1. Trang chủ
  2. » Tất cả

Nâng cao công tác quản lý chất lượng các dự án đầu tư xây dựng tại các cơ quan, đơn vị thuộc bộ ngoại giao là hết sức thiết thực và cấp bách

39 12 0
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Nâng cao công tác quản lý chất lượng các dự án đầu tư xây dựng tại các cơ quan, đơn vị thuộc bộ ngoại giao là hết sức thiết thực và cấp bách
Trường học Học viện Ngoại giao
Chuyên ngành Quản lý dự án, Quản lý chất lượng, Xây dựng cơ bản
Thể loại Luận văn
Năm xuất bản 2023
Thành phố Hà Nội
Định dạng
Số trang 39
Dung lượng 64,47 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

3 Phần 1 MỞ ĐẦU 1 1 Lý do lựa chọn đề án Do trên thực tế luôn luôn vẫn tồn tại những bất cập trong các hệ thống các văn bản pháp luật hiện hành trong đó có các bộ luật điều chỉnh hoạt động đầu tư xây[.]

Trang 1

Phần 1 MỞ ĐẦU

1.1 Lý do lựa chọn đề án:

Do trên thực tế luôn luôn vẫn tồn tại những bất cập trong các hệ thốngcác văn bản pháp luật hiện hành trong đó có các bộ luật điều chỉnh hoạt độngđầu tư xây dựng cơ bản sử dụng ngân sách nhà nước, cụ thể như Luật Ngânsách Nhà nước số 83/2015/QH13, Luật Đấu thầu số 43/2013/QH13 ngày26/11/2013, Luật Đầu tư công số 49/2013/QH13 ngày 18/6/2014, Luật Xâydựng số 50/2014/QH13 ngày 18/6/2014 và các Nghị định và Thông tư có liênquan; việc các Bộ Ngành tiến hành xây dựng một bộ quy chế và hướng dẫnriêng để tạo ra một hành lang pháp lý phù hợp giúp các Chủ đầu tư, các Banquản lý dự án, các bộ phận chuyên môn như kế hoạch, tài vụ, tổ chức cán bộ,thanh tra kiểm tra của Bộ Ngành mình thực hiện đúng quy định, trình tự, tháo

gỡ được các khó khăn thực tế trong hoạt động đầu tư, xây dựng cơ bản sửdụng vốn ngân sách nhà nước và đảm bảo tuân thủ theo các điều luật trên.Ngoài ra, còn một thực tế khác về hệ thống luật và các văn bản pháp lý

về quản lý đầu tư xây dựng trong khoảng 10 năm trở lại đây (từ năm 2006đến nay) liên tục phải thay đổi, điều chỉnh Chỉ tính riêng từ Luật đến Nghịđịnh mà không tính đến các thông tư, thông tư liên bộ và các văn bản hướngdẫn của từng bộ chuyên ngành đã có khoảng 3 chu kỳ thay đổi và thương làkhông cùng thời điểm và không đồng bộ với nhau Cụ thể chỉ xét hệ thốngvăn bản pháp lý đến thời điểm hiện nay trong quản lý đầu tư xây dựng đã gồmnhững văn bản sau (chỉ tính đến nghị định của Chính phủ, chưa tính tới cácthông tư, quyết định, văn bản hướng dẫn chuyên ngành ):

- Luật Ngân sách Nhà nước số 83/2015/QH13 ngày 25/6/2015

- Luật Đấu thầu số 43/2013/QH13 ngày 26/11/2013;

- Luật Đầu tư công số 49/2013/QH13 ngày 18/6/2014;

- Luật Xây dựng số 50/2014/QH13 ngày 18/6/2014;

Trang 2

- Nghị định số 63/2014/NĐ-CP ngày 26/6/2014 của Chính phủ quyđịnh chi tiết thi hành một số điều của luật đấu thầu về lựa chọn nhà thầu;

- Nghị định số 32/2015/NĐ-CP ngày 25/03/2015 của Chính phủ vềquản lý chi phí đầu tư xây dựng;

- Nghị định số 46/2015/NĐ-CP ngày 12/5/2015 của Chính phủ về quản

lý chất lượng và bảo trì công trình xây dựng;

- Nghị định số 59/2015/NĐ-CP ngày 18/6/2015 của Chính phủ về quản

lý dự án đầu tư xây dựng;

- Nghị định số 84/2015/NĐ-CP ngày 30/9/2015 của Chính phủ về giámsát, đánh giá đầu tư ;

- Nghị định số 136/2015/NĐ-CP ngày 31/12/2015 của Chính phủhướng dẫn thi hành một số điều của Luật Đầu tư công;

- Thông tư số 22/2015/TT-BKH ngày 18/12/2015 của Bộ Kế hoạch vàĐầu tư quy định mẫu báo cáo giám sát, đánh giá đầu tư;

- Các Thông tư hướng dẫn của Bộ Xây dựng và các Bộ chuyên ngànhcũng luôn thay đổi, điều chỉnh theo các nghị định mới cho phù hợp

Song song với quá trình đó là quá trình xây dựng đội ngũ quản lý nhànước về xây dựng cơ bản trong Bộ Ngành mình cũng phải thực hiện thườngxuyên, liên tục và gắn với văn kiện, nghị quyết Đảng và các bộ Luật, Nghịđịnh, Thông tư tương ứng qua mỗi kỳ đại hội và các kế hoạch phát triển kinh

tế xã hội 5 năm do các Đại hội đã đề ra

Một thực tế khác là, trên phạm vi toàn quốc các sai sót trong quản lý dự

án cả về khâu thiết kế, phê duyệt, thi công, hoàn công, vận hành sử dụngtrong những năm gần đây xảy ra ở một số hạng mục công trình lớn trongnước ngày càng ra tăng gây nên sự chú ý và lo lắng đối với nhân dân cả nướcnói chung và ngành xây dựng nói riêng Đặc biệt là các Ban quản lý dự án,các tổ chức tư vấn thiết kế cần có sự quản lý chất lượng công trình một cáchchặt chẽ hơn bao giờ hết Cạnh tranh là đặc trưng của cơ chế thị trường Cácnhà thầu trong nước không chỉ cạnh tranh nhau mà còn cạnh tranh với cả các

Trang 3

nhà thầu nước ngoài trong việc đảm bảo chất lượng thi công xây dựng côngtrình nhất là trong điều kiện phát triển hiện nay của nước ta.

