44 PHẦN MỞ ĐẦU 1 Tính cấp thiết của đề án Nghiên cứu về cuộc đời, sự nghiệp cũng như hệ thống tư tưởng của Chủ tịch Hồ Chí Minh, chúng ta thấy tư tưởng cốt lõi của Người là độc lập dân tộc gắn liền vớ[.]
Trang 1PHẦN MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề án
Nghiên cứu về cuộc đời, sự nghiệp cũng như hệ thống tư tưởng của Chủ
tịch Hồ Chí Minh, chúng ta thấy tư tưởng cốt lõi của Người là độc lập dân tộc gắn liền với chủ nghĩa xã hội mà thực chất là giải phóng con người. Vấn đề
con người và phát huy nhân tố con người để xây dựng và bảo vệ Tổ quốc làmột vấn đề trung tâm, xuyên suốt, luôn được đề cập đến như một mục tiêuthiêng liêng, cao cả nhất của sự nghiệp cách mạng mà Hồ Chí Minh theo đuổi
và luôn được tỏa sáng trong từng suy nghĩ và hành động của Người
Chủ tịch Hồ Chí Minh đã chỉ rõ vai trò của nhân tố con người đối với sựnghiệp cách mạng, đối với sự phát triển của xã hội Trong bất kỳ thời kỳ nào,giai đoạn cách mạng nào, con người vẫn luôn là vốn quý nhất, là mục tiêu, làđộng lực của sự nghiệp cách mạng, vì vậy cần phải có những cách thức để tácđộng làm cho nhân tố con người được bộc lộ và phát huy Đây được coi lànhững tư tưởng có giá trị to lớn, làm rõ nhân tố có vai trò quyết định đối vớinhững thắng lợi rực rỡ của cách mạng Việt Nam trong quá khứ, hiện tại vàtương lai
Nhân tố con người và phát huy nhân tố con người trong tư tưởng Hồ ChíMinh có ý nghĩa quan trọng, trở thành nền tảng tư tưởng, kim chỉ nam chođường lối, chính sách của Đảng ta về sử dụng, phát huy nhân tố con người ởViệt Nam hiện nay
Trong bối cảnh cuộc cách mạng khoa học – công nghệ phát triển như vũbão, toàn cầu hoá trở thành xu thế tất yếu, kinh tế tri thức trở thành một đặctrưng của nền kinh tế thế giới thì vai trò động lực, vị trí trung tâm của conngười trong quá trình phát triển đã thực sự được khẳng định Con người và pháthuy nhân tố con người thu hút sự quan tâm, chú ý, được thảo luận rộng rãi trêncác diễn đàn trong nước và quốc tế Trong tiến trình phát triển cả lý luận vàthực tiễn đều chứng minh: nhân tố con người đóng vai trò quyết định xu hướng
Trang 2vận động của thế giới đương đại Luôn theo sát sự biến động của thời cuộc,đánh giá đúng đắn vị trí, vai trò của nhân tố con người, Nghị quyết Đại hội đạibiểu toàn quốc lần thứ XI (01.2011) của Đảng Cộng sản Việt Nam chỉ rõ: Lấyviệc phát huy nguồn lực con người làm yếu tố cơ bản cho sự phát triển nhanh
và bền vững; nâng cao dân trí, bồi dưỡng và phát huy nguồn lực to lớn của conngười Việt Nam là nhân tố quyết định thắng lợi của cách mạng Việt Nam Conngười thực sự là nguồn lực của mọi nguồn lực, tài nguyên của mọi tài nguyên,
là nguồn lực nội sinh quan trọng nhất quyết định thành công của sự nghiệp xâydựng xã hội chủ nghĩa ở nước ta
Trải qua 65 năm xây dựng và phát triển, Học viện Chính trị quốc gia HồChí Minh luôn là trung tâm quốc gia đào tạo, bồi dưỡng cán bộ lãnh đạo, quản
lý chủ chốt trung, cao cấp; cán bộ khoa học lý luận chính trị của hệ thống chínhtrị; trung tâm quốc gia nghiên cứu khoa học lý luận Mác - Lênin, tư tưởng HồChí Minh, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước, các khoahọc chính trị, khoa học lãnh đạo, quản lý1 Học viện đã vinh dự được Đảng vàNhà nước tặng thưởng nhiều phần thưởng cao quý như Huân chương Hồ ChíMinh, Huân chương Sao Vàng, Anh hùng lao động trong thời kỳ đổi mới Đểthực hiện được nhiệm vụ chính trị đó, Học viện luôn luôn coi trọng nâng caochất lượng toàn diện đội ngũ cán bộ, đổi mới mạnh mẽ, công tác đào tạo, bồidưỡng cán bộ để ngang tầm với đòi hỏi của công cuộc đổi mới và hội nhậpquốc tế Sự nỗ lực, cố gắng không mệt mỏi của các thế hệ cán bộ của Học viện
là nhân tố quyết định mọi thành công kể trên
Đánh giá cao vai trò của con người và nhân tố con người, Đảng ủy vàlãnh đạo Học viện đã luôn quan tâm xây dựng, bồi dưỡng và rèn luyện đội ngũcán bộ một cách toàn diện từ lập trường, quan điểm chính trị, phẩm chất đạođức đến trình độ chuyên môn, nghiệp vụ, kiến thức thực tiễn, phương pháp
máy của Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh, ngày 06 tháng 01 năm 2014, Hà Nội.
