1 LỜI MỞ ĐẦU 1 Lý do chọn đề tài Doanh nghiệp vừa và nhỏ là mô hình kinh tế quan trọng, có mặt trong mọi ngành, mọi lĩnh vực kinh tế và ở mọi thành phần kinh tế trên lãnh thổ đất nước Chính vì thế khu[.]
Trang 1Doanh nghiệp nói chung và DNVVN nói riêng là loại hình kinh tế đuợc thànhlập hợp pháp theo luật doanh nghiệp, có cơ cấu tổ chức chặt chẽ, có tài sản độc lập vớipháp nhân, tổ chức khác và tự chịu trách nhiệm bằng tài sản đó, chính vì thế nó là môhình kinh tế sản xuất kinh doanh mang lại hiệu quả nhất, có khả năng tiếp cận với khoahọc hiện đại, công nghệ tiên tiến, để biến lao động thủ công thành lao động sử dụngmáy móc hiện đại với công nghệ tiên tiến tạo ra năng suất lao động cao, chất lượng sảnphẩm tốt, có sức cạnh tranh trên thị trường trong nước cũng như thị trường thế giới.
DNVVN được đánh giá là bộ phận năng động hoạt động có hiệu quả của nềnkinh tế, mức độ đóng góp của DNVVN vào nền kinh tế ngày càng lớn khoảng 39%GDP, 32% tổng vốn đầu tư toàn nền kinh tế, sử dụng trên 90% số lao động có việc làmthường xuyên, đây là bộ phận có vai trò quan trọng trong quá trình sản xuất, lưu thônghàng hóa cung ứng dịch vụ, là tiền thân của quá trình tích tụ tập trung vốn, tập trungsản xuất trở thành những công ty, tập đoàn kinh tế lớn cho nền kinh tế trong tương lai,
là bộ phận kinh tế quan trọng trong nền kinh tế hội nhâp
Thúc đẩy các doanh nghiệp trong nước phát triển, Chính phủ đã hỗ trợ cho bộphận DNVVN bằng các chương trình chính sách : Chương trình tài trợ vốn, chươngtrình hỗ trợ cơ sở hạ tầng là vấn đề mà Chính Phủ cùng các cấp và cả ngân hàng đanghết sức quan tâm tìm các giải pháp tốt nhất để huy động vốn trong nền kinh tế, trong
Trang 2bản thân doanh nghiệp cũng như nguồn vốn từ nước ngoài, và có vốn rỗi thì cần có giảipháp để đầu tư vốn một cách có hiệu quả, đây vừa là nhiệm vụ vừa là thị phần đầu tưtín dụng.
Hướng tới DNVVN là bước đi của nhiều ngân hàng thương mại Đối với Ngânhàng Nông nghiệp và phát triển nông thôn Chi nhánh Long Biên, kể từ năm 2009DNVVN được nhắc đến như một đối tượng khách hàng quan trọng, đoạn phân khúc thịtrường thể hiện rõ trong kế hoạch kinh doanh hàng năm Vì vậy, sau khi hoàn thành
chương trình đào tạo cao học tại Trường Đại học Kinh tế quốc dân tôi chọn đề tài “
Mở rộng tín dụng đối với doanh nghiệp vừa và nhỏ tại Ngân hàng nông nghiệp và phát triển nông thôn Chi nhánh Long Biên” làm đề tài nghiên cứu của luận văn thạc
sỹ kinh tế
2 Mục tiêu nghiên cứu:
Mục tiêu tổng quát: Mở rộng tín dụng đối với các doanh nghiệp nhỏ và vừa tại Ngân hàng nông nghiệp và phát triển nông thôn Chi nhánh Long Biên”
- Trên cơ sở phân tích thực trạng mở rộng tín dụng đối với DNVVN tại
NHNNo&PTNT Chi nhánh Long Biên, đánh giá mặt thành công, những điểm còn hạnchế, nguyên nhân của việc hạn chế và đưa ra các giải pháp và kiến nghị nhằm mở rộngtín dụng cho nhóm đối tượng DNVVN tại Chi nhánh
Trang 33 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu:
- Đối tượng nghiên cứu: lý luận và thực trạng về tín dụng của NHTM đối với DNVVN
- Phạm vi nghiên cứu : Theo hình thức cấp tín dụng thì tín dụng NHTM đối vớiDNVVN bao gồm: cho vay, cho thuê, bảo lãnh , thấu chi và các hình thức khác Trongphạm vi này tác giả chỉ nghiên cứu về thực trạng hoạt động cho vay DNVVN tạiNHNo&PTNT Chi nhánh Long Biên, giai đoạn 2009 đến 6 tháng đầu năm 2012 Thuậtngữ tín dụng đối với DNVVN trong luận văn được hiểu là cho vay đối với DNVVN
4 Câu hỏi nghiên cứu:
- Những khó khăn trong việc tiếp cận tín dụng ngân hàng của các DNVVN là gì
- Tại sao phải mở rộng tín dụng đối với các DNVVN?
- Mở rộng tín dụng đối với các doanh nghiệp vừa và nhỏ mang lại lợi ích gì choNgân hàng nông nghiệp và phát triển nông thôn Chi nhánh Long Biên?
- Làm thế nào để mở rộng hoạt động tín dụng đối với các doanh nghiệp vừa vànhỏ?
Trang 45 Phương pháp nghiên cứu và nguồn dữ liệu:
5.1 Khung nghiên cứu
Vai trò của DNVVN đối với sự phát triển kinh tế
Vai trò tín dụng ngân hàng đối với DNVVN
Khó khăn trong việc tiếp cận vốn vay của các DNVVN
Chỉ tiêu về kết quả thu được trong hoạt động tín dụng
Chỉ tiêu về chất lượng và an toàn tín dụng
Phương pháp mở rộng tín dụng
Đo lường kết quả mở rộng tín dụng đối với DNVVN tại CN Long Biên
Đánh giá các nhân tố khách quan và chủ quan
Nguyên nhân hạn chế mở rộng cho vay đối với DNVVN tại Chi nhánh
Trang 55.2 Phương pháp nghiên cứu
- Phương pháp thu thập thông tin, thống kê và xử lý số liệu
Sử dụng trong quá trình thu thập, xử lý các số liệu về kết quả hoạt động kinh doanhcủa Chi nhánh: kết quả huy động vốn, doanh số cho vay, thu nợ, dư nợ, cơ cấu dư nợ,
số lượng DNVVN có quan hệ tín dụng với ngân hàng Quá trình này cho phép thông
kê được các số liệu nội bộ liên quan đến hoạt động kinh doanh, tín dụng của Chi nhánh
- Phương pháp so sánh
Sử dụng phương pháp so sánh để đánh giá tình hình mở rộng tín dụng đối vớiDNVVN tại Chi nhánh theo thời gian: tình hình cho vay- thu nợ - dư nợ; cơ cấu dư nợcho vay đối với DNVVN; số lượng khách hàng vay vốn, tình hình nợ quá hạn và nợxấu; thu nhập từ hoạt động cho vay
- Phương pháp điều tra chọn mẫu
Để đo lường kết quả mở rộng tín dụng đối với DNVVN, luận văn sửdụngphương pháp điều tra với nội dụng nhằm lấy ý kiến đánh mức độ hài lòng của cácDNVVN khi vay vốn của ngân hàng, cụ thể: danh mục sản phẩm dịch vụ, năng lực vàphong cách phục vụ, mức độ tin tưởng của DN đối với ngân hàng, đánh giá về cơ sởvật chất…Sử dụng phiếu điều tra khảo sát tiến hành điều tra các doanh nghiệp vừa vànhỏ có quan hệ tín dụng với ngân hàng
Phiếu điều tra gồm 2 phần, Phần 1: đánh giá tầm quan trọng của các nhân tố tới
sự thỏa mãn của các khách hàng và phần 2 : đánh giá mức độ hài lòng của cácDNVVN khi vay vốn của ngân hàng Phiếu điều tra sử dụng thang đo Likert với 5 mứcđược sử dụng, tương ứng với mức 1 là hoàn toàn không đồng ý( hoàn toàn không đồngý) ; mức 5 là hoàn toàn đồng ý ( hoàn toàn quan trọng)
Trang 6Chon mẫu số lượng là 200 DNVVN vay vốn tại NHNo&PTNT Chi nhánh LongBiên trong đó có : 52 doanh nghiệp siêu nhỏ, chiếm tỷ lệ 26% 98 doanh nghiệp nhỏchiếm tỷ lệ 49%; 50 doanh nghiệp vừa chiếm tỷ lệ 26% Về ngành nghề kinh doanh, có
102 doanh nghiệp hoạt động trong lĩnh vực thương mại, dịch vụ chiếm tỷ lệ 51% Có
12 doanh nghiệp hoạt động trong lĩnh vực xây dựng vận tải chiếm tỷ lệ 6% Có 5doanh nghiệp hoạt động trong lĩnh vực nông lâm nghiệp chiếm 2,5% 30 DN hoạt độngtrong lĩnh vực xuất nhập khẩu chiếm tỷ lệ 15% 38 DN hoạt động trong lĩnh vực tiểuthủ công nghiệp, chế biến chiếm tỷ lệ 19% 13 DN hoạt động trong các lĩnh vực khác:chiếm tỷ lệ 13%
5.3 Nguồn dữ liệu
- Dữ liệu thứ cấp: Sổ sách kế toán, báo cáo nội bộ của Chi nhánh, các tài liệu nội bộkhác; các bài báo tạp chí thông tin hiệp hội chính quyền, các công trình nghiên cứukhoa học trong và ngoài nước đã được công bố
- Dữ liệu sơ cấp: từ nguồn điều tra, phỏng vấn
Trang 8CHƯƠNG I:
TỔNG QUAN VỀ MỞ RỘNG TÍN DỤNG ĐỐI VỚI
CÁC DOANH NGHIỆP VỪA VÀ NHỎ TẠI
NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI
Các vấn đề về sự phát triển của các DNVVN, Ngân hàng hỗ trợ DNVVN và mởrộng tín dụng ngân hàng đối với DNVVN đã được đề cập trong rất nhiều các tài liệu,công trình nghiên cứu trong nước cũng như trên thế giới
1 Các nghiên cứu về Doanh nghiệp vừa và nhỏ
Khái niệm doanh nghiệp vừa và nhỏ đã được biết đến trên thế giới từ nhữngnăm đầu thế kỷ XX, và khu vực DNVVN được các nước quan tâm phát triển từ nhữngnăm 50 của thế kỷ XX Tuy nhiên, tùy tình hình đặc điểm kinh tế của từng nước mà cókhái niệm về doanh nghiệp vừa và nhỏ khác nhau
Trong tài liệu“ Tổng quan doanh nghiệp vừa và nhỏ’” của tổ chức hợp tác vaphát triển kinh tế OECD năm 2000, đã đưa ra tiêu chí phân loại doanh nghiệp nhỏ vàvừa của một số quốc gia và khu vực như sau:
Tại Nhật bản: doanh nghiệp sản xuất có dưới 300 lao động hoặc vốn đầu tư dưới
100 triệu Yên thì được coi là DNVVN
Tại Mỹ: DNVVN là doanh nghiệp có dưới 500 lao động hoặc có số vốn đầu tưdưới 3,5 tr USD
Ở Italia: DNVVN là doanh nghiệp tư nhân và độc lập có số công nhân dưới 200người và có tổng doanh thu dưới 400 tr EUR
Trang 9Mặc dù khu vực DNVVN đã được các nước quan tâm và phát triển từ nhữngnăm 50 của thế kỷ XX Tuy nhiên ở Việt Nam khái niệm DNVVN vừa mới được biếtđến từ những năm 1990 đến nay.
