về thu NSNN không chỉ

là công cụ để động viên nguồn thu của NSNN mà còn là sự thể hiện quanđiểm điều hành của một Nhà nước trong lĩnh vực tài chính công Nói chungvới một Nhà nước của dân, do dân và vì dân thì các chính sách, chế độ và cácvăn bản pháp luật về thu NSNN được Nhà nước ban hành đều vì lợi ích củanhân dân Tuy nhiên, khi triển khai thực hiện thì thường xuất hiện mâu thuẫngiữa lợi ích lâu dài và lợi ích trước mắt Tổ chức, cá nhân thực hiện nghĩa vụđối với NSNN thông thường chỉ thấy lợi ích trước mắt khi họ thực hiện nghĩa

vụ với NSNN là nguồn lực chính do họ tạo ra bị mất đi Hơn nữa, trong bốicảnh nạn tham nhũng có chiều hướng gia tăng, lòng tin của nhân dân vào Nhànước có phần giảm sút thì sự tuân thủ các chính sách, chế độ, các văn bảnpháp luật về thu NSNN từ các tổ chức, cá nhân cũng có phần giảm sút theo.Thực tế ngày càng đòi hỏi phải coi việc bảo đảm tuân thủ các chính sách, chế

độ, các văn bản pháp luật về thu NSNN là một trong những nội dung quantrọng của công tác quản lý thu NSNN

Để đảm bảo sự tuân thủ chính sách, chế độ và các văn bản pháp luật về thucủa Nhà nước, điều quan trọng là sự kiểm tra, giám sát, phân loại mức độ tuânthủ để có biện pháp xử lý thích hợp, thì vấn đề tuyên truyền giải thích và triệt

để chống nạn tham nhũng phải coi là một biện pháp quan trọng

- Vai trò quản lý thu ngân sách nhà nước

Quản lý thu NSNN đóng vai trò rất quan trọng, thể hiện:

Thứ nhất, quản lý thu NSNN là công cụ quản lý của Nhà nước để kiểm

soát, điều tiết các hoạt động SXKD của mọi thành phần kinh tế, kiểm soát thunhập của mọi tầng lớp dân cư trong xã hội nhằm động viên sự đóng góp đảmbảo công bằng, hợp lý Các nhà nước trong lịch sử đều sử dụng công cụ thuế để

ổn định và phát triển nền kinh tế, chống lại các hành vi kinh doanh phạm pháp

Trang 30

Thứ hai, quản lý thu NSNN là công cụ động viên, huy động các nguồn

lực tài chính cần thiết nhằm tạo lập quỹ tiền tệ tập trung của NSNN Huyđộng các nguồn tài chính cần thiết vào nhà nước là nhiệm vụ chủ yếu của hệthống thu dưới bất kỳ chế độ nào, đó là đòi hỏi tất yếu của mọi nhà nước Nhànước muốn thực hiện các chức năng, nhiệm vụ lịch sử của mình tất yếu phải

có nguồn tài chính Nguồn tài chính mà Nhà nước có được đại bộ phận doquản lý tốt nguồn thu ngân sách mang lại

Thứ ba, quản lý thu NSNN là nhằm khai thác, phát hiện, tính toán

chính xác các nguồn tài chính của đất nước để có thể động viên được và cũngđồng thời không ngừng hoàn thiện các chính sách, các chế độ thu để có cơchế tổ chức quản lý hợp lý Đây là một nhiệm vụ quan trọng của Nhà nướctrong quá trình tổ chức QLKT

Thứ tư, quản lý thu ngân sách góp phần tạo môi trường bình đẳng, công

bằng giữa các thành phần kinh tế, giữa các doanh nghiệp trong và ngoài nướctrong quá trình SXKD Với hình thức thu và mức thu thích hợp kèm với cácchế độ miễn giảm công bằng, thu NSNN có tác động trực tiếp đến quá trìnhSXKD của cơ sở Với sự tác động quản lý thu ngân sách sẽ góp phần tạo nênmôi trường kinh tế thuận lợi đối với quá trình SXKD Đồng thời nó là công cụquan trọng góp phần thực hiện chức năng kiểm tra, kiểm soát của Nhà nước đốivới toàn bộ hoạt động SXKD của xã hội