Trang 3nghiên cứu và giảng dạy; hoàn thiện cơ chế, chính sách nhằm khuyến khích sựsáng tạo, tạo động lực cho phát triển khoa học, đồng thời tôn vinh các cán bộ,các nhà giáo, các nhà khoa học, nhất là các chuyên gia đầu ngành Đó là nhữngnhân tố làm bộc lộ và phát huy một cách hiệu quả nhân tố con người, nhân tố
đã góp phần đưa Học viện thực sự trở thành một trung tâm quốc gia về đào tạo,bồi dưỡng cán bộ và nghiên cứu lý luận, có những đóng góp thực sự vào quátrình hoạch định đường lối, chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước,khẳng định được vị thế, vai trò của Học viện trong sự nghiệp đổi mới
Tuy nhiên, trước những yêu cầu đòi hỏi của tình hình trong nước và thếgiới như hiện nay, đội ngũ cán bộ của Học viện vẫn chưa thực sự đáp ứng đượcyêu cầu và nhiệm vụ đặt ra Vì vậy, Học viện cần phải tiếp tục, thường xuyên,liên tục có những giải pháp tích cực nhằm phát huy tối đa nhân tố con người;phải nâng cao về số lượng và chất lượng đội ngũ cán bộ, đủ sức đảm đươngngày càng tốt hơn nhiệm vụ mà Đảng và Nhà nước giao phó trong thời kỳ mới Làm thế nào để phát huy có hiệu quả nhân tố con người trong thời kỳ đầybiến động như hiện nay? Đây là vấn đề lý luận và thực tiễn quan trọng đòi hỏiphải được nghiên cứu một cách cơ bản, có hệ thống nhằm tìm kiếm những giảipháp kịp thời, phù hợp với yêu cầu của thực tiễn
Với lý do đó, tôi chọn đề tài “Một số giải pháp nhằm phát huy nhân tố
con người ở Trung tâm Học viện Chính trị Quốc gia hiện nay theo tư tưởng
Hồ Chí Minh ” làm chủ đề nghiên cứu cho đề án tốt nghiệp chương trinh cao
cấp lý luận chính trị, hệ tập trung, năm học 2014-2015
2 Mục tiêu và nhiệm vụ của đề án
2.1 Mục tiêu
Trên cơ sở phân tích khái quát những nội dung cơ bản của tư tưởng HồChí Minh về phát huy nhân tố con người, đề án làm sáng tỏ thực trạng phát huynhân tố con người, chỉ ra những mặt tích cực, hạn chế, tìm nguyên nhân để từ
Trang 4đó đề xuất những giải pháp nhằm phát huy có hiệu quả nhân tố con người ởtrung tâm Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí minh trong giai đoạn hiện nay.
