MỤC LỤC MỤC LỤC DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT DANH MỤC BẢNG, HÌNH LỜI MỞ ĐẦU 1 CHƯƠNG 1 TẦM QUAN TRỌNG CỦA VIỆC PHẢI ĐỐI PHÓ CÁC VỤ KIỆN CHỐNG BÁN PHÁ GIÁ ĐỐI VỚI MỘT QUỐC GIÁ 4 1 1 Tình hình kiện bán phá[.]
Trang 1DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT
DANH MỤC BẢNG, HÌNH
LỜI MỞ ĐẦU 1
CHƯƠNG 1 TẦM QUAN TRỌNG CỦA VIỆC PHẢI ĐỐI PHÓ CÁC VỤ KIỆN CHỐNG BÁN PHÁ GIÁ ĐỐI VỚI MỘT QUỐC GIÁ 4
1.1 Tình hình kiện bán phá giá và đối phó với việc bị kiện bán phá giá trên thế giới những năm gần đây 4
1.1.1 Vì sao các doanh nghiệp thực hiện bán phá giá hàng xuất khẩu 4
1.1.2 Định nghĩa về bán phá giá 6
1.1.3 Đặc điểm của hành vi bán phá giá 7
1.1.4 Tác động của bán phá giá 8
1.2 Đặc điểm của các vụ kiện chống bán phá giá trên thế giới 10
1.2.1 Các vụ kiện thường nhằm vào nước có nền kinh tế đang phát triển .10 1.2.2 Phản ứng dây chuyền 13
1.2.3 Các nước đang phát triển thường phải đối mặt với vấn đề nền kinh tế phi thị trường ( NME) trong các vụ kiện bán phá giá 13
1.2.4 Thực chất việc áp thuế chống bán phá giá cũng là một hình thức bảo hộ trong thương mại của nước nhập khẩu 18
1.2.5 Khung thời gian giành cho việc điều tra hạn chế 19
1.2.6 Các biện pháp chống bán phá giá được áp dụng trong thương mại quốc tế hiện nay 20
1.2.7 Các vụ kiện kéo dài, chi phí lớn làm ảnh hưởng đến các bên 22
1.3 Sự cần thiết phải nghiên cứu, vận dụng kinh nghiệm quốc tế để đối phó các vụ kiện chống bán phá giá đối với một quốc gia 24
1.3.1 Tình hình các vụ kiện bán phá giá trong thương mại quốc tế thời gian qua 24
1.3.2 Lựa chọn kinh nghiệm của một số quốc gia về đối phó với các vụ kiện chống bán phá giá 26
CHƯƠNG 2: KINH NGHIỆM ĐỐI PHÓ VỚI NHỮNG VỤ KIỆN BÁN PHÁ GIÁ CỦA ẤN ĐỘ, THÁI LAN 28
2.1 Kinh nghiệm đối phó với những vụ kiện chống bán phá giá của Thái Lan 28
Trang 22.1.2 Ứng xử và kết quả thu được của Thái Lan khi đối phó các vụ kiện
chống bán phá giá 30
2.1.3 Bài học rút ra trong việc đối phó với những vụ kiện bán phá giá 32
2.2 Kinh nghiệm đối phó với những vụ kiện chống bán phá giá của Ấn Độ 34
2.2.1 Một số vụ kiện bán phá giá của Ấn Độ trong thương mại quốc tế thời gian qua 34
2.2.2 Ứng xử và kết quả thu được của Ấn Độ trước những vụ kiện bán phá giá 37
2.2.3 Bài học rút ra trong việc đối phó với những vụ kiện chống bán phá giá 39
CHƯƠNG 3 : PHƯƠNG HƯỚNG VÀ GIẢI PHÁP ĐỐI PHÓ BÁN PHÁ GIÁ CỦA VIỆT NAM TRÊN CƠ SỞ KINH NGHIỆM CỦA ẤN ĐỘ VÀ THÁI LAN 42
3.1 Dự báo nguy cơ Việt Nam mắc các vụ kiện chống bán phá giá thời gian tới 42
3.1.1 Thực trạng các vụ kiện bán phá giá hàng xuất khẩu của Việt Nam 42
3.1.2 Một số vụ kiện bán phá giá điển hình của Việt Nam 49
3.2 Những bài học mà Việt Nam có thể áp dụng từ kinh nghiệm của Ấn Độ và Thái Lan về đối phó với những vụ kiện bán phá 58
3.2.1 Chuẩn bị một cách đồng bộ hệ thống khi đối phó với các vụ kiện bán phá giá 58
3.2.2 Chủ động kháng kiện 59
3.2.3 Hoàn thiện chế độ sổ sách, chứng từ kế toán 60
3.2.4 Đẩy mạnh công tác vận động hành lang và quan hệ công chúng 62
3.2.5 Có những chuẩn bị cần thiết để đáp ứng yêu cầu về nền kinh tế thị trường của nước ngoài 63
3.2.6 Đa dạng hoá thị trường và sản phẩm xuất khẩu 64
3.3 Điều kiện áp dụng các bài học kinh nghiệm của Ấn Độ và Thái Lan về đối phó với các vụ kiện bán phá giá 66
KẾT LUẬN 71
DANH SÁCH TÀI LIỆU THAM KHẢO 72
Trang 3AD Anti Dumping Agreement Hiệp định thực hiện điều 6 của GATT
năm 1994 hay thường được gọi là Hiệp định về chống bán phá giá của WTO
ASEAN Association of Southeast Asia
Nation
Hiệp hội các quốc gia Đông Nam Á.
CFA Catfish Farmers of America Hiệp hội các chủ trại các da trơn Mỹ
DOC Department of Commerce Bộ Thương mại Mỹ
DSB Dispute Settlement Body Cơ quan giải quyết tranh chấp của Tổ
chức thương mại thế giới.
EC European Commission Ủy ban Châu Âu
EIT Economy in Transition Nước có nền kinh tế chuyển đổi
GATT General Agreement on Trade and
Tarriff
Hiệp định chung về Thuế quan và Thương mại
ITC Internetional Trade Commission Ủy ban Thương mại Mỹ
MES Market economy Status Quy chế nền kinh tế thị trường
MOI Market - Oriented Industrial Ngành công nghiệp theo cơ chế thị
trường
NME Non-market Economy Quy chế nền kinh tế phi thị trường
SSA Southern Shrimp Alliance Liên minh tôm miền Nam Hoa kỳ
VASEP Vietnam Association of Seafood
Exporters and Producers
Hiệp hội chế biến và xuất khẩu thủy sản Việt Nam
WTO World Trade Organization Tổ chức thương mại thế giới
Trang 4Bảng 1.1 Thống kê 10 nước bị kiện bán phá giá nhiều nhất giai đoạn 1995
– 2011 11Bảng 1.2 : Bảng so sánh tiêu chí xác định nền kinh tế phi thị trường của EU
và Mỹ 15Bảng 1.3 Thị phần trong xuất khẩu giầy dép của EU 25Bảng 3.1: Thống kê các mặt hàng nông sản, thực phẩm của Việt Nam bị
điều tra bán phá giá tính đến tháng 7/2012 43Bảng 3.2: Thống kê các mặt hàng Việt Nam bị điều tra bán phá giá chung
với Ấn Độ và Thái Lan tính đến tháng 7/2012 45Bảng 3.3 Thống kê các sản phẩm bị kiện nhiều nhất giai đoạn 1995-2011 48Bảng 3.4 Mức thuế bán phá giá đối với các công ty Việt Nam trong vụ
kiện cá tra và cá ba sa 51Bảng 3.5: Tóm tắt tiến trình vụ kiện cá tra và cá ba sa 52Bảng 3.6: Biểu thuế chống bán phá giá áp dụng cho các nước xuất khẩu
tôm vào thị trường Mỹ 54Bảng 3.7 Diễn biến vụ kiện tôm 55
Hình 1.1: Tác động của bán phá giá 9Hình 1.2 Thống kê 10 nước khởi kiện bán phá giá nhiều nhất giai đoạn
1995-2011 12
Trang 5LỜI MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Quá trình toàn cầu hoá kinh tế đang diễn ra mạnh mẽ, mang lại nhiều lợiích và thúc đẩy phát triển kinh tế của nhiều quốc gia, trong đó có Việt Nam Tuynhiên, bên cạnh việc tạo ra một sân chơi rộng mở cho tất cả các thành viên thamgia, quá trình toàn cầu hoá cũng khiến cho các nước đang và kém phát triển phảiđối mặt với vô số rào cản thương mại do các nước phát triển dựng nên để bảo hộthị trường nội địa Trong đó, công cụ “kiện bán phá giá hàng xuất khẩu” đã vàđang là biện pháp bảo hộ hữu hiệu được các nước ưa dùng vì tránh được nhữngyêu cầu khắt khe của quốc tế về dỡ bỏ hàng rào thuế quan Do đó, trong các vụkiện, các nhà xuất khẩu đến từ các nước đang phát triển thường phải gánh chịunhững phán quyết không công bằng gây thiệt hại cho sản xuất trong nước cũngnhư ảnh hưởng tới nhiều khía cạnh khác của nền kinh tế
Việt Nam đang trong quá trình hội nhập toàn diện vào nền kinh tế toàn cầu,bằng chứng là việc Việt Nam đã ra nhập rất nhiều các tổ chức kinh tế khu vựccũng như quốc tế, điển hình là ASEAN, APEC và mới đây nhất Việt Nam chínhthức trở thành thành viên của Tổ chức thương mại quốc tế (WTO) từ đầu năm
2007 Quá trình hội nhập đã đem đến cho đất nước nhiều cơ hội thuận lợi để pháttriển nhưng cũng phải đối mặt với nhiều thách thức liên quan đến luật pháp quốc
tế trong thương mại Cũng như một số nước đang phát triển khác, trong các nămgần đây, Việt Nam liên tiếp phải đối mặt với các vụ kiện bán phá giá hàng xuấtkhẩu, các vụ kiện này đã gây ra nhiều thiệt hại cho các doanh nghiệp, đồng thờicũng đặt ra những khó khăn, thách thức cho cơ quan quản lý nhà nước trong việcnghiên cứu, đối phó với các vụ kiện
Mặc dù cho đến nay đã có một số đề tài, khoá luận nghiên cứu về vấn đềnày, tuy nhiên việc nghiên cứu một cách tổng thể về bán phá giá và chống bánphá giá cũng như kinh nghiệm của các nước có nền kinh tế phát triển tương đồng
Trang 6với Việt Nam từ đó rút ra những bài học và đề xuất những kiến nghị, giải pháp,chính sách giúp cho doanh nghiệp và Chính phủ Việt Nam có thể đối phó với các
vụ kiện bán phá giá hàng xuất khẩu vẫn là nhu cầu cấp thiết Do đó, tôi chọn đề
tài “Kinh nghiệm đối phó với các vụ kiện bán phá giá của Ấn Độ, Thái Lan
và bài học cho Việt Nam” làm đề tài tốt nghiệp khoá đào tạo sau đại học của
Trường Đại học Kinh tế Quốc Dân
2 Tổng quan các công trình nghiên cứu có liên quan
Kể từ sau khi thành lập tổ chức thương mại thế giới WTO đến nay(10/2012) Việt Nam trở thành bị đơn của nhiều vụ kiện chống bán phá giá.Chính vì thường xuyên phải đối mặt với các vụ kiện chống bán phá giá của nướcngoài một số công trình nghiên cứu biện pháp ứng phó với các vụ kiện, nghiêncứu chính sách chống bán phá giá,cách thức sử dụng biện pháp chống bán phágiá của các nước Dưới đây tóm lược một số nghiên cứu về chống bán phá giá,tác giả nhận thấy có liên quan trực tiếp chủ đề nghiên cứu của luận văn:
- Lê Quang Hòa ( 2007),“Kinh nghiệm đối phó với các vụ kiện bán phá giá trong thương mại quốc tế của các nước đang phát triển và bài học cho Việt Nam” : Nghiên cứu này phân tích tổng quan về bán phá giá, các quy định
liên quan đến bán phá giá trong thương mại quốc tế, kinh nghiệm một số quốcgia có mức độ phát triển tương đồng với Việt Nam trong việc chống kiện bánphá giá
- Nguyễn Hữu Trường Hưng (2011), “ Hoàn thiện hệ thống cảnh báo sớm về các vụ kiện chống bán phá giá hàng xuất khẩu nông sản của Việt Nam “: Phân tích hoạt khắc phục và đưa ra những đề xuất, giải pháp nhằm nâng
cao hiệu quả của hệ thống cảnh báo sớm các vụ kiện chống bán phá giá hàngxuất khẩu nông sản của Việt Namđộng của hệ thống cảnh báo sớm hiện nay từ
đó đánh giá những thành công và hạn chế cần
3 Mục đích và phạm vi nghiên cứu
Trang 7- Mục đích: Nghiên cứu kinh nghiệm đối phó với các vụ kiện bán phá giá
trên thế giới từ đó rút ra các bài học có thể vận dụng và không nên vận dụng đối vớiViệt Nam khi đối phó với các vụ kiện chống bán phá giá của các quốc gia trên thếgiới
4 Phương pháp nghiên cứu
Đề tài được thực hiện trên cơ sở phương pháp luận Maxit - biện chứng, kếthợp với phương pháp lịch sử, phân tích tổng hợp, so sánh đối chiếu, … và dựatrên cơ sở tham khảo những tư liệu thu thập được trên sách báo, tạp chí, mạngInternet, các tài liệu hội thảo có liên quan đến việc bán phá giá và chống bán phágiá; kết hợp với những kiến thức được học trong nhà trường để làm nền tảng lýluận cho việc nghiên cứu đề tài
5 Kết cấu của luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận và danh mục các tài liệu tham khảo, luận văn được chia làm 3 chương :
Chương 1: Tổng quan về bán phá giá và chống bán phá giá trong thương mại quốc tế.