Thứ năm, quản lý thu ngân sách có vai trò tác động đến sản lượng và

sản lượng tiềm năng, cân bằng của nền kinh tế Việc tăng mức thuế quá mứcthường dẫn tới giảm sản lượng trong nền kinh tế, tức là thu hẹp quy mô củanền kinh tế Ngược lại, giảm mức thuế chung có xu thế làm tăng sản lượngcân bằng Trong nền KTTT, người ta sử dụng tính chất này để điều chỉnh quy

mô sản lượng của nền kinh tế cũng như các doanh nghiệp và hộ kinh doanh

1.2.2.5 Các nhân tố đảm bảo tăng thu ngân sách nhà nước

Một vấn đề hết sức quan trọng trong thu NSNN là việc xác định mức độngviên và mức độ động viên một cách đứng đắn, hợp lý Điều đó không chỉ ảnh

Trang 31

hưởng đến số thu NSNN mà còn tác động mạnh mẽ đến quá trình phát triểnkinh tế xã hội Mức động viên và lĩnh vực động viên lại chịu tác động củanhiều nhân tố kinh tế, chính trị, xã hội của một quốc gia Các nhân tố ảnhhưởng và đảm bảo tăng thu ngân sách phải kể đến là:

- Trình độ phát triển kinh tế

Nền kinh tế ngày càng tạo ra nhiều giá trị gia tăng thì thu NSNN càngnhiều và bền vững Mối quan hệ giữa ngân sách nhà nước và tăng trưởng kinh

tế như sau:

Thu nhập GDP bình quân đầu người lớn → Thu NSNN nhiều → Đầu tư

NN tăng → kinh tế phát triển

Thu nhập bình quân đầu người là một chỉ tiêu phản ảnh khả năng tăngtrưởng và phát triển của một quốc gia, phản ánh khả năng tiết kiệm, tiêu dùng

và đầu tư của một nước GDP bình quân đầu người là một nhân tố khách quanquyết định mức động viên của NSNN, vì vậy khi ấn định mức động viên vàoNSNN cần phải cân nhắc tiêu chí này

- Tỷ suất doanh lợi trong nền kinh tế

Phản ánh hiệu quả đầu tư phát triển kinh tế, quyết định đến việc nâng cao

tỷ suất thu NSNN, tỷ suất doanh lợi càng lớn thì nguồn tài chính càng lớn.Dựa vào tỷ suất doanh lợi trong nền kinh tế để xác định tỷ suất thu NSNN sẽtránh được việc động viên vào NSNN gây khó khăn cho hoạt động kinh tế.Hiện nay lợi nhuận trong nền kinh tế nước ta đạt thấp, chi phi tiền lương lạicao nên tý suất doanh lợi chưa thể cao được

- Khả năng khai thác và xuất khẩu nguồn tài nguyên thiên nhiên dầu mỏ vàkhoáng sản Đây là yếu tố làm tăng thu NSNN, ảnh hưởng đến việc nâng cao

tỷ suất thu Đối với những nước có nguồn tài nguyên thiên nhiên dồi dào,phong phú thì việc khai thác và xuất khẩu tài nguyên sẽ đem lại nguồn thu tolớn cho NSNN Với cùng một điều kiện phát triển kinh tế, quốc gia nào có tỷsuất xuất khẩu dầu mỏ và khoáng sản lớn thì tỷ lệ động viên vào NSNN cũnglớn hơn

Trang 32

- Mức độ trang trải các khoản chi phí của Nhà nước

Nhân tố này phụ thuộc vào:

+ Quy mô tổ chức của bộ máy nhà nước và hiệu quả hoạt động của nó;+ Những nhiệm vụ kinh tế - xã hội mà Nhà nước đảm nhận trong từng thờikỳ;

