Chính sách tiền tệ quốc gia là các quyết định MỤC LỤC DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT DANH MỤC BẢNG, ĐỒ THỊ Trang MỞ ĐẦU 1 Chương 1 TỔNG QUAN VỀ CHÍNH SÁCH TIỀN TỆ VÀ CHÍNH SÁCH MỤC TIÊU LẠM PHÁT TRONG ĐIỀU HÀN[.]
Trang 1MỤC LỤC
DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT
DANH MỤC BẢNG, ĐỒ THỊ
Trang
MỞ ĐẦU……… 1
Chương 1 TỔNG QUAN VỀ CHÍNH SÁCH TIỀN TỆ VÀ CHÍNH SÁCH MỤC TIÊU LẠM PHÁT TRONG ĐIỀU HÀNH CHÍNH SÁCH TIỀN TỆ QUỐC GIA………
3 1.1 Tổng quan về chính sách tiền tệ quốc gia……… 3
1.1.1 Khái niệm, phân loại chính sách tiền tệ……… 3
1.1.2 Mục tiêu của chính sách tiền tệ……… 4
1.1.3 Các công cụ của chính sách tiền tệ……… 11
1.2 Chính sách mục tiêu lạm phát……… 16
1.2.1 Cơ sở của chính sách mục tiêu lạm phát……… 16
1.2.2 Khái niệm, đặc điểm chính sách mục tiêu lạm phát……… 17
1.2.3 Nội dung của chính sách mục tiêu lạm phát……… 20
1.2.4 Ưu điểm, nhược điểm của chính sách mục tiêu lạm phát……… 20
1.2.5 Điều kiện thực hiện chính sách mục tiêu lạm phát………. 24
1.3 Kinh nghiệm áp dụng chính sách mục tiêu lạm phát trong điều hành chính sách tiền tệ của một số nước trên thế giới……… 26
1.3.1 Kinh nghiệm của một số nước phát triển……… 28
1.3.2 Kinh nghiệm của một số nước đang phát triển……… 40
1.3.3 Bài học rút ra cho Việt Nam……… 44
Chương 2 THỰC TRẠNG CHÍNH SÁCH TIỀN TỆ VÀ KHẢ NĂNG ÁP DỤNG CHÍNH SÁCH MỤC TIÊU LẠM PHÁT TRONG ĐIỀU HÀNH CHÍNH SÁCH TIỀN TỆ TẠI VIỆT NAM………
48 2.1 Khái quát tình hình kinh tế Việt Nam 2007 - 2012……… 48
2.2 Thực trạng chính sách tiền tệ tại Việt Nam 2007 - 2012………. 50
2.2.1 Mục tiêu chính sách tiền tệ tại Việt Nam……… 50
Trang 2.2.2 Điều hành các công cụ chính sách tiền tệ tại Việt Nam……… 59
Trang 22.2.3 Đánh giá thực trạng chính sách tiền tệ tại Việt Nam……… 802.3 Khả năng áp dụng chính sách mục tiêu lạm phát trong điều hành chính sách
2.3.1 Sự cần thiết áp dụng chính sách mục tiêu lạm phát trong điều hành chính
2.3.2 Đánh giá khả năng áp dụng chính sách mục tiêu lạm phát trong điều hành
chính sách tiền tệ tại Việt Nam……… 86
2.3.3 Điều kiện để áp dụng chính sách mục tiêu lạm phát trong điều hành chính
sách tiền tệ tại Việt Nam……… 90
2.3.4 Những khó khăn, thách thức trong việc áp dụng chính sách mục tiêu lạm
phát trong điều hành chính sách tiền tệ tại Việt Nam… 92
Chương 3 GIẢI PHÁP TĂNG CƯỜNG KHẢ NĂNG ÁP DỤNG CHÍNH SÁCH MỤC TIÊU LẠM PHÁT TRONG ĐIỀU HÀNH CHÍNH SÁCH TIỀN TỆ TẠI VIỆT NAM………
97
3.1 Mục tiêu và định hướng điều hành chính sách tiền tệ tại Việt Nam trong thời
3.1.1 Mục tiêu điều hành chính sách tiền tệ……… 97
3.1.2 Định hướng điều hành chính sách tiền tệ……… 98
3.2 Giải pháp tăng cường khả năng áp dụng chính sách mục tiêu lạm phát trong điều hành chính sách tiền tệ tại Việt Nam……… 1003.2.1.Tạo điều kiện tiền đề cho lộ trình tiến tới áp dụng chính sách mục tiêu lạm
3.2.2 Vấn đề thực thi chính sách mục tiêu lạm phát tại Việt Nam…… 115
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO
Trang 3GDP Tổng sản phẩm quốc nội (Gross domestic product)
IMF Quỹ tiền tệ Quốc tế (International Monetary Fund)
MB Khối lượng tiền cơ sở (Monetary Base)
M2 Tổng phương tiện thanh toán
MS Cung tiền (Money supply)
NHNN VN Ngân hàng Nhà nước Việt Nam
NHNo&PTNT Ngân hàng Nông nghiệp và phát triển nông thôn
NHTM Ngân hàng Thương mại
NHTM CP Ngân hàng Thương mại Cổ phần
NHTW Ngân hàng Trung ương
QTDNDTW Quỹ tín dụng nhân dân Trung ương
Trang 4DANH MỤC BẢNG, ĐỒ THỊ
DANH MỤC BẢNG
Trang Bảng 1.1 Các quốc gia thực hiện CSMTLP……… 27
Bảng 1.2 Khung áp dụng CSMTLP tại một số nước……… 28
Bảng 1.3 Công bố mục tiêu lạm phát……… 29
Bảng 1.4 Tầm nhìn mục tiêu……… 30
Bảng 1.5 Một số mặt hàng loại bỏ khi điều chỉnh CPI của một số quốc gia áp dụng CSMTLP……… 32
Bảng 1.6 Chỉ số giá cả……… 33
Bảng 1.7 Điểm mục tiêu/ Biên độ mục tiêu……… 33
Bảng 1.8 Tình trạng các điều kiện tiên quyết vào thời điểm áp dụng CSMTLP của một số nước……… 47
Bảng 2.1 Hệ thống mục tiêu và công cụ CSTT của Việt Nam………… 51
Bảng 2.2 Tỷ lệ lạm phát và tăng trưởng kinh tế- mục tiêu và thực hiện 2007-2012……… 52
Bảng 2.3 Tỷ lệ tăng M2 - mục tiêu và thực hiện 2007-2012……… 55
Bảng 2.4 Tỷ lệ tăng M2, lạm phát và tăng trưởng kinh tế 2007 - 2012 56
Bảng 2.5 Tỷ lệ tăng trưởng tín dụng - mục tiêu và thực hiện 2007-2012 58 Bảng 2.6 Tỷ lệ dự trữ bắt buộc 2007, 2008……… 62
Bảng 2.7 Tỷ lệ dự trữ bắt buộc 2009 – 2012……… 63
Bảng 2.8 Hoạt động nghiệp vụ thị trưởng mở ……… 68
Bảng 2.9 Lãi suất cơ bản, tái cấp vốn, tái chiết khấu 2007-2012……… 74
Bảng 2.10 Tỷ lệ tăng M2, dư nợ tín dụng, lạm phát 2007-2012………… 79
DANH MỤC ĐỒ THỊ Đồ thị 2.1 Tỷ lệ lạm phát mục tiêu và lạm phát thực tế 2007-2012…… 53
Đồ thị 2.2 Tỷ lệ tăng trưởng kinh tế mục tiêu và thực hiện 2007-2012… 53 Đồ thị 2.3 Tỷ lệ lạm phát và tăng trưởng kinh tế 2007-2012……… 54
Đồ thị 2.4 Tỷ lệ tăng M2 mục tiêu và thực hiện 2007-2012……… 55
Đồ thị 2.5 Tỷ lệ tăng M2, lạm phát và tăng trưởng kinh tế 2007-2012… 57
Đồ thị 2.6 Lãi suất cơ bản, tái cấp vốn, tái chiết khấu 2007-2012……… 74
Đồ thị 2.7 Tỷ lệ tăng M2, tăng trưởng tín dụng và lạm phát 2007-2012… 79
Trang 5MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài:
Sau hơn 20 năm đổi mới, đất nước ta đã đạt được nhiều kết quả khảquan về phát triển kinh tế đặc biệt có sự đóng góp to lớn trong thực hiện chínhsách tiền (CSTT) của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam (NHNN VN) CSTT đãtạo ra được sự ổn định giá trị đồng tiền, kiềm chế lạm phát, tạo tiền đề cho sự
ổn định và góp phần thúc đẩy tăng trưởng kinh tế
Tuy nhiên, bên cạnh những kết quả đạt được, CSTT đa mục tiêu cũng
đã bộc lộ những hạn chế nhất định Việc phải vừa đắn đo đưa ra các quyếtđịnh đối với sự biến động của lạm phát mà không làm ảnh hưởng hoặc ảnhhưởng ít đến các mục tiêu khác đặt NHNN trước nhiều lựa chọn phức tạphơn Mục tiêu vừa kiềm chế lạm phát, vừa vẫn tiếp tục đạt mức tăng trưởngcao rất khó thực hiện thành công Do vậy làm giảm hiệu quả của CSTT đốivới việc kiềm chế lạm phát cũng như tăng trưởng kinh tế Chính vì vậy nghiêncứu kinh nghiệm của các quốc gia đang thực hiện chính sách mục tiêu lạmphát (CSMTLP), thực trạng CSTT tại Việt Nam trong thời gian qua để đánhgiá khả năng áp dụng CSMTLP trong điều hành CSTT tại Việt Nam trong bốicảnh Việt Nam đang nỗ lực kiềm chế lạm phát như hiện nay là cần thiết
Xuất phát từ thực tiễn đó, vấn đề “Chính sách mục tiêu lạm phát, khả năng áp dụng trong điều hành chính sách tiền tệ tại Việt Nam” đã được
em chọn làm đề tài luận văn
2 Mục đích nghiên cứu:
Hệ thống hóa các vấn đề lý luận cơ bản về CSMTLP, kinh nghiệm củamột số nước trên thế giới trong việc áp dụng CSMTLP, bài học rút ra choViệt Nam Đánh giá khả năng áp dụng CSMTLP trong điều hành CSTT tạiViệt Nam trên cơ sở phân tích thực trạng CSTT tại Việt Nam 2007-2012 vànghiên cứu các điều kiện áp dụng CSMTLP
Trang 6Kiến nghị giải pháp tăng cường khả năng áp dụng CSMTLP trong điềuhành CSTT tại Việt Nam.
