1. Trang chủ
  2. » Tất cả

Nâng cao nhận thức của người dân về di cư quốc tế

33 9 0
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Nâng cao nhận thức của người dân về di cư quốc tế
Tác giả Nhóm tác giả
Người hướng dẫn TS. Nguyễn Văn B
Trường học Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn, Đại học Quốc gia Hà Nội
Chuyên ngành Quản lý di cư quốc tế
Thể loại Nghiên cứu đề án
Năm xuất bản 2023
Thành phố Hà Nội
Định dạng
Số trang 33
Dung lượng 68,81 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

33 Phần 1 MỞ ĐẦU 1 1 Lý do lựa chọn đề án Cùng với sự nghiệp đổi mới và quá trình hội nhập tích cực của nước ta vào nền kinh tế thế giới, hoạt động di cư của công dân Việt Nam ra nước ngoài đã có sự b[.]

Trang 1

Phần 1 MỞ ĐẦU

1.1 Lý do lựa chọn đề án:

Cùng với sự nghiệp đổi mới và quá trình hội nhập tích cực của nước tavào nền kinh tế thế giới, hoạt động di cư của công dân Việt Nam ra nướcngoài đã có sự biến đổi về chất và ngày càng tăng về số lượng Hoạt động di

cư của công dân Việt Nam ra nước ngoài đã góp phần vào công cuộc xóa đói,giảm nghèo, xây dựng và phát triển kinh tế - xã hội của đất nước Công tácquản lý hoạt động di cư của công dân Việt Nam ra nước ngoài trong thời gianqua cũng từng bước được củng cố, góp phần không nhỏ vào việc tạo môitrường di cư ổn định, nâng cao vị thế và hình ảnh của người Việt Nam trênthế giới

Tuy nhiên, công tác quản lý hoạt động về di cư quốc tế vẫn bộc lộnhững hạn chế nhất định trong việc theo dõi, giám sát, và quản lý các quátrình di cư quốc tế, đặc biệt là các hạn chế về cơ sở dữ liệu phục vụ quản lý vàhoạch định chính sách di cư quốc tế; hệ thống chính sách, pháp luật về di cưquốc tế cần được hoàn thiện phù hợp với tình hình Việt Nam và thực tiễnquốc tế; cơ chế phối hợp giữa các cơ quan trong quản lý di cư còn chưa chặtchẽ, hiệu quả; chưa có sự quản lý thống nhất, đồng bộ về hoạt động di cưquốc tế

Do đó, việc nghiên cứu, xây dựng đề án này nhằm tăng cường hơn nữacông tác quản lý di cư của công dân Việt Nam ra nước ngoài trong tình hìnhhiện nay với mục đích phát huy những mặt tích cực của di cư cho sự nghiệpphát triển đất nước và giảm thiểu những tác động tiêu cực của di cư,

1.2 Mục tiêu của đề án:

Đề xuất các giải pháp nhằm tăng cường công tác quản lý di cư của côngdân Việt Nam ra nước ngoài thông qua hoàn thiện hệ thống pháp luật về di cưquốc tế, tăng cường hợp tác quốc tế, xây dựng cơ sở dữ liệu về di cư, nângcao năng lực của các cơ quan quản lý về di cư quốc tế và thiết lập cơ chế hợptác hiệu quả giữa các cơ quan này; nâng cao nhận thức của người dân về di cưquốc tế

Trang 2

1.3 Nhiệm vụ của đề án:

Đánh giá tình hình di cư của công dân Việt Nam ra nước ngoài vàchính sách, pháp luật hiện hành Việt Nam điều chỉnh hoạt động di cư củacông dân Việt Nam ra nước ngoài

Hoàn thiện hệ thống chính sách, pháp luật về di cư quốc tế phù hợp vớitình hình Việt Nam và thực tiễn quốc tế, đáp ứng nhu cầu của người di cư vàbảo vệ tối đa lợi ích của người di cư

Xây dựng cơ sở dữ liệu quốc gia về di cư quốc tế phục vụ công tácquản lý, xây dựng và hoạch định chính sách về di cư quốc tế

Tăng cường hợp tác quốc tế về di cư, đặc biệt những nước là điểm đếncủa nhiều người di cư Việt Nam, các tổ chức quốc tế và khu vực như LiênHợp quốc, Hiệp hội các nước Đông Nam Á, Tổ chức di cư quốc tế; ký kết cácđiều ước quốc tế về di cư

Xây dựng cơ chế hợp tác hiệu quả giữa các Bộ, ngành trong công tácquản lý di cư quốc tế; nâng cao năng lực của các cơ quan Nhà nước quản lý di

Đề án này không đề cập đến tình hình di cư của người nước ngoài đếnViệt Nam, cũng như chính, sách pháp luật liên quan đến hoạt động di cư củangười nước ngoài

Trang 3

Phần 2 NỘI DUNG

2.1 Căn cứ xây dựng đề án

2.1.1 Căn cứ khoa học, lý luận

Di cư quốc tế vừa có tính tất yếu, vừa có tác động tích cực nhiều hơntiêu cực đối với cá nhân, gia đình, và xã hội, do đó chính sách, pháp luật nêntạo thuận lợi cho việc đáp ứng nhu cầu di cư chính đáng của người dân vàgiảm thiểu các rủi ro gắn với di cư Đối với mọi quốc gia, việc hoàn thiện thểchế quản lý nhà nước về di cư, tạo điều kiện đáp ứng tốt hơn nguyện vọng di

cư chính đáng của người dân, bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của người di

cư là chính sách quan trọng nhất Điều này đặc biệt quan trọng trong bối cảnhViệt Nam ngày càng hội nhập sâu rộng với thế giới trong những năm sắp tới,trong bối cảnh thực hiện các hiệp định thương mại thế hệ mới mà Việt Nam

ký kết với nhiều đối tác trên thế giới

Chính sách nhất quán của Nhà nước CHXHCN Việt Nam là thúc đẩy di

cư hợp pháp, phòng chống di cư trái phép Điều này thể hiện rõ trong chínhsách, pháp luật của Nhà nước Về nguyên tắc, Nhà nước Việt Nam tạo điềukiện thuận lợi cho di cư trong nước và di cư quốc tế phù hợp với quy định củapháp luật Việt Nam và pháp luật của nước có công dân Việt Nam nhập cư

2.1.2 Căn cứ chính trị, pháp lý

Hiến pháp Việt Nam năm 2013 quy định: “Công dân có quyền tự do …

ra nước ngoài và từ nước ngoài trở về nước theo quy định của pháp luật”.Thực hiện quy định nêu trên của Hiến pháp, Nhà nước Việt Nam đã ban hànhmột hệ thống các văn bản pháp luật điều chỉnh các quan hệ xã hội liên quanđến di cư của công dân Việt Nam ra nước ngoài trên các lĩnh vực như laođộng, giáo dục, hôn nhân gia đình, phòng chống mua bán người, nhằm thúcđẩy di cư hợp pháp, phòng chống di cư trái phép