Chương 2: Kinh nghiệm đối phó với những vụ kiện bán phá giá của Ấn Độ, Thái Lan
Chương 3: Phương hướng và giải pháp đối phó bán phá giá của Việt Nam trên
cơ sở kinh nghiệm của Ấn Độ và Thái Lan
Trang 8CHƯƠNG 1 TẦM QUAN TRỌNG CỦA VIỆC PHẢI ĐỐI PHÓ CÁC VỤ KIỆN CHỐNG BÁN PHÁ GIÁ ĐỐI VỚI
MỘT QUỐC GIÁ
1.1 Tình hình kiện bán phá giá và đối phó với việc bị kiện bán phá giá trên thế giới những năm gần đây
1.1.1 Vì sao các doanh nghiệp thực hiện bán phá giá hàng xuất khẩu
Hiện tượng bán phá giá có nguồn gốc khá sớm trong thực tiễn thương mạiquốc tế Các công ty đa quốc gia, các tập đoàn lớn đã sớm sử dụng “công cụ”bán phá giá để thâm nhập thị trường, giành thị phần hay thôn tính các đối thủcạnh tranh Với xu hướng toàn cầu hoá ngày càng diễn ra mạnh mẽ, bên cạnhnhững lợi ích thu được từ tự do hoá thương mại, các nước cũng phải đối mặt vớitình trạng bảo hộ, cạnh tranh không lành mạnh mà điển hình trong đó là việc đốiphó với tình trạng kiện bán phá giá hàng nhập khẩu của các nước đối tác
Để thâm nhập vào các thị trường mới, loại bỏ đối thủ cạnh tranh và chiếmlĩnh thị trường, doanh nghiệp xuất khẩu tiến hành bán phá giá sản phẩm tại nướcnhập khẩu Ví dụ như doanh nghiệp sản xuất ti vi Nhật Bản thỏa thuận giảmnăng suất, hạn chế số lượng sản phấm bán trong thị trường nội địa nhằm tăng giábán để đạt lợi nhuận cao hơn Trong khi đó số lượng hàng hóa dư thừa sẽ đượcdùng để xuất khẩu sang thị trường mới Lợi nhuận thu được từ bán hàng hóa vớigiá cao trong nước sẽ bù đắp phần lỗ từ việc bán phá giá hàng xuất khẩu Nhưvậy doanh nghiệp vừa kiếm được lợi nhuận vừa mở rộng được thị phần bán hàngtrong thương mại quốc tế
Hoặc doanh nghiệp xuất khẩu bán phá giá hàng hóa vì muốn thu được lợinhuận đối đa Giả sử một công ty sản xuất 1 triệu chiếc xe đạp trong 1 năm bằngmột nhà máy duy nhất với chỉ làm ca ban ngày Công ty định giá bán xe đạp trênthị trường nội địa là 10 USD/ chiếc và lãi 1USD/ chiếc Trong đó chi phí cố định
Trang 9( khấu hao máy móc thiết bị, nhà xưởng…) là 2 USD/ chiếc, chi phí biến đổi(nguyên vật liệu, tiền lương công nhân…) là 7 USD/ chiếc Nếu nhà máy bán hết
1 triệu chiếc xe đạp mỗi năm lãi 1 USD/ chiếc thì rõ ràng đã bù đắp được mọichi phí cố định từ doanh thu bán hàng tại thị trường nội địa Để tận dụng nhàxưởng máy móc, công ty có kế hoạch bán thên xe đạp sang thị trường nước khác
Để thu được lợi nhuận công ty có thể bán giá cao hơn chi phí biến đổi (do chiphí cố định đã được bù đắp bởi 1 triệu sản phẩm bán trong nước) và thấp hơn 10USD Bây giờ, nhà máy có thể làm thêm ca đêm và sản xuất 0,5 triệu sản phẩmnữa Nếu xuất khẩu 0,5 triệu chiếc xe đạp sang thị trường nước láng giềng vớichi phí xuất khẩu là 1 USD/chiếc và giá bán tại thị trường nước nhập khẩu là 9USD/chiếc, công ty vẫn thu được mức lãi chênh lệch giữa giá bán và chi phí biếnđổi cộng với chi phí xuất khẩu là 1 USD/chiếc (do chi phí cố định không thayđổi), tổng lãi thu thêm là 0,5 triệu USD Tuy nhiên có một điều kiện đặt ra làviệc bán sảm phẩm ca đêm không được làm ảnh hưởng tới giá bán của 1 triệusản phẩm ban ngày Do đó công ty phải tìm kiếm một thị trường khác hẳn với thịtrường ca ngày đồng thời phải đảm bảo người mua ở thị trường mới không dễ gìchuyển hàng ngược lại thị trường trong nội địa (tức là phải định giá bán ở thịtrường mới sao cho chênh lệch giá không đủ bù đắp chi phí theo chiều ngược lại)nếu không giá ở thị trường nhập khẩu sẽ ảnh hưởng đẩy giá ở thị trường nội địaxuống
Ngoài ra, còn do các lý do kinh tế, chính trị khác như là thu ngoại tệ mạnh,lũng đoạn nền kinh tế nước nhập khẩu…
Để bảo vệ nền kinh tế nội địa trước sự thâm nhập ồ ạt của hàng hoá từ bênngoài, các nước luôn có xu hướng đưa ra nhiều biện pháp, hàng rào thuế quan vàphi thuế quan nhằm hạn chế số lượng hàng nhập khẩu Trong khi đó, các ngànhcông nghiệp nội địa lại rất nhanh nhạy và ngày càng nhận thức được vai trò vàhiệu quả của các biện pháp bảo hộ, nhất là các biện pháp kiện chống bán phá giá,biện pháp này vừa giúp họ loại bỏ sự cạnh tranh của hàng nhập khẩu vừa giúp
Trang 10cho quốc gia đó hợp pháp hoá các công cụ bảo hộ mà không đi ngược lại nhữngcam kết dỡ bỏ các hàng rào thương mại theo quy định quốc tế
Chính vì lẽ đó mà trên thế giới ngày nay, các quốc gia có xu hướng giatăng sử dụng biện pháp phòng vệ thương mại chống bán phá giá, bởi biện phápnày được tổ chức thương mại thế giới cho phép áp dụng như một công cụ hỗ trợhợp pháp Năm 1904 lần đầu tiên Canada áp dụng cơ chế chống bán phá giá vàđến năm 1967 thì GATT giới thiệu hiệp định đầu tiên về chống bán phá giá
1.1.2 Định nghĩa về bán phá giá
Trước hết ta phải xác định, bán phá giá không đồng nghĩa với bán hàng hoágiá rẻ Một nước có thể xuất khẩu hàng hoá tới nước khác và bán với giá rẻ hơngiá hàng hoá cùng loại tại nước nhập khẩu, nếu giá bán không thấp hơn giá báncủa hàng hoá đó trên thị trường nước xuất khẩu thì hành động đó không được coi
là bán phá giá
Bán phá giá trong thương mại quốc tế được hiểu là biểu tượng bán hànghóa vào thị trường nước ngoài với giá thấp hơn chi phí sản xuất hoặc thấp hơngiá trị thông thường của loại hàng hóa đó
Theo Từ điển Kinh tế học hiện đại - Nhà xuất bản Prentice Hall xuất bảnđược Nhà xuất bản Chính trị quốc gia và Trường Ðại học Kinh tế Quốc dân ViệtNam dịch ra Tiếng Việt, ấn hành năm 1999, đã đưa ra định nghĩa “Bán phá giá làviệc bán một hàng hoá ở nước ngoài ở mức giá thấp hơn so với mức giá ở thịtrường trong nước"
Tại Mỹ, bán phá giá được hiểu là việc bán hàng tại thị trường Mỹ với giáthấp hơn mức giá hàng hoá so sánh tại thị trường nội địa của nước xuất khẩu
và việc bán các mặt hàng đó gây thiệt hại vật chất đối với ngành sản xuấttrong nước Trong khi, theo quan điểm của Liên minh Châu ÂU (EU) xácđịnh hành vi bán phá giá dựa trên cơ sở tính toán chi phí sản xuất và các thiệthại do hành động bán phá giá đó đem lại
Bên cạnh các quy định liên quan đến bán phá giá của mỗi quốc gia, trên
Trang 11bình diện quan hệ thương mại đa biên, Hiệp định chung về thuế quan và thươngmại (GATT) năm 1947 là văn kiện pháp lý quốc tế đầu tiên quy định về vấn đềnày Theo điều VI của Hiệp định quy định "Các bên ký kết nhận thấy rằng bánphá giá, với việc sản phẩm của một nước được đưa vào kinh doanh trên thịtrường của một nước khác với giá thấp hơn trị giá thông thường của sản phẩm,phải bị lên án nếu việc đó gây ra hoặc đe doạ gây ra thiệt hại vật chất cho mộtngành công nghiệp trên lãnh thổ của một bên ký kết hay thực sự làm chậm trễ sựthành lập một ngành công nghiệp nội địa"
Theo đó, Hiệp định chống bán phá giá của WTO đã định nghĩa : “Một sản phẩm bị coi là bán phá giá (tức là được đưa vào lưu thông thương mại của một nước khác thấp hơn trị giá thông thường của sản phẩm đó) nếu như giá xuất khẩu của sản phẩm được xuất khẩu từ một nước này sang một nước khác thấp hơn mức giá có thể so sánh được của sản phẩm tương tự được tiêu dùng tại nước xuất khẩu theo các điều kiện thương mại thông thường".