3 Đối tượng, phạm vi nghiên cứu:
- Đối tượng nghiên cứu: điều kiện cơ bản áp dụng CSMTLP, khả năng
áp dụng CSMTLP trong điều hành CSTT tại Việt Nam
- Phạm vi nghiên cứu: CSTT, CSMTLP; thực trạng CSTT tại Việt Nam
giai đoạn 2007- 2012, kinh nghiệm của một số nước trên thế giới trong thựchiện CSMTLP
4 Phương pháp nghiên cứu:
Dựa trên cơ sở phương pháp luận duy vật biện chứng, duy vật lịch sử.Ngoài ra khóa luận sử dụng phương pháp tổng hợp, thống kê, so sánh, phântích để luận giải vấn đề nghiên cứu
5 Kết cấu của luận văn:
Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo, danh mụcbảng, đồ thị, chữ viết tắt; luận văn được kết cấu 3 chương
Chương 1 Tổng quan về chính sách tiền tệ và chính sách mục tiêu lạm
phát trong điều hành chính sách tiền tệ quốc gia
Chương 2 Thực trạng chính sách tiền tệ và khả năng áp dụng chính
sách mục tiêu lạm phát trong điều hành chính sách tiền tệ tại Việt Nam
Chương 3 Giải pháp tăng cường khả năng áp dụng chính sách mục
tiêu lạm phát trong điều hành chính sách tiền tệ tại Việt Nam
Trang 7Chương 1 TỔNG QUAN VỀ CHÍNH SÁCH TIỀN TỆ VÀ CHÍNH SÁCH MỤC TIÊU LẠM PHÁT TRONG ĐIỀU HÀNH
CHÍNH SÁCH TIỀN TỆ QUỐC GIA
1.1 TỔNG QUAN VỀ CHÍNH SÁCH TIỀN TỆ QUỐC GIA
1.1.1 Khái niệm, phân loại chính sách tiền tệ
1.1.1.1 Khái niệm chính sách tiền tệ
Ở các nước khác nhau sẽ có quan điểm về CSTT khác nhau:
Theo Ngân hàng Trung ương (NHTW) Canada: “CSTT là việc thực thicác biện pháp ảnh hưởng tới lượng cung tiền nhằm tác động tới lãi suất, điềukiện tín dụng và tỷ giá hối đoái của Canada Mục tiêu cuối cùng của CSTT làtác động tới tổng sản phẩm quốc nội, việc làm, lạm phát và tăng trưởng nềnkinh tế”[61]
Theo Cục dự trữ liên bang Mỹ: “CSTT là những quyết định của NHTWnhằm tác động đến tính thanh khoản, chi phí của tiền tệ và tín dụng nhằm thúcđẩy việc thực hiện các mục tiêu kinh tế quốc gia” [62]
Tại Việt Nam theo Luật số 46/2010/QH12 Luật NHNN: “CSTT quốcgia là các quyết định về tiền tệ ở tầm quốc gia của cơ quan Nhà nước có thẩmquyền, bao gồm quyết định mục tiêu ổn định giá trị đồng tiền biểu hiện bằngchỉ tiêu lạm phát, quyết định sử dụng các công cụ và biện pháp để thực hiệnmục tiêu đề ra” [56]
Nói tóm lại CSTT là chính sách kinh tế vĩ mô mà trong đó NHTW sửdụng các công cụ của mình để điều tiết và kiểm soát điều kiện tiền tệ của nềnkinh tế nhằm đảm bảo sự ổn định giá trị tiền tệ, tạo nền tảng thúc đẩy sự tăngtrưởng kinh tế và duy trì các mục tiêu xã hội hợp lý NHTW có vai trò rấtquan trọng trong việc quyết định các vấn đề liên quan đến CSTT vì mọi hoạtđộng của NHTW và hệ thống ngân hàng đều ảnh hưởng đến hệ thống điều
Trang 8kiện tiền tệ của nền kinh tế được thể hiện qua các chỉ tiêu như: khối lượngtiền, tín dụng, lãi suất, tỷ giá… Vì thế, xây dựng và điều hành CSTT là hoạtđộng trọng tâm của một NHTW.
1.1.1.2 Phân loại chính sách tiền tệ
- Căn cứ vào mức độ cung ứng tiền của NHTW:
+ CSTT mở rộng: Là CSTT có xu hướng mở rộng lượng tiền cung ứngcho nền kinh tế nhằm khuyến khích đầu tư, mở rộng sản xuất kinh doanh, tạoviệc làm Chính sách này thường được các nước sử dụng để chống suy thoáikinh tế hoặc chống thất nghiệp
+ CSTT thắt chặt: Là CSTT có xu hướng giảm hoặc hạn chế bơm tiềnvào lưu thông nhằm hạn chế đầu tư, kìm hãm sự phát triển quá nóng của nềnkinh tế Chính sách này thường được sử dụng để kiềm chế lạm phát
- Căn cứ vào mục tiêu chủ đạo của CSTT:
+ CSTT lấy tỷ giá hối đoái làm mục tiêu: Chính sách này thực thi dướidạng gắn giá trị đồng nội tệ vào một ngoại tệ mạnh hay một rổ tiền tệ Để theođuổi mục tiêu tỷ giá, buộc NHTW phải giới hạn cung ứng nội tệ phù hợp với
tỷ lệ cung ứng đồng tiền mà đồng nội tệ được neo vào
+ CSTT lấy các đại lượng tiền tệ làm mục tiêu: các nước thực thi chínhsách này sẽ xác định mức cung ứng tiền cụ thể sẽ được đưa vào nền kinh tếtrong những khoảng thời gian nhất định Thông qua sự vận động của khốilượng tiền tệ cung ứng này ảnh hưởng đến lạm phát và tăng trưởng kinh tế
+ CSTT lấy lạm phát làm mục tiêu: các nước thực thi chính sách nàythường công bố công khai mục tiêu lạm phát trong trung hạn hoặc dài hạn vàcam kết thực thi mọi biện pháp cần thiết để đạt được mục tiêu này
1.1.2 Mục tiêu của chính sách tiền tệ
1.1.2.1 Mục tiêu cuối cùng
Trang 9Mục tiêu CSTT hầu như thống nhất ở các nước Sự điều chỉnh lượngtiền cung ứng nhằm mục tiêu trước hết là ổn định giá trị tiền tệ trên cơ sở đógóp phần tăng trưởng kinh tế và tạo công ăn việc làm.
a Ổn định giá cả
Ổn định giá cả là mục tiêu hàng đầu của CSTT và là mục tiêu dài hạn.Giờ đây NHTW một số nước nhận thấy rõ rằng việc ổn định giá cả hoặc giátrị tiền tệ duy nhất thuộc về CSTT Ổn định giá trị tiền tệ là ổn định sức muacủa tiền tệ và ổn định giá cả Các NHTW thường lượng hóa mục tiêu nàybằng tỷ lệ tăng của chỉ số giá tiêu dùng xã hội
Việc công bố công khai chỉ tiêu này là cam kết của NHTW nhằm ổnđịnh giá trị tiền tệ về mặt dài hạn Điều này có nghĩa là NHTW sẽ không tậptrung điều chỉnh sự biến động giá cả về mặt ngắn hạn Do những biện pháp vềCSTT tác động đến nền kinh tế có tính chất trung và dài hạn, hơn nữa khó cóthể dự đoán chính xác kết quả sẽ xảy ra vào thời điểm nào trong tương lai Vìvậy, sẽ là không khả thi đối với NHTW trong việc theo đuổi để kiểm soát giá
cả trong ngắn hạn
Ổn định giá cả có tầm quan trọng đặc biệt để định hướng phát triểnkinh tế của quốc gia vì nó làm tăng khả năng dự đoán những biến động củamôi trường kinh tế vĩ mô Mức lạm phát thấp và ổn định tạo nên môi trườngđầu tư ổn định, thúc đẩy nhu cầu đầu tư và đảm bảo sự phân bổ nguồn lực xãhội một cách hiệu quả Đây là lợi ích có tầm quan trọng sống còn đối với sựthịnh vượng kinh tế của xã hội
Lạm phát cao hay thiểu phát là rất tốn kém cho xã hội, thậm chí ngay
cả trong trường hợp nền kinh tế phát triển khả quan nhất, sự biến động liêntục của các tỷ lệ lạm phát dự tính làm méo mó, sai lệch thông tin và do đó làmcho các quyết định kinh tế trở nên không đáng tin cậy và không có hiệu quả.Nguy hiểm hơn, sự bất ổn định giá cả làm dẫn đến sự phân phối lại không dânchủ các nguồn lực kinh tế trong xã hội giữa các nhóm dân cư
Trang 10b Tăng trưởng kinh tế
CSTT phải đảm bảo sự tăng lên của GDP thực tế Đó là tỷ lệ tăngtrưởng có được sau khi trừ đi tỷ lệ tăng giá cùng thời kỳ Sự tăng trưởng phảiđược hiểu cả về khối lượng và chất lượng Chất lượng tăng trưởng được biểuhiện ở một cơ cấu kinh tế cân đối và khả năng cạnh tranh quốc tế của hànghóa trong nước tăng lên
Một nền kinh tế phồn thịnh với tốc độ tăng trưởng kinh tế ổn định làmục tiêu của bất kì một chính sách kinh tế vĩ mô nào Đó là nền tảng cho mọi
sự ổn định vì một nền kinh tế tăng trưởng sẽ đảm bảo các chính sách xã hộiđược thỏa mãn, là căn cứ để ổn định tiền tệ trong nước, cải thiện tình trạngcán cân thanh toán quốc tế và khẳng định vị trí của nền kinh tế trên thị trườngquốc tế
c Đảm bảo công ăn việc làm đầy đủ
CSTT phải quan tâm đến khả năng tạo công ăn việc làm, giảm áp lực
xã hội của thất nghiệp Công ăn việc làm đầy đủ có ý nghĩa quan trọng bởi ba
Trang 11Bên cạnh đó, cố gắng giảm tỷ lệ thất nghiệp tự nhiên cũng được coi làmục tiêu của CSTT.
Ngoài các mục tiêu trên, một số nước còn tập trung vào các mục tiêu cụthể, tùy thuộc vào đặc điểm phát triển kinh tế đặc thù của họ Chẳng hạn, Cục
dự trữ liên bang Mỹ theo đuổi các mục tiêu khác như ổn định thị trường tàichính, ổn định lãi suất hoặc NHNN VN nhằm mục tiêu ổn định hệ thống các
Tổ chức Tín dụng (TCTD) thay vì đảm bảo công ăn việc làm
d Mối quan hệ giữa các mục tiêu
Về mặt dài hạn, đường cong Philip trở nên thẳng đứng, ngụ ý rằng sẽkhông có mâu thuẫn giữa các mục tiêu của CSTT Tuy nhiên, hình dạngđường cong Philip ngắn hạn chỉ rõ sự mâu thuẫn giữa giá cả, tăng trưởng và
Thứ hai, mục tiêu công ăn việc làm mâu thuẫn với mục tiêu ổn định giá
cả còn thể hiện thông qua sự phản ứng của NHTW đối với các cú sốc cungnhằm đảm bảo mức cầu tiền thực tế, kết quả là giá cả tăng lên
Thứ ba, mâu thuẫn này còn được thể hiện thông qua định hướng điềuchỉnh tỷ giá; bằng việc hạ giá đồng bản tệ, các ngành công nghiệp xuất khẩu
có khả năng mở rộng Tỷ lệ thất nghiệp vì thế giảm thấp kèm theo sự tăng lêncủa mức giá chung Như vậy, việc duy trì một mức tỷ giá ổn định và thíchhợp sẽ làm giảm tỷ lệ công ăn việc làm, trong khi một mức tỷ giá cao hơn sẽgóp phần giảm tỷ lệ lạm phát
Thất nghiệp và tăng trưởng không có sự mâu thuẫn cả trong ngắn hạn
và trong dài hạn Công ăn việc làm cao sẽ thúc đẩy kinh tế phát triển và
Trang 12ngược lại Tuy nhiên, mối quan hệ giữa sự tăng trưởng và ổn định giá cả lạitương đối phức tạp; chúng mâu thuẫn nhau trong ngắn hạn nhưng lại bổ sungcho nhau trong dài hạn.