Nghị định số 58/2013/NĐ-CP ngày 11/6/2013 của Chính phủ quy địnhchức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và cơ cấu tổ chức của Bộ Ngoại giao quiđịnh nhiệm vụ của Bộ Ngoại giao trong lĩnh vực quản lý hoạt động di cư củacông dân Việt Nam ra nước ngoài như sau:

Trang 4

- Chủ trì, phối hợp với cơ quan có liên quan xây dựng chủ trương,chính sách về vấn đề di cư quốc tế, phù hợp với điều kiện của Việt Nam vàthông lệ quốc tế;

- Phối hợp quản lý di cư hợp pháp, ngăn chặn di cư bất hợp pháp và xử

lý các vấn đề có liên quan;

- Chủ trì, phối hợp với các cơ quan có liên quan trong việc hướng dẫn,kiểm tra công tác liên quan đến hoạt động di trú của công dân Việt Nam ranước ngoài

2.1.3 Căn cứ thực tiễn

Việt Nam là nước đang phát triển, có dân số khoảng hơn 90 triệungười, đứng thứ 13 trong số những nước đông dân nhất thế giới và thứ 3 tạiĐông Nam Á, gần 75% lao động sống ở nông thôn, trình độ chuyên môn taynghề thấp, tiền công lao động rẻ, sức ép việc làm lớn, mỗi năm cần có thêmgần 1,7 triệu việc làm Trong khi đó, Chương trình giải quyết việc làm quốcgia hàng năm vẫn không đáp ứng được hết nhu cầu việc làm của người laođộng Với cơ cấu dân số trẻ, Việt Nam là nước có lợi thế về sức lao động,nhưng yêu cầu giải quyết việc làm và thu nhập ổn định là một thách thức lớnhiện nay

Trong hơn hai thập kỷ qua, tranh thủ thời cơ thuận lợi, vượt qua nhiềukhó khăn, thách thức, nhất là những tác động tiêu cực của hai cuộc khủngkhoảng tài chính khu vực và toàn cầu, Việt Nam đã ra khỏi tình trạng kémphát triển, bước vào nhóm nước đang phát triển có thu nhập trung bình Diệnmạo của đất nước có nhiều thay đổi, thế và lực của đất nước vững mạnh thêmnhiều Vị thế của Việt Nam trên trường quốc tế được nâng lên, tạo ra nhữngtiền đề quan trọng để đẩy nhanh công nghiệp hoá, hiện đại hóa đất nước vànâng cao chất lượng sống của nhân dân Sự phát triển của đất nước sau 30năm Đổi mới, cùng với quá trình mở cửa và hội nhập quốc tế đã thúc đẩy nhucầu và tạo điều kiện cho công dân Việt Nam đi lao động, học tập, du lịch, làmviệc và cư trú ở nước ngoài Mỗi năm trung bình có 5 - 6 triệu công dân ViệtNam xuất nhập cảnh ra nước ngoài Hiện ở nước ngoài có 4,5 triệu người ViệtNam định cư; hơn 500.000 lao động; 150.000 cô dâu; hơn 100.000 học sinh,sinh viên

Trang 5

Quy luật cung - cầu về sức lao động, dịch vụ và chênh lệch về mứcsống và thu nhập giữa Việt Nam và các nước trong khu vực đã thúc đẩy cácluồng di cư Sự phát triển của công nghệ thông tin cho phép người lao động

dễ dàng liên hệ với nhau và giao kết việc làm, đồng thời sự phát triển của dịch

vụ giao thông quốc tế tạo điều kiện cho việc đi lại với chi phí rẻ hơn và thuậntiện hơn rất nhiều so với trước đây Bức tranh di cư của công dân Việt Nam ranước ngoài trong 25 năm qua cho thấy hình thái di cư của công dân Việt Nam

ra nước ngoài ngày càng đa dạng, quy mô di cư gia tăng, lý do di cư trở nênphức tạp hơn, đặc biệt với sự tham gia đông đảo của phụ nữ và trẻ em.Nguyên nhân chủ yếu đối với di cư nữ không chỉ do hôn nhân, hay đoàn tụgia đình mà còn là lý do kinh tế và mong ước có được cuộc sống tốt đẹp hơnthông qua di cư

Công tác quản lý di cư của công dân Việt Nam ra nước ngoài tuy đãđược đổi mới, phục vụ khá hiệu quả cho tiến trình hội nhập và phát triển củađất nước, song còn nhiều bất cập, chưa theo kịp với thực tiễn do thiếu cácthông tin, số liệu để hoạch định chính sách phù hợp Trong những năm qua,

do những nguyên nhân chủ quan và khách quan, tình hình di cư công dân ViệtNam ra nước ngoài có nhiều diễn biến phức tạp Khủng hoảng kinh tế, tàichính thế giới, bất ổn kinh tế - xã hội tại nhiều khu vực và quốc gia trên thếgiới với những diễn biến khó lường về nguy cơ bạo loạn chính trị, chiếntranh, thiên tai có những tác động không thuận đối với di cư quốc tế nóichung và di cư của công dân Việt Nam ra nước ngoài nói riêng Việc thiếumột cơ chế, chính sách đãi ngộ nhằm thu hút “hiền tài” và tình trạng “chảymáu chất xám” cho thấy công tác thu hút trí thức, chuyên gia về nước làmviệc và cống hiến cho đất nước, đặc biệt nhóm trí thức có trình độ và kỹ thuậtviên có tay nghề cao chưa hiệu quả, chưa đáp ứng được mục tiêu phát triểnnguồn nhân lực cho đất nước

2.2 Nội dung cơ bản của đề án

2.2.1 Thực trạng di cư quốc tế của Việt Nam

Trong giai đoạn 2012-2015 nhìn chung số người Việt Nam xuất cảnh

và nhập cảnh hàng năm có xu hướng tăng Năm 2015 có hơn 6 triệu lượtngười xuất cảnh và có khoảng gần 6 triệu người nhập cảnh Nếu tính cả số