VD1: Nhà sản xuất bật lửa Trung Quốc bán bật lửa tại thị trường nội địavới giá 0.5 USD/chiếc, nếu nhà sản xuất này cũng bán loại bật lửa cùng loại tớimột nước khác và bán với giá 0.3 USD/chiếc, thì người bán đó đã thực hiện hành
vi bán phá giá
Trong định nghĩa này ta cần chú ý đến thuật ngữ ‘giá trị thông thường”, vìviệc xác định hành vi bán phá giá được dựa trên việc tính toàn giá trị thôngthường Theo WTO có 03 cách để xác định giá trị thông thường đó là :
+ Giá cao nhất của sản phẩm tương tự dành cho xuất khẩu đến bất cứ mộtnước thứ ba nào trong tiến trình thương mại thông thường, hoặc:
+ Giá thành sản xuất ra sản phẩm tại nước xuất xứ có cộng thêm một mứctính hợp lý chi phí bán hàng và lợi nhuận
+ Mức giá mà nhà xuất khẩu bán tại nước thứ 3 sau khi tính toán lại các chiphí về vận chuyển, quản lý, bán hàng
1.1.3 Đặc điểm của hành vi bán phá giá
Trang 12- Bán phá giá là hành vi cạnh tranh thương mại không lành mạnh: bóp
méo hoạt động thương mại bình thường, GATT cũng như WTO đều cho phépcác quốc gia áp dụng những biện pháp mang tính “phòng vệ” để ngăn chặn vàhạn chế hậu quả hiện tượng này, nhằm bảo vệ nền sản xuất nội địa, loại bỏ đốithủ, hạn chế cạnh tranh đúng pháp luật Bất chấp việc bán phá giá hàng xuấtkhẩu trong thương mại quốc tế sẽ không đem lại lợi ích về vật chất trong ngắnhạn cho công ty, nhưng hành vi bán phá giá vẫn được các doanh nghiệp sử dụngnhư một công cụ hữu hiệu để chiếm lĩnh hay thâm nhập thị trường mới, loại bỏđối thủ cạnh tranh…
- Bán phá giá là hành vi có tính chất doanh nghiệp: về bản chất, bán phá
giá trong thương mại quốc tế là hành vi bán giá hàng hoá xuất khẩu thấp hơn giátiêu thụ nội địa Tuy nhiên việc bán với mức giá thấp hơn là quyết định của mỗidoanh nghiệp chứ không bị tác động bởi Nhà nước Do đó, khác với hiện tượngtrợ cấp Nhà nước, bán phá giá là hành vi có tính chất doanh nghiệp Điều nàydẫn đến việc bản thân GATT cũng như các hiệp định của WTO sau này, baogồm cả Hiệp định ADP là những điều ước quốc tế giữa các quốc gia, cũng khôngđiều chỉnh trực tiếp các hành vi thương mại tư nhân này
- Bán phá giá mang tính thời điểm: chỉ bán phá giá trong một khoảng thời
gian nhất định, sau khi đạt được mục đích thì các doanh nghiệp điều chỉnh giábán tại thị trường nhập khẩu
- Dưới góc độ kinh tế, việc bán phá giá không phải không đem lại những lợi ích nhất định: dưới góc độ của nước xuất khẩu, bán phá giá tạo điều kiện cho
nhà sản xuất có điều kiện phát huy tối đa năng lực sản xuất, khả năng tăng lợinhuận và thâm nhập thị trường mới; dưới góc độ của nước nhập khẩu, người tiêudùng có điều kiện hưởng lợi về giá cả Có lẽ đó chính là một trong những lý do
mà không phải bất cứ hành vi bán phá giá nào cũng bị lên án
Qua những phân tích như trên, rõ ràng hành vi bán phá giá hàng xuất khẩu
đã gây ra thiệt hại cho ngành sản xuất sản phẩm đó trong nội địa Trên bình diện
Trang 13quốc tế hay ở mỗi quốc gia đều cho rằng bán phá giá là hành vi cạnh tranhthương mại không lành mạnh, do đó các nước đều ban hành những văn bản phápluật điều chỉnh hành vi bán phá giá và các biện pháp chống bán phá giá
cụ thể là gây ra tổn thất vật chất cho ngành sản xuất hàng hoá đó xét trên cả góc
độ vi mô, và cho toàn nền kinh tế nước nhập khẩu trên góc độ vĩ mô
Trên góc độ vĩ mô, khi một ngành sản xuất của một quốc gia bị tổn thất sẽdẫn đến việc phá sản của nhiều doanh nghiệp thuộc ngành đó Điều này khôngchỉ gây ra sự thiệt hại về kinh tế mà còn ảnh hưởng đến các vấn đề xã hội, cụ thểkhi các doanh nghiệp phá sản sẽ kéo theo đó là tình trạng mất việc làm của côngnhân, khiến tỷ lệ thất nghiệp tăng, xuất hiện sức ép đối với toàn xã hội, đồng thời
có các tác động “lan chuyền” sang các ngành kinh tế khác như tài chính, ngânhàng, ngành công nghiệp sản xuất cơ bản, các ngành cung cấp đầu vào cho sảnxuất
Trên góc độ vi mô, đối mặt với hiện tượng bán phá giá, doanh nghiệp sẽ bịmất thị trường và mất lợi nhuận Đây thực sự là mối lo ngại không chỉ của cácnước phát triển mà của cả các nước đang phát triển, vì lợi thế so sánh của cácnước luôn thay đổi và cạnh tranh ngày càng trở nên gay gắt hơn trên thị trườngquốc tế Có thể minh họa tác động của bán phá giá như sau :
Hình 1.1: Tác động của bán phá giá
Q 2
P P
Q
S
E Trang 14- Giả sử thị trường trong nước mang tính cạnh tranh và cân bằng cung cầu xảy
ra tại điểm E với giá cân bằng là P1 và sản lượng cân bằng là Q1 Lúc này, thặng dưsản xuất là diện tích tam giác P1EB, và thặng dư tiêu dùng là diện tích tam giác
P1EA
- Nếu hàng nhập khẩu vào bán phá giá với mức giá là P2 thấp hơn mức giá
P1 thìlượng cầu đối với hàng hoá đó sẽ tăng lên đạt giá trị Q3 Tại mức giá P2 này,ngành sản xuất trong nước chỉ có thể sản xuất một lượng là Q2 Lượng hàng nhậpkhẩu sẽ là (Q3-Q2)
Theo phân tích kinh tế học dễ dàng nhận thấy rằng, thặng dư sản xuất bâygiờ chỉ còn là tam giác P2IB , nhỏ hơn so với tam giác P1EB trước kia Tuynhiên, thặng dư tiêu dùng là diện tích tam giác AKP2 lớn hơn thặng dư tiêu dùngtrước kia là tam giác AEP1 Toàn xã hội sẽ được lợi hơn một khoảng là diện tíchtam giác EIK
Như vậy ta có thể thấy, việc bán phá giá hàng nhập khẩu tại một quốc giatạo ra 02 tác động trái chiều, vừa đem lại lợi ích cho người tiêu dùng nhưng lạigây thiệt hại cho các nhà sản xuất nội địa, do đó việc xem xét khởi kiện bán phágiá hàng nhập khẩu không chỉ tính đến yếu tố các nhà sản xuất mà còn phải đánhgiá toàn bộ tác động đối với nền kinh tế (đặc biệt với các sản phẩm mà nướcnhập khẩu không có lợi thế sản xuất)
1.2 Đặc điểm của các vụ kiện chống bán phá giá trên thế giới
Trang 151.2.1 Các vụ kiện thường nhằm vào nước có nền kinh tế đang phát triển
Ta có thể thấy rằng, tình trạng các nước phát triển khởi kiện các nước đangphát triển bán phá giá chiếm phần lớn trong tổng số các vụ kiện Nguyên nhân là
do, các nền kinh tế đang phát triển chưa có được bộ máy pháp lý, cũng như các
cơ quan chức năng hỗ trợ doanh nghiệp đồng bộ và chưa hoàn thiện Một đặcđiểm quan trọng nữa đó là do vị thế của các nước đang phát triển trong thươngmại quốc tế thấp và phải phụ thuộc nhiều vào thị trường nước nhập khẩu, không
có những biện pháp trả đũa thương mại thích hợp Với những lợi thế như trên,phán quyết của nước khởi kiện luôn được áp dụng một cách dễ dàng mà khôngphải cân nhắc nhiều đến lợi ích trong quan hệ thương mại giữa 02 nước Do đó,trong các vụ kiện phần thiệt thòi luôn thuộc về các nước đang phát triển
Theo bảng dưới thì có tới 62% số vụ kiện chống bán phá giá là nhằm tớicác nước đang phát triển, tập trung chủ yếu ở khu vực Châu Á như TrungQuốc, Hàn Quốc, Đài Loan, Thái Lan, Indonesia, Ấn Độ … Trong đó TrungQuốc là nước đang phát triển có tỷ lệ các vụ kiện chống bán phá giá chiếmđến gần 22% Các nước đang phát triển khác tuy số lượng và tỷ lệ số vụ kiện
ít hơn, chỉ chiếm khoảng 5% tổng số vụ kiệ , song đây cũng là một dấu hiệucảnh báo rằng các nước đang phát triển sẽ trở thành các bị đơn chính trong các
vụ kiện chống bán phá giá trên thế giới
Bảng 1.1 Thống kê 10 nước bị kiện bán phá giá nhiều nhất giai đoạn 1995 – 2011
Trang 16Nguồn :Báo cáo thống kê về các vụ kiện bán phá giá trong thương mại quốc tế giai
đoạn 1995-2011 của Ban thư ký của WTO
Tuy là những quốc gia bị kiện nhiều song các nước đang phát triển cũngđang ngày sử dụng biện pháp chống bán phá giá nhiều hơn Theo thống kê củaWTO giai đoạn 1995 đến 31/12/2011 thì trong số 10 nước khởi kiện bán phá giánhiều nhất, Ấn Độ đứng đầu với 656 vụ kiện chiếm 16,6%, tiếp theo là ,Argentina, Thổ Nhĩ Kỳ, Trung Quốc… Ấn Độ là nước sử dụng nhiều nhất công
cụ chống bán phá giá với các sản phẩm nhập khẩu vào nước này Ấn Độ đã sửdụng khá tốt công cụ này để bảo hộ cho ngành sản xuất nội địa, tuy rằng hiệnnay ngành này lại nằm trong tay của một số doanh nghiệp chủ chốt tại Ấn Độ.Theo quy định của Ấn Độ thì chỉ những luật sư của Ấn Độ mới được tham giavào các vụ kiện chống bán phá giá mà Ấn Độ tiến hành Điều này tạo điều kiện
Trang 17cho các luật sư của Ấn Độ có nhiều kinh nghiệm hơn khi tham gia các vụ kiệnchống bán phá giá trên thế giới
Kiện chống bán phá không còn là công cụ của nước phát triển mà ngày naycác nước đang phát triển cũng học hỏi và sử dụng nhiều để trừng phạt các doanhnghiệp bán phá giá ảnh hưởng nghiêm trọng đến hoạt động kinh tế, sản xuất củanước nhập khẩu
Bảng 1.2 Thống kê 10 nước khởi kiện bán phá giá nhiều nhất giai đoạn 1995-2011
Nguồn :Báo cáo thống kê về các vụ kiện bán phá giá trong thương mại quốc tế giai
đoạn 1995-2011 của Ban thư ký của WTO
1.2.2 Phản ứng dây chuyền
Có một thực tế là khi các nền kinh tế lớn như Mỹ, EU, Canada… tiến hànhđiều tra và áp dụng các biện pháp chống bán phá giá đối với hàng hoá, sản phẩm
Trang 18của một nước thì ngay lập tức sẽ gây ra phản ứng dây chuyền và tác động mạnh,tiêu cực đến các ngành công nghiệp khác của nước đó hoặc của các quốc giakhác VD trường hợp Hàn Quốc kiện chống bán phá giá bật lửa gas sau khi EUchính thức khởi kiện Việt Nam sản phẩm đó [7]; hay như Argentina kiện chốngbán phá giá xe đạp nam hoa sau khi EU chính thức khởi kiện Việt Nam sảnphẩm đó.