Như vậy, trong ngắn hạn NHTW không thể đạt được tất cả các mụctiêu trên Phần lớn NHTW các nước coi sự ổn định giá cả là mục tiêu chủ yếu
và dài hạn của CSTT, nhưng trong ngắn hạn đôi khi họ phải tạm thời từ bỏmục tiêu chủ yếu để khắc phục tình trạng thất nghiệp cao đột ngột hoặc cácảnh hưởng của các cú sốc cung đối với sản lượng NHTW được coi là cóquyền lực làm việc này vì nó nắm trong tay các công cụ điều chỉnh lượng tiềncung ứng Có thể nói NHTW theo đuổi một mục tiêu về dài hạn và đa mụctiêu trong ngắn hạn
1.1.2.2 Mục tiêu trung gian
Bằng việc sử dụng các công cụ của CSTT, NHTW không thể tác độngtrực tiếp và ngay lập tức đến các mục tiêu cuối cùng của nền kinh tế như: giá
cả, sản lượng và công ăn việc làm Ảnh hưởng của CSTT chỉ xuất hiện saumột khoảng thời gian nhất định từ 6 tháng đến 2 năm Sẽ là quá muộn vàkhông hiệu quả nếu NHTW đợi các dấu hiệu về giá cả, tỷ giá, thất nghiệp đểđiều chỉnh các công cụ Để khắc phục hạn chế này, NHTW của tất cả cácnước thường xác định các chỉ tiêu cần đạt được trước khi đạt được mục tiêucuối cùng Các chỉ tiêu này trở thành mục tiêu trung gian và mục tiêu hoạtđộng Mục tiêu trung gian bao gồm các chỉ tiêu được NHTW lựa chọn để đạtđược mục đích cuối cùng của CSTT Các chỉ tiêu thường được lựa chọn làmmục tiêu trung gian là tổng khối lượng tiền cung ứng (M1, M2 hoặc M3) hoặcmức lãi suất thị trường (ngắn và dài hạn) Tiêu chuẩn của chỉ tiêu trung gian:
- Có thể đo lường được: Các chỉ tiêu trung gian phải là các chỉ tiêu cóthể đo lường được một cách chính xác và nhanh chóng, bởi vì các chỉ tiêu nàychỉ có ích khi nó phản ánh được tình trạng của CSTT nhanh hơn mục tiêucuối cùng NHTW có thể dựa vào các dấu hiệu này để điều chỉnh hướng tác
Trang 13động khi cần thiết Hiển nhiên, NHTW không thể đưa ra một tỷ lệ tăng trưởngM2 nếu nó không biết hiện M2 đang tăng với tốc độ bao nhiêu Mặt khác, tiêuchuẩn này cũng chỉ cho NHTW biết nên chọn chỉ tiêu cụ thể nào trong tổnglượng tiền cung ứng và lãi suất.
- NHTW có thể kiểm soát được: Khi NHTW có khả năng kiểm soátmục tiêu trung gian, nó có thể điều chỉnh mục tiêu đó cho phù hợp với địnhhướng của CSTT Chẳng hạn, sự trông đợi của các nhà kinh doanh sẽ quyếtđịnh đến tổng đầu tư và do đó GDP, nhưng nếu chọn chỉ tiêu này làm mụctiêu trung gian, thì ảnh hưởng của NHTW đến mục tiêu này là rất ít Việc lựachọn các chỉ tiêu mà NHTW không có khả năng kiểm soát làm mục tiêu trunggian không chỉ ảnh hưởng đến định hướng và hiệu quả CSTT mà còn lãng phí
do mọi cố gắng để đạt được chỉ tiêu này không mang tính mục đích
- Có mối liên hệ chặt chẽ với mục tiêu cuối cùng: Đây là tiêu chuẩnquan trọng nhất của một mục tiêu trung gian Khả năng có thể đo lường chínhxác hoặc khả năng có thể kiểm soát của NHTW sẽ trở nên vô nghĩa nếu cácchỉ tiêu được chọn không có ảnh hưởng trực tiếp sản lượng hoặc giá cả Vấn
đề đặt ra là khối lượng tiền cung ứng hay lãi suất có mối liên quan chặt chẽvới tăng trưởng kinh tế
Cả tổng lượng tiền cung ứng và lãi suất đều thỏa mãn các tiêu chuẩntrên, nhưng NHTW không thể lựa chọn cả hai chỉ tiêu làm mục tiêu trunggian, mà chỉ có thể chọn một trong hai chỉ tiêu đó, căn cứ vào mối liên hệ củacác chỉ tiêu này đến các mục tiêu cuối cùng Bởi lẽ nếu đạt được mục tiêu vềtổng khối lượng tiền cung ứng thì phải chấp nhận biến động của lãi suất vàngược lại
Ngoài hai chỉ tiêu còn một số chỉ tiêu khác có thể là mục tiêu trunggian như tổng khối lượng tín dụng, tỷ giá Tuy nhiên, hạn chế lớn nhất củacác chỉ tiêu này là mối quan hệ của chúng với các mục tiêu cuối cùng rất phứctạp và không rõ ràng Vì thế, ít khi nó được sử dụng làm một mục tiêu độc
Trang 14lập, mà thường có thể được sử dụng cùng với các mục tiêu khác như tổnglượng tiền cung ứng hoặc lãi suất.
1.1.2.3 Mục tiêu hoạt động
Là các chỉ tiêu có phản ứng tức thời với sự điều chỉnh của công cụCSTT Các tiêu chuẩn lựa chọn chỉ tiêu làm mục tiêu hoạt động cũng tương tựnhư tiêu chuẩn lựa chọn mục tiêu trung gian
- Chỉ tiêu đó phải đo lường được nhằm tránh những sự suy diễn thiếu
chính xác làm sai lệch dấu hiệu của CSTT
- Phải có mối quan hệ trực tiếp và ổn định với các công cụ của CSTT.
- Phải có mối quan hệ chặt chẽ và ổn định với mục tiêu trung gian được
lựa chọn
Căn cứ vào tiêu chuẩn trên các chỉ tiêu thường được lựa chọn làm mụctiêu hoạt động của NHTW bao gồm:
a Lãi suất liên ngân hàng
Việc xác định một mức lãi suất cụ thể làm mục tiêu hoạt động căn cứtrước hết vào mục tiêu trung gian được lựa chọn, chẳng hạn lượng tiền cungứng M* Sau đó, mức cầu tiền của nền kinh tế được tính toán nhằm xác địnhmột mức lãi suất tại điểm cân bằng cung cầu tiền Với điều kiện cầu tiền ổnđịnh, việc khống chế lãi suất đó cho phép đạt được mức cung tiền mục tiêu.Trên cơ sở đó, mức lãi suất liên ngân hàng cụ thể được xác định nhằm đạtđược mục tiêu trung gian
b Dự trữ không vay
Được sử dụng căn cứ vào cơ chế tạo tiền của hệ thống ngân hàng và tổnglượng tiền cung ứng làm mục tiêu (được thể hiện trong công thức MS= m xMB) Dựa vào đẳng thức này khối lượng tiền cơ sở (MB) và dự trữ không vayđược tính toán và xác định sau khi đã loại trừ lượng tiền được công chúngnắm giữ và lượng dự trữ đi vay Mục tiêu tức thời của CSTT giờ đây là lượng
dự trữ không vay mà NHTW có thể chi phối thông qua nghiệp vụ TTM
Trang 15Cơ chế điều hành qua dự trữ không vay có hiệu quả khi có các dự tínhchính xác về dự trữ đi vay, nhu cầu nắm giữ tiền của công chúng và hệ sốnhân tiền Quan trọng hơn, mối quan hệ giữa dự trữ không vay và khối lượngtiền cung ứng phải chặt chẽ.
1.1.3 Các công cụ của chính sách tiền tệ
Công cụ CSTT là các hoạt động được thực hiện trực tiếp bởi NHTWnhằm ảnh hưởng trực tiếp hoặc gián tiếp đến khối lượng tiền trong lưu thông
và lãi suất, từ đó mà đạt được các mục tiêu của CSTT
1.1.3.1 Công cụ trực tiếp
Đây là công cụ tác động trực tiếp vào khối lượng tiền trong lưu thông(hoặc các mức lãi suất) Loại công cụ này được NHTW sử dụng dưới các hìnhthức: Quy định hạn mức tín dụng, khống chế trực tiếp lãi suất tiền gửi- lãisuất tiền vay, khống chế trực tiếp tỷ giá mua- bán ngoại tệ của các ngân hàng.Công cụ trực tiếp được áp dụng phổ biến ở các nước trong thời kỳ hoạt độngtài chính được điều tiết chặt chẽ là hạn mức tín dụng
Hạn mức tín dụng là mức dư nợ tối đa mà NHTW buộc TCTD phải tôntrọng khi cấp tín dụng cho nền kinh tế Mức dư nợ được quy định cho từngngân hàng căn cứ vào đặc điểm kinh doanh của từng ngân hàng (cơ cấu kháchhàng, mức rủi ro), định hướng cơ cấu kinh tế tổng thể, nhu cầu tài trợ các đốitượng chính sách và nó phải nằm trong giới hạn của tổng dư nợ tín dụng dựtính của toàn bộ nền kinh tế trong một khoảng thời gian nhất định Công cụnày thường được sử dụng trong trường hợp lạm phát cao nhằm khống chế trựctiếp và ngay lập tức lượng tín dụng cung ứng Trong trường hợp khi các công
cụ gián tiếp không phát huy hiệu quả do thị trường tiền tệ chưa phát triển,hoặc do mức cầu tiền tệ không nhạy cảm với sự biến động lãi suất hayNHTW không có khả năng khống chế và kiểm soát được sự biến động củalượng vốn khả dụng của hệ thống Ngân hàng Thương mại (NHTM) thì công
Trang 16cụ hạn mức tín dụng là cứu cánh của NHTW trong việc điều tiết lượng tiềncung ứng.