Trong cơ chế bao cấp, DNNN được chia thành doanh nghiệp loại 1, loại 2 loại 3với tiêu chí phân loại là số lao động trong biên chế và phân cấp trung ương – địaphương Trong đó DNVVN tương ứng với Doanh nghiệp loại 2 và loại 3
Trước năm 1998, một số địa phương tổ chức đã xác định DNVVN dựa trên cáctiêu chí khác nhau như: số lao động(dưới 500 người), giá trị tài sản cố định(dưới 10 tỷ),
số dư vốn lưu động(dưới 8tỷ), doanh thu hàng tháng(dưới 20 tỷ) Ngày 20-6-1998,Chính phủ đã có công văn số 681/CP/KCN về việc định hướng chiến lược và chínhsách phát triển DNVVN Theo công văn này, DNVVN là những DN có số vốn đang kýdưới 5 tỷ đồng và số lao động thường xuyên là dưới 200 người Ngày 23-11-2001, theoNghị định 90/2001/NĐ-CP thì DNVVN là Doanh nghiệp có số vốn đăng ký dưới 10 tỷđồng và số lao động dưới 300 người Đây là văn bản pháp luật đầu tiên chính thức quyđịnh về DNVVN Ngày 30-6-2009, theo NĐ56/2009/NĐ-CP; DNVVN được xác địnhtheo các tiêu chí ngành nghề, số lao động, tổng nguồn vốn Cho đến nay đây là vănbản mới nhất quy định việc phân loại DNVVN tại nước ta
DNVVN là loại hình doanh nghiệp với quy mô vốn và số lao động không đòihỏi lớn so với loại hình DN lớn Chính vì thế mà DNVVN dễ thành lập và phát triển,
do đó tại các quốc gia trên thế giới loại hình DNVVN có số lượng ngày càng tăng vàđóng góp của DNVVN đối với toàn nền kinh tế ngày càng lớn DNVVN có vai trò hếtsức quan trọng đối với các quốc gia trên thế giới
Trong tài liệu “ Promoting SMEs for development”; báo cáo tại Hội nghị quản
lý các DNVVN tổ chức lần thứ 2 tại Istanbul, Turkey, năm 2004 Đã đưa ra các số liệu
thể hiện mức độ đóng góp vào GDP và việc làm tại các nước phát triển, các nước cóthu nhập thấp, các nước có thu nhập trung bình của DNVVN và khu vực phi chính
Trang 10thức Ở các nước phát triển: DNVVN đóng góp trên 55% GDP và 65% tổng số việclàm; khu vực phi chính thức đóng góp trên 12% GDP và 18% tổng số việc làm Ở cácnước có thu nhập trung bình: DNVVN đóng góp 40% vào GDP và 55% tổng số việclàm, khu vực phi chính thức đóng góp 30% vào GDP và 49% tổng số việc làm Ở cácnước thu nhập thấp DNVVN đóng góp 15% vào GDP và 31% tổng số việc làm; cònkhu vực phi chính thức đóng góp đóng góp 45% vào GDP và 41% tổng số việc làm.Như vậy, tầm quan trọng của DNVVN tỷ lệ nghịch với sự phát triển kinh tế Ở cácnước thu nhập thấp, đặc biệt là trong nền kinh tế chậm phát triển, đóng góp củaDNVVN đến việc làm và GDP là ít hơn so với khu vực kinh tế phi chính thức Trongkhi đó ở các nước càng phát triển thì tỷ lệ đóng góp của DNVVN đến việc làm và GDPcàng cao hơn so với khu vực phi chính thức Các DNVVN mang lại lợi ích về mặt kinh
tế, vì thế mà ở các nước phát triển khuyến khích càng nhiều các doanh nghiệp, các chủthể có thể tham gia vào khu vực chính thức Các nước đang phát triển cần có chínhsách phân chia lại khu vực chính thức và phi chính thức để tăng GDP và giải quyết vấn
Trang 11DNVVN còn có vai trò trong việc thu hút vốn đầu tư Năm 2008, phân theo qui môvốn cả nước có 154.766 DNVVN với số vốn đăng ký 348.033 tỷ đồng, tăng 17,35% sovới năm 2007; Năm 2009, phân theo qui mô vốn cả nước có 186.254 DNVVN với sốvốn đăng ký 418.844 tỷ đồng, tăng 20,35% so với năm 2008.
Bên cạnh ba vai trò quan trọng trên của DNVVN đối với nền kinh tế, Trong
cuốn sách “DNVVN Việt Nam trong quá trình hội nhập kinh tế quốc tế” của TS Trần Kim Hào, TS Nguyễn Hữu Thắng, Nhà xuất bản chính trị quốc gia Năm 2006 đã đưa ra
thêm các vai trò quan trọng khác của DNVVN: góp phần làm chuyển dịch cơ cấu kinh
tế, làm tăng hiệu quả và năng lực cạnh tranh của nền kinh tế, đóng góp không nhỏ vàongân sách nhà nước, đóng góp vào quá trình tăng tốc độ công nghệ, đóng góp khôngnhỏ vào xuất khẩu, là tiền đề tạo ra những doanh nghiệp lớn, làm lành mạnh môitrường đầu tư và kinh doanh, ngoài ra còn góp phần tạo ra môi trường kinh tế mangtính văn hóa thị trường, góp phần tạo ra những nhà quản lý giỏi
Tóm lại, DNVVN có vai trò hết sức quan trọng đối với phát triển kinh tế xã hộicủa mọi quốc gia trên thế giới trong đó có Việt Nam Tuy nhiên, do quy mô hoạt độngnhỏ do đó các DNVVN rất cần vốn để mở rộng sản xuất kinh doanh và Ngân hàngchính là kênh tài trợ vốn lớn nhất dành cho các DN này Có rất nhiêu tài liệu phân tích
về vấn đề ngân hàng hỗ trợ vốn cho các DNVVN, sau đây luận văn xin đưa ra một sốcác tài liệu nghiên cứu, bài viết tiêu biểu mà tác giả đã tìm hiểu và nghiên cứu
2 Các nghiên cứu về việc hỗ trợ vốn của ngân hàng dành cho các DNVVN
Trong tài liệu nghiên cứu “ Financing SMEs and Entrepreneurs” organisation for economic co-operation and development; november 2006 Tài liệu đã đưa ra những
trở ngại của DNVVN trong việc tiếp cận nguồn tài chính: Do sự thiếu thông tin về cảhai phía ngân hàng và doanh nghiệp, do những quy định cứng nhắc hoặc thiếu sót trongkhuôn khổ pháp lý, do các sản phẩm và dịch vụ tài chính không đáp ứng được nhu cầu
Trang 12của các DN Các ngân hàng từ chối cung cấp tài chính cho các DNVVN bởi cácDNVVN thường là các công ty rất trẻ do đó thiếu điều kiện về tài sản đảm bảo, hoặccác công ty có khả năng đạt được lợi nhuận lớn tuy nhiên nguy cơ thua lỗ cũng rất lớn.Các DNVVN cho thấy mô hình hoạt động sản xuất với sự biến động liên tục của tốc độtăng trưởng và thu nhập, với những biến động lớn hơn so với các công ty lớn, tỷ lệsống thấp hơn so với các công ty lớn Cho vay DNVVN rủi ro hơn so với cho vay cáccông ty lớn, do đó các khoản tín dụng dành cho DNVVN thường các Ngân hàng tínhvới lãi suất cao hơn Điều này làm khó khăn cho các DNVVN vay tiền vì giá tín dụng
là quá cao
Trong bài viết “Banks can do more to help SMEs” năm 2011,đã đưa ra những
lợi ích của NHTM khi thực hiện hỗ trợ và tư vấn cho các DNVVN, bên cạnh lợi nhuậnđạt được từ việc hỗ trợ tín dụng, NHTM có thể tận dụng các mối quan hệ với DNVVN,các NHTM có thể tiếp cận với số lượng lớn các DNVVN khác, ngoài ra có cả các công
ty lớn bởi hầu hết các doanh nghiệp vừa và nhỏ là một phần của chuỗi sản xuất, cungứng hàng hóa trong đó có người mua và nhà cung cấp liên kết với các công ty lớn của
địa phương hoặc đa quốc gia
Như vậy, có thể thấy rằng, việc cho vay đối với các DNVVN không những chỉđem lại lợi nhuận cho ngân hàng, mà còn đem lại nguồn khách hàng tiềm năng cho cácngân hàng và phát triển kinh tế đất nước Do đó, cần phải mở rộng tín dụng đối vớinhóm khách hàng này
3 Các nghiên cứu về mở rộng tín dụng đối với các DNVVN
Có rất nhiều nghiên cứu về mở rộng tín dụng đối với các DNVVN ở nước ta Mỗimột nghiên cứu lại tiếp cận phương pháp phân tích theo các chỉ tiêu khác nhau, nhưngcác tài liệu nghiên cứu đều đưa ra những nhận định, định nghĩa giống nhau về hoạtđộng mở rộng tín dụng là sự tăng lên về quy mô và chất lượng tín dụng Cụ thể, luận
Trang 13văn xin được trích một số quan điểm của các nghiên cứu đã được công bố trong nướcthời gian qua.