Ngoài ra, hàng hoá của các nước đang phát triển bị điều tra bán phá giá còn
bị gắn với hàng hoá xuất khẩu cùng loại của một số nước khác nhưng có kimngạch lớn hơn Trong các trường hợp này, hàng xuất khẩu đến từ 01 nướcđang phát triển có kim ngạch không cao nên hầu như không gây thiệt hại đếncác nhà sản xuất tại các nước nhập khẩu Tuy nhiên, các nước thường tínhgộp sản lượng xuất khẩu của các nước đang phát triển để tiến hành khởi kiện
và nhân tiện đánh thêm thuế chống bán phá giá đối với hàng hoá đến từ phầnlớn các nước có sản phẩm xuất khẩu Ví dụ: Canada mở rộng đánh thêmhàng Việt Nam trong vụ kiện bán phá giá tỏi trong khi khối lượng xuất khẩutỏi của Việt Nam sang Canada không bằng 1/10 mức bình quân của TrungQuốc, hay trong trường hợp Ba Lan đánh thuế chống bán phá giá đối với bậtlửa Trung Quốc và Đài Loan; tương tự như vậy trong trường hợp EU kiệnbán phá giá bật lửa Trung Quốc, Việt Nam cũng bị ảnh hưởng
1.2.3 Các nước đang phát triển thường phải đối mặt với vấn đề nền kinh tế phi thị trường ( NME) trong các vụ kiện bán phá giá
Thực tế cho thấy phần lớn các nước bị áp đặt quy chế nền kinh tế phi thịtrường (NME) đều là những nước đang phát triển hoặc là những nước có nềnkinh tế chuyển đổi (EIT) Cho đến nay các nước bị coi là NME bao gồm hầu hết
là các nước đang phát triển như: Albania, Armenia, Azerbaizan, Belarus,Bungari, Cộng hoà Séc, Trung Quốc, Estonia, Georgia, Bungari, Việt Nam… Khi một nước bị coi là có nền kinh tế phi thị trường thì các nhà xuất khẩu
Trang 19của nước đó sẽ gặp phải sự bất lợi vô cùng lớn trong các cuộc điều tra chống bánphá giá do ba nguyên nhân chính sau:
Thứ nhất, việc sử dụng giá và chi phí sản xuất tại nước thay thế sẽ dẫn đếnbiên độ bán phá giá rất cao Mức biên độ bán phá giá cao này gần như là chắcchắn, vì các nhà sản xuất tại nước thay thế đang cạnh tranh với các nhà xuấtkhẩu tại nước bị coi là nền kinh tế phi thị trường và do đó, sẽ không có lợi cho
họ trong việc giảm thiểu việc tìm ra yếu tố bán phá giá của các nhà cạnh tranhcủa họ
Thứ hai, việc sử dụng các số liệu của nước thay thế cũng dẫn đến việcnhiều lợi thế so sánh của nước có nền kinh tế phi thị trường không được xem xéttrong quá trình điều tra và các doanh nghiệp của nước này bị áp dụng một mứcthuế chống bán phá giá mà lẽ ra, có thể tránh được nếu được coi là một nước có
nền kinh tế thị trường (Do Trung Quốc bị coi là một nền kinh tế phi thị trường nên Trung Quốc đang trở thành mục tiêu số một của các điều tra chống bán phá giá trên thế giới Kể từ khi gia nhập WTO đến nay, mỗi năm Trung Quốc chịu 20
vụ kiện chống bán phá giá Chỉ tính riêng tại Hoa Kỳ, hiện nay hơn 50 loại sản phẩm của Trung Quốc đang phải chịu thuế chống bán phá giá của Hoa Kỳ, từ
đồ gỗ nội thất phòng ngủ, giấy kếp, tivi màu đến tôm, bàn ủi, túi nhựa ) [28].
Thứ ba, việc lựa chọn nước thay thế nhiều khi rất tuỳ tiện Pháp luật củacác nước quy định không giống nhau về việc xác định nước thay thế Ví dụ, theopháp luật Hoa Kỳ thì nước thay thế là nước có nền kinh tế thị trường, có trình độphát triển tương đương với nước bị kiện (chủ yếu dựa vào thu nhập quốc dânbình quân đầu người) và là nước sản xuất đáng kể mặt hàng tương tự như mặthàng đang bị điều tra Pháp luật của EC lại có quy định khác về nước thay thế.Quy định về chống bán phá giá của EC sử dụng khái niệm “quốc gia tương tự”theo đó quốc gia này phải là một nước có nền kinh tế thị trường và có các tiêuchuẩn so sánh phù hợp, nhưng không nhất thiết phải có trình độ phát triển tương
Trang 20đương với các quốc gia có nền kinh tế phi thị trường có mặt hàng đang bị điềutra Có thể thấy rằng, những quy định này khá chung chung, do vậy trên thực tếviệc lựa chọn nước thay thế có thể có phần nào mang tính chủ quan, cộng vớiviệc lựa chọn giá thay thế (cũng có thể phần nào mang tính chủ quan) sẽ ảnh
hưởng đáng kể đến kết quả tính biên độ phá giá (Ví dụ, trong cuộc điều tra bán phá giá giày da của Việt Nam năm 2006, EC chọn Brazil làm quốc gia thay thế, còn trong cuộc điều tra bán phá giá xe đạp của Việt Nam năm 2005 thì EC lại đối chiều xe đạp của Việt Nam với xe đạp được sản xuất tại San Luis Potosi, Mexico) [34].
Cho đến nay, trong GATT và AD không có một định nghĩa nào về thuậtngữ NME nên việc phán quyết được thuộc phạm vi quốc gia Do vậy đối vớicùng một nước tại cùng một thời điểm có thể bị coi là có nền kinh tế thị trườnghoặc phi thị trường phụ thuộc vào các diễn giải về tiêu chuẩn do các cơ quanthẩm quyền nước nhập khẩu đưa ra
Bảng so sánh sau cho thấy tính đơn phương áp đặt các tiêu chí xác địnhNME của hai nền kinh tế lớn Do các nước chủ quan áp đặt các tiêu chí vàphương pháp xác định NME nên việc một quốc gia có thể là kinh tế thị trườngđối với nước này nhưng lại là kinh tế phi thị trường đối với nước khác
Bảng 1.3 :Bảng so sánh tiêu chí xác định nền kinh tế phi thị trường
của EU và Mỹ
(1) Khả năng chuyển đổi của đồng nội tệ
sang các đồng tiền khác
(1) Tỷ giá được xác định theo giá thị trường
(2) Mức độ tiền lương được tự do thoả thuận
giữa người lao động và người quản lý
(2) không có điều khoản tương tự
(3) Mức độ mà các liên doanh hoặc các
khoản đầu tư nước ngoài khác được phép
(3) không có điều khoản tương tự
Trang 21hoạt động trên lãnh thổ nước sở tại.
(4) Mức độ sở hữu hoặc kiểm soát của
Chính phủ đối với các tư liệu sản xuất
(4) Các quyết định của doanh nghiệp về giá, chi phí, đầu vào được thực hiện theo cung cầu của thị trường, không có
(5) Mức độ kiểm soát của Chính phủ đối với
phân bổ nguồn vốn, các chính sách về giá và
tiêu thụ của doanh nghiệp.
(5) Sự can thiệp rõ rệt của Nhà nước, giá của các nguyên liệu đầu vào chính, về cơ bản, thể hiện giá thị trường
(6) Các yếu tố khác mà cơ quan tiến hành
điều tra xét thấy cần thiết
(6) Không có điều khoản tương tự
(7) Không có điều khoản tương tự (8)Các doanh nghiệp có hệ thống sổ sách kế
toán độc lập, phù hợp tiêu chuẩn quốc tế, được dùng cho mọi mục đích
(9) Không có điều khoản tương tự (9)Chi phí sản xuất và tài chính doanh
nghiệp không bị bóp méo do hậu quả của hệ thống kinh tế phi thị trường trước đây, đặc biệt là đối với việc khấu hao tài sản cố định, xoá và bù nợ…
(10)Không có điều khoản tương tự (10)Doanh nghiệp chịu sự điều chỉnh của
luật sở hữu và phá sản
Chính phủ các nước bị coi là NME luôn nỗ lực xoá bỏ tình trạng phánquyết bất công này, tuy nhiên việc xoá bỏ danh sách NME gặp rất nhiều khókhăn từ phía các nước phát triển (đặc biệt là Mỹ và EU) Có thể thấy rằng nhữngnước XHCN cũ có xu hướng thân "phương Tây" được "ưu tiên" xoá bỏ quy chếnày, trong khi các nước còn lại đều rất khó khăn để đạt được mục đích này Tính đến tháng 4 năm 2012 có 20 quốc gia đã công nhận nền kinh tế củaViệt Nam là nền kinh tế thị trường Tuy vậy, Việt Nam và Mỹ đã có cam kết sẽcông nhận Việt Nam là nước có nền kinh tế thị trường 12 năm kể từ thời điểm ranhập WTO của Việt Nam, trong khi thời hạn này của Trung Quốc là 15 năm [7].Như vậy, địa vị nền kinh tế phi thị trường sẽ chỉ ảnh hưởng đến các doanh
Trang 22nghiệp Việt Nam trong hai lĩnh vực là chống bán phá giá và các biện pháp đốikháng Trong trường hợp một thành viên của WTO nhận định rằng, việc sử dụngchi phí và giá cả tại Việt Nam là không hợp lý thì Việt Nam sẽ phải chấp nhậncác quy chế riêng cho một nền kinh tế phi thị trường khi áp dụng Hiệp địnhChống bán phá giá và Hiệp định về Trợ cấp và các biện pháp đối kháng củaWTO.