Tuy nhiên, hiệu quả điều tiết của công cụ này không cao bởi nó thiếulinh hoạt và đôi khi đi ngược lại với chiều hướng biến động của thị trường tíndụng do đó đẩy lãi suất lên cao hoặc làm suy giảm khả năng cạnh tranh củacác NHTM
Bên cạnh hạn mức tín dụng, NHTW có thể điều tiết trực tiếp các mụctiêu trung gian thông qua ấn định lãi suất hoặc tỷ giá
1.1.3.2 Công cụ gián tiếp
Đây là nhóm công cụ tác động trước hết vào mục tiêu hoạt động củaCSTT thông qua cơ chế thị trường mà tác động này được truyền đến các mụctiêu trung gian là khối lượng tiền cung ứng và lãi suất Thuộc về nhóm công
cụ này là:
a Dự trữ bắt buộc
Dự trữ bắt buộc (DTBB) là số tiền mà các NHTM buộc phải duy trìtrên một tài khoản tiền gửi không hưởng lãi tại NHTW Nó được xác địnhbằng một tỷ lệ phần trăm nhất định trên tổng số dư tiền gửi tại một khoảngthời gian nào đó Mức DTBB được quy định khác nhau căn cứ vào thời hạngửi tiền, vào quy mô và tính chất hoạt động của NHTM
Hiện nay, DTBB được quản lý theo nguyên tắc bình quân Có nghĩa làmức dự trữ yêu cầu cho một thời kỳ nào đó (thời kỳ duy trì) được xác địnhcăn cứ vào tỷ lệ phần trăm quy định trên số dư tiền gửi bình quân ngày trongthời kỳ trước (gọi là thời kỳ xác định) Thời kỳ xác định và thời kỳ duy trì cóthể nối tiếp nhau (Việt Nam áp dụng cách quản lý này với độ dài thời gian làmột tháng), có thể trùng nhau một giai đoạn nào đó hoặc có thể gần như trùngkhớp nhau Cách quản lý khác nhau có thể ảnh hưởng đến hiệu quả của công
cụ DTBB trong một chừng mực nào đó
Trang 17Cơ chế tác động của DTBB: Việc thay đổi tỷ lệ DTBB và do đó mứcDTBB ảnh hưởng đến lượng tiền cung ứng theo ba cách:
- Thứ nhất: Giả xử NHTW quyết định tăng tỷ lệ DTBB bộ phận dự trữ
dư thừa trước đây giờ trở thành DTBB, làm giảm khả năng cho vay của hệthống NHTM
- Thứ hai: Tỷ lệ DTBB tăng lên làm giảm mức cung vốn của NHTWtrên thị trường liên ngân hàng Trong điều kiện nhu cầu vốn khả dụng khôngthay đổi, sự giảm sút này làm tăng lãi suất liên ngân hàng, từ đó gây ảnhhưởng đến các mức lãi suất dài hạn và khối lượng tiền cung ứng
- Thứ ba: Tỷ lệ DTBB tăng làm tăng chi phí đầu vào cho NHTM, nếuchi phí này quá lớn buộc NHTM phải tăng lãi suất cho vay để bù đắp
Quyết định giảm tỷ lệ DTBB sẽ gây nên những ảnh hưởng ngược lại.Lợi thế chủ yếu của DTBB trong việc kiểm soát lượng tiền cung ứng là
sự thay đổi tỷ lệ DTBB sẽ ảnh hưởng một cách bình đẳng đến tất cả các ngânhàng Đây là công cụ có quyền lực ảnh hưởng rất mạnh đến khối lượng tiềncung ứng Chỉ cần một phần trăm thay đổi tỷ lệ DTBB tính trên tổng số dưtiền gửi bình quân ngày, mức dự trữ sẽ thay đổi đáng kể và dẫn đến sự thayđổi theo cấp số nhân của khối lượng tiền cung ứng Điều này làm cho công cụDTBB trở nên thiếu tính linh hoạt vì sự thay đổi thường xuyên sẽ gây nên sựbất ổn định cho hoạt động của các ngân hàng và chi phí cho sự điều chỉnhthích ứng với tỷ lệ DTBB mới là rất tốn kém Mặt khác, sự thay đổi DTBB(đặc biệt trong trường hợp tăng) gây ảnh hưởng ngay lập tức và trực tiếp đếnlượng vốn khả dụng của hệ thống ngân hàng Vì thế, công cụ này thườngđược sử dụng kết hợp với các công cụ khác nhằm điều chỉnh lượng vốn khảdụng của các ngân hàng khi cần thiết
b Chính sách tái chiết khấu
Chính sách tái chiết khấu bao gồm các quy định và điều kiện cho vaycủa NHTW đối với các NHTM NHTW cho vay ngắn hạn trên cơ sở chiết
Trang 18khấu các chứng từ có giá ngắn hạn; chủ yếu là tín phiếu kho bạc và thươngphiếu Các NHTM đi vay NHTW nhằm bù đắp hoặc bổ sung nhu cầu vốn khảdụng và hình thành nên bộ phận dự trữ đi vay Bộ phận này được sử dụng nhưbất cứ bộ phận dự trữ nào khác để bù đắp nhu cầu DTBB bổ sung số dự trữvượt mức để đáp ứng nhu cầu vốn của nền kinh tế hoặc ngăn chặn nguy cơphá sản của các ngân hàng khi cần thiết Điểm khác biệt chủ yếu giữa dự trữ
đi vay và dự trữ khác là chúng phải được trả lại cho NHTW khi đến hạn
- Cơ chế ảnh hưởng đến lượng tiền cung ứng: Trong công cụ nàyNHTW ấn định hạn mức tái chiết khấu Những thay đổi này ảnh hưởng đếnmục tiêu cuối cùng chỉ khi các NHTM có nhu cầu vay NHTW và ảnh hưởngqua cả hai con đường: Khối lượng và giá Khối lượng vốn khả dụng được bổsung từ NHTW có thể bị giới hạn hoặc nới rộng căn cứ vào hạn mức tái chiếtkhấu và các điều kiện tái chiết khấu, qua đó mà ảnh hưởng đến khả năng tạotiền của hệ thống NHTM Khi lượng vốn khả dụng thay đổi, nó sẽ làm choquan hệ cung cầu về vốn thay đổi và do đó lãi suất thị trường liên ngân hàngthay đổi
Sự thay đổi mức lãi suất tái chiết khấu tác động trước hết vào giá đầuvào của các NHTM vì thế các ngân hàng này dần dần tăng (hoặc giảm) lãisuất cho vay, do đó làm giảm (hoặc tăng) nhu cầu tín dụng Bên cạnh đó, khilãi suất chiết khấu tăng lên (hoặc giảm), các NHTM không thể vay NHTWmột cách dễ dàng (hoặc là mở rộng khả năng cho vay), điều này buộc cácNHTM phải giảm bớt khả năng cung ứng tín dụng để hồi phục dự trữ, hoặc
mở rộng cho vay trong trường hợp ngược lại
Sự thay đổi lãi suất tái chiết khấu được coi như dấu hiệu của địnhhướng CSTT của NHTW Vì thế, nó có hiệu ứng thông báo do sự trông đợi và
dự đoán của thị trường Các tuyên bố của NHTW về chiều hướng biến độnglãi suất tái chiết khấu: tăng lên (dấu hiệu của CSTT thắt chặt), giảm xuống(dấu hiệu của CSTT nới lỏng) có tác dụng hướng dẫn hành vi của thị trường
Trang 19theo định hướng CSTT Tuy nhiên, hiệu ứng thông báo chỉ có hiệu quả khi lãisuất tái chiết khấu phù hợp với mức lãi suất thị trường Trong trường hợp lãisuất tái chiết khấu cao hơn hoặc thấp hơn mức lãi suất thị trường, sự thay đổilãi suất thực chất là sự “điều chỉnh kỹ thuật” nhằm phù hợp với lãi suất thịtrường Hiệu ứng thông báo, trong trường hợp này sẽ trở nên phản tác dụng
Công cụ này có khả năng điều tiết một cách linh hoạt các mục tiêutrung gian Tuy nhiên, mức độ phát huy hiệu quả của công cụ này căn cứ vàomức độ phụ thuộc về vốn của NHTM vào NHTW, vì thế nó là công cụ kémchủ động Để khắc phục nhược điểm này người ta thường sử dụng kết hợpcông cụ DTBB
c Nghiệp vụ thị trường mở
Nghiệp vụ thị trường mở (TTM) là các hoạt động của NHTW trênTTM thông qua việc mua bán các chứng khoán Các hoạt động này ảnhhưởng trực tiếp đến dự trữ của các NHTM và ảnh hưởng gián tiếp đến cácmức lãi suất
- Cơ chế tác động của nghiệp vụ TTM:
Thứ nhất, khi NHTW mua (bán) các chứng khoán, nó sẽ làm tăng(giảm) ngay lập tức dự trữ của các NHTM, dù người bán là NHTM hay kháchhàng của nó Vì thế, khả năng tạo tiền gửi thông qua cung ứng tín dụng của hệthống ngân hàng giảm xuống, từ đó ảnh hưởng đến lượng tiền cung ứng
Thứ hai, khi vốn khả dụng của từng ngân hàng cá nhân giảm (tăng) dotác động của hoạt động TTM, mức cung vốn trên thị trường tiền tệ liên ngânhàng giảm xuống (hoặc tăng lên), trong điều kiện các yếu tố liên quan khôngđổi, lãi suất thị trường liên ngân hàng tăng lên (giảm xuống) Thông qua cáchoạt động arbitrage về lãi suất, ảnh hưởng này được truyền đến các mức lãisuất của các công cụ TTM và lãi suất thị trường trái phiếu Kết quả là chi phí
cơ hội đối với người có vốn dư thừa và giá vốn đầu tư đối với người thiếu hụt
Trang 20vốn tăng lên (giảm xuống), làm giảm nhu cầu đầu tư và nhu cầu tiêu dùng của
xã hội, và do đó mà giảm sản lượng, giá cả và công ăn việc làm
Thứ ba, hoạt động TTM còn ảnh hưởng đến cung cầu và do đó giá cácchứng khoán thuộc phạm vi can thiệp, chủ yếu là tín phiếu kho bạc Trongtrường hợp NHTW bán chứng khoán, lượng chứng khoán tăng lên trong khinhu cầu chứng khoán không tăng, làm cho giá cả các chứng khoán giảmxuống, mức sinh lời của chúng tăng lên Điều này buộc các tổ chức nhận tiềngửi phải tăng lãi suất để hạn chế tình trạng “phi trung gian hóa” Đồng thời lãisuất các chứng khoán mới phát hành cũng bị kích thích tăng tương ứng Đây
là công cụ điều tiết các mục tiêu trung gian có hiệu quả nhất vì nó rất linhhoạt và chủ động Hơn nữa, sự tác động của nghiệp vụ TTM là lợi dụng cơchế của thị trường nên các đối tượng chịu sự tác động thường là khó chống đỡhoặc đảo ngược lại chiều hướng điều chỉnh của NHTW Mặc dù nghiệp vụTTM được thực hiện theo nguyên tắc tự nguyện; những người kinh doanhchứng khoán không bắt buộc mua hoặc bán theo một giá ấn định nhưngNHTW có thể thực hiện được yêu cầu của mình bằng việc điều chỉnh giá saocho trở nên hấp dẫn đối tác Điều kiện quan trọng nhất cho phép sử dụng công
cụ này là sự phát triển của thị trường vốn thứ cấp nói chung và thị trường tiền
tệ nói riêng Các chứng khoán được mua, bán trong nghiệp vụ TTM là cácchứng khoán đã phát hành trước đây và đang lưu thông trên thị trường thứcấp Ngoài ra, NHTW phải có khả năng kiểm soát và dự đoán sự biến độngcủa lượng vốn khả dụng trong hệ thống ngân hàng
1.2 CHÍNH SÁCH MỤC TIÊU LẠM PHÁT
1.2.1 Cơ sở của chính sách mục tiêu lạm phát
CSMTLP hay lạm phát mục tiêu xuất phát từ lý luận cho rằng tỷ lệ lạmphát thấp và ổn định sẽ góp phần quan trọng vào quá trình tăng trưởng kinh tếtrong dài hạn và giảm thất nghiệp đồng thời tránh được những mâu thuẫntrong các mục tiêu của CSTT (chẳng hạn trong ngắn hạn, nếu quá tập trung
Trang 21vào tăng trưởng kinh tế thì lại gặp khó khăn trong việc kiểm soát lạm phát).CSTT nhằm thúc đẩy sự tăng trưởng khi nền kinh tế đã vượt quá mức sảnlượng tiềm năng sẽ dẫn tới mức lạm phát cao hơn.