Luận văn thạc sỹ với đề tài “Mở rộng cho vay đối với doanh nghiệp vừa và nhỏ tại ngân hàng nông nghiệp và phát triển nông thôn Việt Nam” của tác giả Nguyễn Thị Gấm, ĐHKTQD, năm 2010 Tác giả định nghĩa mở rộng cho vay là tăng quy mô và tốc
độ cho vay, tức là tăng dư nợ, tăng khối lượng khách hàng, tăng khối lượng tín dụng,tăng thị phần và tỷ trọng cho vay Bên cạnh các nội dung như: những vấn đề cơ bản vềcho vay và mở rộng cho vay của NHTM đối với DNVVN, thực trạng hoạt động chovay DNVVN tại NHNN, các giải pháp và kiến nghị Tác giả sử dụng các chỉ tiêu đánhgiá hoạt động mở rộng cho vay gồm: số lượng khách hàng, dư nợ cho vay, cơ cấu chovay, tốc độ tăng trưởng dư nợ, nợ xấu và lợi nhuận Tuy nhiên, các chỉ tiêu tác giả đưa
ra chỉ mới phản ánh tới việc mở rộng tín dụng về quy mô, số lượng và đánh giá chấtlượng các khoản cho vay DNVVN mà không quan tâm tới mức độ an toàn trong hoạtđộng cho vay cụ thể là việc sử dụng nguồn vốn ngân hàng để thực hiện hoạt động chovay DNVVN
Luận án tiến sỹ Võ Việt Hùng, năm 2009, Trường đại học TP Hồ Chí Minh, đề tài “ Giải pháp mở rộng hoạt động tín dụng trên địa bàn thành phố Hồ Chí Minh” Tác giả
cũng định nghĩa mở rộng tín dụng là sự tăng lên về quy mô tín dụng, tuy nhiên mởrộng tín dụng tín dụng theo tác giả còn bao gồm là cung ứng thêm cho thị trườngnhững sản phẩm tín dụng mới với chất lượng tốt hơn Tác giả sử dụng các chỉ tiêu địnhlượng để đo lường kết quả của hoạt động mở rộng tín dụng gồm các chỉ tiêu cơ bảnsau: Chỉ tiêu về hoạt động cho vay thể hiện qua tốc độ tăng trưởng về doanh số cho vay
và tốc độ tăng trưởng về dư nợ cho vay qua các năm; chỉ tiêu đo lường mức độ an toàntrong hoạt động tín dụng thể hiện qua hệ số sử dụng vốn ngắn hạn, tỷ lệ nợ xấu Chỉtiêu về kết quả thu được từ hoạt động tín dụng thể hiện qua tốc độ tăng trưởng thu nhập
từ hoạt động tín dụng, thu nhập mang lại từ hoạt động tín dụng Điểm nổi bật của luận
Trang 14văn là các chỉ tiêu về mặt định lượng đã đánh giá được cả về mặt quy mô, mặt chấtlượng và độ an toàn khi thực hiện hoạt động mở rộng tín dụng trên địa bàn Tuy nhiên,tác giả chưa đưa ra các chỉ tiêu định tính đo lường kết quả mở rộng tín dụng, hay nóiđúng hơn là đo lường mức độ hài lòng của khách hàng khi sử dụng các sản phẩm tíndụng do ngân hàng cung cấp, chưa đánh giá được mặt chất lượng sản phẩm tín dụngcủa ngân hàng, do đó chưa nhận xét được đầy đủ thực trạng mở rộng tín dụng về mặtđịnh tính.
Luận án tiến sỹ với đề tài “Thực trạng và giải pháp phát triển tín dụng DNVVN trong quá trình hội nhập tại Quảng Ninh” của Ngiên cứu sinh Phạm Huy Văn, 10/2008
đã chỉ ra cơ sở lý luận về phát triển tín dụng ngân hàng đối với các DNVVN trong quátrình hội nhập với các nội dung bao gồm: vị trí vai trò của tín dụng ngân hàng đối vớiDNVVN, khái niệm đặc điềm DNVVN cùng với vị trí, vai trò và đặc điểm củaDNVVN, kinh nghiệm về tín dụng ngân hàng đối với các nước trên thế giới, thựctrạng, giải pháp phát triển tín dụng Điểm nổi bật của luận văn này là đưa ra một sốkinh nghiệm của các nước phát triển về tín dụng ngân hàng đối với DNVVN Tuynhiên luận án chưa chỉ ra được những bài học kinh nghiệm đối với Việt Nam
Bài viết của TS Nguyễn Văn Hưng và Ths Phạm Hùng Thắng ( NHNN Chi nhánh
Hà Nội) đăng trên website http://www.sbv.gov.vn với nội dung “Đẩy mạnh tín dụng phát triển doanh nghiệp vừa và nhỏ tại Hà Nội”, năm 2011 Điểm nổi bật của bài viết
là qua việc phân tích thực trạng cho vay DNVVN của các TCTD trên địa bàn Hà Nội,
đã chỉ ra được những mặt hạn chế, tồn tại cho vay đối với DNVVN Hà Nội, chỉ ra cácnguyên nhân gây ra tồn tại đó, và trên cơ sở đó đã đề xuất một số nhóm giải pháp mởrộng tín dụng đối với DNVVN Tuy nhiên những giải pháp chưa gắn với hoàn cảnh củanền kinh tế Việt Nam trong giai đoạn này để có những định hướng cụ thể cho việc mở
rộng tín dụng
Trang 15Trong bài viết của THS Nguyễn Thị Mỹ Dung “ tín dụng ngân hàng cho các DNVVN thời kỳ hậu khủng hoảng” Tạp chí ngân hàng 8/2010, đề xuất các giải pháp
nhằm mở rộng tín dụng để hỗ trợ vỗn cho DNVVN: xây dựng một cơ chế lãi suất linhhoạt, phát triển các sản phẩm cho thuê tài chính, đa dạng hóa các sản phẩm tín dụngđối với DNVVN Tuy nhiên các giải pháp đề xuất còn hạn chế, chưa đa dạng và cụ thể.Như vậy, qua đánh giá tổng quan các nghiên cứu và tài liệu trong và ngoài nước liênquan đến DNVVN, hỗ trợ tín dụng và mở rộng tín dụng DNVVN, hệ thống các nghiêncứu đã góp phần hình thành một cơ sở lý thuyết khá đầy đủ và rõ ràng về khái niệmDNVVN, vai trò của DNVVN đối với nền kinh tế, khái niệm mở rộng tín dụng, các chỉtiêu đánh giá mở rộng tín dụng và các giải pháp để mở rộng tín dụng dành choDNVVN Tuy nhiên chưa có nghiên cứu nào đưa ra kinh nghiệm của các ngân hàngtrong nước trong việc mở rộng tín dụng và bài học kinh nghiệm rút ra.Cũng như cácchỉ tiêu phản ánh còn thiếu sót, chưa chặt chẽ để đảm bảo mở rộng đi đôi với an toànvốn Các giải pháp vẫn còn mang tính chung chung, chưa cụ thể, chưa mang tính sángtạo và gắn liền với thực trạng kinh tế Đây chính là khoảng trống mà luận văn sẽ tiếnhành nghiên cứu và bổ sung để lấp đầy khoảng trống nghiên cứu Đề tài luận văn tiếnhành nghiên cứu và phân tích thực trạng tại Chi nhánh NHNo&PTNT Chi nhánh LongBiên, chỉ ra những thành công, hạn chế, các nguyên nhân gây ra hạn chế, từ đó đề xuấtcác giải pháp để mở rộng tín dụng, các giải pháp này mang tính thực tiễn cao, phù hợpvới các chính sách của Chính Phủ, với hoàn cảnh kinh tế, chính sách tài chính tiền tệ,hoạt động kinh doanh của ngân hàng và hoạt động sản xuất kinh doanh của cácDNVVN trong giai đoạn hiện nay
Đến nay không có công trình khoa học nào đã công bố trùng lặp với công trìnhnghiên cứu của tác giả, đây là luận văn đầu tiên nghiên cứu về mở rộng tín dụng đốivới DNVVN tại NHNo&PTNT Chi nhánh Long Biên trong giai đoạn 2009 đến 6 thángđầu năm 2012
Trang 17CHƯƠNG II
CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ MỞ RỘNG TÍN DỤNG ĐỐI VỚI
CÁC DNVVN TẠI NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI
1.1 Khái quát hóa một số vấn đề cơ bản về DNVVN
1.1.1 Khái niệm về DNVVN
Nói đến DNVVN đó là nói đến cách phân loại doanh nghiệp dựa trên quy môlớn, nhỏ của các doanh nghiệp Việc phân loại DNVVN phụ thuộc vào các tiêu thứcđược quy định để phân loại quy mô doanh nghiệp Điểm khác biệt cơ bản trong kháiniệm DNVVN giữa các nước chính là việc lựa chọn các tiêu thức đánh giá quy môdoanh nghiệp và lượng hóa các tiêu thức ấy thông qua những tiêu chuẩn cụ thể Mặc dù
có những khác biệt nhất định giữa các nước về quy định các tiêu thức phân loạiDNVVN, song khái niệm chung nhất về DNVVN có nội dung như sau:
DNVVN là những cơ sở sản xuất kinh doanh có tư cách pháp nhân kinh doanh
vì mục đích lợi nhuận, có quy mô doanh nghiệp trong những giới hạn nhất định tínhtheo các tiêu thức vốn, lao động, doanh thu, giá trị thu được trong từng thời kỳ theoquy định của từng quốc gia
Khái niệm DNVVN mang tính tương đối, nó thay đổi theo từng giai đoạn pháttriển kinh tế xã hội nhất định và phụ thuộc vào trình độ phát triển kinh tế xã hội củatừng nước Thông thường các nước có trình độ phát triển cao thì giới hạn quy định chỉtiêu quy mô lớn hơn so với các nước có trình độ phát triển thấp Chẳng hạn như ở NhậtBản, các doanh nghiệp ở khu vực sản xuất có số vốn dưới 1 triệu USD và dưới 300 lao
Trang 18động; trong thương mại quy định các doanh nghiệp có vốn dưới 300.000USD và dưới