Trang 6

người xuất nhập cảnh không chính thức qua biên giới đường bộ, số ngườiViệt Nam xuất cảnh và nhập cảnh hàng năm có thể lên đến 10% tổng dân sốcủa cả nước (khoảng hơn 9 triệu người) Những người xuất cảnh thường lànhững người trong độ tuổi lao động tích cực nhất từ 20 đến 40 tuổi và nữ có

tỷ lệ xuất cảnh thấp hơn nam

Di cư quốc tế vì mục đích sinh kế là dạng di cư phổ biến nhất, bao gồm

di cư của người Việt Nam ra nước ngoài lao động theo hợp đồng có thời hạn

và di cư tự túc của người lao động sang các nước láng giềng qua biên giớiđường bộ Số người di cư theo cả hai dạng này đều có xu hướng tăng tronggiai đoạn 2012-2015 Năm 2015 số người di cư theo hợp đồng lao động cóthời hạn ở nước ngoài lên đến 119.530 người, đến 22 nước/vùng lãnh thổ trênthế giới Tỷ lệ nữ trong những người di cư lao động theo hợp đồng khá thấp,chỉ trên 1/3 tổng số người di cư ra nước ngoài theo hợp đồng lao động có thờihạn Người dân ở các tỉnh từ Nghệ An trở lên phía bắc Việt Nam chiếm đa sốtrong lực lượng lao động di cư theo hợp đồng có thời hạn Những nước/vùnglãnh thổ nhận nhiều người lao động Việt Nam là Đài Loan, Nhật Bản, HànQuốc, Ma-lai-xi-a, và Ả-rập Xê-út Nhìn chung người di cư lao động theohợp đồng có thời hạn ở nước ngoài có mức lương cao hơn mức lương trungbình trong nước

Đối với những người di cư tự túc qua biên giới đường bộ sang các nướcláng giềng làm việc, nhiều người đi với giấy tờ hợp pháp, nhưng cũng khánhiều người đi không chính thức qua các lối mòn xuyên biên giới Nhữngngười di cư không chính thức có thể gặp nhiều nguy cơ tiềm ẩn, không antoàn, không được pháp luật bảo vệ, dễ bị bóc lột, bị lạm dụng, dễ trở thànhnạn nhân của nạn mua bán người, hoặc có thể bị nhà chức trách hai nước cóchung biên giới xử phạt Trên thực tế có một số nhỏ người di cư không chínhthức đã trở thành nạn nhân của những rủi ro nói trên

Di cư du học là dạng di cư khá phổ biến Phần lớn những người di cư

du học là du học tự túc, nằm ngoài thống kê của Bộ Giáo dục và Đào tạo Sốngười đi du học theo học bổng từ ngân sách nhà nước hay theo hiệp định giữaChính phủ Việt Nam và chính phủ nước ngoài mà Bộ Giáo dục và Đào tạoquản lý chỉ chiếm số nhỏ Năm 2015 có tổng số 1.697 người đi du học và về

Trang 7

nước sau khi học xong là những học sinh/sinh viên do Bộ Giáo dục và Đàotạo quản lý, trong đó có 440 lưu học sinh đã học xong tại 20 nước và đã vềnước, và có 1.223 lưu học sinh đi học tại 30 nước/vùng lãnh thổ Các nướcnhận nhiều lưu học sinh Việt Nam đến trong năm 2015 theo thứ tự gồm cóNga (662 người), Pháp (65), Trung Quốc (62), Hung-ga-ri (53), Ô-xtơ-rây-li-

a (52), Đức (52), Nhật Bản(39), Anh (34), Cam-pu-chia (29), Lào (29), Hoa

Kỳ (25), Niu Di-lân (22), và Bỉ (16) Các nước khác đều chỉ có dưới 10 lưuhọc sinh trong năm 2015

Số lượng lưu học sinh du học tự túc là rất lớn và có xu hướng gia tăngtrong giai đoạn 2012-2015 Năm 2015 ở Hoa Kỳ có 17.875 du học sinh ViệtNam, chiếm vị trí thứ 6 trong các nước có nhiều du học sinh tại Hoa Kỳ nhất.Quản trị kinh doanh là ngành học được sinh viên Việt Nam ưa thích nhất.Khoảng 1/3 tổng số sinh viên Việt Nam đi học ở Hoa Kỳ năm học 2014-2015

là học ngành quản trị kinh doanh Các ngành có nhiều người theo học khác làcác ngành kỹ thuật (8,9%), tiếng Anh (8,6%), Toán và máy tính (8,3%), vàLý/sinh (7,2%) Chỉ có 5,1% sinh viên theo học các ngành khoa học xã hội,

và 1,4% theo học các ngành khoa học nhân văn Ngành y có 4% sinh viêntheo học Tại Nhật Bản năm 2015 có đến 38.882 người, khiến Việt Nam trởthành nước có nhiều sinh viên học tại Nhật Bản đứng thứ hai, chỉ sau TrungQuốc Ngoài ra còn có khoảng 45.000 tu nghiệp sinh Việt Nam cũng đanghọc tập tại Nhật Bản Tại Ô-xtơ-rây-li-a, con số lưu học sinh Việt Nam năm

2015 là 10.282 người; tại Niu Di-lân có 17.222 người; tại Ca-na-đa có 5.618người Ngoài ra du học sinh Việt Nam còn đi học ở nhiều nước khác nhưngchưa có thống kê cụ thể Ước tính hiện nay có hơn 100.000 người Việt Namđang theo học tại các nước khác nhau và dự báo con số này sẽ tiếp tục giatăng khi Việt Nam hội nhập sâu hơn với thế giới

Dạng di cư quốc tế khác là di cư do kết hôn có yếu tố nước ngoài.Trong giai đoạn 2012-2015 kết hôn có yếu tố nước ngoài được ghi nhận ở cả

63 tỉnh thành trong cả nước Năm 2015 có 18.726 công dân Việt Nam kết hôn

có yếu tố nước ngoài, trong đó 85,4% là nữ Nhìn chung, tỷ lệ nữ kết hôn cóyếu tố nước ngoài có xu hướng giảm trong khi tỷ lệ nam kết hôn có yếu tốnước ngoài có xu hướng gia tăng Hoa Kỳ, Hàn Quốc, Đài Loan, Trung Quốc,

Trang 8

và Ô-xtơ-rây-li-a là những nước/ vùng lãnh thổ có nhiều công dân kết hôn vớingười Việt Nam.