Riêng đối với các cơ quan, đơn vị thuộc Bộ Ngoại giao từ nhiều năm naychưa quan tâm đúng mức đến vấn đề này, do vậy việc hướng dẫn thực hiệntrong ngành chưa được quan tâm đầy đủ Khi có tình huống liên quan đếnquản lý dự án là lãnh đạo Bộ phải gửi các bộ quản lý chuyên ngành trong khiviệc chỉ đạo hướng dẫn trong nội ngành là chưa hợp lý, chưa quan tâm đếnviệc xây dựng đội ngũ và sử dụng hết nội lực về năng lực, trí tuệ, nhân lựccủa những cán bộ công chức, kỹ sư, chuyên viên đã được đào tạo bài bản cả ởtrong nước và nước ngoài Do vậy, trong những năm gần đây, khi được chínhphủ phê duyệt cho nhiều dự án trong đó có cả dự án nhóm A thì việc cần nângcao công tác quản lý chất lượng các dự án đầu tư xây dựng tại các cơ quan,đơn vị thuộc Bộ Ngoại giao là hết sức thiết thực và cấp bách

1.3 Nhiệm vụ của đề án:

- Nâng cao kiến thức, chuyển giao các nghiệp vụ kỹ năng chuyên môncủa khu vực và thế giới bằng cách đào tạo trong nước và biên soạn những tàiliệu cần thiết cho công tác đào tạo Lấy Cục Quản trị - Tài vụ Bộ Ngoại giao

là cơ quan chỉ đạo thực hiện

- Cung cấp những thiết bị, phương tiện cần thiết để phục vụ công tácđào tạo, huấn luyện phổ cập trong Bộ Ngoại giao và các cơ quan, đơn vịthuộc Bộ Ngoại giao, đặc biệt phục vụ hệ thống quản lý, đảm bảo chất lượngthiết kế, thi công xây dựng công trình

1.4 Giới hạn của đề án:

Trang 4

Trong phạm vi toàn quốc đối với các dự án đầu tư xây dựng công trìnhcủa Bộ Ngoại giao và các cơ quan, đơn vị thuộc Bộ Ngoại giao.

Công tác tăng cường quản lý hoạt động đầu tư và xây dựng cơ bản tại BộNgoại giao cần đi theo hai tuyến chính Tuyến thứ nhất là tăng cường quản lýnhà nước trong hoạt động xây dựng ở cấp Bộ lấy quy chế hoạt động xây dựngtrong bộ và Cục Quản trị Tài vụ là trung tâm Tuyến thứ hai là tăng cườngnăng lực quản lý dự án đầu tư xây dựng tại các Ban quản lý dự án sử dụngvốn ngân sách nằm trong Bộ Giới hạn của đề án chỉ tập trung vào tuyến thứhai này Sẽ có một đề án khác phục vụ tuyến thứ nhất

Trang 5

Phần 2 NỘI DUNG 2.1 Căn cứ xây dựng đề án

2.1.1 Căn cứ khoa học, lý luận

Trong nền kinh tế thị trường, chúng ta cần hoàn thiện đi đôi với thựchiện công nghiệp hóa – hiện đại hóa đất nước Do đó, riêng về mặt xây dựngphải đáp ứng được sự tăng trưởng của nền kinh tế quốc dân, nhà nước đã vàđang đầu tư một tỷ trọng vốn xây dựng rất lớn Trước mắt chúng ta phải tăngcường xây dựng nhiều cơ sở hạ tầng ở thành thị và nông thôn, các khu côngnghiệp, các hệ thống giao thông trong nước và xuyên quốc gia, nhiều côngtrình thủy lợi và nhiều hệ thống cấp thoát nước, xử lý nước thải, bảo vệ môitrường, xây dựng các đô thị, sân bay, bến cảng v.v… Muốn đạt hiệu quả tốttrong các dự án đầu tư xây dựng thì phải thường xuyên nâng cao chất lượngcông tác quản lý xây dựng bắt đầu tư khâu lập quy hoạch, chuẩn bị mặt bằngxây dựng, đền bù di dân, khảo sát thiết kế, thi công xây dựng cho đến khi đưacác dự án vào sử dụng, khai thác

Từ khi có sự nghiệp đổi mới, có một xu thế hiện đại học theo cách làmvăn minh của các nước tiên tiến trên thế giới là việc lập và quản lý các dự ánmục tiêu từ xây dựng cơ bản cho đến nghiên cứu khoa học tự nhiên, khoakhoa học xã hội, thực hiện các chương trình xã hôi Xu thế này là không thểđảo ngược trong quản lý đất nước thời hiện đại

Đối với công tác xây dựng cơ bản, các tổ chức quản lý dự án, các Banquản lý dự án chỉ được thành lập khi được giao nhiệm vụ là chủ dự án cáccông trình xây dựng cho đến khi công trình xây dựng hoàn thành đưa vào sửdụng, sau đó Ban quản lý dự án hết nhiệm vụ và tự giải thể Đội ngũ các bộcủa Ban quản lý dự án phần lớn chưa thật sự có nhiều kinh nghiệm quản lý,không chuyên sâu và còn nhiều sơ hở với loại hình công việc quản lý xâydựng như: các thủ tục về xây dựng )xin cấp đất, đề bù giải phóng mặt bằng,

Trang 6

khảo sát thiết kế, tổ chức đấu thầu, chọn thầu, giám sát chất lượng công trình,chất lượng quản lý dự án v.v …) Trong thời gian qua xuất hiện nhiều vấn đềbất cập trong quản lý xây dựng như trong đấu thầu, chọn thầu kèm theonhững hiện tượng tiêu cực do tăng giá, hạ giá, do phối hợp giữa A – B và thiết

kế để giảm giá, nâng giá và ăn bớt vật liệu hoặc đưa vật liệu không đúngchủng loại theo thiết kế vào công trình làm cho công trình kém chất lượng,dẫn đến xảy ra sự cố lún, nứt … Nhiều dự án chậm chễ trong việc triển khaiđầu tư nhất là các dự án nhà ở có vốn đóng góp Nhiều dự án kết thúc đưa vào

sử dụng, khai thác đều không đúng tiến độ quy định Muốn khắc phục đượcthì việc đầu tiên là phải nhanh chóng tăng cường năng lực đội ngũ cán bộ làmcông tác quản lý dự án bằng cách đẩy mạnh công tác đào tạo, huấn luyện cán

bộ, trước hết là cán bộ chủ chốt trong đó phải chú ý đến đội ngũ cán bộ quản

lý về chất lượng công trình có đủ năng lực trong việc giám sát đơn vị thi công

để đảm bảo chất lượng công trình được tốt hơn

2.1.2 Căn chứ chính trị, pháp lý:

- Căn cứ Quyết định số 189-QĐ/TW, ngày 10/4/2013 của Bộ Chính trị(Khóa XI) về chức năng, nhiệm vụ, tổ chức bộ máy của Bộ Ngoại giao;