3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu của đề án
3.1 Đối tượng nghiên cứu
Tư tưởng Hồ Chí Minh về phát huy nhân tố con người
Công tác phát huy nhân tố con người ở trung tâm học viện Chính trị quốcgia Hồ Chí Minh
3.2 Phạm vi nghiên cứu
Đề án nghiên cứu những nội dung cơ bản trong tư tưởng Hồ Chí Minh vềphát huy nhân tố con người và sự vận dụng tư tưởng Hồ Chí Minh trong việcxây dựng nhân tố con người ở ở trung tâm học viện Chính trị quốc gia Hồ ChíMinh thời kỳ đổi mới
4 Phương pháp nghiên cứu
Đề án sử dụng các phương pháp logic và lịch sử, kết hợp phân tích, so sánh
và đối chiếu và các phương pháp liên ngành khác
5 Ý nghĩa của đề án
Đề án thành công một lẫn nữa khẳng định tính khoa học đúng đắn của tưtưởng Hồ Chí Minh về phát huy nhân tố con người, góp phần vào việc đưa racác giải pháp nhằm phát huy tối đa nhân tố con người ở Trung tâm Học việnChính trị quốc gia Hồ Chí Minh
Trang 5Phần III: Tính khả thi và hiệu quả của đề án
Phần IV: Tổ chức thực hiện đề án
Phần V: Kết luận và một số kiến nghị
Trang 6PHẦN I: TƯ TƯỞNG HỒ CHÍ MINH VỀ CON NGƯỜI
VÀ PHÁT HUY NHÂN TỐ CON NGƯỜI
1 Quan niệm Hồ Chí Minh về con người
Hồ Chí Minh không có một tác phẩm nào bàn riêng về con người, nhân tốcon người nhưng trong hệ thống tư tưởng của Người, tư tưởng về con người làmột tư tưởng xuyên suốt, thâm nhập toàn bộ hệ thống, được biểu hiện thật đadạng và vô cùng phong phú Vấn đề con người luôn luôn được nhắc đến nhưmột mục tiêu thiêng liêng, cao cả của sự nghiệp cách mạng mà Người theođuổi
Trong các bài nói, bài viết của mình, khái niệm con người được Hồ Chí
Minh sử dụng bằng nhiều từ ngữ khác nhau như con người, người ta, dân, nhân dân, đồng bào, quần chúng… để diễn đạt nhiều nghĩa khác nhau, tùy theo hoàn cảnh, điều kiện, nội dung cụ thể từng thời kỳ cách mạng Khi nói đến con người trong lĩnh vực chính trị, Người thường dùng các từ như nhân dân, dân chúng, đồng bào, cán bộ đảng viên… khi đề cập đến những vấn đề của con người trong các lĩnh vực văn hóa, đạo đức, triết học, người dùng các từ như người, con người …
Trong những năm 20 của thế kỉ XX, Hồ Chí Minh thường dùng các khái
niệm “người bản xứ”, “người nô lệ”, “người cùng khổ”, “người vô sản thuộc địa”…để chỉ người dân Việt Nam mất nước và tất cả những con người của các
dân tộc bị chế độ thực dân đàn áp, bóc lột trên thế giới Sau cách mạng tháng
Tám, Người sử dụng các khái niệm “đồng bào”, “nhân dân”…để chỉ người
Việt Nam thoát khỏi ách nô lệ Trong xây dựng chủ nghĩa xã hội ở miền Bắc,
Người dùng khái niệm “lao động chân tay”, “lao động trí óc”, “nông dân tập thể”, “người chủ tập thể”…để chỉ con người Việt Nam mới, con người xã hội
chủ nghĩa
Đối với Hồ Chí Minh, không có con người trừu tượng mà chỉ có con người
cụ thể với ý nghĩa đầy đủ nhất Đó là con người có cuộc sống riêng, có những
Trang 7mối quan hệ gắn với gia đình, quê hương, với tập thể, đồng bào trong cộngđồng dân tộc và nhân loại Hồ Chí Minh đã nêu lên một định nghĩa rất độc đáo
về con người: “Chữ Người, nghĩa hẹp là gia đình, anh em, họ hàng, bầu bạn.