Di cư quốc tế do người nước ngoài nhận con nuôi Việt Nam cũng làmột dạng di cư đáng chú ý Năm 2015 ghi nhận được 575 trường hợp connuôi có yếu tố nước ngoài tại 48 tỉnh/thành Tổng số trường hợp con nuôi cóyếu tố nước ngoài từ 2012 đến hết năm 2015 là 1.726 trường hợp Đa số connuôi tập trung ở độ tuổi từ 1 đến dưới 5 tuổi tỷ lệ các cháu gái được nhận làmcon nuôi cao hơn chút ít so với các cháu trai, chiếm 53,3% tổng số con nuôinăm 2014 và 53,6% tổng số con nuôi năm 2015 Pháp, I-ta-li-a, Đài Loan,Tây Ban Nha, Ca-na-đa, Hàn Quốc, Ai-len, Thụy Điển, Đức, và Đan Mạch là

10 nước/vùng lãnh thổ nhận nhiều con nuôi Việt Nam nhất

Một dạng di cư quốc tế khác là di cư do mua bán người Tội phạm muabán người xuất hiện và phát triển mạnh ở Việt Nam từ thập niên 1990 của thế

kỷ XX Theo số liệu của Ban chỉ đạo 138/CP, trong thời gian từ 21/11/2010đến 20/11/2015 trong cả nước đã phát hiện 2.205 vụ mua bán người, với3.342 đối tượng, lừa bán 4.495 nạn nhân, trong đó trên 85% là phụ nữ và trẻ

em Gần 90% số vụ mua bán người ra nước ngoài xẩy ra qua các tuyến biêngiới giữa Việt Nam với Campuchia, Lào và Trung Quốc; đặc biệt các vụ muabán người qua biên giới với Trung Quốc chiếm đến 70% tổng số vụ bị pháthiện Nhìn chung tình hình mua bán người diễn biến phức tạp và dưới nhiềuhình thức Mua bán người vì mục đích mại dâm và hôn nhân cưỡng ép là phổbiến nhất Bên cạnh đó còn có các dạng mua bán người khác như mua bánnam giới, mua bán người để lấy nội tạng, mua bán trẻ sơ sinh, trẻ trong bàothai Số nạn nhân được phát hiện nhìn chung có chiều hướng gia tăng và nằmtrong khoảng 1.000 người một năm Đáng chú ý là tội phạm mua bán người bịphát hiện ở tất cả 63 tỉnh/thành phố trong cả nước, nhưng nhiều nhất là tại cácđịa phương dọc tuyến biên giới giữa Việt Nam với Trung Quốc, Lào vàCampuchia

Tác động của di cư quốc tế

Tác động của di cư quốc tế rất đa dạng, nhiều chiều cạnh, có cả các tácđộng tích cực và tác động tiêu cực đối với bản thân người di cư, gia đình họ,cộng đồng nơi đi và nơi đến Tác động tích cực quan trọng của di cư quốc tế

Trang 9

đối với người di cư bao gồm các cơ hội việc làm và thu nhập cao, cơ hội nângcao trình độ học vấn, kỹ năng và trình độ chuyên môn, cơ hội học ngoại ngữ,

và giao lưu văn hóa Đối với gia đình ở Việt Nam, người di cư quốc tế cóđóng góp kinh tế quan trọng thông qua tiền gửi về cho gia đình sử dụng vàonhững mục đích khác nhau như sửa sang, xây mới nhà cửa, nâng cao mứcsống gia đình, để khởi nghiệp kinh tế gia đình, chăm lo tốt hơn cho việc họchành của con cái, có tiền chăm sóc sức khỏe cho các thành viên ở lại, hoặc tạođiều kiện thuận lợi cho thành viên khác di cư quốc tế tìm việc làm

Đối với cộng đồng nơi đi và đất nước nói chung, việc di cư quốc tế củangười lao động nhìn chung có tác động tích cực Di cư quốc tế giúp làm giảmsức ép về việc làm ở thị trường lao động địa phương Tiền gửi về của người di

cư cũng giúp cho cộng đồng và đất nước có thêm nguồn lực đầu tư cho pháttriển Cùng với mạng lưới người Việt Nam ở nước ngoài nói chung, mạnglưới người di cư cũng giúp nâng cao năng lực cạnh tranh của lực lượng laođộng Việt Nam, giúp chuyển giao kỹ thuật thông qua các mối quan hệ xã hộicủa họ ở nước sở tại và ở Việt Nam Người di cư cũng đóng góp không nhỏcho việc thúc đẩy giao lưu văn hóa giữa các nước, tạo điều kiện thuận lợi choquá trình hội nhập quốc tế ngày càng sâu rộng của Việt Nam

Bên cạnh những tác động tích cực, di cư quốc tế cũng có những tácđộng tiêu cực đối với người di cư, gia đình họ, cộng đồng, và đất nước.Những người di cư không chính thức hoặc di cư chính thức nhưng ở lại nướcngoài không chính thức sẽ không được pháp luật bảo vệ, dễ trở thành nạnnhân của sự bóc lột, lạm dụng, và tội phạm mua bán người Nhiều người laođộng di cư cũng gặp những rủi ro kinh tế khi chủ thuê gặp khó khăn về kinh

tế hoặc khi họ không tuân thủ hợp đồng đã ký từ trước Đối với gia đình, việc

xa cách lâu ngày giữa vợ và chồng, cha mẹ và con cái cũng có nhiều hệ lụykhông mong muốn đối với quan hệ vợ-chồng, việc chăm sóc và giáo dục connhỏ, chăm sóc người cao tuổi

Dù có các tác động tiêu cực, di cư quốc tế nhìn chung có tác động tíchcực là chủ yếu Di cư quốc tế cũng là xu hướng có tính quy luật trên toàn thếgiới, không thể đảo ngược Điều quan trọng là cần có các biện pháp và thể chếphù hợp để bảo vệ quyền và lợi ích chính đáng của người di cư, hạn chế tối đa

Trang 10

những rủi ro mà họ có thể gặp phải, tạo điều kiện để di cư quốc tế đóng góptốt hơn cho sự phát triển của mỗi cá nhân, gia đình và đất nước.

2.2.2 Chính sách, pháp luật về di cư quốc tế của Việt Nam

2.2.2.1 Chính sách, pháp luật về di cư lao động quốc tế

Khuyến khích di cư lao động theo hợp đồng ở nước ngoài là một chủtrương lớn từ lâu của Chính phủ Việt Nam Năm 1999, Chính phủ đã có Nghịđịnh số 152/1999/NĐ-CP quy định việc người lao động và chuyên gia ViệtNam đi làm việc có thời hạn ở nước ngoài Năm 2003 Chính phủ ban hànhNghị định số 81/2003/NĐ-CP thay thế Nghị định 152/1999/NĐ-CP quy địnhchi tiết và hướng dẫn thi hành Bộ luật lao động về người lao động Việt Namlàm việc ở nước ngoài Năm 2006 Quốc hội thông qua Luật Người lao độngViệt Nam đi làm việc ở nước ngoài theo hợp đồng, đặt nền móng cho một hệthống pháp luật hoàn chỉnh về di cư lao động theo hợp đồng ở nước ngoài.Năm 2007 Chính phủ ban hành Nghị định số 126/2007/NĐ-CP 01 quy địnhchi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của Luật Người lao động Việt Nam