+ Chính sách sử dụng kinh phí của Nhà nước

Khi các nguồn tài trợ khác cho chi phí Nhà nước không có khả năng tănglên, việc tăng chi phí nhà nước sẽ đòi hỏi tỷ suất thu NSNN cũng phải tănglên mới bù đắp được

- Tổ chức bộ máy thu nộp NSNN:

Nếu hệ thống tổ chức cơ quan thuế, hải quan, kho bạc nhà nước gọn nhẹ,đạt hiệu quả cao, chống được thất thu do trốn thuế, lậu thuế sẽ là nhân tố tíchcực làm giảm tỷ suất thu NSNN mà vẫn đáp ứng nhu cầu chi tiêu của NSNNTóm lại để có mức thu đúng đắn có tác dụng thúc đẩy tăng trưởng kinh tếcần phải có sự phân tích đánh giá tỷ mỷ, cụ thể những nhân tố tác động đến

nó trong những điều kiện hoàn cảnh cụ thể và phải được xem xét một cáchtoàn diện

Trang 33

CHƯƠNG 2 THỰC TRẠNG THU NGÂN SÁCH NHÀ NƯỚC TRấN ĐỊA BÀN

HUYỆN ĐỨC THỌ GIAI ĐOẠN 2011 – 2015

2.1 Đặc điểm kinh tế xó hội ảnh hưởng đến thu NSNN của Huyện Đức Thọ, tỉnh Hà Tĩnh

2.1.1 Đặc điểm điều kiện tự nhiờn và tài nguyờn thiờn nhiờn

Đức Thọ là một vựng đất địa linh nhõn kiệt, giàu truyền thống lịch sử vàvăn húa Được thiờn nhiờn ban tặng cho thế nỳi hỡnh sụng khoỏng đóng hữutỡnh, đồng ruộng phỡ nhiờu và cú nhiều danh lam thắng cảnh gắn với cỏc ditớch lịch sử văn húa Đức Thọ có 28 đơn vị hành chính (1 thịtrấn và 27 xã ), tổng diện tích đất tự nhiên 20243,34 ha.Đức Thọ nằm trờn một dải đất hẹp với chiều dài theo đường Quốc lộ 8A

là 16km với đầy đủ cỏc dạng địa hỡnh, cú đồi nỳi, gũ đồi, ven trà sơn, thunglũng, đồng bằng, sụng, với khụng gian hẹp, trong đú đất nỳi đồi và đất rừngchiếm 20,5% diện tớch đất tự nhiờn

Nhìn chung, huyện Đức Thọ có vị trí khá quan trọng đốivới vùng kinh tế phía bắc của tỉnh, với những lợi thế cơ bản

là nằm trên trục đờng Quốc lộ 8A nối QL 1A với cửa khẩu Quốc

tế Cầu Treo và có đờng sắt Bắc Nam chạy qua

Tài nguyên đất

Theo số liệu hiện trạng kiểm kê đất đai năm 2011

(01/01/2011) huyện có tổng diện tích tự nhiên : 20.243,34

ha chiếm 3,34% diện tích tự nhiên của tỉnh, trong đó:

- Đất nông nghiệp : 12.754,33 ha

- Đất phi nông nghiệp : 5.249,50 ha

- Đất cha sử dụng : 2.1239,51 ha

Trang 34

Bảng 2.1: Diện tích và cơ cấu các loại đất năm 2011 của Huyện Đức Thọ,

Hà Tĩnh

(ha)

Cơ cấu (%)

Ghi chú

1.1 Đất sản xuất nông nghiệp 9.696,48 76,03

1.1.1 Đất trồng cây hàng năm 8.042,53 63.06

1.2 Đất sản xuất lâm nghiệp 2.884,70 22,62

2.5 Đất sông suối và mặt nước 1.723,92 32,84

3.2 Đất đồi núi chưa sử dụng 1.119,29

(Nguồn: Quy hoạch - kế hoạch sử dụng đất đai Huyện Đức Thọ - Tỉnh Hà

Trang 35

Tĩnh thời kỳ 2011 – 2020)