- Luật Ngân sách Nhà nước số 83/2015/QH13 ngày 25/6/2015

- Luật Đấu thầu số 43/2013/QH13 ngày 26/11/2013;

- Luật Đầu tư công số 49/2013/QH13 ngày 18/6/2014;

- Luật Xây dựng số 50/2014/QH13 ngày 18/6/2014;

- Nghị định số 58/2013/NĐ-CP ngày 11/6/2013 của Thủ tướng Chínhphủ quy định chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và cơ cấu tổ chức của BộNgoại giao;

- Nghị định số 63/2014/NĐ-CP ngày 26/6/2014 của Chính phủ quyđịnh chi tiết thi hành một số điều của luật đấu thầu về lựa chọn nhà thầu;

- Nghị định số 32/2015/NĐ-CP ngày 25/03/2015 của Chính phủ vềquản lý chi phí đầu tư xây dựng;

Trang 7

- Nghị định số 46/2015/NĐ-CP ngày 12/5/2015 của Chính phủ về quản

lý chất lượng và bảo trì công trình xây dựng;

- Nghị định số 59/2015/NĐ-CP ngày 18/6/2015 của Chính phủ về quản

lý dự án đầu tư xây dựng;

- Nghị định số 84/2015/NĐ-CP ngày 30/9/2015 của Chính phủ về giámsát, đánh giá đầu tư ;

- Nghị định số 136/2015/NĐ-CP ngày 31/12/2015 của Chính phủhướng dẫn thi hành một số điều của Luật Đầu tư công;

- Thông tư số 22/2015/TT-BKH ngày 18/12/2015 của Bộ Kế hoạch vàĐầu tư quy định mẫu báo cáo giám sát, đánh giá đầu tư;

2.1.3 Căn cứ thực tiễn:

Các Chủ đầu tư, các Ban quản lý dự án thuộc Bộ Ngoại giao và các cơquan, đơn vị thuộc Bộ Ngoại giao tổ chức thực hiện việc quản lý chất lượngcác dự án đầu tư xây dựng công trình bằng nguồn vốn ngân sách nhà nướctheo Luật Ngân sách, Luật Đầu tư công, Luật Xây dựng và Luật Đấu thầu Ba

dự án sử dụng vốn ngân sách nhà nước trong đầu tư xây dựng đã được Chínhphủ và phê duyệt và đang cấp vốn gồm

1) Dự án đầu tư xây dựng trụ sở Bộ Ngoại giao;

2) Dự án Trụ sở Ủy ban Nhà nước về Người Việt Nam ở nước ngoài; 3) 3) Dự án đầu tư cải tạo, nâng cấp cơ sở vật chất, nâng cao năng lựcđào tạo của Học viện Ngoại giao

Các dự án này là cơ sở thực tiễn thúc đẩy việc cần nâng cao công tácquản lý chất lượng các dự án đầu tư xây dựng tại các cơ quan, đơn vị thuộc

Bộ Ngoại giao Đồng thời, vì các dự án này đã được phê duyệt và cấp vốnthực hiện nên việc vận dụng ngân sách đã được cấp và nguồn nhân lực quản

lý dự án một cách hợp lý sẽ tạo ra nguồn lực cần thiết để thực hiện đề án màkhông phải chờ đợi xin thêm ngân sách trung ương

Trang 8

Mặt khác, do việc nâng cao công tác quản lý chất lượng các dự án đầu tưxây dựng tại các cơ quan, đơn vị thuộc Bộ Ngoại giao là nhiệm vụ quan trọngvào thời điểm hiện nay nên nếu được Lãnh đạo Bộ quan tâm và phê duyệt, cóthể sử dụng những nguồn ngân sách đào tạo bồi dưỡng hoặc hoàn thiện thểchế khác để thực hiện đề án ngay mà không phải đợi thời gian phê duyệt lâuhơn ở cấp Chính phủ

Đây thực sự là những cơ sở thực tiễn quan trọng để giúp đề án sớm đượctriển khai và thành công nếu tiến hành bài bản và có hiệu quả

2.2 Nội dung cơ bản của đề án

2.2.1 Thực trạng của vấn đề cần giải quyết mà đề án hướng đến

Trên cơ sở của Luật Ngân sách, Luật Đầu tư công, Luật Xây dựng,Luật Đấu thầu, thực trạng của công tác quản lý chất lượng dự án, quản lý vốnđầu tư xây dựng thuộc nguồn vốn Ngân sách nhà nước, từ các thủ tục hồ sơtài liệu quản lý chất lượng, chứng từ thanh toán của chủ đầu tư, quyết toánvốn hàng năm từ đó đề ra quy chế, giải pháp nhằm hoàn thiện và nâng caohiệu lực về quản lý chất lượng dự án đầu tư xây dựng của các Chủ đầu tư, cácBan quản lý dự án của Bộ Ngoại giao và các cơ quan, đơn vị thuộc Bộ Ngoạigiao

Chúng ta đều biết rằng, quản lý dự án đầu tư xây dựng là một công việctrí tuệ, một hoạt động chất xám cần kiến thức đa ngành và rất cần thiết vàcũng rất cụ thể cho những công việc hết sức cụ thể hàng ngày của dự án, củacông trình Để dự án đầu tư xây dựng đạt chất lượng và tiến độ, luôn cần cómột đội ngũ cán bộ được đào tạo cơ bản trong các trường đại học gồm nhiềuchuyên ngành khác nhau cụ thể như: Kiến trúc, xây dựng, thiết bị điện, nước,lắp máy và các ngành kinh tế khác v.v … Đội ngũ cán bộ này đòi hỏi phảigiỏi về trình độ chuyên môn được đào tạo, có đủ kinh nghiệm trong công việcquản lý chất lượng ở các lĩnh vực mình phụ trách Ngoài ra còn có đủ phẩmchất đạo đức, trung thực với nghề nghiệp Quản lý dự án cũng là quản lý đội

Trang 9

ngũ nhân lực của ban quản lý dự án hiệu quả, quản lý nguồn nhân lực của cácnhà thầu hợp lý và đòi hỏi không chỉ có các chứng chỉ bằng cấp mà cả cáckinh nghiệm thực tiễn quý báu ở trong các dự án đi trước và kinh nghiệm làmviệc đa ngành kết hợp.