đi làm việc ở nước ngoài theo hợp đồng Luật này nêu rõ chính sách của nhànước về người lao động đi làm việc ở nước ngoài, bao gồm:

1 Tạo điều kiện thuận lợi để công dân Việt Nam có đủ điều kiện đi làmviệc ở nước ngoài

2 Bảo hộ quyền, lợi ích hợp pháp của người lao động đi làm việc ởnước ngoài và của doanh nghiệp, tổ chức sự nghiệp đưa người laođộng đi làm việc ở nước ngoài

3 Hỗ trợ đầu tư mở thị trường lao động mới, thị trường có thu nhậpcao, thị trường tiếp nhận nhiều người lao động; hỗ trợ đào tạo cán bộquản lý, dạy nghề, ngoại ngữ cho người lao động

4 Có chính sách tín dụng ưu đãi cho các đối tượng chính sách xã hội đilàm việc ở nước ngoài

5 Khuyến khích đưa người lao động có trình độ chuyên môn, kỹ thuật

đi làm việc ở nước ngoài, đưa người lao động đi làm việc ở thịtrường có thu nhập cao; khuyến khích đưa người lao động đi làmviệc tại công trình, dự án, cơ sở sản xuất, kinh doanh do doanh

Trang 11

nghiệp, tổ chức, cá nhân trúng thầu, nhận thầu, đầu tư thành lập ởnước ngoài.

Đối với hộ nghèo và các gia đình chính sách, Thủ tướng Chính phủ cóQuyết định 71/2009/QĐ-TTg ngày 29 tháng 4 năm 2009 phê duyệt đề án hỗtrợ các huyện nghèo đẩy mạnh di cư lao động theo hợp đồng có thời hạn ởnước ngoài góp phần giảm nghèo bền vững giai đoạn 2009-2020, theo đóngười lao động cư trú dài hạn tại 61 huyện nghèo được hỗ trợ dưới nhiều hìnhthức để có thể tham gia di cư lao động theo hợp đồng có thời hạn ở nướcngoài Tiếp theo Quyết định này, năm 2010 Bộ Lao động, Thương binh và Xãhội ban hành Quyết định số 630/QĐ-LĐTBXH quy định đơn giá đào tạonghề, ngoại ngữ và bồi dưỡng kiến thức cho người lao động thuộc các huyệnnghèo đi làm việc ở nước ngoài Đối với người có công và người nghèo ở cácnơi khác ngoài các huyện nghèo nói trên, năm 2012 Bộ Lao động, Thươngbinh và Xã hội có công văn số 1083/QLLĐNN-KHTC hướng dẫn chi tiết việcthực hiện dự án hỗ trợ người lao động là thân nhân chủ yếu của người cócông, người lao động thuộc hộ nghèo, người dân tộc, sinh sống tại địaphương, trong độ tuổi lao động, đủ điều kiện và có nguyện vọng đi làm việc ở

nước ngoài theo hợp đồng.Với những hỗ trợ đáng kể của nhà nước, người

nghèo có thể dễ dàng tham gia di cư lao động theo hợp đồng có thời hạn ởnước ngoài hơn

Trong quá trình thực hiện Luật Người lao động Việt Nam đi làm việc ởnước ngoài theo hợp đồng, thực tế đã có nhiều diễn biến mới nảy sinh như cácsai phạm của các doanh nghiệp tuyển dụng lao động di cư, sai phạm củadoanh nghiệp nước sở tại đối với người lao động, tỷ lệ cao người lao độngchuyển việc, bỏ việc, thậm chí vi phạm pháp luật nước sở tại, và nhiều vấn đềkhác Nhiều doanh nghiệp mở các đầu mối hoạt động mà không đăng ký,hoặc không trực tiếp tuyển chọn lao động, không thực hiện nghiêm túc yêucầu đào tạo bồi dưỡng kiến thức cho người lao động; nhiều doanh nghiệp để

cá nhân, tổ chức mượn danh đưa lao động đi hoặc để tổ chức nước ngoài “núpbóng” hoạt động, hoặc thu phí cao đối với nhiều người lao động Việc quản lýđối với người lao động của các doanh nghiệp Việt Nam đưa người lao động đilàm việc ở nước ngoài bị buông lỏng hoặc kém hiệu quả Về phía người lao

Trang 12

động, tình trạng lao động bỏ hợp đồng trong năm 2015 đã gia tăng mạnh sovới năm 2013 và 2014 (Website Bộ Lao động, Thương binh và Xã hội 2015).Việc bảo vệ quyền và lợi ích chính đáng của các doanh nghiệp và người laođộng tuân thủ pháp luật gặp nhiều khó khăn (Cục Lãnh sự, Bộ Ngoại giao2011)

Thời gian gần đây, Chính phủ và Bộ Lao động-Thương binh và Xã hội

đã ra một loạt văn bản quy phạm pháp luật nhằm hoàn thiện hệ thống pháp lý

về di cư lao động theo hợp đồng ở nước ngoài Trong đó, đáng chú ý là Thông

tư số 21/2013/TT-BLĐTBXH về mức trần tiền ký quỹ với người lao động;Thông tư số 22/2013/TT- BLĐTBXH quy định về hợp đồng cung ứng laođộng; Nghị định 95/2013/NĐ-CP quy định xử phạt vi phạm hành chính tronglĩnh vực lao động, bảo hiểm xã hội, đưa người lao động Việt Nam đi làm việc

ở nước ngoài theo hợp đồng; và Thông tư liên tịch số BLĐTBXH-BNG của Bộ Lao động Thương binh và Xã hội, Bộ Ngoại giao

32/2013/TTLT-về việc hướng dẫn trình tự, thủ tục xử phạt vi phạm hành chính đối với ngườilao động Việt Nam đi làm việc ở nước ngoài theo hợp đồng mà (a) ở lại nướcngoài trái phép sau khi hết hạn hợp đồng, (b) bỏ trốn khỏi nơi đang làm việctheo hợp đồng, (c) sau khi nhập cảnh nước tiếp nhận lao động mà không đếnnơi làm việc theo hợp đồng, và xử phạt vi phạm của các cơ quan, tổ chức, cánhân khác có liên quan

Bên cạnh việc ban hanh chính sách, pháp luật về người lao động ViệtNam đi nước ngoài làm việc theo hợp đồng, gần đây Chính phủ cũng ký thêmnhiều văn bản hợp tác quốc tế về lao động với nhiều nước nhằm tạo hoànthiện khung pháp lý bảo vệ quyền và lợi ích chính đáng của người Việt Nam