Tài nguyên khoáng sản và vật liệu xây dựng

- Nhóm kim loại có Mangan đợc hình thành nằm chủ yếutrên địa phận của các xã là Đức Dũng, Đức An và Đức Lập,trữ lợng ớc tính không phân cấp là 50.000 tấn ( theo số liệukhảo sát, thăm dò quy hoạch khoáng sản )

- Nhóm phi kim loại có Caolanh để làm đồ gốm và vậtliệu xây dựng

- Nhóm nguyên vật liệu xây dựng có đất làm vật liệuchịu lửa ở xã Đức Hoà với trữ lợng hàng triệu tấn, ngoài ra còn

có các mỏ đất sét, cát, đá làm vật liệu xây dựng

Tài nguyên nhân văn

Đức Thọ là vùng đất có truyền thống yêu nớc với những bậccách mạng tiền bối nh Đồng Chí Trần Phú - Nguyên Tổng Bí

Th đầu tiên của Đảng Cộng Sản Việt Nam Đức Thọ còn là nơi

có bề dày lịch sử văn hoá với lòng hiếu học, nhân dân cần cùthông minh sáng tạo nên đã cống hiến cho quê hơng và đấtnớc những nhà trí thức và khoa học lớn Đức Thọ cũng là nơi

có nhiều đền chùa, miếu mạo thể hiện truyền thống tập tụccủa quê hơng và những nơi ghi công những ngời con của quêhơng hy sinh cho sự nghiệp đấu tranh bảo vệ tổ quốc đểthể hiện truyền thống uống nớc nhớ nguồn với những di tíchlịch sử đợc xếp hạng nh nhà lu niệm đồng chí Trần Phú vàcác đền thờ Lê Bôi, Nguyễn Biểu, Phan Đình Phùng, Đinh Lễ,Bùi Dơng Lịch Đức Thọ có những nghề truyền thống đợcphát triển sớm, có những nghề nổi tiếng với những sản phẩmtruyền thống nh nghề mộc ở Thái Yên và nghề dệt ở Yên Hồ,Thọ Ninh, Đông Thái và nghề Bánh Gai Đức Yên và nghề làm

Trang 36

ở mức khá Số hộ giàu, khá còn ít và tập trung ở khu vực đôthị.

Dân số.

Năm 2011 toàn huyện có 125.260 ngời với 31.300 hộ (quymô hộ gia đình 4 ngời), mật độ dân số trung bình toànhuyện 619 ngời/km2, là huyện có mật độ dân số cao thứ 3trong tỉnh

Mật độ dân số đô thị (TT Đức Thọ) là 2.458 ngời/km2,khu vực nông thôn 550 ngời/km2 Dân số khu vực đô thị có8.357 ngời, chiếm 6,68% Dân số khu vực nông thôn có 116.903ngời, chiếm 93,32%

Dự báo tỷ lệ tăng dân số còn tiếp tục giảm, đến năm

2020 dân số của huyện sẽ có khoảng 130.000 ngời Tỷ lệ giatăng dân số không đồng đều giữa các khu vực đô thị với

Trang 37

khu vực nông thôn, giữa khu vực tập trung dân c, các trungtâm cụm xã với các làng Nơi có tỷ lệ sinh cao là vùng nôngthôn, vùng sâu, vùng xa Nhng ở đô thị, các khu vực trungtâm kinh tế - xã hội (trung tâm cụm xã) lại có số dân tăng dotăng cơ học.

Lao động - việc làm.