1.2.2 Khái niệm, đặc điểm chính sách mục tiêu lạm phát
1.2.2.1 Khái niệm
Cho đến nay đã có 26 quốc gia và tới đây còn có nhiều quốc gia khác
áp dụng cơ chế CSMTLP nhưng có thể nói rằng cơ chế này vẫn còn hết sứcmới mẻ Cả về mặt lý luận và thực tiễn của cơ chế điều hành CSMTLP đangđược nhiều nhà lý luận và quản lý vĩ mô quan tâm, nghiên cứu Chính vì vậy
về phương diện kinh điển người ta cũng chưa đưa ra được một định nghĩachính thức về CSMTLP
Quỹ tiền tệ Quốc tế (IMF) định nghĩa như sau:
CSMTLP là một bản thông báo ra công chúng về chỉ tiêu trunghạn của lạm phát cũng như uy tín của cơ quan thẩm quyền vềtiền tệ để đạt mục tiêu này Các yếu tố khác bao gồm phổ biếnthông tin về các kế hoạch và mục tiêu của nhà hoạch định CSTTtới công chúng và thị trường, cũng như trách nhiệm giải trình củaNHTW để đạt được các chỉ tiêu lạm phát của mình Các quyếtđịnh về CSTT sẽ dựa trên độ lệch dự báo lạm phát (một cáchhoàn toàn hay rõ ràng) đóng vai trò là chỉ tiêu trung gian củaCSTT [66]
Xét ở góc độ tổng thể, nội hàm CSMTLP bao gồm các thành tố sau: (1)
về thông tin, đó là một bản báo cáo rộng rãi, công khai trước công chúng vàthị trường về chỉ tiêu lạm phát dự kiến trong năm kế hoạch của cơ quan thẩmquyền Thông thường, chỉ tiêu đó nằm trong một khoảng biên độ nhất định,(2) về trách nhiệm, khi mục tiêu lạm phát được cơ quan thẩm quyền công bốcũng đồng nghĩa với việc giao cho NHTW có trách nhiệm hàng đầu phải thựchiện mục tiêu đó và đó cũng là mục tiêu duy nhất của NHTW Để thực hiện
Trang 22mục tiêu lạm phát, NHTW được quyền linh hoạt lựa chọn kế hoạch, công cụ
và phải giải trình việc sử dụng nó với công chúng và thị trường; (3) về kỹthuật, khi đã quyết định sử dụng chỉ tiêu lạm phát để làm mục tiêu CSTT thìmột đòi hỏi đặt ra là các nhà hoạch định CSTT phải lựa chọn được cách thứcxác định chỉ tiêu lạm phát sao cho đảm bảo loại trừ ở mức độ tối đa các yếu tốlạm phát phi tiền tệ Mặt khác, trên cơ sở có đủ thông số cần thiết xây dựng kếhoạch sử dụng công cụ tác động thực hiện mục tiêu lạm phát một cách tối ưu,
và (4) ở góc độ đánh giá hiệu quả, mức độ đạt được của lạm phát mục tiêu làbằng chứng rõ ràng và tin cậy nhất về uy tín của NHTW
Theo các nhà kinh tế học Thomas Laubach, Rick Mickin và AdamPoxen định nghĩa về mục tiêu lạm phát như sau:
Mục tiêu lạm phát là nền tảng cơ sở cho CSTT, được đặc trưng bởi việcNHTW công bố với công chúng một mục tiêu định lượng chính thức(thường là một khung phạm vi hơn là một giá trị cụ thể) cho tỷ lệ lạmphát trong một hoặc vài thời kỳ, dựa trên quan điểm ổn định giá cá làmục tiêu duy nhất của CSTT trong dài hạn Một trong những đặc trưng
về quan điểm có tác động mạnh là công khai với công chúng về những
kế hoạch và mục tiêu của các nhà hoạch định chính sách và trong nhiềutrường hợp, là cả về cơ chế truyền dẫn, trong đó nhấn mạnh đến tráchnhiệm của NHTW trong việc theo đuổi mục tiêu [7]
Định nghĩa của Mishkin (2000) về cơ chế CSMTLP đã bao quát hầuhết các nội dung cơ bản của cơ chế CSMTLP trong các nghiên cứu trước đó
Lạm phát mục tiêu là một chiến lược của CSTT bao gồm 5 thành tốchính: công bố với công chúng mục tiêu lạm phát trung hạn định lượng
cụ thể; cam kết thể chế nhằm ổn định giá cả như mục tiêu tối thượngcủa CSTT, các mục tiêu khác chỉ là thứ yếu; chiến lược thông tin toàndiện, theo đó, nhiều biến số, không chỉ có cung tiền hay tỷ giá được sửdụng khi quyết định thiết lập các công cụ chính sách; tăng tính minh
Trang 23bạch của chiến lược CSTT thông qua cơ chế đối thoại và truyền thôngvới công chúng và thị trường về các kế hoạch, mục tiêu và quyết địnhcủa các nhà chức trách tiền tệ; tăng trách nhiệm giải trình của NHTW
về việc thực hiện các mục tiêu lạm phát [7]
Mặc dù còn những cách hiểu khác nhau về CSTMLP, song có thể kháiquát chung rằng CSMTLP là khuôn khổ điều hành và đánh giá CSTT baogồm 4 yếu tố chủ yếu sau:
(1) Ổn định giá cả hay lạm phát là mục tiêu chủ yếu hoặc duy nhất củaCSTT Các mục tiêu này phải rõ ràng cho công chúng thấy mục tiêu lạm phátđược ưu tiên hơn so với các mục tiêu khác của CSTT; (2) lạm phát mục tiêuđược xác định rõ ràng về mặt định lượng bằng một con số hoặc một khoảnggiá trị xác định NHTW cần thiết lập mô hình hay phương pháp dự báo lạmphát thông qua sử dụng một số các chỉ số chứa đựng thông tin về lạm pháttrong tương lai; (3) lộ trình thực hiện - khoảng thời gian để có thể đạt đượcmục tiêu lạm phát và (4) đánh giá việc thực hiện mục tiêu lạm phát củaNHTW - đặc biệt phản ánh sự minh bạch của CSTT
CSMTLP thực chất là một kiểu CSTT được cụ thể và lượng hóa, đểthực thi chính sách này, đòi hỏi NHTW phải được quyền định đoạt các công
cụ CSTT trước các tình huống kinh tế và không bị ảnh hưởng bởi các yếu tốchính trị
1.2.2.2 Đặc điểm
Đặc điểm chung của CSMTLP: CSMTLP có thể được mô tả như một
cơ chế điều hành CSTT dựa trên nền tảng sử dụng việc dự báo lạm phát làmchỉ số mục tiêu trung gian NHTW sẽ dự báo xu hướng lạm phát năm tới đểđưa chỉ số MTLP (định hướng bằng một chỉ số hoặc một khoảng biên độ) chonăm kế hoạch mà không có trách nhiệm thực hiện bất cứ chỉ tiêu nào khác.Trong giới hạn của mình, NHTW có thể linh hoạt lựa chọn và sử dụng cáccông cụ để đạt được mục tiêu duy nhất đó là chỉ số lạm phát mục tiêu
Trang 241.2.3 Nội dung của chính sách mục tiêu lạm phát
CSMTLP là một cơ chế CSTT trong đó NHTW cam kết một cách côngkhai, rõ ràng về việc giữ tỷ lệ lạm phát trong một vùng mục tiêu nhất định với
5 nội dung:
- Có sự công bố rộng rãi về những mục tiêu lạm phát trong trung hạnbằng những con số cụ thể Mục tiêu lạm phát thường được Chính phủ hoặcQuốc hội đặt ra Mục tiêu đó có thể là chỉ số giá tiêu dùng (CPI) như Anhhoặc lạm phát cơ bản như BaLan hoặc các chỉ số giá khác
- Có cam kết của cơ quan chức năng về việc coi bình ổn giá cả là mụctiêu duy nhất hay mục tiêu hàng đầu của CSTT, các mục tiêu khác được xếpsau về thứ tự quan trọng
- Có chiến lược tập trung thông tin, trong đó nhiều biến số được tổnghợp phân tích để quyết định sử dụng các công cụ chính sách (số liệu về tỷ giá,diễn biến lãi suất, xuất nhập khẩu, giá nguyên liệu đầu vào…)
- Tính minh bạch của CSTT được tăng cường thông qua đối thoại vớicông chúng, với thị trường về các kế hoạch, mục tiêu và quyết định củaNHTW
- Trách nhiệm của NHTW được tăng cường để hướng tới các mục tiêulạm phát đề ra
1.2.4 Ưu điểm, nhược điểm của chính sách mục tiêu lạm phát
1.2.4.1 Ưu điểm
- CSMTLP có tính minh bạch và rõ ràng cao: Thiết lập được khuôn khổCSTT minh bạch, một cơ chế đảm bảo chịu trách nhiệm trước quảng đại quầnchúng Nó tạo cho NHTW sự tự do, linh hoạt và chủ động hơn trong điềuhành CSTT
Trong CSMTLP, NHTW thường xuyên công bố với công chúng về kếhoạch, mục tiêu thực thi CSTT cũng như giải thích rõ ràng khi có những thay
Trang 25đổi trong quá trình thực hiện Một số NHTW thường xuyên có cuộc trao đổivới Chính phủ, một số thì ban hành luật trong đó quy định quyền độc lập củaNHTW trong hoạch định và thực thi CSTT, còn một số thì chính thức trả lờinhững thắc mắc của công chúng đồng thời các cán bộ tận dụng mọi cơ hội đểphát biểu trước công chúng về chiến lược CSTT Những kênh truyền thông đócũng được NHTW các nước không áp dụng CSMTLP sử dụng Tuy nhiên,một quốc gia áp dụng CSMTLP lại tiến một bước xa hơn Ngoài những kênhtrên, họ không những tham gia vào những chiến dịch tuyên truyền sâu rộnghay phân phát những cuốn sách nhỏ giới thiệu về CSTT mà họ còn in ấn, pháthành tài liệu như báo cáo lạm phát (như ở Anh) Ấn phẩm quảng cáo lạm phátrất có giá trị trong việc truyền đạt thông tin chính xác đến công chúng Cáckênh truyền thông kể trên được các NHTW sử dụng nhằm giải thích cho côngchúng cũng như các cá nhân, tổ chức tham gia thị trường tài chính và nhữngchính trị gia về các nội dung chính như sau:
+ Mục tiêu và giới hạn của CSTT, bao gồm cơ sở lý luận về CSMTLP.+ Giá trị định lượng của mục tiêu lạm phát
+ Mục tiêu lạm phát được xác định như thế nào trong đó có xem xétđến thực trạng nền kinh tế
+ Những nguyên nhân dẫn đến chệch mục tiêu đã đề ra
Những yếu tố trên đã tạo ra một CSTT minh bạch, rõ ràng và dễ hiểuđối với công chúng Từ đó tăng độ tin cậy của CSTT đây là yếu tố rất quantrọng trong điều hành CSTT giúp ổn định kinh tế xã hội
- CSMTLP tạo điều kiện cho CSTT tập trung vào các vấn đề trongnước và phản ứng với các cú sốc đối với nền kinh tế trong nước: CSMTLPkhông những không phụ thuộc vào đồng tiền của một nước thứ hai mà chínhsách này cũng không lệ thuộc vào quan hệ ổn định giữa tiền tệ và lạm phát.CSMTLP cho phép các nhà hoạch định CSTT không chỉ sử dụng một biến số
mà là tất cả những thông tin sẵn có để phục vụ cho việc thiết lập CSTT nhằm
Trang 26đạt được mục tiêu lạm phát đã đề ra Tính độc lập tương đối của NHTW đượcduy trì nên NHTW có thể đối phó hiệu quả với những cú sốc xảy ra trongnước cũng như bảo vệ nền kinh tế trước những cú sốc xảy ra bên ngoài quốcgia Vì vậy chính sách này có khả năng phản ứng rất nhanh nhạy với các cúsốc xảy ra đối với nền kinh tế.