Trong khi đó, EU đã từng bước công nhận nền kinh tế Việt Nam, trong các
vụ kiện bán phá giá EU coi Việt Nam là nước có nền kinh tế chuyển đổi Đây làvấn đề hết sức quan trọng vì nếu như Việt Nam bị coi là NME thì các chi phí sảnxuất của Việt Nam sẽ không được tính đến Thêm vào đó, nếu là một nước cónền kinh tế đang trong quá trình chuyển đổi thì một hoặc một số doanh nghiệpriêng lẻ có thể tuyên bố tình trạng công ty đang hoạt động tuân theo nguyên tắcthị trường Do đó, với tư cách cả nền kinh tế xét trên tổng thể thì Việt Nam bị coi
là NME, nhưng từng doanh nghiệp vẫn có thể được coi là hoạt động theo quychế thị trường nếu công ty đó tuân thủ đầy đủ các tiêu chí mà EU đã đặt ra
Điểm quan trọng nhất là khi một quốc gia bị phán quyết là nền kinh tế phithị trường đó là chi phí sản xuất trong thực tế sẽ không được tính đến thay vào
đó nước khởi kiện sẽ chọn một quốc gia được coi là có nền kinh tế thị trường cómức phát triển tương xứng với nước bị kiện để so sánh chi phí sản xuất Do đó,gây thiệt thòi rất lớn cho các bị đơn của nước bị kiện không có cơ hội để chứngminh chi phí sản xuất thực tế của mình cũng như các lợi thế so sánh khác về tàinguyên, lao động… sẽ không được tính đến trong quá trình điều tra Trên thựctiễn các vụ chống bán phá giá, các nước bị phán quyết NME thường phải gánhchịu một biên độ phá giá cao đặc biệt
Cho đến nay, khi hệ thống xã hội chủ nghĩa ở Đông Âu sụp đổ, các quyđịnh liên quan đến NME không còn trở nên phổ biến nhưng vẫn bị một số quốcgia lợi dụng để xem xét đánh giá các nền kinh tế phi thị trường để làm cơ sở điềutra và kết luận trong các vụ kiện bán phá giá
Trang 23Về phương pháp tiến hành việc xác định NME và EU cũng khác nhau.Theo luật thuế quan 1930 cỷa Mỹ, Bộ Thương mại có thể tiến hành điều tra xácđịnh về NME đối với bất kỳ nước nào và vào bất kỳ lúc nào Trong khi đó,phương pháp của EU mang tính chủ quan hơn EU công bố danh sách các nướctheo họ là NME nhưng không đưa ra các tiêu chí rõ ràng Trong điều luật ECRegulation N 2238/2000 công bố tháng 10/2000, danh mục này chỉ còn 12 nướctrong đó có Bắc Triều Tiên, Albania và một số nước CH thuộc Liên Xô cũ ViệtNam tuy chưa được coi là nước có nền kinh tế thị trường nhưng theo Điều luậtnày đã được EU xếp vào danh sách cùng Trung Quốc, Nga, Ucraina,Kazakhstan hưởng quy chế kinh tế thị trường hạn chế Quy chế này cho phéptừng nhà sản xuất của Việt Nam được căn cứ vào các tiêu chí như nêu trongbảng trên để yêu cầu được hưởng quy chế “ngành công nghiệp theo chơ chếthị trường”(MOI) Trong vụ kiện chống bán phá giá của EU đối với đèn ốngcủa Trung Quốc, một số doanh nghiệp giành được MOI đã tránh được việc bị
áp đặt thuế chống bán phá giá Trong khi, các doanh nghiệp khác không đượchưởng quy chế này phải chịu các mức thuế chống bán phá giá từ 30-75%
1.2.4 Thực chất việc áp thuế chống bán phá giá cũng là một hình thức bảo
hộ trong thương mại của nước nhập khẩu
Kể từ năm 1995, song song với tự do hóa thương mại toàn cầu, ngày càngnhiều quốc gia đang phát triển áp dụng biện pháp chống bán phá giá, nổi bật lên
là Trung Quốc và Ấn Độ Điều này là hệ quả của việc hạ thấp hàng rào thuếquan và mở cửa thị trường của rất nhiều quốc gia trên thế giới sau khi vòng đàmphán Urugoay kết thúc Vì vậy nước nhập khẩu cần bảo hộ các ngành sản xuấtnội địa không thể cạnh tranh được với các nhà sản xuất nước ngoài và đưa ra cácbiện pháp để khắc phụ thiệt hại mà doanh nghiệp trong nước phải gánh chịu dothương mại bất bình đẳng
Hiện nay, Ấn Độ là nước sử dụng các biện pháp chống bán phá giá nhiềunhất đối với các hàng hóa nhập khẩu vào quốc gia này Ở Ấn Độ, chính các nhà
Trang 24sản xuất được bảo hộ độc quyền trước khi dành độc lập đã đứng ra đệ đơn kiện
áp dụng các biện pháp chống bán phá giá sau khi dành độc lập, hầu hết các đơnkiện chống bán phá giá được nộp bởi một nhà sản xuất có thị phần lớn hơn 90% Trên thực tế, các nước phát triển áp dụng biện pháp này nhiều hơn Dohàng hóa từ những nước đang phát triển có chi phí thấp nên giá bán thấp Việc
sử dụng biện pháp chống bán phá giá là tùy thuộc vào nước nhập khẩu, do vậyngày nay các nước phát triển và đang phát triển ngày càng sử dụng nhiều hơnchính sách bảo hộ mới, chống bán phá giá cho các ngành sản xuất nội địa cònnon trẻ
Từ những phân tích trên đây có thể đi đến các kết luận sau:
- Biện pháp chống bán phá giá được các nước sử dụng khá phổ biến trongthương mại quốc tế và coi đó là công cụ hữu hiệu để bảo hộ sản xuất trong nước
- Các nước đang phát triển hoặc có nền kinh tế chuyển đổi vừa là mục tiêutấn công, vừa là những nước đã và đang tận dụng triệt để công cụ chống bán phágiá
- Các cuộc điều tra chống bán phá giá có xu hướng tập trung vào một sốngành nhất định, thường là những ngành trong đó có chênh lệch về năng lực cạnhtrang giữa hàng hoá nội địa và hàng hoá nhập khẩu
1.2.5 Khung thời gian giành cho việc điều tra hạn chế
Như trên đã nói, theo quy định của pháp luật chống bán phá giá của nhiềunước trên thế giới, thời gian điều tra thường được quy định hết sức gấp rút vàchặt chẽ Chính vì vậy, trong thời gian ngành công nghiệp nội địa của nước nhậpkhẩu chuẩn bị thu thập hồ sơ để khởi kiện là thời gian rất quan trọng và cần thiết
để các doanh nghiệp bị kiện hoặc tự mình chuẩn bị, hoặc thuê luật sư hướng dẫnchuẩn bị cho việc phản bác điều tra và chuẩn bị kháng kiện
Theo quy định của WTO, thì tổng thời gian dành cho cả quá trình điều tra
vụ việc chống bán phá giá phải được kết thúc trong vòng 18 tháng kể từ ngàyđầu tiên điều tra Pháp luật chống bán phá giá của EU, Hoa Kỳ và phần lớn các
Trang 25thành viên của WTO cũng tuân thủ nghiêm ngặt quy định về thời gian này Mụcđích của việc đưa ra khung thời gian chặt chẽ như vậy là do WTO muốn đưa rasức ép cho các cơ quan điều tra hoặc bên khởi kiện không được cố tình kéo dài
vụ kiện và không được đưa ra quá nhiều yêu cầu phức tạp, không cần thiết trongquá trình xử lý vụ kiện mà tác động của nó sẽ làm giảm đi những thuận lợi củahoạt động thương mại quốc tế
Đặc biệt trong các vụ kiện chống bán phá giá có áp dụng quy chế nền kinh
tế phi thị trường thì khoảng thời gian hạn chế này cũng là một trong những sức
ép lớn đối với nhà sản xuất/xuất khẩu của các nước NME, vì các yêu cầu vềthông tin, dữ liệu là rất nhiều và rất phức tạp Theo đó, các nhà sản xuất/xuấtkhẩu NME cần phải trả lời đầy đủ một khối lượng thông tin lớn và phức tạp theoyêu cầu của “Bản câu hỏi xin hưởng quy chế nền kinh tế thị trường” chỉ trongvòng 15 ngày theo quy định của pháp luật chống bán phá giá của EU và Bản câuhỏi xin hưỏng mức thuế suất riêng rẽ trong vòng 30 ngày theo quy định của phápluật Hoa Kỳ Ngoài ra, theo quy định của EU, các doanh nghiệp còn cần phải trảlời các thông tin vào “Bản câu hỏi chọn mẫu” để lựa chọn doanh nghiệp nào sẽtrở thành bị đơn bắt buộc trong vụ kiện, trong khi thời gian dành cho việc trả lờinày chỉ có 15 ngày Chính vì vậy những yêu cầu quá cao đối với thông tin cần trảlời và đệ trình liên quan đến toàn bộ hoạt động sản xuất kinh doanh, lao động,lợi nhuận, báo cáo tài chính, tồn kho, năng lực sản xuất… gây rất nhiều khó khăncho phía bị đơn Trên thực tế xử lý các vụ kiện chống bán phá giá của Việt Nam,các doanh nghiệp xuất khẩu tôm, cá và da giầy của ta đã xin gia hạn nhiều lầnmới hoàn thành và Bản câu hỏi trên vào những ngày cuối cùng của thời gian giahạn
1.2.6 Các biện pháp chống bán phá giá được áp dụng trong thương mại quốc tế hiện nay
1.2.5.1 Cam kết giá
Nhìn chung các nước cũng như WTO cho phép một nhà xuất khẩu sau tiến
Trang 26trình điều tra đã bị kết luận đang bán phá giá có thể đưa ra cam kết sửa lại giá vàviệc xuất khẩu trong tương lai sẽ được định ở mức giá không gây tổn thương chocông nghiệp nội địa của nước nhập khẩu.
Nếu sự cam kết như vậy được nước nhập khẩu chấp nhận thì không cần thiếtphải đặt ra mức thuế hải quan đánh vào hàng nhập khẩu bán phá giá đó, và do đócũng không cần thiết phải tìm các tổn thương do bán phá giá gây ra cho côngnghiệp nội địa Nhưng giá nhập khẩu của sản phẩm đó phải được quản lý chặt chẽ
để đảm bảo rằng nhà xuất khẩu tôn trọng cam kết của mình Nếu phát hiện ra sự viphạm thì cam kết sẽ bị huỷ bỏ và việc điều tra bán phá giá sẽ tiếp tục được thựchiện
1.2.5.2 Thuế chống bán phá giá
Dạng thông thường nhất của biện pháp chống bán phá giá là áp đặt mộtmức thuế đặc biệt đánh vào việc nhập khẩu các hàng hoá bán phá giá gọi là thuếchống bán phá giá
Thuế chống bán phá giá được thu riêng, độc lập với thu các loại thuế, phíHải quan khác áp dụng đối với hàng nhập khẩu nói chung Thuế chống bán phágiá có thể tính theo giá hàng (có nghĩa tính theo phần trăm của giá trị tính thuế),hoặc theo số lượng (nghĩa là tính thu cố định trên một đơn vị số lượng)
Số lượng tính thuế có thể khác nhau tuỳ theo lô hàng nhập khẩu, đối vớimỗi lô hàng, cách tính thuế là để tăng giá xuất khẩu tới bằng “giá sàn” dự kiến trước.Thí dụ: Nếu giá sàn qui định cho một loại hàng nhập khẩu là 30 USDmột đơn vị, trong khi giá xuất khẩu ở mức 25 USD một đơn vị sẽ bị đánh thuếchống phá giá là 5 USD, nếu giá xuất khẩu ở mức 27 USD một đơn vị thì sẽ
bị đánh thuế 3 USD còn nếu giá xuất khẩu là 30 USD một đơn vị thì sẽ khôngphải đóng thuế bán phá giá
Theo qui định “giá sàn” cần không cao hơn:
- Giá thông thường của hàng hoá ở trong nước xuất khẩu,
- Giá xuất khẩu của hàng hoá đó không gây tổn thương đối với công
Trang 27nghiệp sản xuất hàng hoá tương tự của nước nhập khẩu.