100 lao động thì đều thuộc DNVVN Ở Đài Loan quy định hiện nay trong ngành xâydựng, các doanh nghiệp có số vốn dưới 1,4 triêụ USD lao động dưới 300 người; trongcông nghiệp khai khoáng các DN có vốn dưới 1,4 triệu USD, 500 lao động và trongthương mại dịch vụ có doanh số dưới 1,4 triệu USD và dưới 50 lao động Đa phần cácnước có sự phân biệt quy mô các tiêu thức vốn, lao động sử dụng riêng cho nhữngngành nghề, lĩnh vực như sản xuất công nghiệp, thương mại, dịch vụ Tuy vậy vẫn cómột số ít các nước dùng chung một tiêu thức cho tất cả các ngành Từng thời kỳ cáctiêu thức và tiêu chuẩn giới hạn lại có sự thay đổi cho phù hợp với đường lối chínhsách, chiến lược và khả năng hỗ trợ của mỗi quốc gia Những tiêu thức phân loạiDNVVN được dùng làm căn cứ thiết lập những chính sách phát triển, hỗ trợ DNVVNcủa các Chính phủ
Ở Việt Nam, khái niệm DNVVN được quy định theo Nghị định số
56/2009/NĐ-CP ngày 30-6-2009 như sau:
Doanh nghiệp vừa và nhỏ là cơ sở kinh doanh đã đăng ký kinh doanh theo quy định pháp luật, được chia thành ba cấp: siêu nhỏ, nhỏ, vừa theo quy mô tổng nguồn vốn (tổng nguồn vốn tương đương tổng tài sản được xác định trong bảng cân đối kế toán của doanh nghiệp) hoặc số lao động bình quân năm (tổng nguồn vốn là tiêu chí
ưu tiên), cụ thể:
Bảng 1.0.1:Tiêu chí doanh nghiệp vừa và nhỏ
Quy mô Doanh nghiệp
siêu nhỏ Doanh nghiệp nhỏ Doanh nghiệp vừa
Số lao động Tổng nguồn vốn Số lao động Tổng nguồn vốn Số lao động
Trang 19I Nông, lâm
nghiệp và
thủy sản
10 người trởxuống 20 tỷ đồngtrở xuống
từ trên 10người đến
200 người
từ trên 20 tỷđồng đến 100
tỷ đồng
từ trên
200 ngườiđến 300người
II Công
nghiệp và xây
dựng
10 người trởxuống 20 tỷ đồngtrở xuống
từ trên 10người đến
200 người
từ trên 20 tỷđồng đến 100
tỷ đồng
từ trên
200 ngườiđến 300ngườiIII Thương
mại và dịch
vụ
10 người trởxuống 10 tỷ đồngtrở xuống
từ trên 10người đến
50 người
từ trên 10 tỷđồng đến 50
tỷ đồng
từ trên 50người đến
100 người
Những đặc trưng cơ bản:
- DNVVN tồn tại và phát triển ở mọi ngành nghề, mọi thành phần kinh tế Theo sốliệu mới đây ở nước ta cho thấy, DNVVN chiếm trên 96% trong tổng số DN vớicác hình thức: Doanh nghiệp nhà nước, Doanh nghiệp tư nhân, các công ty cổphần, công ty TNHH, DN có vốn đầu tư nước ngoài
- DNVVN có khả năng thích ứng nhanh với các diễn biến của thị trường Do quy môcủa loại hình DN này nhỏ, dễ dàng chuyển hướng kinh doanh tùy theo sự biến độngcủa thị trường với mức chi phí về kinh tế thấp
- Bộ máy tổ chức gọn nhẹ, hiệu quả Việc thuê mướn lao động sản xuất và quản lýdoanh nghiệp dựa trên yêu cầu công việc nên nhìn chung là gọn nhẹ và phát huyhiệu quả lao động
- DNVVN có vốn ban đầu ít, thu hồi vốn nhanh, hiệu quả
1.1.2 Ưu điểm
Với quy mô sản xuất kinh doanh không lớn, việc thành lập một doanh nghiệp cónhiều thuận lợi nên số lượng doanh nghiệp vừa và nhỏ ngày càng nhiều lên
Trang 20+ Trong các ngành nghề dịch vụ, DNVVN thường gần gũi với thị trường, gắnlièn và tiếp cận với khách hàng hơn so với doanh nghiệp lớn.
+ Do tính sở hữu tập thể và tư nhân, tài sản và tiền vốn là do họ bỏ ra nên cótính quyết đoán cao, tính dân chủ cao, giám nghĩ, giám làm, giám chịu trách nhiệm,thường đi tiên phong trong việc cải tạo và đổi mới kỹ thuât, thích ứng với sự thay đổicủa kỹ thuật và thị trường mạnh
+ Đứng dưới góc độ về vốn với doanh nghiệp, do sở hữu tư liệu sản xuất tập thể,
họ có khả năng tập hợp các nguồn vốn của nhiều phía góp vốn, thu hút được nhiều laođộng, cung cấp được nhiều việc làm cho đất nước và xã hội
+ Doanh nghiệp cổ phần tập hợp vốn bởi các cổ đông, do đó có thể mua bán, sởhữu cổ phần, chứng khoán theo luật định
Trang 211.1.3 Nhược điểm
+ Do DNVVN có số vốn sản xuất kinh doanh và quản lý lao động với quy mô
nhỏ nên về mặt tiềm năng phát triển và tính cạnh tranh với doanh nghiệp lớn thườngyếu
+ Thường thiếu thông tin để tiếp cận với thị trường, môi trường pháp lý chưatương xứng với thực tiễn đặt ra
+ Một doanh nghiệp muốn phát triển, mở rộng kinh doanh đa ngành nghề thìphải có nhiều vốn để hoạt động, nhưng DNVVN chỉ có số vốn giới hạn dưới 10 tỷđồng thì chỉ thực hiện một công trình dự án vừa cũng không đủ vốn nên loại hìnhDNVVN thường thiếu vốn để hoạt động Song, giá trị tài sản thế chấp còn hạn chế.Đây là sự khó khăn lớn nhất của DNVVN, các ngân hàng thương mại cần có biện pháptích cực, đa dạng hoá tín dụng và tạo cơ hội cho khu vực kinh tế DNVVN vay vốn đểhoạt động
+ Do nguồn vốn và lao động còn hạn chế nên doanh nghiệp chỉ khi kinh doanhtrong phạm vi nhất định, không phát triển lên được, mặt khác lực lượng kỹ thuật, côngnhân lành nghề ít và dễ gặp khó khăn khi kỹ thuật và nhu cầu hàng hoá thị trường cóthay đổi, đưa công nghệ mới vào sản xuất kinh doanh còn hạn chế do thiếu kỹ sưchuyên gia lành nghề
+ DNVVN thường có ít nhân tài, những bậc thợ cao và cán bộ kỹ thuật giỏi;chính sách khuyến khích người lao động bị hạn chế nễn dễ để các doanh nghiệp lớnmua chuộc, lôi kéo tuyển chọn
Trang 22+ Do họ chưa được đào tạo một cách hệ thống và bài bản nên trình độ quản lý
và hạch toán kinh doanh yếu, chưa có nhiều kinh nghiệm
+ Tính rủi ro trong quá trình hoạt động kinh doanh cao, đặc biệt đối với doanhnghiệp sản xuất kinh doanh các sản phẩm thuộc lĩnh vực nông nghiệp, nông thôn
Trang 23Theo Luật các TCTD Việt Nam thì tín dụng được định nghĩa như sau:
“Hoạt động tín dụng là việc TCTD sử dụng nguồn vốn tự có, nguồn vốn huy động đểcấp tín dụng Theo đó, các TCTD sẽ thỏa thuận để khách hàng sử dụng một khoản tiềnvới nguyên tắc có hoàn trả bằng các nghiệp vụ cho vay chiết khấu, cho thuê tài chính,bảo lãnh ngân hàng và các nghiệp vụ khác”
Còn nếu hiểu tín dụng theo chức năng hoạt động của ngân hàng thì tín dụng làmột giao dịch về tài sản(tiền hoặc hàng hóa) giữa bên cho vay( ngân hàng và các địnhchế tài chính khác), trong đó bên cho vay chuyển giao tài sản cho bên đi vay sử dụngtrong một thời gian nhất định theo thỏa thuận, bên đi vay có trách nhiệm hoàn trả vôđiều kiện vốn gốc và lãi cho bên vay khi đến hạn thanh toán
Qua khái niệm trên cho thấy, trong quan hệ tín dụng, người cho vay chỉ nhườnglại quyền sử dụng vốn cho người đi vay trong một thời hạn nhất định Do người đi vaykhông có quyền sở hữu số vốn ấy mà phải hoàn trả lại cho người cho vay khi đến hạn
đã thỏa thuận trong hợp đồng tín dụng Việc hoàn trả này không chỉ đơn thuần là sựbảo tồn về mặt giá trị mà vốn tín dụng cũng không ngừng được tăng thêm dưới hìnhthức lợi tức
Trang 241.2.1.2 Các hình thức tín dụng
Tín dụng thương mại
Tín dụng thương mại là mối quan hệ tín dụng giữa các nhà Doanh nghiệp đượcthực hiện thông qua việc mua bán chịu hành hóa, nó đóng vai trò quan trọng trong việcđáp ứng các nhu cầu về vốn cho những doanh nghiệp đang tạm thời thiếu hụt về vốn,đồng thời giúp các DN tiêu thụ được hàng hóa của mình Mặc dù tín dụng thương mạiđóng vai trò tích cực trong nền kinh tế, song nó vẫn có những mặt hạn chế như: về quy
mô tín dụng, thời hạn cho vay và phương thức hoạt động
Tín dụng Nhà nước
Tín dụng Nhà nước là quan hệ tín dụng mà trong đó Nhà nước là người đi vay
để đảm bảo các khoản chi tiêu cho ngân sách nhà nước, thực hiện các chức năng vànhiệm vụ của mình trong quản lý KTXH và phát triển quan hệ kinh tế đối ngoại Hìnhthức biểu hiện bên ngoài của tín dụng Nhà nước là sự vay mượn tạm thời một số hiệnvật hoặc số tiền, nhưng bên trong chứa đựng nhiều mối quan hệ giữa Nhà nước và cácchủ thể kinh tế khác