đi lao động ở nước ngoài Chẳng hạn, đối với Thái Lan, đó là Thỏa thuận về việc phái cử và tiếp nhận lao động giữa Chính phủ nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam và Chính phủ Vương quốc Thái Lan, ký tại Băng-cốc ngày 23

tháng 7 năm 2015, có hiệu lực kể từ ngày 23 tháng 7 năm 2015 (xem Thôngbáo số 33/2015/TB-LPQT của Bộ Ngoại giao ngày 28 tháng 7 năm 2015), và

Bản ghi nhớ giữa Chính phủ nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam và Chính phủ Vương quốc Thái Lan về hợp tác lao động, ký tại Băng-cốc ngày

23 tháng 7 năm 2015, có hiệu lực kể từ ngày 23 tháng 7 năm 2015 Đối với

Trang 13

Lào có Hiệp định về hợp tác lao động giữa Chính phủ nước Cộng hòa xã hộichủ nghĩa Việt Nam và Chính phủ nước Cộng hòa dân chủ nhân dân Lào, kýtại Huế ngày 01 tháng 07 năm 2013, có hiệu lực kể từ ngày 01 tháng 07 năm

2013, và tiếp đó là Quyết định số 2404/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ kýngày 31 tháng 12 năm 2014 Ban hành kế hoạch thực hiện Hiệp định về hợptác lao động giữa Chính phủ nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam vàChính phủ nước Cộng hòa dân chủ nhân dân Lào

Như vậy, có thể thấy Việt Nam đã có hệ thống chính sách và pháp luậtkhá hoàn chỉnh điều chỉnh hoạt động di cư lao động theo hợp đồng ở nướcngoài

2.2.2.2 Chính sách, pháp luật đối với di cư học tập ở nước ngoài

Giáo dục là lĩnh vực được Nhà nước ưu tiên phát triể,; trong đó việc tạođiều kiện cho người Việt Nam đi du học nước ngoài có tầm quan trọng đặcbiệt, nhất là trong bối cảnh toàn cầu hóa và hội nhập quốc tế ngày càng sâurộng Năm 1998 Quốc hội thông qua Luật Giáo dục, trong đó dành riêng Mục

3 Điều 94 đến Điều 97 đề cập đến việc "khuyến khích và tạo điều kiện chocông dân Việt Nam ra nước ngoài học tập, giảng dạy, nghiên cứu, trao đổihọc thuật theo các hình thức tự túc hoặc bằng kinh phí do tổ chức, cá nhân ởtrong nước cấp hoặc do tổ chức, cá nhân nước ngoài tài trợ" (Điều 95) Vàocác năm 2005 và 2009, Luật Giáo dục đã được sửa đổi và bổ sung nhưng về

cơ bản vẫn nhấn mạnh việc khuyến khích người Việt Nam ra nước ngoài họctập Ngoài Luật Giáo dục, Nhà nước đã ban hành rất nhiều văn bản quy phạmpháp luật thúc đẩy giáo dục và đào tạo và khuyến khích người Việt Nam ranước ngoài học tập như Luật dạy nghề 2006, Luật giáo dục đại học 2012

Trên thực tế, việc triển khai thực hiện chủ trương gửi học sinh, sinhviên đi đào tạo ở nước ngoài đã được tiến hành từ những năm 1950 trong thời

kỳ kháng chiến chống Pháp Tính đến cuối thập kỷ 90 của thế kỷ XX, thôngqua các Hiệp định hợp tác văn hóa, giáo dục giữa Việt Nam với Liên Xô (cũ),Trung Quốc, các nước trong phe XHCN trước đây và một số nước khác, hàngvạn người Việt Nam đã được gửi đi đào tạo ở nước ngoài với các trình độkhác nhau: cử nhân, kỹ sư, thực tập sinh, thạc sỹ và nghiên cứu sinh tiến sỹ.Đặc biệt từ năm 2000, Đề án "Đào tạo cán bộ khoa học – kỹ thuật tại các cơ

Trang 14

sở nước ngoài bằng ngân sách nhà nước"được phê duyệt theo Quyết định số322/QĐ/TTg ngày 19/4/2000 của Thủ tướng Chính phủ Năm 2005, Đề ánnày đã được Thủ tướng Chính phủ cho phép điều chỉnh và gia hạn hoạt độngcủa Đề án đến hết năm 2014 theo Quyết định số 356/QĐ/TTg ngày28/4/2005

Năm 2010, Thủ tướng Chính phủ đã ban hành Quyết định số TTg phê duyệt "Đề án đào tạo giảng viên có trình độ tiến sỹ cho các trườngđại học, cao đẳng giai đoạn 2010-2020” Tiếp theo các đề án trên, năm 2013,Thủ tướng Chính phủ đã ban hành Quyết định số 599/QĐ-TTg về việc phêduyệt đề án “Đào tạo cán bộ ở nước ngoài bằng ngân sách nhà nước giai đoạn

911/QĐ-2013 -2020” trong đó nêu rõ ưu tiên đào tạo chất lượng cao bậc Thạc sĩ vàđào tạo đại học đối với các tài năng trẻ, và ưu tiên cử người đi đào tạo ở cácnước/vùng lãnh thổ Anh, Ca-na-đa, Đức, Mỹ, Úc, New Zealand, Nhật Bản,Pháp, Hà Lan, Bỉ, Liên bang Nga, Hàn Quốc, Trung Quốc, Hồng Kông(Trung Quốc), Đài Loan (Trung Quốc), Ấn Độ, Singapore và một số nướckhác có thế mạnh về đào tạo một số lĩnh vực quan trọng cho sự phát triển củađất nước Bên cạnh đó, Quyết định 2448/QĐ-TTg ngày 16 tháng 12 năm 2013của Thủ tướng Chính phủ phê duyệt Đề án hội nhập quốc tế về giáo dục vàdạy nghề đến năm 2020, trong đó nhấn mạnh quan điểm "chủ động, tích cựchội nhập quốc tế để tiếp thu có chọn lọc kinh nghiệm về giáo dục và dạy nghềcủa thế giới theo nguyên tắc giữ vững độc lập, tự chủ, bình đẳng, hợp tác vàcùng có lợi" Ngoài các đề án nêu trên, Bộ Giáo dục và Đào tạo còn gần 20chương trình học bổng diện Hiệp định với các nước với số lượng học bổngkhoảng 1.000 suất/năm để thúc đẩy công dân Việt Nam đi học tập ở nướcngoài

Ngày 25 tháng 7 năm 2014 Bộ Giáo dục và Đào tạo ra Quyết định số2653/QĐ-BGDĐT ban hành Kế hoạch hành động của ngành giáo dục triểnkhai Chương trình hành động của Chính phủ thực hiện Nghị Quyết số 29-NQ/TW về đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục và đào tạo, đáp ứng yêu cầucông nghiệp hóa, hiện đại hóa trong điều kiện kinh tế thị trường định hướng

xã hội chủ nghĩa và hội nhập quốc tế Việc quản lý người Việt Nam ra nướcngoài học tập được thực hiện theo Quyết định 05/2013/QĐ-TTg của Thủ