Các qui định trên có tác dụng đẩy giá nhập khẩu lên tới mức giá thôngthường ở trong nước xuất khẩu nhưng không vượt qua nó, và đẩy giá xuất khẩulên mức không gây tổn thương cho công nghiệp sản xuất loại hàng hoá tương tự
ở trong nước nhập khẩu nhưng không vượt qua nó (vì nếu không gây tổn thươngthì sẽ không phải chịu hành động chống bán phá giá)
Trong thực tiễn, thông thường các nhà xuất khẩu phải tính toán một giáFOB không gây tổn thương Ở mức giá đó các hàng hoá xuất khẩu không gâytổn thương cho công nghiệp của nước nhập khẩu và không thấp hơn mức giáthông thường ở trong nước xuất khẩu
Thí dụ: Giả sử giá thông thường của một chiếc xe đạp bán ở Trung Quốc là
10 USD, sản phẩm này đang được bán ở Việt Nam với giá xuất khẩu là 6 USD,việc bán phá giá đó đang gây ra tổn thương vật chất cho công nghiệp sản xuất xeđạp của Việt Nam
Giả sử nếu giá xuất khẩu xe đạp của Trung Quốc ở mức 8 USD thì sẽkhông gây tổn thất nào cho công nghiệp của Việt Nam Khi đó mức thuế chốngphá giá sẽ áp đặt bằng với lượng cần thiết bù vào để giá xuất khẩu đạt 8 USD.Nếu các nhà xuất khẩu Trung Quốc tiếp tục xuất khẩu ở mức giá 6 USD,thì họ sẽ phải chịu mức thuế chống phá giá là 2 USD Nếu nhà xuất khẩu đótăng tăng giá xuất khẩu lên 8USD thì họ sẽ không phải chịu thuế chống phá giá.Như vậy, ở mức giá 8 USD hàng hoá xe đạp đó vẫn bán là bán phá giá vì nó thấphơn giá bán 10USD ở thị trường Trung Quốc, nhưng lại không gây tổn thươngcho công nghiệp sản xuất xe đạp của Việt Nam, do đó sản phẩm này không bị ápdụng các biện pháp chống bán phá giá
Giả sử ngược lại, nếu giá FOB dự tính không gây tổn thương cho công nghiệpsản xuất xe đạp của Việt Nam là 12 USD Khi đó nếu nhà xuất khẩu Trung Quốcxuất khẩu xe đạp sang Việt Nam ở giá 10 USD thì nó sẽ gây tổn thương cho côngnghiệp nội địa sản xuất xe đạp ở Việt Nam, nhưng nó sẽ không phải là bán phá giá
Trang 28Việc bảo vệ công nghiệp nội địa bị tổn thương do hàng nhập khẩu từ nước ngoàivào bán giá thấp, nhưng không phải là bán phá giá, thuộc về chính sách bảo hộ côngnghiệp trong nước, chứ không phải thuộc chính sách chống bán phá giá.
Như vậy điều quan trọng là phải tính toán được mức giá FOB không gâytổn thương cho công nghiệp nội địa
Phương pháp thông thường để xác định mức giá trên là đầu tiên cần xácđịnh “mức giá không bị áp chế” Đó là giá bán được coi là hợp lý để bán hànghoá trên thị trường nội địa khi các giá đó không bị chèn ép bởi hàng hoá nhậpkhẩu bán phá giá Cách đơn giản nhất để xác định “mức giá không bị áp chế”
là đặt nó bằng với mức giá đã đạt được ở thị trường nội địa đúng trước khihành động bán phá giá xảy ra
1.2.7 Các vụ kiện kéo dài, chi phí lớn làm ảnh hưởng đến các bên
Trong thương mại quốc tế hiện nay có nhiều nguồn luật điều chỉnh hành vibán phá giá, nhìn chung một vụ kiện bán phá giá trong thương mại quốc tế đượctiến hành theo 4 giai đoạn:
Giai đoạn 1: Từ thời điểm nôp hồ sơ yêu cầu đến thời điểm mở cuộc điều
tra chống bán phá giá
Giai đoạn 2: Từ thời điểm mở điều tra chống bán phá giá đến thời điểm
đưa ra kết luận sơ bộ
Giai đoạn 3: Từ thời điểm đưa ra kết luận sơ bộ đến thời điểm đưa ra kết
luận cuối cùng
Giai đoạn 4: Áp dụng các biện pháp chống bán phá giá và tiến hành rà soát
Thời gian từ khi các doanh nghiệp nộp đơn kiện doanh nghiệp xuất khẩubán phá giá đến khi cơ quan điều tra của nươc nhập khẩu đưa ra kết luận cuốicùng thường là 12 tháng và không bao giờ quá 18 tháng Sau khi có kết luận cuốicùng sẽ mất khoảng 5 năm nữa để nước nhập khẩu xem xét, rà soát cuối cùng vềbiên độ phá giá thuế chống bán phá giá và đưa ra quyết định điều chỉnh tăng ,giảm thuế hay chấm dứt thuế đối với doanh nghiệp xuất khẩu sản phẩm bán phá
Trang 29Khi tham gia các vụ kiện chống bán phá giá, các doanh nghiệp xuất khẩuphải gánh chịu những tổn thất về tài chính, ngay từ những ngày đầu tiên tiếnhành điều tra vụ kiện, các chi phí này thường bao gồm các chi phí liên quan đếntrả lời câu hỏi, thuê luật sư tư vấn, chi phí vận động hành lang, tham gia tốtụng…
Đối với nhà nhập khẩu tại nước nhập khẩu, nếu sản phẩm bị đánh thuếchống bán phá giá thì đồng nghĩa với việc thị phần của sản phẩm tại nước này sẽgiảm do giá tăng lên, do vậy lợi nhuận của các doanh nghiệp nhập khẩu sẽ giảm.Cùng với đó là việc người tiêu dùng tại nước nhập khẩu cũng bị thiệt hại khiphải mua sản phẩm với giá đắt hơn so với trước đó
Rõ ràng rằng, để đối phó với các vụ kiện bán phá giá thường kéo dài vàphức tạp thì chi phí theo kiện là một vấn đề lớn đối với Việt Nam, đặc biệt trongbối cảnh thu nhập của người lao động Việt Nam còn thấp so với thế giới (trong
vụ kiện cá tra và cá basa Việt Nam đã phải trả 469 USD/giờ cho văn phòng luật
sư tại Washington, trong khi thu nhập của người nông dân nuôi cá chỉ là 35USD/tháng) Trong suốt quá trình theo kiện các chi phí như : thuê luật sư tư vấn,chi phí cử các nhóm công tác ra nước ngoài để điều tra thu thập các thông tin cầnthiết, tham dự các cuộc điều trần, chấp nhận các biện pháp trừng phạt đỡ tốn kémhơn… Đôi khi tổng chi phí cho một vụ kiện có thể lên tới hàng triệu USD Đâycũng là một vấn đề nan giải, các vụ kiện chỉ xảy ra với từng ngành hàng, đối vớitừng công ty nhất định do đó việc huy động sự đóng góp từ những cá nhân, đơn
vị liên quan là khó khăn
1.3 Sự cần thiết phải nghiên cứu, vận dụng kinh nghiệm quốc tế để đối phó các vụ kiện chống bán phá giá đối với một quốc gia
1.3.1 Tình hình các vụ kiện bán phá giá trong thương mại quốc tế thời gian qua
Trong thương mại quốc tế hiện nay, các vụ kiện bán phá giá hàng xuất
Trang 30khẩu đang ngày càng trở nên phổ biến Theo thống kê của WTO, trong nhữngnăm 1980 trung bình mỗi năm có 138 vụ kiện thì đến giai từ năm 1995 đến tháng
6 năm 2010 các nước thành viên của WTO đã tiến hành 4.218 cuộc điều tra vềchống bán phá giá (trung bình 341 vụ/năm) trong đó 66,5% các cuộc điều tra đã
đi đến kết luận là có bán phá giá và bị áp thuế chống bán phá giá Tính đến31/12/2011 trung bình mỗi năm có 335 vụ/ năm đã đi đến kết luận có bán phágiá và bị áp thuế chống bán phá giá
Về phương diện các nước bị kiện, Trung Quốc dẫn đầu trong tổng số 104nước bị đơn với việc phải đối mặt với hơn 853 (tính đến năm 31/12/2011) Tínhbình quân giai đoạn từ 2006-2009, hàng năm Trung Quốc phải đối mặt với trên
72 vụ kiện mỗi năm, con số này đã giảm xuống 43 vụ năm 2010 và 49 vụ kiệnnăm 2011 Qua các số liệu thống kê, các nước đang phát triển là mục tiêu điềutra chống bán phá giá nhiều hơn so với các nước phát triển trong thời kỳ qua.Trừ Mỹ và Nhật Bản, tất cả các nước bị kiện trong danh sách 10 nước đứng đầu
là các nước đang phát triển và phần lớn các nước này là thuộc khu vực Đông Áhay các nền kinh tế chuyển đổi
Về phương diện các nước đi kiện, Ấn Độ dẫn đầu với 656 vụ kiện, tiếptheo là Mỹ với 458 vụ kiện , EU với 437 vụ kiện, Argentina với 291 vụ kiện( tính đến 31/12/2011) chiếm đến 46% số vụ kiện của các nước trong WTO Đốivới Việt Nam thì Mỹ và EU cũng là hai nước đang điều tra kiện chống bán phágiá nhiều nhất , Ấn Độ những năm gần đây cũng áp dụng thuế chống bán phá giávới nhiều sản phẩm nhập khẩu từ Việt Nam
Trong các cụ kiện chống bán phá giá, mặc dù khó có thể tìm thấy động cơthực sự đằng sau quyết định khởi kiện của các nguyên đơn, nhưng một thực tế rõràng là sự gia tăng mạnh mẽ của lượng hàng nhập khẩu vào một nước khiếnngành sản xuất nội địa gặp nhiều khó khăn Do không được áp dụng các biệnpháp bảo hộ doanh nghiệp nội địa, nên việc sử dụng các rào cản kỹ thuật, hay ápthuế chống bán phá giá, chống trợ cấp là khá hữu hiệu
Trang 31Trước đây khi thương mại quốc tế chưa phát triển, các vụ kiện chống bánphá giá thường diễn ra đối với các doanh nghiệp của từng quốc gia Song thực tếhiện nay thường xuyên diễn ra các vụ kiện ghép từ đó đánh thuế chống bán phávới cả những doanh nghiệp chỉ chiếm một thị phần nhỏ của nước nhập khẩu Thí
dụ như EU kiện Trung Quốc và Việt Nam bán phá giá sản phẩm giầy dép năm
2004, thì thực tế thị phần của Việt Nam có tăng nhưng không đáng kể, rất khó đểnói hàng Việt Nam có nguy cơ tiềm tàng gây hại cho sản xuất giầy của EU
Hình 1.2 Thị phần trong xuất khẩu giầy dép của EU
Nguồn: Dự án Mutrap III
Song trên thực tế EU lo ngại nếu chỉ kiện Trung Quốc thì hàng giầy mũ củaTrung Quốc có thể xuất khẩu qua Việt Nam để lẩn tránh thuế chống bán phá giá Do
đó EU đã quyết định tiến hành điều tra chống bán phá với cả các sản phẩm của ViệtNam
Một trường hợp khác đó là điều kiện để áp thuế chống bán phá giá trongthương mại quốc tế là chỉ xem xét đối với các đơn kiện mà khối lượng hàngxuất khẩu của bị đơn phải vượt quá 3% tổng khối lượng nhập khẩu hàng hóa đó
Trang 32Do vậy hiện nay các doanh nghiệp xuất khẩu ít cũng dễ bị vướng vào các vụ kiệnkép.