- CSTT tăng tính chủ động và linh hoạt của NHTW trong điều hànhCSTT: Đây là đặc điểm cần thiết đối với mọi CSTT nhưng tính linh hoạttrong CSMTLP lại nổi bật hơn cả Cũng đã có quan điểm cho rằng CSMTLPmang tính cứng nhắc, áp đặt con số mục tiêu cứng nhắc và buộc NHTW phảiđạt được, nhưng thực tế thì không phải như vậy bởi một số lý do sau:
Trong cơ chế CSMTLP vừa tạo cho NHTW sự tập trung cần thiết, vừađược quyền tự do, linh hoạt và quyền tự quyết định nhất định trong điều hànhCSTT
+ Tính linh hoạt được thể hiện ở chỗ: CSMTLP mặc dù đặt mục tiêukiểm soát lạm phát lên hàng đầu nhưng vẫn không bỏ qua những mục tiêutruyền thống khác như sản lượng, công ăn việc làm… Theo như Svensson(1997), CSMTLP được phân thành hai loại: CSMTLP chặt chẽ và CSMTLPlinh hoạt CSMTLP chặt chẽ là CSTT trong đó NHTW chỉ quan tâm duy nhấttới việc kiểm soát lạm phát sao cho đạt được lạm phát mục tiêu đã đề ra,ngoài ra không quan tâm tới vấn đề khác Trái lại, CSMTLP linh hoạt làCSTT trong đó ngoài mục tiêu lạm phát NHTW còn quan tâm tới những biến
số kinh tế vĩ mô khác như ổn định lãi suất, tỷ giá hối đoái, sản lượng và công
ăn việc làm Thực tế đã cho thấy, hầu hết các NHTW trong đó có cả Ngânhàng dự trữ NewZealand đều lựa chọn theo đuổi một khuôn khổ CSMTLPlinh hoạt
+ Mục tiêu lạm phát: Nhiều nước chọn biên độ mục tiêu nhưng cũng cónước chọn điểm mục tiêu Tuy nhiên, biên độ nổi lên với nhiều ưu điểm hơn
do tính linh hoạt của nó Chẳng hạn, khi có cú sốc xảy ra đối với nền kinh tế,
Trang 27NHTW có thể điều hành CSTT nới lỏng hơn hoặc thắt chặt hơn chỉ cần đảmbảo lạm phát vẫn nằm trong biên độ dao động, thậm chí đạt ở mức trần haysàn của biên độ mục tiêu thì vẫn được coi là thành công trong điều hànhCSTT
+ Tính linh hoạt của khuôn khổ CSMTLP còn được thể hiện ở tầm nhìnmục tiêu Tầm nhìn mục tiêu hợp lý thường dao động từ 24 đến 36 tháng,không nên quá ngắn cũng không nên quá dài
Do ưu điểm nổi bật về tính linh hoạt của CSMTLP nên nó đã thànhcông trong việc kiểm soát lạm phát và ổn định các biến số kinh tế khác nhưsản lượng, công ăn việc làm, từ đó tạo ra tăng trưởng kinh tế cao và bền vững
- CSMTLP giúp giảm áp lực đối với NHTW so với việc theo đuổiCSTT đa mục tiêu: Trong CSTT đa mục tiêu NHTW chịu áp lực khi phải lựachọn mục tiêu nào là mục tiêu ưu tiên hàng đầu, mục tiêu nào phải hy sinhtrong giai đoạn này… Thực tế cho thấy trong mọi trường hợp, mục tiêu lạmphát luôn bị bỏ qua nhằm đạt được sự tăng trưởng về sản lượng và việc làmtrong ngắn hạn Nhưng lựa chọn này lại ảnh hưởng tiêu cực tới mục tiêu ổnđịnh giá cả trong dài hạn Do đó, rất dễ dẫn đến thất bại trong điều hànhCSTT Điều này đã gây áp lực lớn lên NHTW từ phía Chính phủ cũng nhưcông chúng Vì thế, NHTW rất khó trong điều hành và thực thi khi có nhiềumục tiêu mâu thuẫn nhau Đối với CSMTLP thì áp lực đó giảm đi đáng kể khichỉ tập trung vào một mục tiêu là lạm phát mà không cần tốn quá nhiều thờigian và công sức vào những biến số khác
- Do hướng vào một mục tiêu duy nhất là lạm phát nên CSMTLP đã tạo
tiền đề cho các mục tiêu kinh tế vĩ mô khác phát triển ổn định trong dài hạnnhư tăng trưởng kinh tế, việc làm Điều này được chứng minh rõ hơn khitiếp cận với các nền kinh tế đã áp dụng CSMTLP
1.2.4.2 Nhược điểm
Trang 28- Do cơ chế ràng buộc giữa quyền và trách nhiệm trong điều hành
CSMTLP nên chính NHTW có thể bị trả giá đắt nếu những gì họ tự quyếttrong việc điều hành CSTT lại dẫn đến lạm phát cao chứ không phải là lạmphát thấp và ổn định Khi năng lực điều tiết của CSTT không cao sẽ đẩyNHTƯ vào vòng luẩn quẩn trong việc lựa chọn ưu tiên giữa các cơ chế điềuhành (tỷ giá, lạm phát và khối lượng tiền) của CSTT
- Do các hiệu ứng của chính sách lên lạm phát có độ trễ về mặt thờigian nên NHTW không thể dễ dàng kiểm soát được lạm phát Như vậy, việcđạt được mục tiêu lạm phát một cách chính xác về thời gian thường gặp khókhăn và cũng vì thế mà việc đánh giá mức độ thành công của chính sách cũngthường chậm trễ
- Do cố gắng để đạt được mục tiêu lạm phát có thể dẫn đến một mứctăng trưởng không cao của công ăn việc làm và sản lượng trong ngắn hạn
- Do cơ chế ràng buộc thông tin giữa NHTW và công chúng nênNHTW luôn đứng trước áp lực phải minh bạch hơn đối thoại tốt hơn trong khikhông phải lúc nào họ cũng có thể đáp ứng yêu cầu này
1.2.5 Điều kiện thực hiện chính sách mục tiêu lạm phát
- Đảm bảo tính độc lập của NHTW trong điều hành CSTT đặc biệt là
độc lập về công cụ: NHTW được trao quyền cao và sự tín nhiệm để theo đuổilạm phát mục tiêu Tính độc lập này không có nghĩa là độc lập hoàn toàn,nhưng ít nhất phải được độc lập về công cụ, tức là độc lập trong sử dụng cáccông cụ CSTT để đạt được mục tiêu lạm phát
+ Ngân hàng Trung ương phải có quyền đặc biệt để theo đuổi MTLP và
tự mình đặt ra các công cụ của CSTT
+ Công chúng phải được thông báo về khuôn khổ CSTT và việc thựchiện CSTT
Trang 29- CSTT có một mục tiêu duy nhất (hoặc mục tiêu chính không phải làmục tiêu hỗ trợ cho các mục tiêu khác) là đạt được chỉ tiêu lạm phát: Phải cócam kết mang tính thể chế được phổ biến rộng rãi về việc bình ổn giá cả vàphải hiểu là mục tiêu quan trọng nhất của CSTT trong dài hạn Sự ủng hộ củacác nhà chính trị và của đông đảo quần chúng cho bình ổn giá cả cũng rấtquan trọng CSTT không bị chi phối bởi các mục tiêu khác như tăng trưởngkinh tế, thất nghiệp hay tỷ giá Khi ngân hàng duy trì cùng một lúc hai haynhiều mục tiêu thì thị trường không hiểu trong trường hợp xấu (lạm phát cao,kinh tế suy thoái, tỷ giá biến động) thì mục tiêu nào sẽ được ưu tiên thực hiện.