Quản lý chất lượng của dự án là quản lý hiệu quả vốn đầu tư công trìnhmột cách chặt chẽ không để thất thoát, lãng phí làm ảnh hưởng đến tiến độcũng như chất lượng công trình để đưa công trình vào thi công đúng tiến độ,hoàn thành công trình đúng tiến độ Muốn vậy người cán bộ tham gia chutrình quản lý dự án phải quản lý thật tốt từ các khâu khảo sát thiết kế, lập dự

án, tổ chức phê duyệt dự án, tổ chức đấu thầu, lựa chọn nhà thầu để tìm rađơn vị có đủ điều kiện và năng lực thi công xây dựng công trình, giám sátchất lượng thị công xây dựng công trình, tổ chức nghiệm thu khối lượngthanh toán cho đơn vị thi công, nghiệm thu bàn giao công trình đưa công trìnhvào sử dụng và quyết toán công trình hoàn thành đúng theo quy định của nhànước

Xem xét tình hình các Ban quản lý dự án hiện nay của Bộ Ngoại giao

và các cơ quan, đơn vị thuộc Bộ Ngoại giao

- Về số lượng các Ban quản lý dự án:

+ Tại Bộ Ngoại giao đang thực hiện các dự án sau sử dụng nguồn vốn

từ ngân sách nhà nước: Dự án đầu tư xây dựng trụ sở Bộ Ngoại giao; Dự ánTrụ sở Ủy ban Nhà nước về Người Việt Nam ở nước ngoài; Dự án đầu tư cảitạo, nâng cấp cơ sở vật chất, nâng cao năng lực đào tạo của Học viện Ngoạigiao Tổng số cán bộ, công chức, nhân viên kỹ thuật đang tham gia vào Banquản lý của 3 dự án nêu n nêu trên đang sử dụng khoảng 50 người

+ Tại Cục phục vụ Ngoại giao đoàn có một số dự án do Cục làm chủđầu tư và các dự án đang thực hiện đều có Ban quản lý dự án với tổng số cán

bộ công chức, nhân viên kỹ thuật tham gia vào các dự án là 50 người Do đặcthu của Cục phục vụ Ngoại giao đoàn, nên tại Cục có đội ngũ cán bộ và bộmáy tổ chức quản lý dự án thường xuyên hơn các dự án của Bộ

Trang 10

+ Tại các vụ chức năng, vụ khu vực của Bộ Ngoại giao không tổ chức bộmáy quản lý dự án riêng biệt Khi có nhu cầu xây dựng, cải tạo nâng cấp cơ

sở vật chất sử dụng nguồn vốn đầu tư của ngân sách nhà nước, theo chứcnăng nhiệm vụ được phân công Cục Quản trị Tài vụ Bộ Ngoại giao sẽ tiếpnhận các nhu cầu, đánh giá và trình Lãnh đạo Bộ phương án xây dựng, cải tạothông qua hình thức ban quản lý dự án chuyên ngành nào cho phù hợp

- Về trang thiết bị, kỹ thuật, cơ sở vật chất: Các Ban quản lý dự án của

Bộ Ngoại giao và các cơ quan, đơn vị thuộc Bộ Ngoại giao đều được bố trílàm việc đảm bảo điều kiện theo yêu cầu nhiệm vụ chung Tuy nhiên cáctrang thiết bị kỹ thuật chuyên ngành, đặc biệt là các trang bị phương tiện kỹthuật phục vụ cho công tác giám sát quản lý chất lượng chưa được quan tâm,chưa đáp ứng với sự phát triển của khoa học kỹ thuật tiên tiến hiện đại

- Chưa có phương pháp về việc tăng năng lực nghiệp vụ quản lý xâydựng, trong đó nêu rõ vai trò, vị trí của công tác huấn luyện, đào tạo nghiệp

vụ quản lý chất lương, kiểm tra chất lượng thiết kế, chất lượng công trình,phương pháp tiến hành và vai trò của Cục Quản trị - Tài vụ trong lĩnh vựcnày

2.2.2 Nội dung cụ thể đề án cần thực hiện

Hoạt động của Ban quản lý dự án không thể tách rời 5 loại hình hoạtđộng có quan hệ hữu cơ:

+ Nghiên cứu dự án;

+ Xử lý thông tin;

+ Thực hiện dự án;

+ Đưa dự án vào sử dụng

+ Bảo hành, bảo trì, bảo dưỡng công trình, thiết bị đã đầu tư

Năm loại hình trên hình thành một quy trình nối tiếp khá hoàn chỉnh từkhâu lập dự án đến khâu sử dụng thành quả đầu tư của dự án Hướng đích là

Trang 11

các Ban quản lý dự án phải nâng cao chất lượng và tính hiệu quả của công tácquản lý dự án một cách “trọn gói”

Các dự án đều có thời hạn, thường là vừa rất cố gắng mới hoàn thànhđúng tiến độ Mặt khác, mỗi dự án là một bài toàn chỉnh thể trên những địađiểm, thời gian, không gian, hoàn cảnh pháp lý, quan hệ tương tác xã hội khácnhau do vậy đội ngũ quản lý dự án dù đã có chuyên môn và kinh nghiệmnhưng vẫn phải tập hợp lại để làm việc tập thể và phải tự học hỏi, khớp nối,liên tục tổ chức việc đào tạo nội bộ dưới mọi hình thức linh hoạt để nâng caotrình độ kiến thức, nghề nghiệp Ngoài ra, dù trong những tiến độ và thời hạngấp gáp của dự án, thủ trưởng các ban quản lý dự án cũng liên tục cần tổ chứcnhững lớp học chuyên đề, các khóa học lấy chứng chỉ cho đội ngũ cán bộchuyên môn và cán bộ lãnh đạo ban quản lý dự án trong đó có cả mình (ngườithủ trưởng) Chỉ sử dụng người có kiến thức, có chuyên môn, có đạo đức nghềnghiệp, có đầy đủ các chứng chỉ chuyên ngành là yêu cầu quản lý hàng đầutại các ban quản lý dự án

Trong giám sát thi công thực hiện dự án của Ban quản lý dự án thì cán

bộ giám sát đòi hỏi phải có trình độ, phẩm chất đạo đức và thái độ làm việcnghiêm túc thì công trình mới đảm bảo chất lượng và ngược lại Hiện nay ởViệt Nam số lượng các công trình xây dựng cũng như quy mô xây dựng ngàycàng nhiều và lớn, độ phức tạp của công trình ngày càng cao Do không đủnăng lực quản lý nên Chủ đầu tư phải thuê tư vấn nước ngoài quản lý giám sátthi công Có những dự án Chủ đầu tư cũng có thể thuê quản lý từ A đến Z (từkhi thi công đến khi công trình hoàn thành bàn giao) cũng có Chủ đầu tư chỉthuê tư vấn quản lý riêng phần giám sát thi công Việc Chủ đầu tư thuê tư vấnquản lý hay không thuê tùy thuộc vào năng lực quản lý của Ban quản lý dự án