Nghĩa rộng là đồng bào cả nước Rộng nữa là cả loài người”1 Với định nghĩanày, con người có tính xã hội và là thành viên của một cộng đồng nhất định,nằm trong các mối quan hệ khác nhau tạo thành thể thống nhất là xã hội loàingười
Như vậy, có thể thấy cách tiếp cận của Hồ Chí Minh về con người, về cơbản là xem xét con người trong các mối quan hệ với cộng đồng xã hội Quanniệm đó thể hiện rõ tính giai cấp, tính lịch sử, xã hội của khái niệm con người
Khi Hồ Chí Minh nói tới con người thường dùng các thuật ngữ: quần chúng, nhân dân, đồng bào và ngược lại khi nói tới các thuật ngữ này cũng tức là nói
về con người Đây là nét độc đáo trong quan niệm của Hồ Chí Minh về conngười
Có thể khái quát quan niệm của Hồ Chí Minh về con người với những nétchính như sau:
Thứ nhất: Con người được nhìn nhận như một chỉnh thể thống nhất
Con người là một chỉnh thể thống nhất về thể lực, tâm lực và các hoạtđộng của nó Bản thân con người là một hệ thống các cấu trúc bao gồm nhiềuyếu tố như sức khỏe, đời sống tinh thần và tri thức, tất cả được bộc lộ ra thôngqua hoạt động của con người Các yếu tố này quan hệ chặt chẽ với nhau, làmđiều kiện, bổ sung cho nhau trong đời sống con người Hồ Chí Minh nhìn nhậncon người trong sự thống nhất giữa hai mặt đối lập: người đời không phải thánhthần, ai cũng có chỗ hay chỗ dở, ai cũng có tính tốt tính xấu, có thiện có ác, có
ưu điểm khuyết điểm…Từ đó, Người đòi hỏi việc cải tạo xã hội cũ đồng thờicũng là quá trình cải tạo bản thân mỗi con người nhằm làm cho phần xấu mấtdần đi và phần tốt nảy nở như hoa mùa xuân
Trang 8Thứ hai: Quan điểm của Hồ Chí Minh thể hiện mối quan hệ của con người
cá nhân với cộng đồng xã hội Hồ Chí Minh luôn xét con người trong mối quan
hệ xã hội, quan hệ giai cấp, theo giới tính (thanh niên, phụ nữ), theo lứa tuổi(phụ lão, nhi đồng), theo nghề nghiệp (công nhân, nông dân, trí thức), trongkhối thống nhất dân tộc và quan hệ quốc tế
Thứ ba: Hồ Chí Minh luôn khẳng định bản chất con người mang tính lịch
sử - xã hội
Đứng vững trên quan điểm duy vật mác - xít, Hồ Chí Minh đã kết hợpnhuần nhuyễn các yếu tố truyền thống và hiện đại, cá nhân và cộng đồng, dântộc và quốc tế để xem xét, đánh giá đúng đắn về bản chất con người… Trong tưtưởng Hồ Chí Minh, không có khái niệm con người trừu tượng mà luôn luôn làcon người cụ thể, lịch sử gắn liền với điều kiện, hoàn cảnh lịch sử - xã hội Conngười tồn tại với tư cách vừa là con người cá thể vừa là con người cộng đồng,gia đình, giai cấp, xã hội, con người nói chung luôn gắn với hoạt động thực tiễnđấu tranh cách mạng, cải tạo xã hội Song, xét đến cùng, đó là con người ViệtNam cùng khổ, bị áp bức, bị bóc lột đang đứng lên để tự giải phóng mình, từngbước làm chủ xã hội, làm chủ bản thân Con người ấy cũng được đặt trong mốiquan hệ với dân tộc, quốc tế, nhân loại
Tóm lại, trong tư tưởng Hồ Chí Minh, con người với tư cách là cá nhân, tập thể, cộng đồng hay cả nhân loại đều là một chỉnh thể thống nhất giữa yếu
tố sinh vật và yếu tố xã hội, mang bản chất xã hội - lịch sử, là chủ thể sáng tạo
và hưởng thụ các giá trị vật chất và tinh thần.