- Khu vực tài chính lành mạnh và phát triển: Sự phát triển vững vàngcủa hệ thống ngân hàng và hệ thống các định chế tài chính phi ngân hàng Thịtrường tài chính lành mạnh về chiều rộng lẫn chiều sâu, thể hiện ở hiệu quảhoạt động của hệ thống ngân hàng, trình độ phát triển của thị trường vốn,nhằm mục đích giảm thiểu xung đột với các mục tiêu bình ổn tài chính, như
hệ số an toàn vốn của hệ thống ngân hàng, độ sâu tài chính như mức độ vốnhóa của thị trường chứng khoán so với GDP, khối lượng trái phiếu khu vực tưnhân phát hành so với GDP, doanh số mua bán của thị trường vốn, trạng tháingoại hối của NHTM… Đồng thời cần sự phát triển của hệ thống ngân hàng
và hệ thống các TCTD phi ngân hàng
- CSTT không bị chi phối bởi chính sách tài khóa: Thể chế tài khóa, tàichính vững mạnh thể hiện sự cân bằng, kỷ luật rõ ràng trong thu chi ngânsách NHTW không tài trợ cho thâm hụt ngân sách hoặc phát hành tiền đểChính phủ tài trợ
Ngoài ra, còn một số điều kiện kỹ thuật khác: Có số liệu kinh tế vĩ môtốt, NHTW kiểm soát được lãi suất, các công cụ thị trường được sử dụng cóhiệu quả, những người làm chính sách hiểu về cơ chế truyền tải CSTT, có khảnăng dự báo lạm phát tốt, lạm phát vốn đã ở mức thấp
Trang 301.3 KINH NGHIỆM ÁP DỤNG CHÍNH SÁCH MỤC TIÊU LẠM PHÁT TRONG ĐIỀU HÀNH CHÍNH SÁCH TIỀN TỆ CỦA MỘT SỐ NƯỚC TRÊN THỂ GIỚI
CSMTLP được các nước phát triển áp dụng như là một khuôn khổ CSTT
từ đầu những năm 1990 đầu tiên là New Zealand vào tháng 3/1990, tiếp theo
là Canada vào tháng 2/1991, Anh vào tháng 10/1992 và Thụy Điển tháng1/1993… Việc áp dụng CSMTLP đã giúp các nước này khắc phục đượcnhững khó khăn trong điều hành CSTT sử dụng neo tỷ giá hay các đại lượngtiền tệ như là mục tiêu trung gian Thực tế đã minh chứng chính sách này rất
có hiệu quả đối với các nước phát triển Tuy nhiên, vào cuối những năm 1990,rất nhiều nước đang phát triển và những nước nền kinh tế mới nổi cũng thànhcông trong việc áp dụng CSMTLP như ChiLê, Thái Lan, Hàn Quốc… Chođến nay đã có khoảng 26 nước sử dụng CSMTLP, quy định lạm phát là mụctiêu của CSTT Ba nước là Phần Lan, Slovak và Tây Ban Nha đã sử dụngCSMTLP, nhưng đã chấm dứt thực hiện khi bắt đầu sử dụng đồng tiền chungChâu Âu
Trang 31Bảng 1.1 Các quốc gia thực hiện CSMTLP
Quốc gia Thời điểm
thực hiện
Mức lạm phát vào thời điểm thực hiện (%)
Mức lạm phát bình quân năm
2009 (%)
Lạm phát mục tiêu (%)
Trang 32Để nhìn nhận và đánh giá toàn diện hơn, chúng ta đi sâu phân tích kinhnghiệm của các nước đã áp dụng CSLPMT gồm cả nước phát triển và nướcđang phát triển.
1.3.1 Kinh nghiệm của một số nước phát triển
Hơn 20 năm qua kể từ khi CSMTLP được biết đến, đã có rất nhiềuquốc gia áp dụng nó Tuy có những điểm giống nhau vì cùng dựa trên những
lý thuyết cơ sở nhưng CSMTLP của mỗi nước lại mang những màu sắc khácnhau Để có cái nhìn tương đồng cũng như cơ sở so sánh và từ đó rút ra bàihọc kinh nghiệm cho Việt Nam, chúng ta có thể nhìn vào bảng 1.2 dưới đâyvới những tiêu chí cơ bản nhất
Bảng 1.2 Khung áp dụng CSMTLP tại một số nước
kỳ kinh tế
Công cụ đánh giá CPI cơ bản CPI cơ bản
Chỉ số giá bán lẻ, loại trừ chi phí lãi suất cầm cố
BTC và NHTW phối hợp thông báo
Hàng quý từ tháng 2/1993 KhôngCông bố lạm phát
Nguồn: Delelle, Guy (1997)
Trang 33Về lý thuyết, CSMTLP có một quy trình khá đơn giản, bản chất của nóbao gồm: NHTW dự báo xu hướng lạm phát năm sau; dự báo này được so vớichỉ số mục tiêu mà NHTW mong muốn đạt được, khoảng cách chênh lệchgiữa chỉ số dự báo và chỉ số mục tiêu sẽ nói lên mức độ mà CSTT cần điềuchỉnh Tuy nhiên, trên thực tế vấn đề kỹ thuật thực hiện quy trình này rất phứctạp và cũng có sự khác nhau rõ rệt giữa các quốc gia.
1.3.1.1 Vấn đề kỹ thuật
a Công bố mục tiêu lạm phát
Khi tiếp cận với việc công bố chỉ số lạm phát mục tiêu, ta có thể thấy rõ
sự khác nhau giữa các quốc gia (xem bảng 1.3) Cơ quan công bố chỉ số lạmphát mục tiêu có thể do NHTW tự mình công bố như Australia, Thụy Điển,cũng có thể là sự thỏa thuận giữa NHTW và BTC như Canada, New Zealand,hoặc Chính phủ công bố như Vương Quốc Anh Cũng có một số nước, chỉ sốlạm phát mục tiêu trước tiên được NHTW thông báo và trong nhiều trườnghợp do Chính phủ phê duyệt Như vậy, ở đâu tính độc lập của NHTW càngcao thì ở đó NHTW sẽ càng phải có trách nhiệm quản trị cơ chế lạm phát mụctiêu, bao gồm: xây dựng chỉ tiêu, công bố và thực thi Từ đó, có thể rút ra kếtluận là: Chủ thể xây dựng, công bố và thực thi chỉ tiêu lạm phát phụ thuộc rấtnhiều vào tính độc lập của NHTW
Bảng 1.3 Công bố mục tiêu lạm phát
Cơ quan công bố mục tiêu lạm phát Quốc gia
Phối hợp giữa Chính phủ và NHTW Canada, New Zealand
Nguồn: Schaechter, Andrea, Mark R Stone, and Mark Zelmer (2000)
Trong tất cả các nước áp dụng CSMTLP chỉ có Ngân hàng Dự trữ củaNew Zealand và Ngân hàng của nước Anh công bố dự báo lạm phát năm tới,còn lại các nước khác đều không làm việc này Do vậy, Thống đốc NHTW
Trang 34Châu Âu, W Duisenberg đã khuyến cáo rằng: “Công bố dự báo lạm phátkhông nên thay đổi và cần có sự giải thích của Cơ quan thực thi Xã hội cần
có một dự báo duy nhất, dự báo phải được tổng hợp kỹ lưỡng và phân tíchtoàn diện từ nhiều chỉ số, tránh đơn giản hóa Công bố lạm phát dự báo duynhất sẽ giúp công chúng hiểu được quyết tâm thực thiện CSTT của nhà hoạchđịnh CSTT Nếu không sẽ làm xã hội hiểu lầm về tính minh bạch của CSTT”
b Xác định chỉ số lạm phát mục tiêu
Vấn đề xác định chỉ số lạm phát mục tiêu cũng có sự khác nhau cơ bảnliên quan đến 3 thông số chính của mục tiêu: Tầm nhìn mục tiêu, chỉ số lạmphát mục tiêu và tính linh hoạt của chỉ số lạm phát mục tiêu
Bảng 1.4 Tầm nhìn mục tiêu
Quốc gia
Áp dụng CSMTLP lần đầu
KhôngxácđịnhThụy Điển 1/1993 4,8 1996 hoặc dài hơn
Nguồn: Phí Trọng Hiển (2005)
- Tầm nhìn mục tiêu: Chỉ quãng thời gian mà quốc gia có thể đạt được
và duy trì mục tiêu kế hoạch đã đề ra Hiện nay, có hai phương pháp tính toánxem là tối ưu: Phương án thứ nhất, lạm phát mục tiêu được xem như là mộtchính sách giảm thiểu tối đa gây sốc cho nền kinh tế Phụ thuộc vào thực
Trang 35trạng từng nền kinh tế mà tầm nhìn mục tiêu thường dao động từ 24 tháng đến
36 tháng Phương án thứ hai, lạm phát mục tiêu dựa trên quy luật kinhnghiệm Phương pháp này phụ thuộc vào tầm nhìn “sâu” vào tương lai củaNHTW cũng như các vấn đề thay đổi của nền kinh tế mà NHTW quan tâm,hay nói cách khác là “số lượng” giai đoạn mà NHTW có thể dự báo về tìnhtrạng của nền kinh tế
Ngoài ra, việc xác định tầm nhìn mục tiêu phụ thuộc rất nhiều vào tỷ lệlạm phát tại thời điểm bắt đầu thực hiện CSMTLP Ví dụ (xem bảng 1.4),Canada và NewZealand bước thứ nhất họ sử dụng lạm phát mục tiêu như mộtliều thuốc chống lạm phát, độ dài mục tiêu là 18 tháng Bước tiếp theo, mụctiêu là tiếp tục đạt được mức lạm phát thấp hơn với khoảng thời gian là 12tháng đối với NewZealand và 18 tháng đối với Canada Sau khi đạt đượcthành công về giá trị chỉ số có lợi cho nền kinh tế trong kế hoạch dài hạn, chỉ
số mục tiêu nên được duy trì ở mức cố định trong một khoảng thời gian là 5năm là khoảng thời hạn mà NHTW của NewZealand đề ra Tại Canada cũngtương tự như vậy, đây là khoảng thời gian cần thiết để hiểu rõ hơn chuyểnđộng của nền kinh tế trong điều kiện lạm phát thấp và qua đó nói lên tính ổnđịnh giá cả trên thực tế Tại Vương Quốc Anh, tầm nhìn mục tiêu để duy trìmức lạm phát nằm trong biên độ 1% - 4% được xây dựng phù hợp với thờihạn kết thúc nhiệm kỳ Nghị viện vào giữa năm 1997 Sau thời điểm này, lạmphát được duy trì ổn định ở mức không quá 2,5% với thời hạn không xácđịnh Tại Thụy Điển, mục tiêu được tiến hành vào đầu năm 1993, nhưng thờihạn đạt được kế hoạch lại không sớm hơn năm 1996
- Chỉ số giá cả: Thực tế, hầu hết các nước khi đánh giá lạm phát đều sửdụng chỉ số giá cả tiêu dùng CPI làm công cụ nền tảng, bởi CPI có những lợithế riêng như: Tính quảng bá tương đối rộng đối với xã hội, được công bố vàtính toán thường xuyên Nhưng bên cạnh đó, NHTW không hiếm khi đưa ra
Trang 36chỉ số giá cả khác mà nó chính là CPI hoặc CPI đã loại trừ một số yếu tố- chỉ
số điều chỉnh này thường được gọi là chỉ số lạm phát cơ bản
Thông thường CPI bao gồm những nhóm hàng hóa và dịch vụ Cónhiều mặt hàng mà giá cả của nó là những yếu tố nằm ngoài tầm kiểm soátcủa NHTW Vì nguyên nhân này nên trong quá trình kiểm soát, NHTW cầnđiều chỉnh hoặc loại bỏ khỏi CPI những nhóm mặt hàng hoặc dịch vụ mà giá
cả của chúng hoặc do Chính phủ điều hành hoặc thường bị dao động, hay nóicách khác, nó không phụ thuộc vào tác động của NHTW Trên thực tế, ngoàiviệc điều chỉnh giá của Chính phủ thì thay đổi của thuế gián thu, giá lươngthực thực phẩm hay một số mặt hàng mà giá cả có tính thay đổi thường xuyênhoặc ít nhạy cảm với các công cụ của CSTT cũng được rất nhiều nước, baogồm cả các nước công nghiệp phát triển, loại bỏ khỏi CPI Bảng 1.5 là ví dụ
về một số nhóm mặt hàng, dịch vụ hay được loại bỏ khỏi CPI tại các nước ápdụng CSMTLP trong điều hành CSTT
Bảng 1.5 Một số mặt hàng loại bỏ khi điều chỉnh CPIcủa một số
quốc gia áp dụng CSMTLP
Quốc gia
Vương quốc Anh
Giá các mặt hàng được
điều chỉnh bởi Chính phủ
Giá một số năng lượng
tiêu biểu
Giá lương thực, thực phẩm +
Nguồn: Mahadeva, L and Sterb G (2000)
Các nhà phân tích kinh tế cũng nhấn mạnh rằng trong mọi trường hợp,NHTW và Chính phủ phân tích các yếu tố (dựa trên CPI) cần cân nhắc đến
Trang 37ảnh hưởng của Chính phủ cũng như tác động của công cụ CSTT đến mụctiêu Theo kinh nghiệm thế giới, rất nhiều nước lựa chọn 2%/năm là chỉ sốlạm phát mục tiêu cho quốc gia.