1.3.2 Lựa chọn kinh nghiệm của một số quốc gia về đối phó với các vụ kiện chống bán phá giá
Xu thế tự do hóa thương mại đang ngày càng diễn ra sâu rộng với sự thamgia của hầu hết các quốc gia trên thế giới, điều này thể hiện ở số lượng thànhviên của các tổ chức thương mại quốc tế như WTO, các khu vực tự do thươngmại hay các hiệp định thương mại song phương, đa phương… ngày càng tăng
Do vây, đối với các nước đang phát triển khi chưa tạo dựng được vị thếchắc chắn trong thương mại quốc tế phải đối mặt với tình trạng cạnh tranh khônglành mạnh, đặc biệt là từ các thị trường đối tác lớn Các doanh nghiệp sản xuất,doanh nghiệp xuất khẩu của Việt Nam phải nhanh chóng chuẩn bị tư thế, thôngtin cần thiết về sản phẩm của mình, để chủ động chuẩn bị đối phó với những vụkiện có thể xảy ra trong thời gian tới, trong đó việc học hỏi kinh nghiệm của cácquốc gia đi trước là hết sức thiết thực Nhưng câu hỏi đặt ra là học hỏi kinhnghiệm của nước nào? Và học hỏi những kinh nghiệm gì ?
Theo thống kê của WTO thì Thái lan nằm trong số 10 quốc gia bị kiệnchống bán phá giá nhiều nhất giai đoạn 1995-2011 Thứ hai là Ấn Độ, là quốcgia tham gia kiện bán phá giá nhiều nhất trong tổ chức thương mại thế giới vàcũng nằm trong danh sách 10 quốc gia bị kiện chống bán phá nhiều nhất năm1995-2011
Về văn hóa và quá trình phát triển thì Việt Nam, Ấn Độ và Thái lan đều đi lên
từ nông nghiệp, cùng thuộc châu á với những tập quán, phong tục tín ngưỡng giốngnhau
Về sản phẩm sản xuất thì Việt Nam, Ấn Độ và Thái lan có nhiều sản phẩm
từ nông nghiệp đến công nghiệp giống nhau
Mặc dù Ấn độ và Thái lan cũng là hai quốc gia đã tiến hành kiện chống bánphá giá sản phẩm nhập khẩu từ Việt Nam, song trên thị trường quốc tế thì Việt
Trang 33Nam , Ấn Độ và Thái Lan có chung rất nhiều vụ kiện từ các quốc gia khác Thí
dụ như Hoa Kỳ kiện Việt Nam, Ấn Độ, Thái Lan, Braxin, Êcuado, Trung Quốcbán phá giá tôm đông lạnh; Thổ Nhĩ Kỳ kiện Thái Lan, Việt Nam bán phá giásợi; Braxin kiện Việt Nam, Ấn Độ bán phá giá lốp xe đạp; Malaysia kiện ViệtNam, Thái lan bán phá giá giấy màng BOPP; Braxin kiện Việt Nam, Thái lanbán phá giá lốp cao su xe máy; Hoa Kỳ kiện Việt Nam, Ấn Độ bán phá giá ôngthép…
Đối với mỗi quốc gia nói chung và đối với Việt Nam nói riêng chưa cónhiều kinh nghiệm thực tế trong việc đối phó với các vụ kiện chống bán phá giá
Do vậy việc học hỏi, đúc kết kinh nghiệm từ các vụ kháng kiện thành công trênthế giới là hết sức cấp bách để đối phó với thực trạng ngày càng gia tăng viecj sửdụng công cụ chống bán phá giá hiện nay trên thế giới
Theo thống kê thì có rất nhiều quốc gia đã thành công trong kháng kiệnnhư Trung Quốc, Hoa Kỳ, EU, Ấn Độ, Thái Lan, Braxin Nhưng trước nhữngthành công của Ấn Độ và Thái lan trong việc kháng kiện, cùng với nhiều điểmchung giữa Việt Nam, Thái Lan, Ấn Độ như đã nêu ở trên thì việc các nước đangphát triển nói chung và Việt Nam nói riêng học hỏi kinh nghiệm từ hai quốc gianày là hợp lý và cần thiết Thực tế hiện nay Việt Nam ngày càng phải đối đầunhiều hơn với các vụ kiện chống bán phá giá Bên cạnh việc phát triển nền kinh
tế thị trường, tham gia vào các tổ chức quốc tế đa phương, song phương, tìmhiểu thâm nhập thị trường tiền năng của các quốc gia trên thế giới Thì một trongnhững việc cần thực hiện là tìm hiểu cách thức kháng kiện ,đối phó với các vụkiện chống bán phá của các nước trên thế giới
Theo như thực tế thì Thái lan có lợi thế hơn trong các vụ kiện về nôngnghiệp còn Ấn Độ có nhiều kinh nghiệm kháng kiện về các sản phẩm côngnghiệp Thủy hải sản, nông nghiệp là những sản phẩm Việt Nam thường bị kiện
và đã có những vụ kiện điển hình trong quá khứ Còn về sản phẩm công nghiệphiện giá trị chưa nhiều, song số vụ kiện cũng đang có chiều hướng gia tăng,vàtheo dự báo thì trong tương lai Việt Nam sẽ bị kiện nhiều đối với những sản
Trang 34phẩm này.
Trang 35CHƯƠNG 2: KINH NGHIỆM ĐỐI PHÓ VỚI NHỮNG
VỤ KIỆN BÁN PHÁ GIÁ CỦA ẤN ĐỘ, THÁI LAN
2.1 Kinh nghiệm đối phó với những vụ kiện chống bán phá giá của Thái Lan
2.1.1 Một số vụ kiện bán phá giá của Thái Lan trong thương mại quốc tế thời gian qua
Theo thống kê của WTO trong giai đoạn 1995 đến 31/12/2011 , Thái Lanđứng thứ 7 trong số 10 nước bị kiện bán phá giá nhiều nhất, với tổng số vụ kiệnlên đến 164 vụ kiện Tính bình quân thì mỗi năm Thái Lan phải đối mặt với gần
10 vụ kiện mỗi năm, trong đó tập trung nhiều nhất là giai đoạn 1999 đến 2005trung bình khoảng 13 vụ kiện một năm
2.1.1.1 Vụ Hoa Kỳ kiện Ấn Độ, Thái lan, Việt Nam, Trung Quốc, Êcuado,
Braxin bán phá giá mặt hàng tôm xuất khẩu.
Bên khởi kiện: Hoa Kỳ
Bên bị khởi kiện: Thái Lan, Braxin, Trung Quốc, Việt Nam, Êcuađo, ẤnĐộ
Sản phẩm: tôm đông lạnh xuất khẩu
Diễn biến vụ việc:
Ngày 6/8/2003 Hiệp hội Tôm louisiana đã biểu quyết nộp đơn kiện Brazil,Trung Quốc, Việt Nam, Thái Lan, Ấn Độ ,Mexico, Liên minh châu âu bán phágiá tôm nhập khẩu Ngày 31/12/2003 SSA chính thức nộp đơn khởi kiện “ chốngbán phá giá tôm” lên Bộ Thương mại Hoa Kỳ (DOC) và Ủy ban Thương MạiQuốc Tế Hoa Kỳ ( ITC) đối với các doanh nghiệp xuất khẩu tôm vào thị trường
Mỹ của một số nước, trong đó có các doanh nghiệp Việt Nam
Ngày 20/1/2004 DOC bắt đầu tiến hành điều tra vụ kiện bán phá giá tômcủa Brazin, Trung Quốc, Việt Nam, Thái Lan, Ấn Độ, Trung Quốc… tại Mỹ.Toàn bộ các dạng tôm xuất khẩu, bao gồm tôm nước ấm đóng hộp hay tôm đông
Trang 36lạnh, được đánh bắt tự nhiên ngoài biển hoặc nuôi trồng, có đầu hay đã bỏ đầu,
đã bóc vỏ hoặc chưa bóc vỏ, để vây hoặc bỏ vây, rút huyết hay chưa rút huyết…đều bị áp thuế bán phá giá
Sau khi điều tra, thẩm vấn tại chỗ thì đến 7/2/2005 DOC ra quyết địnhphán quyết áp thuế bán phá giá với sản phẩm tôm đông lạnh của các nước, trong
đó doanh nghiệp xuất khẩu tôm của Thái Lan phải chịu thuế 57%
2.1.1.2 Vụ Hoa Kỳ kiện Thái Lan bán phá giá túi Polyethylene bán lẻ
Bên khởi kiện: Công ty Luật King & Spalding LLP ( đại diện cho công tyHilex Poly Co.LLC và Superbag Corporation của Mỹ)
Bên bị khởi kiện: Thái Lan, Trung Quốc và Malaysia
Sản phẩm: túi Polyethylene bán lẻ
Tháng 6 năm 2003, nhóm nguyên đơn đã khởi kiện chống bán phá giá mạthàng túi Polyethylene bán lẻ từ Thái Lan, Malaysia và Trung Quốc.Dẫn đến ápthuế chống bán phá giá với mức thuế suất từ 0,2 đến 77,33% đối với Trung Quốc
và từ 0,91 đến 101,74 % đối với Malaysia và từ 0,62 đến 122,88% đối với Tháilan
2.1.1.3 Một số vụ kiện khác mà Việt Nam bị kiện chung cung Thái Lan
Vụ Brazin kiện Thái Lan, Trung Quốc, Đài Loan, Việt Nam bán phá giálốp cao su xe máy
Bên khởi kiện: Hiệp hội các nhà sản xuất lốp xe quốc gia (ANIP)
Bên bị khởi kiện: Thái Lan, Trung Quốc, Đài Loan, Việt Nam
Sản phẩm: lốp cao su xe máy
Ngày 14 tháng 12 năm 2011, Hiệp hội các nhà sản xuất lốp xe quốc gia( ANIP) đại điện cho 100% các nhà sản xuất lốp xe máy của Braxin đã nộp đơnlên Bộ phát triển, Công nghiệp và Ngoại thương Braxin (MDIC) đề nghị khởikiện chống bán phá giá đối với sản phảm lốp xe máy bằng cao su nhập khẩu từVương quốc Thái lan, Cộng hòa nhân dân Trung Hoa, Đài Loan và Việt Nam.Giai đoạn điều tra là từ tháng 7 năm 2010 đến tháng 6 năm 2011 và giai đoạn
Trang 37tính toán tổn thất là từ tháng 7 năm 2007 đến tháng 6 năm 2011
Mới đây nhất, ngày 18.10.2012 Bộ Kinh tế Thổ Nhĩ Kỳ đã ra quyết địnhchính thức khởi xướng điều tra chống bán phá giá đối với sản phẩm sợi nhậpkhẩu từ Việt Nam, Malaysia, Ai Cập, Pakistan và Thái Lan Giai đoạn điều tra là
từ ngày 1 tháng 1 năm 2011 đến 31 tháng 12 năm 2011