2 Quan niệm của Hồ Chí Minh về nhân tố con người
Hồ Chí Minh không đưa ra quan niệm cụ thể về nhân tố con người nhưngthực chất, Người đã đề cập đến nhân tố con người một cách toàn diện trong hệthống tư tưởng của mình Với phương pháp khái quát hoá, chúng ta thấy HồChí Minh đề cập đến nhân tố con người với một số nội dung sau:
Trang 9- Thứ nhất, xét theo phương diện nhân tố con người với tư cách là chủ thể
hoạt động, Hồ Chí Minh luôn coi trọng hoạt động tự giác của con người
- Thứ hai, nhân tố con người với tư cách là tổng hoà các phẩm chất, năng
lực của con người
- Thứ ba, nhân tố con người với những tiêu chí về nhân cách, việc giáo
dục, tạo dựng mẫu con người mới được Hồ Chí Minh đặc biệt quan tâm
Như vậy, theo quan niệm Hồ Chí Minh, nhân tố con người là hệ thốngnhững thuộc tính, những đặc trưng quy định vai trò chủ thể tích cực, chủ động,sáng tạo của con người, bao gồm một chỉnh thể thống nhất giữa mặt hoạt độngvới tổng hoà các đặc trưng về phẩm chất, năng lực, giá trị xã hội của con người.Trong tư tưởng của mình, Hồ Chí Minh không đưa ra quan niệm cụ thể vềnhân tố con người nhưng thực chất, Người đã đề cập đến nhân tố con ngườimột cách toàn diện trong hệ thống tư tưởng đó Người thường dùng các thuật
ngữ như “tài dân”, “sức dân”, “sức người”, “lực lượng của dân” để chỉ khái
niệm nhân tố con người Khái quát lại, Hồ Chí Minh đề cập đến nhân tố conngười với một số nội dung sau:
Thứ nhất, xét theo phương diện nhân tố con người với tư cách là chủ thể
hoạt động tích cực, chủ động các giá trị vật chất và tinh thần theo nghĩa “mọithứ đều do con người làm ra” Hồ Chí Minh luôn coi trọng hoạt động tự giáccủa con người Nhờ có lao động sản xuất mà tư tưởng của con người và chế độ
xã hội biến đổi
Thứ hai, nhân tố con người với tư cách là tổng hoà các phẩm chất, năng
lực của con người Hồ Chí Minh luôn yêu cầu mỗi người phải tu dưỡng, rènluyện để vừa có đức, vừa có tài, vừa hồng, vừa chuyên Đức, chính là đạo đứccách mạng Những phẩm chất tiêu biểu mà Người thường đề cập đó là: Trungvới nước, hiếu với dân; là yêu thương con người; là cần kiệm liêm chính, chícông vô tư… Tài, trong quan niệm Hồ Chí Minh, là năng lực, trình độ chuyênmôn, nghiệp vụ của mỗi người Đức và tài phải thống nhất, hài hòa, tác động
Trang 10biện chứng với nhau như Người nhắc nhở có đức mà không có tài thì làm việc
gì cũng khó, nhưng có tài mà không có đức đó là kẻ vô dụng
Thứ ba, nhân tố con người không chỉ bao hàm vai trò sức mạnh của mỗi cá
nhân, cá thể mà còn là vai trò sức mạnh tổng hợp của các giai cấp, tầng lớpngười trong cộng đồng xã hội, tạo nên động lực mạnh mẽ nhằm giải phóng vàcải tạo xã hội: “Sự nghiệp cách mạng của toàn Đảng, của nhân dân lao động,chứ không phải của anh hùng cá nhân”1
Thứ tư, nhân tố con người với những tiêu chí về nhân cách, việc giáo dục,
tạo dựng mẫu con người mới đáp ứng yêu cầu của xã hội được Hồ Chí Minhđặc biệt quan tâm Vì lẽ đó, Người sớm khẳng định: “Muốn xây dựng chủnghĩa xã hội, trước hết cần có những con người xã hội chủ nghĩa”2 Đó phải lànhững con người kiểu mẫu về năng lực, nhân cách, đóng vai trò quyết định đốivới công cuộc xây dựng chủ nghĩa xã hội Để có được con người mới xã hộichủ nghĩa, đòi hỏi phải quan tâm và đầu tư mạnh mẽ cho công tác giáo dục, đàotạo, đẩy mạnh vận động tuyên truyền để xác lập động cơ, nhu cầu, niềm tin, lýtưởng… qua đó mà nâng cao năng lực hoạt động của con người
Như vậy, theo tư tưởng Hồ Chí Minh có thể đưa ra khái niệm: Nhân tố con người là hệ thống những thuộc tính, những đặc trưng quy định vai trò chủ thể (cá nhân, tập thể, cộng đồng) tích cực, chủ động, sáng tạo của con người, bao gồm một chỉnh thể thống nhất giữa mặt hoạt động với tổng hoà các đặc trưng
về phẩm chất, năng lực, giá trị xã hội của con người mới Xã hội chủ nghĩa trong quá trình cách mạng Việt Nam.