đó và tùy thuộc vào quy mô và tính chất phức tạp của dự án Nếu như Banquản lý dự án có đủ điều kiện, năng lực quản lý xuyên suốt mà không phảithuê tư vấn là điều tốt nhất vì không phải trả một khoản kinh phí rất lớn cho

tư vấn, giảm chi phí đầu tư dự án, có lợi cho nhà nước v.v… Tuy nhiên, khikhông có năng lực chuyên môn, cán bộ chưa đạt trình độ, chưa có chứng chỉthì thủ trưởng ban quản lý dự án nhất định không được xem nhẹ, bỏ qua khâu

Trang 12

này mà phải tiến hành lập kế hoạch, chọn lựa, ký hợp đồng thuê đơn vị tư vấnhay cá nhân người có chuyên môn và chứng chỉ để thực hiện mảng nhiệm vụ

mà ban quản lý dự án chưa đủ năng lực đáp ứng

Trên góc độ của đơn vị thay mặt Lãnh đạo Bộ bao quát chung công tácquản lý nhà nước nói chung đối với các dự án đầu tư xây dựng của Bộ Ngoạigiao hiện tại và tương lai thì việc đào tạo đội ngũ cán bộ cho các Ban quản lý

dự án là việc rất cần thiết Cần xây dựng đội ngũ quản lý xây dựng có tínhchuyên nghiệp và cử tới các đơn vị đang có dự án Khi có dự án xây dựng thì

đã có sẵn đội ngũ cán bộ này đem lắp ghép lại thành Ban quản lý dự án đểquản lý có tính chuyên nghiệp và chuyên sâu Tránh tình trạng hiện nay khi

có dự án thì mới đi tìm cán bộ ở chỗ này, chỗ kia, trình độ cán bộ quản lýchắp vá không đồng đều, có người mới ra trường, chưa có kinh nghiệm quản

lý, thậm chí càn chưa hiểu việc, có người chưa làm dự án bao giờ Với độingũ cán bộ như vậy thì không bao giờ chúng ta quản lý dự án tốt được

“Mặc dù chưa có một cơ quan, tổ chức nào đưa ra được tỷ lệ và số liệuchính xác về thất thoát, lãng phí trong đầu tư XDCB là bao nhiêu (10, 20 hay30% như nhiều chuyên gia nhận định) nhưng thất thoát, lãng phí là có thực và

nó xẩy ra ở tất cả các khâu, giai đoạn của quá trình đầu tư, từ chủ trương đầu

tư, chuẩn bị đầu tư, thực hiện đầu tư, cấp phát vốn đầu tư, đến khâu nghiệmthu bàn giao đưa công trình vào sử dụng và quyết toán vốn đầu tư xây dựngcông trình”1 Vậy nguyên nhân thất thoát ở khâu nào trong chu trình quản lý

dự án? Đó là một câu hỏi mà trách nhiệm của những người làm công tác quản

lý phải trả lời trước Lãnh đạo Bộ Những khâu có thể xảy ra thất thoát thôngthường được sàng lọc như sau:

a) Thất thoát, lãng phí trong khâu chủ trương đầu tư: Xác định sai chủtrương đầu tư, dẫn đến đầu tư không có hiệu quả, hoặc hiệu quả đầu tư

1 “Thất thoát, lãng phí vốn đầu tư xây dựng cơ bản của Nhà nước và vấn đề đặt ra đối với Kiểm toán Nhà nước trong việc kiểm toán các dự án đầu tư” của tác giả Hoàng Văn Lương trên http://www.sav.gov.vn/957- 1-ndt/that-thoat-lang-phi-von-dau-tu-xay-dung-co-ban-cua-nha-nuoc-va-van-de-dat-ra-doi-voi-kiem-toan- nha-nuoc-trong-viec-kiem-toan-cac-du-an-dau-tu.sav

Hoặc (Theo Tạp chí Kiểm toán số 2/2011)

Trang 13

kém.Sai lầm trong chủ trương đầu tư sẽ gây lãng phí, thất thoát nghiêm trọngnhất, cả về lãng phí trực tiếp và lãng phí về gián tiếp

b) Thất thoát trong khâu khảo sát thiết kế: Khảo sát không đảm bảo chấtlượng, chưa đủ mẫu, chưa sát với thực tế hoặc không đúng với những tiêuchuẩn, quy chuẩn dẫn đến việc phải khảo sát lại hoặc phải phải thay đổi, bổsung, điều chỉnh thiết kế, phương án thi công nhiều lần, kéo theo là làm thayđổi dự toán, làm chậm tiến độ thi công, gây lãng phí thời gian, tiền của của

dự án; thiết kế không đảm bảo chất lượng, không đồng bộ gây lún, nứt phảiphá đi làm lại; phương án thiết kế không hợp lý, sử dụng vật tư, vật liệukhông phù hợp với loại công trình (sử dụng vật liệu quá đắt tiền cho côngtrình cấp thấp); việc chọn hệ số an toàn quá cao, tính toán không chặt chẽ gâylãng phí vật liệu xây dựng,

c) Thất thoát trong khâu đền bù, giải phóng mặt bằng xây dựng: Bớt xéntiền đền bù cho đối tượng được đền bù; đền bù không thoả đáng, không đúngđối tượng; chi trả tiền đền bù không theo định mức, khung giá Nhà nước vàđịa phương ban hành; khai khống diện tích, khối lượng tài sản được đền bù;làm giả hồ sơ đền bù từ đó làm tăng thêm vốn đầu tư xây dựng công trình

và chính việc đền bù không thoả đáng, hợp lý, không tuân theo quy định làmcho việc bàn giao mặt bằng xây dựng không đúng thời hạn quy định, dẫn đếnchậm tiến độ thi công công trình, gây lãng phí, thất thoát vốn;

d) Thất thoát, lãng phí trong công tác triển khai và điều hành kế hoạchđầu tư hàng năm như: Bố trí danh mục các dự án đầu tư quá phân tán, dàntrải, không sát với tiến độ thi công của dự án đã được phê duyệt, bố trí kếhoạch đầu tư cho dự án không đủ điều kiện dẫn đến kéo dài thời gian thicông, chậm đưa vào sử dụng làm giảm hiệu quả đồng vốn đầu tư; bố trí kếhoạch đầu tư chỉ chú trọng kế hoạch khối lượng, không xây dựng kế hoạchvốn dẫn đến phát sinh mất cân đối giữa kế hoạch khối lượng và kế hoạch vốndẫn đến hiện tượng thừa thiếu vốn giả tạo cho các dự án; bố trí kế hoạch đầu

tư hàng năm cho các dự án không theo sát tiến độ đầu tư thực hiện dự án đãđược cấp thẩm quyền phê duyệt trong quyết định đầu tư ;