2.1.2 Ứng xử và kết quả thu được của Thái Lan khi đối phó các vụ kiện chống bán phá giá
2.1.2.1 Đối với vụ Hoa Kỳ kiện tôm xuất khẩu của Thái Lan bán phá giá
Ngày 24/4/2006, Thái Lan đã yêu cầu tham vấn với phía Hoa Kỳ căn cứĐiều 4 Biên bản ghi nhớ về Quy tắc và Thủ tục giải quyết tranh chấp ( gọi tắt làDSU),Điều XXII:1 Hiệp định chung về Thuế quan và Thương mại năm 1994(gọi tắt là “GATT 1994”) và các Điều 17.2, 17.3, và 17.4 Hiệp định về việcThực thi Điều VI của Hiệp định chung về Thuế quan và Thương mại năm 1994(gọi tắt là “Hiệp định chống bán phá giá”) đối với việc Hoa Kỳ thực hành
"zeroing" và áp đặt kết quả dứt khoát chống các biện pháp bán phá giá nhậpkhẩu của một số tôm nước ấm đông lạnh từ Thái Lan Theo Thái Lan việc Hoa
Kỳ sử dụng “zeroing” là không công bằng giữa, không thể so sánh được giữagiá xuất khẩu và giá trị thông thường,việc này đã dẫn đến Thái lan vi phạm trongviệc tính toán lợi nhuận bị bóp méo về bán phá giá
Ngày 15 tháng 9 năm 2006, Thái Lan đã yêu cầu thành lập một Ban hộithẩm chiểu theo Điều XXIII Hiệp định GATT 1994, Điều 4 và 6 của DSU, vàĐiều 17 của Hiệp định chống bán phá giá Đến ngày 26 tháng 10 năm 2006, Cơquan giải quyết tranh chấp của WTO (DSB) đã thành lập một Ban hội thẩm theoyêu cầu của Thái Lan trong văn bản số WT/DS343/7, “Điều tra, theo những điềukhoản liên quan trong những hiệp định được nhắc đến trong văn bản sốWT/DS343/7, vấn đề mà Thái Lan đề nghị DBS giải quyết như đã đề cập đếntrong văn bản trên, và các kết quả điều tra đó sẽ hỗ trợ DSB trong việc đưa rakhuyến nghị hoặc đưa ra các phán quyết như đã quy định trong những hiệp định
Trang 38Ngày 29 tháng 2 năm 2008, báo cáo của Ban Hội thẩm được ban hành tớicác thành viên theo đó Ban Hội thẩm ủng hộ tuyên bố của Thái Lan rằng việc ápdụng “zeroing” đối tượng tôm từ Thái Lan là không phù hợp với Điều 18.1 củaHiệp định Chống bán phá giá, và lưu ý Quảng cáo Nó bác bỏ lập luận của Hoa
Kỳ rằng các ứng dụng của “zeroing” hợp lý theo quy định tại Điều XX (d) củaGATT 1994
Ban Hội thẩm tiếp tục ủng hộ tuyên bố của Thái Lan rằng Hoa Kỳ đã viphạm Điều 2.4.2 của Hiệp định chống bán phá giá bằng cách sử dụng zeroing đểtính toán biên độ bán phá giá đối với các biện pháp chống bán phá giá Tuy vậyBan Hội thẩm đã từ chối đưa ra kết luận và kiến nghị về yêu cầu bồi thường củaThái Lan rằng các ứng dụng của các EBR tôm chủ đề từ Thái Lan là không phùhợp với Điều I, II: 1 (a), các câu thứ nhất và thứ hai của Điều II: 1 (b), X: 3 (a)
và XI: 1 của GATT 1994
Ngày 31 tháng 10 năm 2008, Hoa Kỳ và Thái Lan thông báo với DSB rằng
họ đã đồng ý rằng thời gian hợp lý để Hoa Kỳ thực hiện các khuyến nghị củaDSB là 8 tháng sẽ hết hạn vào ngày 1 tháng 4 năm 2009
2.1.2.2 Đối với vụ Hoa Kỳ kiện túi Polyethylene bán lẻ từ Thái Lan
Ngày 26 tháng 11 năm 2008, Thái Lan đã yêu cầu tham vấn với Hoa Kỳđối với các ứng dụng của Hoa Kỳ thực hành được gọi là "zeroing" của lợi nhuậntiêu cực bán phá giá trong quyết tâm của Hoa Kỳ trong biên độ bán phá giá trongđiều tra chống bán phá giá của nó Túi Polyethylene bán lẻ từ Thái Lan
Cụ thể, Thái Lan yêu cầu tham vấn liên quan đến việc sử dụng trongphán quyết cuối cùng của DOC và sửa đổi quyết chính thức của việc thựchành "zeroing" âm tính biên độ chống bán phá giá trong tính toán lợi nhuậntổng thể trọng trung bình bán phá giá trong điều tra này Thái Lan cáo buộcrằng tác động của thực hành này là để tạo ra một cách giả tạo biên độ bán phágiá mà không ai khác đã được tìm thấy, ở mức tối thiểu, để thổi phồng biên độ
Trang 39phá giá Thái Lan xem xét sử dụng các của DOC này thực hành "zeroing"trong quyết chính thức, các Xác định sửa đổi cuối cùng, và thứ tự các để làkhông phù hợp với các nghĩa vụ của Hoa Kỳ theo Điều VI của GATT 1994,
và, đặc biệt, theo Điều 2.4.2 của Hiệp định chống bán phá giá
Thái lan tận dụng vai trò là thành viên của WTO chủ động trong việckháng kiện lên Cơ quan giải quyết tranh chấp của Tổ chức thương mại thế giới,yêu cầu thành lập Ban Hội thẩm về những sai phạm của Hoa Kỳ khi kiện chốngbán phá giá đối với túi Polyethylene bán lẻ từ Thái Lan
Ngày 22 Tháng 1 năm 2010, báo cáo của Ban hội thẩm được ban hành tớicác thành viên Ban Hội thẩm kết luận rằng Hoa Kỳ đã vi phạm Điều 2.4.2, câuđầu tiên, của Hiệp định Chống bán phá giá bằng cách sử dụng "zeroing" trongphán quyết cuối cùng, được sửa đổi, và mệnh lệnh để xác định biên độ phá giácho cá nhân điều tra các nhà xuất khẩu Thái Lan có biên độ phá giá không đượctính dựa tổng số trên những sự kiện có sẵn
Sau khi nhận được thông báo từ Ban Hội thẩm, Hoa Kỳ đã thực hiện theonhững chỉ dẫn của Ban hội thẩm vàThái Lan cho biết sẽ tiếp tục giám sát việcthực hiện để đảm bảo mà các thương nhân được hưởng lợi đầy đủ từ các khuyếnnghị và phán quyết
2.1.3 Bài học rút ra trong việc đối phó với những vụ kiện bán phá giá
Theo thống kê, từ năm 1995-2005, các nước thành viên của WTO đã tiếnhành 365 cuộc điều tra áp dụng biện pháp chống bán phá giá đối với các mặthàng xuất khẩu của các nước thành viên ASEAN, chiếm 12,6% tổng các cuộcđiều tra bán phá giá trên thế giới Indonesia, Malaysia và Thái Lan là ba nước bịkhởi kiện chống bán phá giá nhiều nhất, chiếm 83,51% trên tổng số các cuộcđiều tra đối với các nước thành viên ASEAN (tính đến 2011 số vụ kiện bán phágiá Indonesia là 165 vụ và Thái Lan: 164 vụ)
Để phòng chống các nước ASEAN cũng sớm hình thành chính sách chủđộng kháng kiện, cơ chế cảnh báo sớm, tăng cường vai trò của các Hiệp hội,
Trang 40ngành hàng, sự hỗ trợ của các cơ quan chính phủ… Tuy nhiên, mức độ thực hiện
và hiệu quả cả các giải pháp phòng chống ở từng nước là rất khác nhau Trong
đó, Thái Lan là nước được đánh giá thực hiện khá hiệu quả và đồng bộ các biệnpháp phòng chống các vụ kiện bán phá giá
Kinh nghiệm của Thái Lan :
- Vai trò của Hiệp hội, nghiệp đoàn: Ở Thái Lan, không phải là Chính phủ
mà là Nghiệp đoàn các ngành sản xuất Thái Lan (The Federation of ThaiIndustries), tổ chức đại diện cho cộng đồng doanh nghiệp Thái Lan trong các vấn
đề liên quan đến doanh nghiệp với khoảng 6000 hội viên thuộc 35 ngành sảnxuất khác nhau Mỗi khi các doanh nghiệp sản xuất có nguy cơ bị kiện hoặc đã
bị kiện ở nước ngoài, Nghiệp đoàn sẽ tập hợp các nhà sản xuất liên quan (baogồm các nhà sản xuất có sản phẩm liên quan, các nhà sản xuất các sản phẩm đầuvào, các nhà sản xuất sử dụng các sản phẩm đầu ra) để bàn bạc đưa ra phương ánhành động chung Nghiệp đoàn đồng thời cũng tiến hành thảo luận các vấn đềvới các ngành sản xuất có liên quan (trong nhiều trường hợp việc bán phá giá cóthể gây ra thiệt hại cho ngành sản xuất này nhưng có thể mang lại lợi ích chongành sản xuất khác), chia sẻ các thông tin Theo yêu cầu của các doanh nghiệpthành viên, Nghiệp đoàn thành lập một Uỷ ban AD hoc trong mỗi vụ việc làmđầu mối phối hợp hành động giữa các doanh nghiệp thông qua một loạt các hoạtđộng như thống nhất việc mời luật sư đại diện, hướng dẫn cách trả lời các bảngcâu hỏi, vận động các doanh nghiệp hợp tác trong quá trình điều tra Nghiệpđoàn cũng là nơi cung cấp thông tin về sản phẩm, về các thị trường và về tìnhhình xuất nhập khẩu sản phẩm tại Thái Lan cũng như các thị trường khác để cácdoanh nghiệp nhanh chóng nhận thức được các nguy cơ liên quan (bị kiện chốngbán phá giá ở nước ngoài hoặc bị các nhà sản xuất nước ngoài bán phá giá vàothị trường nội địa) Trong một số trường hợp, Nghiệp đoàn có thể có hỗ trợ về tàichính cho doanh nghiệp trong các vụ kiện
- Lựa chọn luật sư bảo vệ quyền lợi cho các doanh nghiệp Thái Lan trong