Tín dụng ngân hàng:
Tín dụng ngân hàng là quan hệ tín dụng giữa Ngân hàng, các TCTD khác vớiNhà Doanh nghiệp và cá nhân trong nền kinh tế thị trường Ngân hàng là một định chếtài chính trung gian, do vậy trong quan hệ tín dụng với các chủ thể, các cá nhân trongnền kinh tế thì Ngân hàng vừa là người đi vay vừa là người cho vay
Tín dụng ngân hàng ra đời đã khắc phục được những hạn chế của tín dụngthương mại Chủ thể tham gia: gồm một bên là ngân hàng và bên còn lại là các chủ thểkhác trong nền kinh tế như: các Doanh nghiệp, hộ gia đình, cá nhân…Vốn tín dụng cấpchủ yếu là tiền tệ cũng có thể là tài sản Quy mô tín dụng lớn hơn rất nhiều so với tíndụng thương mại Thời gian của tín dụng ngân hàng rất linh hoạt, có thể là ngắn hạn,trung hạn và dài hạn Công cụ của tín dụng ngân hàng cũng rất đa dạng: có thế là kỳphiếu, trái phiếu ngân hàng, các hợp đồng tín dụng…Là hình thức mang tính chất gián
Trang 25tiếp, trong đó ngân hàng đóng vai trò là cầu nối trung gian giữa những người tiết kiệm
và những người cần vốn để sản xuất, kinh doanh hoặc tiêu dùng Khác với hình thứctín dụng trực tiếp, nguồn vốn của tín dụng ngân hàng là nguồn vốn huy động của xã hộivới khối lượng và thời hạn khác nhau, do đó nó có thể thỏa mãn các nhu cầu vốn đadạng về khối lượng cũng như thời hạn và mục đích sử dụng vì nguồn vốn huy động cótính chất nhàn rỗi tạm thời Cũng với vai trò đặc biệt quan trọng trong việc cung cấpvốn cho nhu cầu kinh doanh của các DNVVN, tín dụng cũng được sử dụng như mộtcông cụ để phát triển các ngành kinh tế chiến lược theo yêu cầu của chính phủ
1.2.2 Phân loại tín dụng
1.2.2.1 Căn cứ vào thời hạn tín dụng
Tín dụng ngắn hạn: Thời hạn cho vay bằng hoặc đến 12 tháng Các khoản
tín dụng ngắn hạn không được vay quá một năm, thời hạn cho vay được xác định phùhợp với nhu cầu thực tế chu chuyển vốn Các khoản tín dụng này thường được sử dụng
để bổ sung thiếu hụt tạm thời về vốn lưu động của các Doanh nghiệp và cho vay phục
vụ sinh hoạt tín dụng cá nhân Tín dụng ngắn hạn bao gồm:
Cho vay vốn lưu động ngắn hạn : Loại hình cho vay này bao gồm cho vay dưới
hình thức cho vay thông thường, ứng trước theo hạn mức tín dụng hoặc thấu chi vớithời hạn không quá một năm Cho vay từng lần với thời hạn dưới 365 ngày cũng nằmtrong hình thức cho vay tài trợ này Thông thường tiền vay được sử dụng cho các mụcđích mang tính thời vụ, như cho vay để dự trữ hàng hóa tồn kho và phải thu hoặc cácnhu cầu tiền mặt ngắn hạn khác Nguồn trả nợ cho những khoản vay này là tiền bánhàng và thu từ nợ phải thu
Cho vay theo tài khoản phải thu: Là hình thức cho vay ngắn hạn với biện pháp
đảm bảo bằng cầm cố giá trị các khoản phải thu Đây là dịch vụ đặc biệt cho các cán bộ
có trình độ chuyên môn cao thực hiện, đồng thời có các kiểm toán viên giám sát chặtchẽ tài sản đảm bảo Mục đích của hình thức cho vay này là nhằm cung cấp vốn giúp
Trang 26cho các hoạt động của doanh nghiệp được nhanh hơn Hình thức tín dụng này cung cấpcho tất cả các doanh nghiệp với quy mô và ngành nghề khác nhau.
Tín dụng trung hạn : là khoản tín dụng có thời hạn từ 1 năm đến 5 năm, loại
tín dụng này dùng để cho các DN vay vốn để phục vụ việc mua sắm tài sản cố định, cảitiến đổi mới kĩ thuật, mở rộng xây dựng các công trình nhỏ có thời gian thu hồi vốnnhanh Cho vay trung hạn còn là nguồn bổ sung vốn đáng kể cho các doanh nghiệp đặcbiệt là các DN mới thành lập
Tín dụng dài hạn: là loại tín dụng có thời hạn từ 5 năm trở lên, được sử dụng
để cung cấp vốn xây dựng cơ bản, cải tiến và mở rộng sản xuất với quy mô lớn, chẳnghạn như đầu tư xây dựng các xí nghiệp mới, các công trình cơ sở hạ tầng…
1.2.2.2 Căn cứ vào mức độ tín nhiệm đối với khách hàng
Tín dụng không có tài sản đảm bảo: là loại hình tín dụng chỉ áp dụng
đối với các khách hàng truyển thống, có uy tín, có nguồn vốn chủ sở hữu mạnh, nănglực tài chính tốt, hoạt động kinh doanh ổn định có lời hoặc những đối tượng mà Chínhphủ chỉ định
Tín dụng có tài sản đảm bảo: là loại tín dụng có tài sản thế chấp, cầm cố
hoặc được bảo lãnh bảo người thứ ba Đây là hình thức tín dụng áp dụng với các kháchhàng không có uy tín cao với ngân hàng, khi vay vốn đòi hỏi phải có bảo đảm Sự bảođảm là căn cứ pháp lý để ngân hàng có thêm nguồn thu nợ thứ hai, bổ sung nguồn thu
nợ thứ nhất thiếu chắc chắn
1.2.2.3 Căn cứ vào đối tượng tín dụng
Tín dụng vốn lưu động: là loại tín dụng được cung cấp để hình thành
vốn lưu động của doanh nghiệp hay cho vay để bù đắp khoản vốn lưu động thiếu tạmthời Loại này thường được thể hiện dưới các hình thức: cho vay để dữ trữ hàng hóa,cho vay để trang trải trong sản xuất và cho vay để thanh toán các khoản nợ dưới hìnhthức chiết khấu giấy tờ có giá
Trang 27 Tín dụng vốn cố định: là loại hình tín dụng được cung cấp nhằm hình
thành vốn cố định cho doanh nghiệp Loại tín dụng này được dùng để đầu tư mua sắmtài sản cố định, cải tiến đổi mới kĩ thuật, mở rộng sản xuất, xây dựng các xí nghiệp vàcông trình mới…
1.2.2.4 Căn cứ vào mục đích sử dụng vốn vay tín dụng
Tín dụng sản xuất và lưu thông hàng hóa: đây là loại hình tín dụng
thường được cung cấp cho các nhà doanh nghiệp thuộc các thành phần kinh tế để họtiến hành sản xuất kinh doanh
Tín dụng tiêu dùng : là loại tín dụng dưới hình thức cho vay cá nhân để
đáp ứng nhu cầu tiêu sùng Loại hình tín dụng này được cung cấp cho việc mua sắmnhà cửa, xe cộ, thiết bị gia đình…, tín dụng tiêu dùng được cấp phát dưới dạng bằngtiền hoặc hàng hóa Loại hình tín dụng tiêu dùng này chỉ cung cấp cho các khách hàng
là cá nhân tới vay vốn của ngân hàng
1.2.2.5 Căn cứ vào xuất xứ tín dụng
Tín dụng trực tiếp: Ngân hàng cung cấp vốn trực tiếp cho người có nhu
cầu, đồng thời người đi vay trực tiếp trả nợ cho ngân hàng
Tín dụng gián tiếp: là các khoản vay được ngân hàng thực hiện thông
qua việc mua lại các khế ước hoặc chứng từ nợ đã phát sinh và còn thời hạn thanh toán
Chiết khấu thương mại: Người thụ hưởng hối phiếu hoặc lệnh hối phiếu
còn thời hạn thanh toán có thể nhượng lại cho ngân hàng, ngân hàng cấp cho kháchhàng một khoản bằng mệnh giá trừ đi chiết khấu và hoa hồng phí
1.2.2.6 Căn cứ vào cách thức cho vay
Cho vay theo từng lần: là hình thức cấp tín dụng ngắn hạn, thường được
cấp cho các khách hàng vay vốn không thường xuyên hoặc có uy tín không cao vớingân hàng Mỗi lần vay, khách hàng phải gửi một bộ hồ sơ xin vay theo đúng quy địnhđến ngân hàng Ngân hàng sẽ thẩm định và nếu chấp nhận cho vay sẽ ký hợp đồng tíndụng Mức cho vay được xác định căn cứ trên nhu cầu vay vốn của phương án đã trừ đi
Trang 28vốn tự có và các nguồn khác Thời hạn cho vay, thu nợ được xác định căn cứ vào chu
kỳ kinh doanh, chu kỳ luân chuyển vốn
Cho vay theo hạn mức tín dụng: đây là hình thức cấp tín dụng ngắn
hạn, được cấp cho khách hàng vay vốn thường xuyên, có uy tín cao đối với ngân hàng.Theo hình thức này để được vay vốn, khách hàng gửi một bộ hồ sơ tới ngân hàng, ngânhàng sẽ thẩm định, nếu chấp thuận sẽ xác định và thỏa thuận một hạn mức tín dụng duytrì trong một khoản thời gian nhất định( thường là một năm hoặc chu kỳ sản xuất) Hạnmức tín dụng được dựa trên cơ sở tổng nhu cầu vốn lưu động của kỳ kế hoạch, số vòngquay vốn lưu động, vốn tự có và các nguồn vốn khác của khách hàng Khi có nhu cầuvay vốn, khách hàng chỉ cần gửi giấy nợ tiền vay kèm theo chứng từ có liên quan phùhợp với mục đích vay vốn trong hợp đồng tín dụng gửi đến ngân hàng Ngân hàng sẽgiải ngân trong phạm vi hạn mức tín dụng và thời hạn của hợp đồng tín dụng