Năm 2014 toàn huyện có 67.760 lao động trong độtuổi, chiếm 54,09% dân số Trong đó lao động trong khuvực nhà nớc và lao động làm việc ở khu vực kinh tế ngoàinhà nớc là 10.426 ngời chiếm 15,38% tổng số lao động, lao

động nông lâm nghiệp, thuỷ sản 57.334 ngời chiếm 84,62%lao động trong độ tuổi

Những đặc điểm tự nhiờn và tài nguyờn thiờn nhiờn của huyện Đức Thọ

cú ảnh hưởng rất lớn đến việc phỏt triển kinh tế, nhõn tố đảm bảo tăng nguồnthu cho NSNN của địa bàn Huyện trờn cỏc mặt, cỏc lĩnh vực khỏc nhau củađời sống xó hội Đặc biệt Đức Thọ là huyện của diện tớch tự nhiờn khỏ rộng,

là một trong những ngồn tăng thu cho NSNN của huyện

2.2 Thực Trạng Thu Ngõn Sỏch Nhà Nước Huyện Đức Thọ, Tỉnh Hà Tĩnh Giai Đoạn 2011 – 2015

2.2.1 Thực trạng cỏc nguồn thu ngõn sỏch trờn địa bàn huyện so với dự toỏn

Giai đoạn 2011 – 2015, cụng tỏc quản lý thu ngõn sỏch Nhà nước trờnđịa bàn huyện Đức Thọ cú nhiều tiến bộ vượt bậc, số thu qua cỏc năm luụnđạt ở mức cao Chi cục Thuế huyện cựng cỏc phũng, ban chuyờn mụn đó chủđộng tham mưu với UBND huyện, ban hành cỏc Chỉ thị về chống thất thu,tăng thu cho ngõn sỏch Nhà nước Trờn cơ sở đú ngành Thuế đó phối hợp vớicỏc ngành để chống thất thu, chủ động đề xuất với cấp uỷ, chớnh quyền địaphương trong việc chỉ đạo cụng tỏc thuế, nhất là tăng cường quản lý thuếcụng thương nghiệp dịch vụ ngoài quốc doanh Do đú đó tranh thủ được sự

Trang 38

đồng tình của nhân dân và các cơ sở sản xuất, kinh doanh Hàng năm, trên cơ

sở dự toán được giao, Chi cục Thuế đã phối hợp với Phòng Tài chính để thammưu cho UBND huyện tiến hành phân bổ và chỉ đạo các đơn vị xây dựng chỉtiêu phấn đấu tăng thu ngân sách, với số thu từ thuế và phí (trừ tiền sử dụngđất) tăng tối thiểu 5% so với dự toán được giao, đặc biệt chú trọng chỉ đạo thucác nguồn trong cân đối NSNN

Nhờ vậy kết quả thu trong cân đối ngân sách giai đoạn 2011 - 2015 đạtđược rất khả quan và đã góp phần tích cực trong việc củng cố nguồn thuNSNN trên địa bàn huyện Để từ đó góp phần thực hiện thắng lợi nhiệm vụthu ngân sách và về đích sớm trước thời hạn quy định

Trang 39

Bảng 2.2: Tình hình thực hiện dự toán thu NSNN trên địa bàn

Huyện Đức Thọ giai đoạn 2011 – 2015

Đơn vị tính: Triệu đồng

Bình quân

2011 2015

0

110.000

101.925

Trang 40

Bảng 2.3: Tình hình thực hiện dự toán thu NSNN trên địa bàn

Dự toán 2011

Tỷ lệ thực hiện/

Dự toán(%)

Tỷ lệ thực hiện so với cùng

(Nguồn: Báo cáo thu ngân sách năm 2011- Chi cục thuế Huyện Đức Thọ)

Kết quả thu NSNN năm 2011 đạt 74,8 tỷ đồng, bằng 115% so với kếhoạch và bằng 116% so với năm 2010 Nhìn vào đây có thể thấy số thu nămsau cao hơn số thu năm trước, công tác quản lý thu NSNN ngày càng hiệuquả Một số nguồn thu tăng đột biến so với kế hoạch như là thu thuế QD đạt132%, thu cấp quyền sử dụng đất đạt 132% Tuy nhiên năm 2011 nguồn thu

từ thuế NQD lại chỉ đạt 80% là do một số nguyên nhân khách quan khácnhau

Ngày đăng: 08/02/2023, 19:53

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w