3 Quan niệm của Hồ Chí Minh về phát huy nhân tố con người
Trong tư tưởng Hồ Chí Minh, Người từng nhắc đến cụm từ “phát huy nhân tố con người”, nhưng không chỉ ra nội hàm khái niệm về phát huy nhân tố
con người Tuy nhiên, nội dung của nó được thể hiện trong toàn bộ hệ thống tư
1 Hồ Chí Minh: Toàn tập, Sđd, tập 7, tr 507.
2 Hồ Chí Minh: Toàn tập, Sđd, tập 12, tr 66.
Trang 11tưởng, trong hoạt động cách mạng của Người Phát huy nhân tố con ngườithường được Hồ Chí Minh diễn đạt dưới một số hình thức như: Thi đua và cácphong trào thi đua yêu nước là hình thức phát huy nhân tố con người ở đỉnh caobởi trong đó nhằm vào sự giác ngộ, tự nguyện của mỗi người; phát huy sứcmạnh của quần chúng nhân dân, của cộng đồng dân tộc Việt Nam; huy độngsức mạnh của mỗi con người Việt Nam yêu nước, mỗi một “con Rồng cháuTiên”; phát huy vai trò của cán bộ đảng viên, của các tầng lớp, giai cấp, các thế
hệ già trẻ, gái trai trong sự nghiệp cách mạng
Từ nhận thức tư tưởng cũng như trong hoạt động thực tiễn, để phát huynhân tố con người, Hồ Chí Minh luôn bắt đầu từ hiểu con người, trên cơ sở đó
mà đánh giá đúng đắn về khả năng hoạt động, về tiềm năng sức mạnh, nănglực, phẩm chất, nhân cách để dùng người và tìm cách phát huy nguồn sức mạnh
to lớn đó Nói cách khác, phát huy nhân tố con người trong tư tưởng Hồ Chí Minh chính là phát huy sức mạnh của quần chúng nhân dân, của con người Việt Nam; là sự hiểu biết, đánh giá đúng đắn, cảm thông và tin tưởng con người, lấy đó làm cơ sở để phát hiện, tạo điều kiện làm bộc lộ, sử dụng, bồi dưỡng, phát huy những yếu tố cấu thành nên nhân tố con người.
Với cách hiểu như vậy, phát huy nhân tố con người được Hồ Chí Minh đềcập ở một số nội dung như sau:
- Chỉ ra vai trò của nhân tố con người: Con người là vốn quý nhất, nhân tốquyết định sự thành công của sự nghiệp cách mạng
- Chỉ ra các nội dung phát huy nhân tố con người:
Phát huy nhân tố con người với tư cách vừa là động lực, vừa là mục tiêucủa sự nghiệp cách mạng
Phát huy nhân tố con người với tư cách là một thực thể thống nhất giữaphẩm chất và năng lực
Phát huy nhân tố con người với tư cách là thực thể thống nhất giữa cá nhân
và xã hội
Trang 12- Tổ chức khai thác, bồi dưỡng, tạo điều kiện để nhân tố con người đượcnuôi dưỡng và phát triển.
4 Quan niệm của Hồ Chí Minh về một số giải pháp nhằm phát huy nhân tố con người
Chăm lo cho con người, phát huy mọi tiềm năng sẵn có của con người,Sinh thời Chủ tịch Hồ Chí minh đã quan tâm tới một số giải pháp chủ yếu sauđây:
Giải pháp về nhận thức: Phát triển con người không phải chỉ là một quá
trình lựa chọn cái tối ưu trong hoạt động của con người nói chung mà trước hết
là phải có nhận thức, quan niệm đúng đắn về vị trí, vai trò của con người trongquá trình phát triển kinh tế - xã hội Nhận thức và đánh giá đúng giá trị của conngười, đặc biệt là các giá trị sinh thể và giá trị đạo đức cùng với giá trị vật chất
là vấn đề đầu tiên ảnh hưởng trực tiếp đến việc phát huy nhân tố con người.Chủ tịch Hồ Chí Minh cho rằng, muốn phát huy các nguồn lực của nhân dân,Đảng, chính quyền và bản thân mỗi cá nhân con người phải có sự tin tưởngtuyết đối vào con người, vào ý chí đấu tranh để giải phóng con người; có lòngthương yêu vô hạn, sự cảm thông sâu sắc với con người Đảng tin vào dân, tinvào sức mạnh vĩ đại của dân là điều kiện, tiền đề cho dân tin Đảng Nếu Đảng