Cho vay theo hạn mức tín dụng dự phòng: là loại hình tín dụng trong
đó ngân hàng luôn đảm bảo cho khách hàng nhu cầu vốn trong phạm vi hạn mức tíndụng đã cam kết( hạn mức tín dụng dự phòng) Tín dụng theo hạn mức và tín dụngtheo hạn mức tín dụng dự phòng về cơ bản là giống nhau Nhưng sự khác biệt cơ bảntrong tín dụng dự phòng này là khách hàng có thể không sử dụng vốn vay nhưng vẫnphải trả phí cam kết do ngân hàng phải dự phòng quỹ cho vay theo thỏa thuận
Cho vay phát hành và sử dụng thẻ tín dụng: là hình thức tín dụng gắn
liền với phát hành và sử dụng thẻ tín dụng Sử dụng thẻ tín dụng để thanh toán tiềnmua hàng, dịch vụ và rút tiền mặt tại các máy rút tiền tự động hoặc các đại lý của ngânhàng
Cho vay theo dự án: đây là hình thức cấp tín dụng trung và dài hạn, theo
đó ngân hàng cho khách hàng vay vốn để thực hiện dự án đầu tư nhằm tạo dựng cơ sởvật chất, đổi mới công nghệ và trang thiết bị Để được vay vốn khách hàng cần gửingân hàng bộ hồ sơ vay vốn theo quy định, trong đó dự án đầu tư là tài liệu quan trọng
để ngân hàng xem xét, thẩm định và đi đến quyết định chấp thuận hay từ chối cho vay
Trang 29Mức cho vay được xác định trên cơ sở tổng nhu cầu vốn của dự án trừ đi vốn tự có vàcác nguồn vốn khác Quá trình giải ngân được thực hiện theo tiến độ của dự án trên cơ
sở tiến độ hoàn thành của dự án Khi có nhu cầu sử dụng nguồn vay, khách hàng gửitới ngân hàng những tài liệu làm cơ sở nhận tiền vay như: Biên bản nghiệm thu, bàngiao; phiếu thanh toán khối lượng công trình hoàn thành và những tài liệu liên quankhác Ngân hàng kiểm tra và giải ngân theo mức cho vay đã được duyệt Thời hạn chovay được xác định trên cơ sở thời gian xây dựng và thời hạn trả nợ Thời hạn trả nợđược xác định căn cứ vào số tiền vay, khấu hao lợi nhuận và vốn khác có thể dùng đểtrả nợ
Cho thuê tài chính: là hình thức tín dụng trung và dài hạn, theo đó các
doanh nghiệp được sử dụng tài sản cần thiết trên cơ sở đi thuê, tức là kháchhàng( thường là doanh nghiệp ) sẽ có tài sản sử dụng nhưng không phải bỏ vốn mua
mà chỉ phải trả tiền thuê tài sản đó cho công ty tín dụng thuê mua và có thể mua lại tàisản đó khi hết hạn hợp đồng Tổng số tiền thuê tài sản quy định tại hợp đồng cho thuêtài chính tối thiểu phải tương đương với giá trị tài sản đó tại thời điểm ký hợp đồng chothuê Ngoài ra trong hợp đồng cho thuê cần thỏa thuận rõ thời hạn thuê, thông thườngthời hạn thuê tương đương với tuổi thọ của tài sản Từ khi ra đời cho đến nay, hoạtđộng này ngày càng phát triển mạnh mẽ và hiện đang được áp dụng rộng rãi trên thếgiới, trong đó có Việt Nam
Cho vay đồng tài trợ: là quá trình cho vay của một nhóm TCTD ( từ hai
trở lên) cho một dự án, do một TCTD làm đầu mối phối hợp các bên để tài trợ thựchiện, nhằm nâng cao năng lực và hiệu quả trong hoạt động sản xuất kinh doanh củadoanh nghiệp và các TCTD
Đây là hình thức cấp tín dụng thông thường diễn ra với các dự án có nhu cầuvốn lớn, một TCTD không thể đơn phương tài trợ do không đủ năng lực tài chính hoặcpháp luật không cho phép Ngoài ra trong một số trường hợp, vẫn có đủ khả năng đơnphương tài trợ nhưng vẫn mời đối tượng khác tham gia nhằm mục đích san sẻ rủi ro( dễ
Trang 30xảy ra với các dự án lớn, có tính chất phức tạp), đồng thời học hỏi kinh nghiệm của cácTCTD khác thông qua hoạt động đồng tài trợ ( kinh nghiệm thẩm định, quản lý tíndụng…).
Bảo lãnh ngân hàng: là một hình thức tín dụng bằng chữ ký, là hoạt
động thường không sử dụng đến vốn của ngân hàng Trong hoạt động này ngân hàng sẽcam kết thực hiện nghĩa vụ thanh toán cho người thụ hưởng nếu đến kì thanh toánngười được bảo lãnh không thực hiện được nghĩa vụ thanh toán cho người thụ hưởng.Thông qua người được bảo lãnh ngân hàng, khách hàng( người được bảo lãnh) được sửdụng một khoản ngân quỹ như cho vay thông thường, vì vậy khách hàng phải trả chongân hàng một khoản phí gọi là phí bảo lãnh Trường hợp ngân hàng phải xuất vốn trảthay cho khách hàng, khách hàng được bảo lãnh có nghĩa vụ hòan trả vốn, lãi và phíbảo lãnh cho ngân hàng
1.3 Mở rộng tín dụng đối với DNVVN của NHTM
1.3.1 Khái niệm và phương pháp mở rộng tín dụng
1.3.1.1 Khái niệm về mở rộng tín dụng :
Mở rộng hoạt động tín dụng là một thuật ngữ dùng để chỉ sự tăng lên về quy môhoạt động tín dụng, tăng thêm số lượng, đối tượng khách hàng, mở rộng địa bàn hoạtđộng, cung ứng thêm cho khách hàng những sản phẩm tín dụng mới với chất lượng tốthơn Với mục tiêu cuối cùng của mở rộng tín dụng là lợi nhuận tăng, giúp ngân hàngphát triển vững mạnh trong nền kinh tế thị trường
1.3.1.2 Phương pháp mở rộng tín dụng đối với các DNVVN
Xây dựng chính sách tín dụng phù hợp với sự phát triển ccác DNVVN
Để hoạt động tín dụng được mở rộng và phát triển bền vững, trước hết Ngân hàngcần xây dựng được chính sách tín dụng dành riêng cho đối tượng DNVVN trong từngthời kỳ Chính sách này cần được hoàn thiện trên mục tiêu nhất quán đối với DNVVN,định hướng phát triển kinh tế xã hội, mục tiêu phát triển của ngành ngân hàng, xu
Trang 31hướng phát triển của nền kinh tế Trước hết, chính sách này bao gồm những nội dungsau : xây dựng được chính sách lãi suất cho vay hợp lý nhưng phải có tính hấp dẫn, đadạng các hình thức cho vay phù hợp với tình hình hoạt động kinh doanh của cácDNVVN, xác định thời hạn cho vay phù hợp với dòng luân chuyển vốn của DN, cảitiến quy trình và đổi mới trong cho vay và cung cấp danh mục sản phẩm đa dạng,phong phú và đem lại nhiều tiện ích đối với DN.
Huy động vốn để mở rộng tín dụng DNVVN
Muốn mở rộng hoạt động tín dụng thì công tác phát triển nguồn vốn là điều kiệntiên quyết, không huy động được vốn thì không thể mở rộng tín dụng Do đó, NHTMcần phải tích cực và chủ động hơn nữa trong việc gia tăng nguồn vốn với các biện phápsau: xây dựng một chính sách lãi suất huy động vốn linh hoạt và mang tính cạnh tranhcao; phát triển đa dạng và nâng cao chất lượng các hình thức huy động vốn…
Hoàn thiện, nâng cấp hệ thống thông tin tín dụng và khách hàng
Thông tin nói chung và thông tin nói riêng có vai trò rất quan trọng trong việc ngânhàng ra quyết định cho DN vay vốn Bởi điều đó quyết định đến chất lượng các khoảncho vay Khi ngân hàng thương mại không được hỗ trợ bởi một hệ thống thông tin hiệuquả, có độ tin cậy cao, ngân hàng sẽ không nắm bắt chính xác được các thông tin vềlịch sử khách hàng, các mối quan hệ của khách hàng với các tổ chức tín dụng khi đóngân hàng sẽ gặp khó khăn trong việc tìm cơ sơ để quyết định cho vay Vì vậy, để mởrộng cho vay DNVVN đạt được chất lượng tốt nhất, giảm thiểu nợ xấu thì ngân hàngthương mại cần hoàn thiện và nâng cấp hệ thống thông tin tín dụng và thông tin vềkhách hàng
Đào tạo phát triển nâng cao chất lượng nguồn nhân lực
Để mở rộng cho vay nhưng vẫn đảm bảo chất lượng các khoản cho vay, bêncạnh việc hoàn thiện hệ thống thông tin tín dụng và thông tin khách hàng, thì ngânhàng cần nâng cao chất lượng cán bộ chuyên môn, đặc biệt là cán bộ làm công tác tín
Trang 32dụng, gắn trách nhiệm với quyền lợi Ngân hàng cần phải chuẩn hóa đội ngũ cán bộlàm công tác tín dụng, xây dựng chính sách đào tạo để nâng cao chất lượng cán bộ làmcông tác tín dụng một cách có hiệu quả Nâng cao chất lượng nguồn nhân lực thì mớiđảm bảo được việc mở rộng hoạt động cho vay đạt hiệu quả cao.