Trang 14

đ) Thất thoát, lãng phí trong khâu lựa chọn nhà thầu: Làm sai lệch bảnchất đấu thầu như không thực hiện đúng trình tự đấu thầu; xét thầu, đánh giá

để xếp loại nhà thầu khi lựa chọn nhà thầu không chính xác, thiếu chuẩn mực,không đủ khả năng; hiện tượng thông đồng giữa các nhà thầu khi tham giađấu thầu đã khống chế giá trúng thầu cho đơn vị được thoả thuận để thắngthầu đưa đến phá giá trong đấu thầu;

e) Thất thoát, lãng phí trong khâu thi công xây lắp công trình: Thi côngkhông đảm bảo khối lượng theo thiết kế được phê duyệt hoặc thi công khôngđúng thiết kế dẫn đến phải phá đi làm lại; sử dụng vật liệu không đảm bảochất lượng; khai khống khối lượng; ăn bớt vật liệu trong quá trình thi công,chất lượng công trình không đảm bảo

Một loại hình thất thoát cụ thể hay được nêu lên nhiều qua các hội nghị,hội thảo về hiệu quả quản lý dự án của nhà nước Đa số đều có nhận xét, saisót về thiết kế là nguyên nhân chính của sự cố công trình xây dựng Các nghịđịnh, thông tư của Chính phủ, của Bộ Xây dựng đã đề cập đến vấn đề đảmbảo chất lượng thiết kế nhưng còn chung chung, chưa thật cụ thể và thực tếcác công ty tư vấn thực hiện cũng chưa thật nghiêm túc Cán bộ thiết kế hầuhết mới ra trường chưa có đủ kinh nghiệm, tay nghề còn non Việc sử dụngquy phạm thiết kế không thống nhất, nhiều kỹ sư thiết kế hình như chỉ thựchiện thiết kế theo tài liệu ghi chép học ở trường mà chưa chịu nghiên cứ cáctài liệu theo tiêu chuẩn nước ngoài để mở rộng kiến thức Đối với Chủ đầu tư

và Ban quản lý dự án (đặc biệt là dự án nhóm A) rất cần phải có đội ngũ cán

bộ giỏi đạt yêu cầu về tiêu chuẩn, phù hợp với quy định về chức năng, nhiệm

vụ và trách nhiệm của Ban quản lý dự án Ban quản lý dự án có vai trò quantrong trong việc đảm bảo hồ sơ thiết kế, chọn thầu, đấu thầu để tổ chứcnghiệm thu thiết kế, trình thẩm định phê duyệt thiết kế theo quy định củapháp luật do vậy đội ngũ cán bộ của Ban quản lý dự án phải có đủ trình độ để

ám hiểu những công việc trên

Trong thực tế nhiều cán bộ của các Ban quản lý dự án không am hiềusâu về chuyên môn nên thường trông chờ vào cơ quan thẩm định của nhà

Trang 15

nước Đối với công tác thẩm định của các cơ quan nhà nước cũng cần đòi hỏimột đội ngũ cán bộ giỏi, công tâm và có đủ kinh nghiệm và đã trưởng thành

từ thực tế, đảm bảo đúng nguyên tắc thẩm định thiết kế thì việc thẩm địnhthiết kế mới có chất lượng tốt được Thực tế công tác này ở các Bộ, Ngànhcòn nhiều bất cập do trình độ không đồng đều, xa rời thực tế, phần lớn chỉdựa vào các cơ quan tư vấn thiết kế mà không làm hết trách nhiệm của mình.Việc tạo hành lang pháp lý và chấp hành các điều kiện của hành lang pháp lýphù họp thông lệ quốc tế và điều tiết hành vi của các đối tượng liên quan đếnchất lượng công trình xây dựng, đồng thời phải đẩy mạnh sự phát triểnthường xuyên của công nghệ xây dựng và vật liệu xây dựng Đẩy mạnh sựphát triển của công nghiệp xây dựng thông qua các tổ chức nghề nghiệp vàhọc thuật cho các cán bộ kỹ thuật Tất cả cần thiết đòi hởi phải nhanh chóngtăng cường năng lực cho đội ngũ cán bộ quản lý xây dựng thông qua đào tạo,huấn luyện thường xuyên trong đó có đội ngũ cán bộ quản chất lượng và kiểmtra chất lượng, thường xuyên đổi mới để tránh tụt hậu so với khu vực và thếgiới

2.2.3 Các giải pháp, biện pháp để giải quyết vấn đề mà đề án đặt ra

(Những nội dung cụ thể về quản lý chất lượng)

* Quản lý chất lượng về phân cấp quản lý đầu tư xây dựng:

- Thực hiện theo những quy định hiện hành của nhà nước về quản lýđầu tư xây dựng công trình, quản lý đấu thầu và quy định phân cấp quản lýđầu tư xây dựng công trình của Bộ Ngoại giao Làm rõ chức năng, quyền hạngiữa Chủ quản đầu tư (cơ quan ban hành quyết định đầu tư), Chủ đầu tư, Banquản lý dự án, Nhà thầu được tham gia một công việc hay một phần công việccủa dự án và các bộ phận chức năng ở cấp thấp hơn trong chu trình quản lý dựán

- Đầu tư xây dựng công trình theo quy định, kế hoạch, quy mô, mụctiêu được cấp có thẩm quyền phê duyệt

- Bảo đảm quyền hạn gắn với trách nhiệm của các Chủ đầu tư và cácchủ thể tham gia hoạt động xây dựng

Trang 16

- Bảo đảm đúng trình tự, thủ tục hồ sơ; bảo đảm chất lượng, tiến độ, antoàn, tiết kiệm, hiệu quả, chống lãng phí, thất thoát và các tiêu cực trong đầu

tư xây dựng công trình

- Bảo đảm cạnh tranh trong đấu thầu, công bằng, minh bạch và đúngluật

* Quản lý chất lượng về chủ trương đầu tư:

- Các dự án đầu tư xây dựng công trình bằng nguồn vốn ngân sách nhànước tại các cơ quan, đơn vị thuộc Bộ Ngoại giao phải có chủ trương đầu tưcủa Bộ Ngoại giao (cơ quan quyết định đầu tư): Thực hiện theo quy định tạiĐiều 17, Điều 23 và Điều 26 Luật Đầu tư công

- Trên cơ sở kế hoạch đầu tư, đề nghị của chủ dự án, tờ trình của Vụchức năng, Bộ Ngoại giao sẽ ra “quyết định chủ trương đầu tư” dự án để Chủđầu tư triển khai thực hiện

* Quản lý chất lượng về lập, thẩm định dự án đầu tư xây dựng công trình:

Lập dự án đầu tư xây dựng công trình: Thực hiện theo quy định tại cácĐiều 52 đến Điều 55 Luật Xây dựng số 50/2014/QH13 ngày 18/6/2014; Điều

7 đến Điều 14 Nghị định 59/2015/NĐ-CP ngày 18/6/2015 của Chính phủ vềquản lý dự án đầu tư

- Giai đoạn chuẩn bị đầu tư, Chủ đầu tư có Tờ trình về việc lập dự toánchuẩn bị đầu tư (trong đó xác định nội dung, nguồn kinh phí chuẩn bị đầu tưkhi dự án chưa được lập) để cấp quyết định đầu tư xem xét phê duyệt; Chủđầu tư phê duyệt kế hoạch đấu thầu, chỉ định thầu một số gói thầu tư vấn, tổchức thi tuyển hoặc tuyển chọn phương án kiến trúc

- Chủ đầu tư nghiên cứu dự thảo “Yêu cầu thiết kế” phù hợp với quyếtđịnh đầu tư đã được phê duyệt, lấy ý kiến Cục Quản trị - Tài vụ về nội dung,quy mô dự án trước khi phê duyệt chính thức “Yêu cầu thiết kế” Cục Quảntrị - Tài vụ có trách nhiệm báo cáo Lãnh đạo Bộ Ngoại giao trước khi trả lờiChủ đầu tư

Trang 17

- Thi tuyển phương án kiến trúc: Sau khi có chủ trương đầu tư, Chủ đầu

tư triển khai việc thi tuyển hoặc tuyển chọn thiết kế kiến trúc theo Điều 15Nghị định 59/2015/NĐ-CP ngày 18/6/2015 của Chính phủ về quản lý dự ánđầu tư

- Thiết kế cơ sở (gồm bản vẽ và thuyết minh kỹ thuật) hoặc bản vẽ thicông đối với dự án chỉ lập báo cáo kinh tế - kỹ thuật, phải được Bộ Ngoạigiao đồng ý bằng văn bản

- Tổng mức đầu tư của dự án được tính toán trên thiết kế cơ sở (hoặcbản vẽ thi công) được Bộ Ngoại giao đồng ý và thực hiện theo các quy địnhtại Điều 4, Điều 5 Nghị định 32/2015/NĐ-CP ngày 25/03/2015 của Chính phủ

về quản lý chi phí đầu tư xây dựng

Thẩm định dự án:

- Các dự án đầu tư xây dựng công trình phải được thẩm định trước khiphê duyệt Việc thẩm định dự án đầu tư xây dựng công trình thực hiện theoĐiều 56 đến Điều 60 Luật Xây dựng số 50/2014/QH13 ngày 18/6/2014; Điều

8, Điều 10; Điều 11 Nghị định số 59/2015/NĐ-CP ngày 18/6/2015 của Chínhphủ về quản lý dự án đầu tư xây dựng công trình, Điều 6 Nghị định32/2015/NĐ-CP ngày 25/03/2015 của Chính phủ về quản lý chi phí đầu tưxây dựng công trình

- Cục Quản trị - Tài vụ là đơn vị đầu mối tổ chức thẩm định dự án cótrách nhiệm trình Bộ Ngoại giao phê duyệt dự án đầu tư xây dựng công trình.Nếu thẩm quyền thẩm quyền với các dự án quá lớn không thuộc thẩm quyềncủa Lãnh đạo Bộ Ngoại giao thì phải báo cáo để làm các thủ tục cần thiết ởđúng cấp có thẩm quyền thẩm định dự án thích hợp

- Thời gian thẩm định dự án kể từ khi nhận đủ hồ sơ hợp lệ đến khi cóquyết định phê duyệt dự án thực hiện theo Điều 59 Luật xây dựng số50/2014/QH13 ngày 18/6/2014

Trang 18

* Quản lý chất lượng về thẩm quyền quyết định phê duyệt dự án đầu tư xây dựng công trình:

Các dự án đầu tư xây dựng công trình (hoặc báo cáo kinh tế - kỹ thuật)bằng các nguồn vốn ngân sách nhà nước được phân cấp phê duyệt như sau:

- Bộ Ngoại giao quyết định phê duyệt dự án đầu tư xây dựng công trình(hoặc báo cáo kinh tế - kỹ thuật) có tổng mức đầu tư trên 15 tỷ đồng sau khi

dự án đã có kết quả thẩm định

- Chủ đầu tư quyết định phê duyệt Báo cáo kinh tế - kỹ thuật xây dựngcông trình có tổng mức đầu tư đến 3 tỷ đồng trên cơ sở chủ trương, quy môđầu tư đã được Bộ Ngoại giao đồng ý và phù hợp với quy hoạch được duyệt

- Đối với các dự án đầu tư xây dựng bằng vốn hỗn hợp, trong đó ngânsách nhà nước có giá trị trên 3 tỷ đồng hoặc chiếm 30% trở lên do Bộ Ngoạigiao quyết định phê duyệt dự án đầu tư xây dựng công trình

- Điều chỉnh dự án căn cứ theo Điều 61 Luật Xây dựng số50/2014/QH13 ngày 18/6/2014; Điều 14 Nghị định số 59/2015/NĐ-CP ngày18/6/2015 của Chính phủ về quản lý dự án đầu tư xây dựng công trình

- Điều chỉnh Tổng mức đầu tư thực hiện theo Điều 7 Nghị định32/2015/NĐ-CP ngày 25/03/2015 của Chính phủ về quản lý chi phí đầu tưxây dựng công trình

- Bộ Ngoại giao là cơ quan quyết định điều chỉnh tổng mức đầu tư của

dự án Trường hợp tổng mức đầu tư điều chỉnh không vượt tổng mức đầu tư

đã được phê duyệt và không làm thay đổi địa điểm, quy mô, mục tiên của dự

án thì Chủ đầu tư quyết định phê duyệt điều chỉnh cơ cấu tổng mức đầu tư vàchịu trách nhiệm về quyết định của mình

- Các dự án chỉ được điều chỉnh tổng mức đầu tư khi đã thực hiện giámsát, đánh giá đầu tư Nội dung báo cáo giám sát đánh giá đầu tư khi điềuchỉnh dự án, điều chỉnh tổng mức đầu tư phải nêu rõ lý do điều chỉnh

* Quản lý chất lượng về kế hoạch vốn:

Trang 19

- Chủ đầu tư văn cứ tổng mức đầu tư, dự toán công trình được duyệt vàtiến độ thực hiện để lập kế hoạch vốn cho phù hợp, báo cáo Bộ Ngoại giaotrước ngày 15 tháng 6 hàng năm.