Bảng 1.6 Chỉ số giá cả
Lạm phát cơ bản NewZealand, Canada, Australia, Vương quốc Anh
Nguồn: Schaechter, Andrea, Mark R Stone, anh Mark Zelmer (2000)
- Chiều rộng biên độ: Như đã nói ở trên, chỉ số lạm phát mục tiêu luôn
phản ánh ý đồ cũng như phương hướng điều hành của NHTW Trên mức độ
lý thuyết “ổn định giá cả” cần phù hợp với mức độ lạm phát bằng không Tuynhiên, trên thực tế rất nhiều NHTW hiểu rằng “ổn định giá cả” là khi tìnhtrạng nền kinh tế có mức lạm phát không cao, theo quy luật, nằm trongkhoảng 2%-3%/ năm Lựa chọn này được hình thành trên một loạt các lý luận
về sự bất hợp lý đối với nền kinh tế khi tỷ lệ lạm phát âm và lợi ích của tỷ lệlạm phát lớn hơn 0 và ở mức thấp Mức lạm phát này (2%-3%/năm) sẽ giúpcho nền kinh tế có khả năng thoát khỏi tình trạng suy thoái cũng như tạo ra sựthay đổi cần thiết vừa phải cho hàng hóa từ phương diện nâng cao chất lượngsản phẩm
Bảng 1.7 Điểm mục tiêu/ Biên độ mục tiêu Điểm mục tiêu/ Biên độ mục tiêu Quốc gia
Biên độ mục tiêu với chiều rộng biên độ
<=2%
Australia (2%-3%), Canada 3%)
(1-Biên độ mục tiêu với chiều rộng biên độ
Nguồn: Schaechter, Andrea, Mark R.Stone, Mark Zelmer
Trang 38Một sự khác nhau cơ bản nữa giữa các nước trong việc xác định chỉ sốlạm phát mục tiêu là khoảng biên độ cho phép đối với lạm phát thực tế Cómột số quốc gia ấn định chỉ số lạm phát mục tiêu là một chỉ số như tại PhầnLan, Ngân hàng Phần Lan cố gắng đạt được giá trị của chỉ số mục tiêu là 2%(xem bảng 1.7) nhưng có quốc gia lại không chọn giá trị của mục tiêu là mộtchỉ số mà là một khoảng biên độ như tại NewZealand (0%-3%), Canada (1-3%), Vương Quốc Anh (1-4%) Tại Tây Ban Nha, chỉ số lạm phát mục tiêulại được cố định ở ranh giới cao nhất (mức trần) của lạm phát (<3%).
Như vậy, phương án lựa chọn biên độ phụ thuộc vào khả năng kiểmsoát lạm phát của NHTW và các quốc gia cần tìm ra cho mình một biên độ tốiưu: Nếu biên độ hẹp- rất khó duy trì; nếu biên độ rộng - phản ánh năng lựcyếu kém của NHTW trong điều hành CSTT
1.3.1.2 Hệ thống báo cáo
Lạm phát mục tiêu không chỉ là mục tiêu của CSTT mà còn có ý nghĩađánh giá hoạt động của NHTW Nếu NHTW đạt được thành công về giá trịmục tiêu cũng như về thời gian đặt ra thì có thể nói rằng NHTW hoạt độnghiệu quả Điều này chỉ có thể được kiểm tra thông qua mức công khai vàminh bạch trong hoạt động của NHTW Tại nhiều quốc gia, Thống đốcNHTW đều đặn hàng năm báo cáo trước Nghị viện (ở Việt Nam là Quốc hội).Đây là một phương pháp kiểm soát hữu hiệu của xã hội về hoạt động tiền tệcủa cơ quan quản lý tiền tệ Hệ thống báo cáo của NewZealand được rất nhiềuNHTW các nước áp dụng nguyên mẫu Từ năm 1989 ban điều hành Ngânhàng Dự trữ của NewZealand định kỳ 6 tháng công bố rộng rãi kết quả phântích mục tiêu năm sau và xem xét chiến lược hoạt động 6 tháng tiếp theo CònNgân hàng của Vương Quốc Anh thực hiện đều đặn nhất, cơ quan quản lýtiền tệ nước này cứ 5-6 tuần lại trình báo cáo lên Ủy ban CSTT
Sau đây đi sâu phân tích việc thực thi khuôn khổ chính sách này ở từngnước cụ thể
Trang 391.3.1.3 Quá trình áp dụng chính sách mục tiêu lạm phát tại một số nước phát triển
a Tại NewZealand và Australia
Sau khi đẩy lùi được lạm phát từ mức 17% vào năm 1985 xuống còn5% vào năm 1989, Nghị viện New Zealand đã thông qua một chương trìnhhành động mới của Ngân hàng dự trữ New Zealand vào năm 1989 và có hiệulực thi hành vào 01/02/1990 Ngoài việc tăng tính độc lập cao nhất trong sốnhững nước công nghiệp phát triển Chương trình còn đưa ra cam kết ổn địnhgiá cả là mục tiêu duy nhất của Ngân hàng dự trữ, Bộ trưởng BTC và Thốngđốc Ngân hàng dự trữ chịu trách nhiệm hoàn toàn trong việc thực thi thànhcông CSTT Nếu không đạt được mục tiêu như đã cam kết thì Thống đốcNgân hàng dự trữ sẽ bị sa thải
Thỏa ước mục tiêu chính sách đầu tiên được ký kết giữa Bộ trưởngBTC và Thống đốc Ngân hàng dự trữ vào 02/3/1990, trong đó Ngân hàng dựtrữ cam kết đạt được tỷ lệ lạm phát hàng năm là 3-5% vào cuối năm 1990 vớimức độ giảm dần vào những năm tiếp theo ở biên độ 0-2% vào năm 1992.Ngân hàng dự trữ duy trì mức lạm phát 0-2% cho đến cuối năm 1996, sau đóthay đổi ở mức 0-3% Kết quả là do thực thi CSTT thắt chặt nên lạm phát đãgiảm từ mức trên 5% xuống còn dưới 2% vào cuối năm 1992 nhưng tỷ lệ thấtnghiệp lại tăng cao Tuy nhiên, từ năm 1992-1996, lạm phát ở NewZealandduy trì ở mức thấp, tỷ lệ tăng trưởng kinh tế đạt mức cao, trong đó có một sốnăm vượt mức 5% và tỷ lệ thất nghiệp giảm đáng kể
CSMTLP của NewZealand được xây dựng rất linh hoạt Tính linh hoạtđược thể hiện thứ nhất về biên độ dao động mục tiêu được giảm từ từ vàhướng tới mục tiêu ổn định giá cả trong dài hạn Việc làm này đã giúp tốithiểu hóa sự biến động về sản lượng Thứ hai, Ngân hàng dự trữ cũng quantâm tới sàn của biên độ cũng như trần của biên độ mục tiêu Điều đó nói lênrằng CSMTLP của NewZealand không phải chỉ quan tâm đến kiềm chế lạm
Trang 40phát mà còn chú ý đến tăng trưởng sản lượng Cụ thể là, vào tháng 9/1991,Ngân hàng dự trữ đã thực hiện CSTT nới lỏng nhằm ngăn chặn lạm phát giảmxuống dưới mức sàn Thứ ba, khuôn khổ CSMTLP tạo điều kiện cho Ngânhàng dự trữ phản ứng tốt hơn với những cú sốc ảnh hưởng đến lạm phát, baogồm: sự thay đổi đáng kể về thương mại và thuế gián thu tác động tới mức giá
và các cú sốc cũng như dịch bệnh
Tuy nhiên, CSMTLP của NewZealand vẫn còn có một số nhân tố mangtính cứng nhắc như: Tầm nhìn mục tiêu trong một năm, biên độ dao động mụctiêu còn hẹp vào thời điểm ban đầu và quy định hình phát quá nặng đối vớiThống đốc Ngân hàng dự trữ nếu như không kiểm soát được lạm phát như đãcam kết cho dù chỉ chệch rất ít so với mục tiêu Những yếu tố này đã dẫn đếnhai vấn đề nghiêm trọng: (1) Tính có thể kiểm soát được nghĩa là Ngân hàng
dự trữ gặp khó khăn trong việc kiểm soát lạm phát nằm trong biên độ hẹp nhưvậy, (2) tính bất ổn định của các công cụ CSTT, có nghĩa là sự thay đổithường xuyên trong các công cụ CSTT, lãi suất và tỷ giá hối đoái Vào năm
1995, tỷ lệ lạm phát trong tầm nhìn một năm chỉ vượt quá mức trần là 0,2%
đã khiến cho Thống đốc bị sa thải theo Luật NHTW
Không giống với NewZealand, Australia không thông qua luật phápthực thi khuôn khổ CSMTLP Thay vào đó, trong một bài phát biểu tháng3/1993, Thống đốc Ngân hàng dự trữ đã đề cập tới việc đạt được tỷ lệ lạmphát 2-3% trong vài năm và thực tế đã đạt được kết quả rất tốt Do đó, vàotháng 9/1994, Ngân hàng dự trữ đã chính thức cam kết đạt mục tiêu lạm phát
là 2-3% Không giống với NewZealand, khuôn khổ CSMTLP của Australianhấn mạnh vào tính linh hoạt về mọi mặt của quá trình vận hành khuôn khổnày, từ định nghĩa mục tiêu cho tới nhận thức về sự thận trọng trong việcphản ứng với các cú sốc Những cú sốc cung được giải quyết bằng việc trựctiếp loại trừ giá của mặt hàng thực phẩm và năng lượng ra khỏi chỉ số giá mụctiêu Mặt khác, cũng giống như NewZealand, Australia áp dụng khuôn khổ