Đẩy mạnh hoạt động marketing và quảng bá thương hiệu
Muốn mở rộng hoạt động tín dụng với quy mô lớn và tốc độ nhanh thì các ngânhàng thương mại cần chú trọng đến hoạt động marketing để chủ động tìm kiếm kháchhàng Đặc biệt là trong bối cảnh cạnh tranh giữa các ngân hàng thương mại ngày càngtrở nên gay gắt, thì hoạt động marketing và quảng bá thương hiệu là hết sức quan trọngđối với sự phát triển của ngân hàng cũng như trong hoạt động mở rộng tín dụng đối vớiDNVVN
Xây dựng mối quan hệ hợp tác bền lâu với các DNVVN
Mở rộng tín dụng DNVVN là sự tăng lên về quy mô tín dụng bao gồm là sự tănglên về số lượng khách hàng và giá trị của các khoản vay Hoạt động marketing là việctìm kiếm khách hàng nhưng để giữ chân được khách hàng và tạo được mối quan hệ lâudài với DN, và đảm bảo an toàn hiệu quả của khoản vay thì ngân hàng cần chú trọngđến vai trò tư vấn của mình: tư vấn về quản lý tài chính, lập dự án, lập hồ sơ, sử dụngvốn vay hiệu quả…
1.3.2 Các chỉ tiêu đo lường kết quả mở rộng tín dụng:
Mở rộng tín dụng của NHTM là một chỉ tiêu tổng hợp, nó thể hiện sức mạnhcủa một ngân hàng trong quá trình cạnh tranh phát triển Có nhiều chỉ tiêu dùng đểđánh giá mở rộng tín dụng ngân hàng bao gồm cả chỉ tiêu định tính và chỉ tiêu địnhlượng, dưới đây là các chỉ tiêu chủ yếu thường được sử dụng để đánh giá hoạt động mởrộng tín dụng tại các ngân hàng thương mại:
1.3.2.1 Các chỉ tiêu định tính
Trang 33 Sự thỏa mãn của khách hàng về các sản phẩm tín dụng của ngân hàng
Trong nền kinh tế thị trường, các NHTM luôn tìm cách để tối đa hóa tài sản củachủ sở hữu, thông qua chiến lược mở rộng thị trường, thị phần, nâng cao chất lượng vàhiệu quả hoạt động Vì vậy để mở rộng tín dụng các NHTM phải không ngừng đưa racác chính sách tín dụng phù hợp, đa dạng hóa các gói sản phẩm tín dụng với mức độlinh hoạt cao và có nhiều tiện ích, thỏa mãn nhu cầu của khách hàng Khi đó, Kháchhàng sẽ đến với ngân hàng thương mại để tìm kiếm các sản phẩm phù hợp với điềukiện hoạt động kinh doanh của mình
Sự hài lòng của khách hàng về thái độ phục vụ, trình độ của cán bộ ngân hàng
Khi tới giao dịch, vay vốn với Ngân hàng, DN sẽ tiếp xúc với các cán bộ ngânhàng, do đó có thể nói cán bộ ngân hàng và cán bộ tín dụng đóng vai trò rất quan trọngtrong việc quyết định vay vốn của DN và việc mở rộng tín dụng của các NHTM Thái
độ phục vụ chuyên nghiệp và sự am hiểu về kiến thức nghiệp vụ cũng như tư vấn chokhách hàng khi tới vay vốn của ngân hàng sẽ làm hài lòng các khách hàng tới vay vốntại Ngân hàng, góp phần làm đẹp hình ảnh và thương hiệu của ngân hàng, tạo được sựtin tưởng, an tâm và thoải mái cho khách hàng
1.3.3.2 Các chỉ tiêu định lượng
Chỉ tiêu về quy mô tín dụng
Chỉ tiêu về quy mô tín dụng là thước đo quan trọng nhất để chỉ ra mức độ mởrộng tín dụng, chỉ tiêu này được thể hiện thông qua tốc độ tăng trưởng về doanh số chovay, tốc độ tăng trưởng về dư nợ cho vay, tốc độ tăng trưởng khách hàng qua các năm :
DSCV năm sau - DSCV năm trước
Tốc độ tăng trưởng DSCV = *100%
DSCV năm trước
Trang 34Doanh số cho vay cho biết mức độ cung ứng vốn tín dụng cho nền kinh tế trongmột khoảng thời gian nhất định Doanh số cho vay trong mỗi thời kỳ cho ta biết đượcdiễn biến thực của hoạt động cho vay trong thời kỳ đó.
DNCV năm sau – DNCV năm trước
Tốc độ tăng trưởng DNTD = *100%
DNCV năm trước
Dư nợ cho vay là phần còn lại của doanh số cho vay sau khi hoạt động dư nợ đãdiễn ra Dư nợ cho vay được xác định vào một thời điểm nhất định, nó phản ánh sốlượng vốn mà ngân hàng đã cung ứng cho nền kinh tế tại thời điểm đó
Số lượng khách hàng có quan hệ tín dụng với Ngân hàng
Đây là một chỉ tiêu quan trọng trong việc đánh giá mức độ mở rộng hoạt độngtín dụng, nó thể hiện được số lượng khách hàng tiếp cận nguồn vốn tín dụng theo thờigian Nếu số lượng khách hàng ngày càng tăng điều đó chứng tỏ hoạt động tín dụngcủa ngân hàng ngày càng được mở rộng
Chỉ tiêu về kết quả thu được trong hoạt động tín dụng
Việc mở rộng tín dụng thực sự có ý nghĩa khi nó góp phần để đạt được mục tiêucuối cùng của kinh doanh ngân hàng
Tốc độ tăng trưởng TNNN - TNNT
thu nhập từ hoạt động = *100%
tín dụng TNNN
Trong đó: TNNN : Thu nhập từ hoạt động tín dụng năm nay
TNNT: Thu nhập từ hoạt động tín dụng năm trước
Thu nhập từ hoạt động tín dụng chủ yếu là thu lãi sau khi đã trừ đi các khoản chiphí về vốn và các chi phí khác cho hoạt động tín dụng của NH Tăng trưởng thu nhập
từ hoạt động tín dụng là thu nhập từ hoạt động tín dụng năm sau cao hơn năm trước
Trang 35 Chỉ tiêu về chất lượng và an toàn tín dụng
Đi đôi với việc mở rộng về quy mô tín dụng, vấn đề về an toàn và chất lượngcủa các khoản tín dụng cũng rất cần được quan tâm, chú trọng Mở rộng tín dụng đemlại hiệu quả cao chỉ khi các chỉ tiêu về chất lượng tín dụng nằm trong tầm kiểm soátcủa ngân hàng Để đo lường chất lượng chất lượng và an toàn tín dụng ta sử dụng cácchỉ tiêu sau:
Hệ số sử dụng VHĐ ngắn hạn cho vay trung và dài hạn
vốn ngắn hạn để cho vay =
trung và dài hạn Tổng VHĐ ngắn hạn
Dựa vào tính ổn định tương đối cảu nguồn vốn ngắn hạn, các ngân hàng đã khaithác nguồn vốn này để cho vay trung và dài hạn Tuy nhiên hệ số sử dụng vốn ngắnhạn để cho vay trung và dài hạn càng cao thì rủi ro càng lớn Hiện nay thì các NHTMViệt Nam đang thực hiện theo quyết định 457/2005/QĐ- NHNN ngày 19/4/2005 củaThống đốc Ngân hàng Nhà nước Việt Nam ban hành quy định về các tỷ lệ đảm bảo antoàn trong hoạt động của các TCTD Theo đó NHTM được sử dụng tối đa 40% nguồnvốn ngắn hạn để cho vay trung và dài hạn
Tóm lại, việc mở rộng tín dụng của ngân hàng sẽ được coi là thành công nếu
quy mô tín dụng tăng lên song song với việc đảm bảo chất lượng của các khoản tíndụng và tăng thu nhập cho ngân hàng
Trang 361.3.3 Sự cần thiết phải mở rộng tín dụng cho các DNVVN
- Về phía Ngân hàng: tại Việt Nam hiện nay, tín dụng là nghiệp vụ chính đem lại
nguồn thu cho các NHTM, trong đó doanh thu từ tín dụng DNVVN chiếm tỷ trọng lớntrong tổng doanh thu của Ngân hàng, nó mang tính quyết định sự tồn tại và phát triểncủa cá NHTM trong giai đoạn hiện nay Đồng thời, mở rộng tín dụng đối với DNVVNtạo tiền đề cho ngân hàng mở rộng và phát triển các hoạt động dịch vụ khác, từng bướcthay đổi cơ cấu doanh thu theo hường giảm dần tỷ trọng doanh thu từ hoạt động cấp tíndụng, tăng dần tỷ trọng doanh thu từ các hoạt động dịch vụ, đây là một hướng đi mới
mà các NHTM đang lựa chọn trong giai đoạn hiện nay
- Về phía các Doanh nghiệp vừa và nhỏ:
Hiện nay, tình hình chung của các doanh nghiệp là rất khó khăn, mà khó khăn lớnnhất đó là chi phí sản xuất kinh doanh tăng cao( chủ yếu do chi phí nguyên nhiên vậtliệu và giá vốn cao) và khó khăn về thị trường tiêu thụ hẹp( do sức mua giảm mạnh).Chính vì vậy, nguồn tín dụng từ phía ngân hàng là cần thiết để hỗ trợ doanh nghiệp vừa
và nhỏ vượt qua khó khăn tạm thời về chi phí sản xuất trong điều kiện hiện nay