- Trên cơ sở kế hoạch của Chủ đầu tư, Bộ Ngoại giao căn cứ vào khảnăng vốn, phân bổ công khai cho từng dự án Chủ đầu tư căn cứ cơ cấu tổngmức đầu tư, tổng dự toán, khả năng thực hiện, dự kiến vốn cho phù hợp, báocáo Bộ Ngoại giao Bộ trưởng Bộ Ngoại giao ủy quyền cho Cục trưởng CụcQuản trị - Tài vụ ký thông báo vốn của từng dự án

- Chủ đầu tư chỉ được triển khai thực hiện dự án khi đã có thông báo kếhoạch vốn

- Trên cơ sở khối lượng thực hiện của từng dự án, Cục Quản trị - Tài vụtổng hợp báo cáo Lãnh đạo Bộ Ngoại giao xem xét điều chỉnh kế hoạch vốncho các dự án vào Quý IV hàng năm

- Các Chủ đầu tư có nhu cầu điều chỉnh vốn trong năm (điều chuyển đihoặc bổ sung thêm) phải có báo cáo thực hiện vốn đầu tư xây dựng 9 thángđầu năm, dự kiến thực hiện đến hết niên độ kế toán theo quy định của Bộ Tàichính gửi về Bộ Ngoại giao trước ngày 20 tháng 10 hàng năm

- Sau khi dự án được duyệt, Chủ đầu tư tổ chức triển khai thiết kế kỹthuật (trường hợp thiết kế 3 bước) đảm bảo các nguyên tắc sau: quyết địnhcác bước thiết kế xây dựng công trình thực hiện theo Điều 23 Nghị định số59/2015/NĐ-CP ngày 18/6/2015 của Chính phủ về quản lý dự án đầu tư xâydựng công trình Trường hợp thiết kế 2 bước hoặc 3 bước thì thiết kế bướctiếp theo phải phù hợp với thiết kế bước trước đã được phê duyệt Hồ sơ thiết

kế thực hiện theo Điều 29 Nghị định số 59/2015/NĐ-CP ngày 18/6/2015 củaChính phủ về quản lý dự án đầu tư xây dựng công trình 2 Hồ sơ thiết kế đượclưu trữ theo quy định của pháp luật và quy định của Bộ Ngoại giao

- Quản lý chất lượng Hồ sơ thiết kế thực hiện theo Điều 17 đến Điều 21Nghị định số 46/NĐ-CP ngày 12/05/2015 của Chính phủ về quản lý chấtlượng và bảo trì công trình xây dựng Hồ sơ thiết kế không được nêu đích

Ngày đăng: 08/02/2023, 17:52

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Văn kiện Đại hội đại biển toàn quốc lần thứ XI. Nxb Chính trị Quốc gia Hà Nội 2011 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XI
Nhà XB: Nxb Chính trị Quốc gia Hà Nội
Năm: 2011
2. Văn kiện Đại hội Đảng lần thứ XII. Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội, năm 2016.3. Luật Ngân sách Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn kiện Đại hội Đảng lần thứ XII
Nhà XB: Nxb Chính trị Quốc gia
Năm: 2016
4. Luật Đấu thầu số 43/2013/QH13 ngày 26/11/2013 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Luật Đấu thầu số 43/2013/QH13 ngày 26/11/2013
Năm: 2013
5. Luật Đầu tư công số 49/2013/QH13 ngày 18/6/2014 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Luật Đầu tư công số 49/2013/QH13 ngày 18/6/2014
Năm: 2014
6. Luật Xây dựng số 50/2014/QH13 ngày 18/6/2014 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Luật Xây dựng số 50/2014/QH13
Năm: 2014
8. Nghị định số 32/2015/NĐ-CP ngày 25/03/2015 của Chính phủ về quản lý chi phí đầu tư xây dựng Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghị định số 32/2015/NĐ-CP ngày 25/03/2015 của Chính phủ về quản lý chi phí đầu tư xây dựng
Tác giả: Chính phủ
Năm: 2015
9. Nghị định số 46/2015/NĐ-CP ngày 12/5/2015 của Chính phủ về quản lý chất lượng và bảo trì công trình xây dựng Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghị định số 46/2015/NĐ-CP ngày 12/5/2015 của Chính phủ về quản lý chất lượng và bảo trì công trình xây dựng
Nhà XB: Chính phủ
Năm: 2015
10. Nghị định số 59/2015/NĐ-CP ngày 18/6/2015 của Chính phủ về quản lý dự án đầu tư xây dựng Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghị định số 59/2015/NĐ-CP ngày 18/6/2015 của Chính phủ về quản lý dự án đầu tư xây dựng
Năm: 2015
12. Nghị định số 136/2015/NĐ-CP ngày 31/12/2015 của Chính phủ hướng dẫn thi hành một số điều của Luật Đầu tư công Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghị định số 136/2015/NĐ-CP ngày 31/12/2015 của Chính phủ hướng dẫn thi hành một số điều của Luật Đầu tư công
Năm: 2015
13. Thông tư số 22/2015/TT-BKH ngày 18/12/2015 của Bộ Kế hoạch và Đầu tư quy định mẫu báo cáo giám sát, đánh giá đầu tư Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thông tư số 22/2015/TT-BKH ngày 18/12/2015 của Bộ Kế hoạch và Đầu tư quy định mẫu báo cáo giám sát, đánh giá đầu tư
Tác giả: Bộ Kế hoạch và Đầu tư
Nhà XB: Bộ Kế hoạch và Đầu tư
Năm: 2015
14. Chiến lược tổng thể hội nhập kinh tế các dịch vụ liên quan đến ngành xây dựng - Nxb Bộ Xây dựng, 1999 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Chiến lược tổng thể hội nhập kinh tế các dịch vụ liên quan đến ngành xây dựng
Nhà XB: Nxb Bộ Xây dựng
Năm: 1999
15. Quy định mới về quản lý dự án xây dựng công trình - Nxb Lao Động, 2015 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Quy định mới về quản lý dự án xây dựng công trình
Nhà XB: Nxb Lao Động
Năm: 2015
7. Nghị định số 63/2014/NĐ-CP ngày 26/6/2014 của Chính phủ quy định chi tiết thi hành một số điều của luật đấu thầu về lựa chọn nhà thầu Khác
11. Nghị định số 84/2015/NĐ-CP ngày 30/9/2015 của Chính phủ về giám sát, đánh giá đầu tư Khác
16. Điều cần biết khi sử dụng tư vấn – Nxb Bộ Xây dựng năm 1995 Khác
17. Từ Quang Phương, Giáo Trình Quản Lý Dự Án, Nxb Đại Học Kinh Tế Quốc Dân 2010 Khác

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w