Trang 15

tướng Chính phủ ngày 15 tháng 01 năm 2013, trong đó Điều 6 quy định BộGiáo dục và Đào tạo xây dựng và quản lý hệ thống cơ sở dữ liệu điện tử quản

lý lưu học sinh và đăng ký thông tin lưu học sinh

Tóm lại, Chính phủ Việt Nam luôn ưu tiên khuyến khích và tạo điềukiện cho công dân Việt Nam ra nước ngoài học tập nâng cao trình độ để gópphần thúc đẩy sự phát triển chung của đất nước

2.2.2.3 Chính sách, pháp luật về hôn nhân có yếu tố nước ngoài

Thể chế và chính sách đối với hôn nhân có yếu tố nước ngoài khá đầy

đủ ở Việt Nam (Cục Lãnh sự và Bộ Ngoại giao 2011) Trong những năm vừaqua Chính phủ Việt Nam tiếp tục hoàn thiện hệ thống pháp luật liên quan đếnhôn nhân có yếu tố nước ngoài Năm 2014 Quốc hội thông qua Luật Hônnhân và gia đình mới (Luật số 52/2014/QH13 ngày 19/06/2014), trong đóngay ở Điều 2 nguyên tắc "Hôn nhân giữa công dân Việt Nam thuộc các dântộc, tôn giáo, giữa người theo tôn giáo với người không theo tôn giáo, giữangười có tín ngưỡng với người không có tín ngưỡng, giữa công dân Việt Namvới người nước ngoài được tôn trọng và được pháp luật bảo vệ" Đi kèm vớiLuật mới này là Nghị định 126/2014/NĐ-CP ngày 31/12/2014 quy định chitiết một số điều và biện pháp thi hành Luật Hôn nhân và gia đình về quan hệhôn nhân và gia đình có yếu tố nước ngoài Ngày 23/02/2015 Bộ Tư pháp cóThông tư số 02a/2015/TT-BTP hướng dẫn thi hành một số điều của nghị định126/2014/NĐ-CP và biện pháp thi hành Luật Hôn nhân và gia đình có yếu tốnước ngoài Nhìn chung, các đạo luật và văn bản pháp quy mới về hôn nhân

có yếu tố nước ngoài đã được hoàn thiện theo hướng bảo đảm tốt hơn quyền

tự do hôn nhân của cá nhân và ngăn chặn các hành vi lạm dụng, lừa đảo, viphạm pháp luật trong lĩnh vực hôn nhân có yếu tố nước ngoài

2.2.2.4 Chính sách, pháp luật nhận con nuôi có yếu tố nước ngoàiNuôi con nuôi là hiện tượng xã hội xảy ra ở nhiều quốc gia và đượcpháp luật các nước điều chỉnh Ở Việt Nam, nuôi con nuôi là vấn đề có tínhnhân đạo sâu sắc, được Nhà nước hết sức quan tâm, nhất là trong hoàn cảnhđất nước còn phải chịu di chứng nặng nề của chiến tranh, điều kiện kinh tế -

xã hội có nhiều khó khăn, mức thu nhập của nhân dân còn thấp Bên cạnh ýnghĩa tạo dựng mái ấm gia đình thay thế cho trẻ em được nhận làm con nuôi

Trang 16

(đa phần là những trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt), việc nuôi con nuôi còn gópphần đáp ứng nhu cầu chính đáng của người nhận con nuôi, nhất là những cặp

vợ chồng vô sinh, hiếm muộn, phụ nữ có hoàn cảnh khó khăn… Chính vì vậy,vấn đề nuôi con nuôi ở Việt Nam đã được pháp luật điều chỉnh từ lâu và trongnhững năm qua, pháp luật về nuôi con nuôi đã góp phần quan trọng trong việcbảo đảm thực hiện quyền trẻ em được chăm sóc, nuôi dưỡng và giáo dụctrong môi trường gia đình; động viên, khơi dậy tinh thần nhân đạo; nhân văncủa con người Việt Nam

Hiện nay, thể chế pháp luật về nuôi con nuôi của Việt Nam đã đượchoàn thiện một cách cơ bản theo hướng tiệm cận với những chuẩn mực quốc

tế về bảo vệ quyền của trẻ em thông qua chế định nuôi con nuôi và thực hiện

cơ chế hợp tác đa phương trong lĩnh vực con nuôi quốc tế Đây là một trongnhững yếu tố quan trọng nhất, góp phần thực hiện đầy đủ nghĩa vụ của ViệtNam với tư cách là quốc gia thành viên Công ước La Hay năm 1993 về bảo

vệ trẻ em và hợp tác trong lĩnh vực nuôi con nuôi

Quy định "chỉ cho làm con nuôi người ở nước ngoài khi không thể tìmđược gia đình thay thế ở trong nước" của Luật nuôi con nuôi (2010) là nguyêntắc quan trọng, được thừa nhận rõ ràng trong Công ước La Hay (1993) vềnuôi con nuôi Nuôi con nuôi quốc tế có lợi ích là đem lại mái ấm gia đình lâudài cho trẻ em không tìm được một gia đình thích hợp tại nước gốc của mình.Theo Công ước La Hay, mỗi nước cần ưu tiên tiến hành các biện pháp thíchhợp để trẻ em có thể được chăm sóc trong gia đình gốc của mình Nguyên tắcnày cũng được thể hiện trong Luật Nuôi con nuôi của Việt Nam (Luật số52/2010/QH12)

Bộ Tư pháp là cơ quan giúp Chính phủ thực hiện chức năng quản lý nhànước về nuôi con nuôi, giải quyết việc nuôi con nuôi có yếu tố nước ngoài vàthực hiện nhiệm vụ là Cơ quan Trung ương về nuôi con nuôi quốc tế của ViệtNam Cục Con nuôi là đơn vị giúp Bộ trưởng Bộ Tư pháp thực hiện các chứcnăng, nhiệm vụ trên Trong công tác quản lý nhà nước và thực hiện giải quyếtviệc nuôi con nuôi có yếu tố nước ngoài, các thông tin về trẻ em cần tìm giađình thay thế, gồm các thông tin cơ bản như ngày tháng năm sinh, dân tộc, tìnhtrạng sức khỏe, và các thông tin khác được lưu giữ tại Cục Con nuôi