Tuy nhiên, hiện nay việc các DNVVN tiếp cận với nguồn vốn ngân hàng đang gặpphải rất nhiều khó khăn, khó khăn về chi phí vốn quá cao, khó khăn về quy định chovay như về thủ tục vay vốn, thẩm định dự án, tài sản đảm bảo trong quy trình tín dụng
mà các NHTM không thể bỏ qua Vì thế mà có rất nhiều các DNVVN có phương ánsản xuất kinh doanh, dự án đầu tư tốt, có tính khả thi tuy nhiên lại gặp phải những ràocản không thể vượt qua khi vay vốn ngân hàng, điều này dẫn đến việc trì trệ và ảnhhưởng tới hoạt động sản xuất kinh doanh, xấu hơn nữa là có rất nhiều doanh nghiệpvừa và nhỏ đã bị giải thể, tạm ngừng hoạt động kinh doanh trong thời gian qua, ảnhhưởng rất nhiều đến sự phát triển kinh tế và xã hội, tăng tỷ lệ lao động thất nghiệp hiệnnay
Trang 37Do đó, việc mở rộng nguồn vốn tín dụng từ các NHTM là hết sức cần thiết đối với
sự tồn tại, phát triển của các DNVVN cũng như sự phát triển bền vững về mặt kinh tế
và xã hội của nước ta
1.4 Kinh nghiệm của một số Ngân hàng cấp Quận, cấp Chi nhánh về việc
mở rộng tín dụng đối với DNVVN và bài học kinh nghiệm áp dụng đối với Chi nhánh NHNo Long Biên
1.4.1 Kinh nghiệm của các NHTM tại Việt Nam
Ngân hàng Đầu tư và phát triển Việt Nam
Về chính sách hỗ trợ tín dụng cho các DNVVN, BIDV thực hiện các giải pháp sau:
- Thực hiện chính sách lãi suất linh hoạt: BIDV áp dụng cơ chế lãi suất ưu đãi đốivới các DNNVV, đảm bảo mức lãi suất cho vay đối với các DNNVV thấp hơn tối thiểu1%/năm so với mức lãi suất cho vay thông thường
- Đa dạng hoá các hình thức cấp tín dụng: ngoài các hình thức cho vay thôngthường, BIDV áp dụng đối với các doanh nghiệp xuất khẩu chương trình hoán đổi tiền
tệ chéo VND-USD, chiết khấu bộ chứng từ hàng xuất…
- Áp dụng biện pháp bảo đảm linh hoạt: BIDV áp dụng linh hoạt các hình thức bảođảm tiền vay nhưtài sản cầm cố, thế chấp, bảo lãnh của bên thứ 3, tài sản hình thành từvốn vay, nguyên vật liệu tồn kho, quản chấp lô hàng, quyền đòi nợ… kết hợp với chovay không có tài sản đảm bảo trên cơ sở hiệu quả của dự án đầu tư/phương án kinhdoanh và kết quả xếp hạng Doanh nghiệp
- Hỗ trợ, tư vấn các DNNVV trong việc lập dự án, hồ sơ vay vốn; Hỗ trợ đào tạonguồn nhân lực cho các DNNVV về lĩnh vực tài chính ngân hàng
- BIDV sẽ làm đầu mối thu xếp vốn đối với những dự án lớn
- Đối với các Doanh nghiệp đang gặp khó khăn: BIDV sẽ tư vấn tái cấu trúc tàichính, cơ cấu nợ nhằm tăng năng lực tài chính đối với các Doanh nghiệp, đảm bảo hiệu
Trang 38quả cao nhất với mục đích duy trì hoạt động và tạo nền tảng phát triển sau khi cácDoanh nghiệp vượt qua khó khăn.
Bên cạnh chính sách hỗ trợ tín dụng cho các DNVVN, Ngân hàng đầu tư và pháttriển Việt Nam còn chú trọng tới chính sách ưu đãi về dịch vụ đối với các DNVVN,bao gồm các giải pháp :
- Ưu đãi phí dịch vụ đến mức tối đa trên cơ sở biểu phí từng thời kỳ của BIDV
- Cung cấp sản phẩm dịch vụ trọn gói cho các khách hàng nhóm này gồm: Tư vấnphát hành trái phiếu doanh nghiệp; Dịch vụ ngân hàng điện tử (homebanking,directbanking ); Dịch vụ quản lý tài khoản trọn gói (dịch vụ quản lý vốn tự động,quản lý các khoản phải thu, quản lý các khoản phải trả tự động, dịch vụ quản lý dòngtiền, dịch vụ tiền gửi với mức lãi suất linh hoạt); Dịch vụ thanh toán quốc tế, mua bánngoại tệ với tỷ giá ưu đãi; Dịch vụ vấn tin tài khoản, tra cứu thông tin tỷ giá, tiền gửi,tiền vay, lãi suất, tra soát
Ngoài ra, BIDV sẽ xem xét góp vốn đầu tư, liên doanh, liên kết đối với cácDNNVV phù hợp với định hướng phát triển, quy chế đầu tư hiện hành của BIDV
Ngân hàng An Bình bank
Bên cạnh các giải pháp về chính sách lãi suất linh hoạt, đa dạng hóa các hình thứccấp tín dụng, chính sách ưu đãi về dịch vụ…Thì mới đây, NHTMCP An Bình(ABBank) công bố triển khai gói Dịch vụ Ngân hàng dành riêng cho SME, được phục
vụ tại Trung tâm Dịch vụ khách hàng SME Đây là kết quả của dự án dịch vụ Ngânhàng SME với sự tư vấn của IFC (thành viên của Nhóm ngân hàng thế giới)
Với gói dịch vụ này thì khi giao dịch với ABBank, khách hàng SME sẽ được tư vấn
và cung ứng một gói sản phẩm bao gồm toàn bộ các sản phẩm dịch vụ ngân hàng từtiền vay, bảo lãnh, tiền gửi đến các dịch vụ thanh toán quốc tế, quản lý tiền tệ ,
Các sản phẩm trong mỗi gói sản phẩm này sẽ được chọn lọc theo loại hình hoạtđộng của DN (Kinh doanh trong nước hay XNK; DN sản xuất hay thương mại, dịchvụ; các nhà thầu điện lực…), sau đó sẽ được cấu trúc lại để phù hợp với đặc điểm riêng
Trang 39của mỗi DN (tình hình tài chính, chu kỳ phát triển, phương thức kinh doanh…) cùngvới một mức giá trọn gói hợp lý giúp tối đa hóa hiệu quả tài chính cho DN.
Bên cạnh đó, ABBank tiếp tục dành nhiều ưu đãi cho đối tượng khách hàng mụctiêu này của mình như: gói tài trợ 1000 tỉ đồng theo chương trình “Đối tác mới – Thànhcông mới” với lãi suất ưu đãi 12%/năm đối với khách hàng XNK và kinh doanh nội địamới Gói 2.000 tỉ đồng cho các khách hàng XNK hiện hữu với lãi suất ưu đãi thấp hơn2%; chương trình tài trợ VNĐ theo lãi suất USD…
Ngân hàng Standard Chartered bank
- Ngân hàng Standard Chartered có trung tâm dịch vụ với các chuyên viên quản
lý quan hệ khách hàng chuyên chăm sóc và tư vấn cho các DNVVN Mỗi khách hàngcủa Standard Chartered đều được một nhân viên ngân hàng chăm sóc và tư vấn riêng
Họ được đào tạo bài bản để có thể tư vấn toàn diện và đưa ra những giải pháp nhằmđáp ứng tối đa nhu cầu của DN Standard Chartered là một trong số rất ít ngân hàng cómột Trung tâm dịch vụ chuyên biệt dành riêng cho DNVVN
- Với ưu thế của một ngân hàng quốc tế có hơn 150 năm kinh nghiệm và mạng
lưới hơn 1.700 chi nhánh, đại lý tại hơn 70 quốc gia, Standard Chartered đã thành côngtrong việc kết nối các DNVVN với chuỗi cung cấp toàn cầu đang tăng nhanh và cùngvới sự tăng trưởng và mở rộng của các doanh nghiệp này, cung cấp cho họ các giảipháp xuyên biên giới và các dịch vụ đa địa phương
Tóm lại, bên cạnh việc mở rộng tín dụng cho các DNVVN bằng các giải pháp :chính sách lãi suất ưu đãi, đa dạng hình thức đảm bảo tiền vay, đa dạng hóa các hìnhthức cấp tín dụng thì các ngân hàng cần cung cấp thêm các gói sản phẩm dịch vụ đápứng tối đa nhu cầu của các DNVVN từ khâu tư vấn đến cung ứng vốn cho các DN
1.4.2 Bài học kinh nghiệm áp dụng đối với Chi nhánh NHNo Long Biên
- Xây dựng chính sách lãi suất ưu đãi dành cho các DNVVN
- Đa dạng hóa các hình thức cấp tín dụng
Trang 40- Áp dụng các hình thức đảm bảo tiền vay linh hoạt: tài sản đảm bảo, tài sản tín
chấp, bảo lãnh của bên thứ ba, tài sản hình thành từ vốn vay
- Cung cấp các gói sản phẩm dịch vụ dành riêng cho SMEs bao gồm : tư vấn về
hồ sơ, về lập dự án, hỗ trợ và tư vấn sử dụng vốn có hiệu quả, các sản phẩm đadạng theo từng loại hình kinh doanh của các DNVVN…
- Thành lập trung tâm chăm sóc khách hàng doanh nghiệp vừa và nhỏ với các
chuyên viên tư vấn chuyên nghiệp và có kiến thức sâu rộng về các lĩnh vực kinhdoanh