Ngày đăng: 08/02/2023, 17:52

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
2. Chính phủ, số 143/BC-CP, Báo cáo Về việc tổ chức, thực hiện chính sách, pháp luật về người lao động Việt nam đi làm việc ở nước ngoài theo hợp đồng. Hà Nội, ngày 15 tháng 10 năm 2010 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Báo cáo Về việc tổ chức, thực hiện chínhsách, pháp luật về người lao động Việt nam đi làm việc ở nước ngoàitheo hợp đồng
3. Chính phủ Việt Nam. 2015. Báo cáo quốc gia: Kết quả 15 năm thực hiện các mục tiêu phát triển Thiên Niên kỷ của Việt Nam Sách, tạp chí
Tiêu đề: Báo cáo quốc gia: Kết quả 15 năm thực hiện các mục tiêu phát triển Thiên Niên kỷ của Việt Nam
Tác giả: Chính phủ Việt Nam
Năm: 2015
4. Cục Lãnh sự, Bộ Ngoại giao. 2011. Báo cáo Tổng quan về tình hình di cư của công dân Việt Nam ra nước ngoài. Hà Nội: Bộ Ngoại Giao Sách, tạp chí
Tiêu đề: Báo cáo Tổng quan về tình hình di cư của công dân Việt Nam ra nước ngoài
Tác giả: Cục Lãnh sự, Bộ Ngoại giao
Nhà XB: Bộ Ngoại giao
Năm: 2011
5. Đảng Cộng sản Việt Nam, Văn kiện Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ XII. Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2016 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn kiện Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứXII
Nhà XB: Nxb Chính trị quốc gia
6. Đặng Nguyên Anh, Xã hội học Dân số, Nxb Khoa học xã hội, Hà Nội, 2007 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Xã hội học Dân số
Nhà XB: Nxb Khoa học xã hội
7. Dang Nguyen Anh, Labour Migration from Vietnam: Issues of policies and practice, ILO Working paper, Bangkok, 2008 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Labour Migration from Vietnam: Issues of policies and practice
Tác giả: Dang Nguyen Anh
Nhà XB: International Labour Organization (ILO)
Năm: 2008
8. Dang Nguyen Anh, “Vietnam’s Data Sources on International Migration”. Asian and Pacific Migration Journal, Vol. 17, No. 3-4, 2008 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Vietnam’s Data Sources on International Migration
Tác giả: Dang Nguyen Anh
Nhà XB: Asian and Pacific Migration Journal
Năm: 2008
9. Dang Nguyen Anh, Tran Thi Bich. Nguyen Ngoc Quynh, Dao The Son.Development on the Move: Measuring and Optimising Migration’s Economic and Social Impacts in Vietnam. Country Report: GDN and IPSSR, 2010 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Development on the Move: Measuring and Optimising Migration’sEconomic and Social Impacts in Vietnam
10.Hội Liên hiệp Phụ nữ Việt Nam, Hội nghị tổng kết 5 năm thực hiện đề án “Tuyên truyền giáo dục trong cộng đồng về phòng, chống tội phạm buôn bán phụ nữ và trẻ em, 2005-2009”, Thành phố Đà Nẵng, ngày 29 tháng 7 năm 2010 Sách, tạp chí
Tiêu đề: “Tuyên truyền giáo dục trong cộng đồng về phòng, chống tội phạmbuôn bán phụ nữ và trẻ em, 2005-2009”
11.IIE (International Institute for Education). Kết quả khảo sát nhu cầu tìm việc của du học sinh Việt Nam: 2009-2010. Công ty tư vấn và đào tạo tuyển dụng nhân sự, 2010 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Kết quả khảo sát nhu cầutìm việc của du học sinh Việt Nam: 2009-2010
12.IOM (International Organization for Migration), International Migration Law: Glossary on Migration. Geveva, 2004 Sách, tạp chí
Tiêu đề: InternationalMigration Law: Glossary on Migration
13.IOM (International Organization for Migration), Migration Report 2015. Geveva, 2015 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Migration Report2015
14.Khoa Luật, Đại học Quốc gia Hà Nội, Quyền của người lao động di trú (Công ước của Liên hợp quốc và những văn kiện quan trọng của ASEAN. Nxb Hồng Đức, Hà Nội, tháng 2/2010 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Quyền của người lao động di trú(Công ước của Liên hợp quốc và những văn kiện quan trọng củaASEAN
Nhà XB: Nxb Hồng Đức
15.Khoa Luật, Đại học Quốc gia Hà Nội, Lao động di trú trong pháp luật quốc tế và Việt Nam, Sách chuyên khảo, Nxb Lao động Xã hội, Hà Nội, 2011 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Lao động di trú trong pháp luậtquốc tế và Việt Nam
Nhà XB: Nxb Lao động Xã hội
16.Mekong Migration Network and Asian Migration Center, Migration in the Greater Mekong Subregion: Annotated Bibliography (3 rd edition), Hong Kong, 2007 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Migration inthe Greater Mekong Subregion: Annotated Bibliography
17.Mekong Migration Network and Asian Migration Center, Migration:Needs, Issues and Responses in the Greater Mekong Subregion, Hong Kong, 2002 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Migration:"Needs, Issues and Responses in the Greater Mekong Subregion
18.Ngo Thị Trinh, Quan hệ Việt – Hàn nhìn từ góc độ hôn nhân quốc tế và gia đình đa văn hoá. Tham luận tại Tọa đàm khoa học “Quan hệ Việt Nam-Hàn Quốc trong bối cảnh quốc tế mới” do Viện Nghiên cứu Đông Bắc Á tổ chức tại Hà Nội, ngày 4 tháng 12 năm 2009 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Quan hệ Việt – Hàn nhìn từ góc độ hôn nhân quốc tế vàgia đình đa văn hoá". Tham luận tại Tọa đàm khoa học “Quan hệ ViệtNam-Hàn Quốc trong bối cảnh quốc tế mới
19.Nguyen Thi Hong Xoan and Grame Hugo, Marriage Migration Between Vietnam and Taiwan: A View from Vietnam. University of Adelaide, Australia, 2005 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Marriage MigrationBetween Vietnam and Taiwan: A View from Vietnam
21.Trung tâm Nghiên cứu Quyền con người – Quyền công dân (Khoa Luật, Đại học Quốc Gia Hà Nội), Bảo vệ người lao động di trú. Tập hợp các văn kiện quan trọng của quốc tế, khu vực ASEAN và của Việt Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bảo vệ người lao động di trú. Tập hợp các văn kiện quan trọng của quốc tế, khu vực ASEAN và của Việt Nam
Tác giả: Trung tâm Nghiên cứu Quyền con người – Quyền công dân (Khoa Luật, Đại học Quốc Gia Hà Nội)
23.UN (United Nations), International Migration Report. United Nations, New York, 2002 Sách, tạp chí
Tiêu đề: International Migration Report
Tác giả: UN (United Nations)
Nhà XB: United Nations
Năm: 2002

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w