để mất đi “Chữ tín” với nhân dân thì sẽ mất đi chỗ dựa tin cậy và vững chắcnhất Niềm tin ở vai trò và sức mạnh của con người, của quần chúng nhân dân
là cơ sở để hoạch định những chủ trương, chính sách nhằm phát huy nhân tốcon người Lòng tin của Hồ Chí Minh đối với con người, không chỉ ở chỗ thấyđược vai trò sức mạnh trong con người, mà còn từ sự mong muốn được khaisáng, cảm hóa, hướng dẫn, chia sẻ với mỗi người, để con người vươn lên đểhoàn thiện mình, khẳng định vị thế của mình trong xã hội
Với một cách nhìn hết sức độ lượng, khoan dung, Hồ Chí Minh cho rằng:
“Người ở đời, ai cũng có chỗ tốt, chỗ xấu Ta phải khéo nâng cao chỗ tốt, khéo
Trang 13sửa chữa chỗ xấu cho họ”1 “Mỗi con người đều có thiện và ác ở trong lòng Taphải biết làm cho phần tốt ở trong mỗi con người nảy nở như hoa mùa xuân vàphần xấu bị mất dần đi, đó là thái độ của người cách mạng”2 Với niềm tin vàotính hướng thiện của con người, bằng sự nhân từ và bao dung, sẵn sàng xoá bỏmặc cảm, xây dựng tinh thần cởi mở, tin cậy lẫn nhau… Hồ Chí Minh đã đặtnền tảng vững chắc cho sự đoàn kết dân tộc, sự thống nhất trong Đảng, khơidậy và phát huy trong mỗi con người những mầm thiện, niềm tin, sức mạnhvươn lên trong sự nghiệp cách mạng.
Giải pháp về thể chế, chính sách: Để phát huy nhân tố con người, Hồ Chí
Minh đã cùng tập thể Đảng, Chính phủ xây dựng thể chế, hoạch định, xác lậpmột hệ thống chính sách tương đối hoàn chỉnh, phù hợp với thực tiễn, phục vụcho lợi ích của dân tộc, tự do, ấm no, hạnh phúc của nhân dân, bao quát cáclĩnh vực đời sống xã hội, nhất là những vấn đề an sinh xã hội
Việc con người có thể phát huy mạnh mẽ năng lực hành động tự do, sángtạo đến đâu phụ thuộc vào bản chất của chế độ xã hội Trong hiện thực cụ thểđiều ấy phụ thuộc trực tiếp và trước tiên vào tổ chức hoạt động của bộ máychính trị Để cho dân tin, dân theo, dân ủng hộ, để nhân tố con người được pháthuy thì quyền lợi của con người phải được bảo vệ mà tiền đề quan trọng nhất làghi nhận trong Hiến pháp, pháp luật Ngay sau ngày nước ta giành độc lập, đểbảo vệ nền độc lập của Tổ quốc, quyền lợi, hạnh phúc của nhân dân, Hồ ChíMinh đã nhanh chóng cùng tập thể Đảng, Chính phủ xây dựng và ban hànhHiến Pháp 1946 Bản Hiến pháp đã phản ánh và quy định chặt chẽ về quyền vànghĩa vụ của con người
Đồng thời với việc xây dựng và hoàn thiện thể chế, Chủ tịch Hồ Chíminh nhấn mạnh đến xây dựng và ban hành các chính sách nhằm động viên,khích lệ và phát huy tối đa nguồn động lực của con người Hồ Chí Minh đã đưa
1 Hồ Chí Minh: Toàn tập, sđd, t.4, tr 318
2 Hồ Chí Minh: Toàn tập, sđd, t.14, tr 672
Trang 14ra những chỉ dẫn quý báu trong việc dùng người để phát huy nhân tố con ngườitrong đó có chính sách dùng người tài Người cho rằng: “Tài” hay “nhân tài”được hiểu theo nghĩa rộng rãi nhất: "tài to, tài nhỏ"; "người có danh vọng",
"người có công tâm, trung thành, sốt sắng với quyền lợi của Tổ quốc, nhândân", "người hiền tài", "hiền năng", "người hay, người giỏi"… nhưng có chungmục đích "vì quyền lợi của Tổ quốc, lợi ích của đồng bào" “Tùy tài mà dùngngười, tài to ta dùng việc to, tài nhỏ ta cắt làm việc nhỏ, ai có năng lực gì, ta cắtlàm việc ấy1 Sở dĩ phải khéo dùng người vì: Kiến thiết cần có nhân tài Nhântài nước ta dù chưa nhiều lắm nhưng nếu chúng ta khéo lựa chọn, khéo phânphối, khéo dùng thì nhân tài ngày càng phát triển thêm nhiều Song nếu chỉkhéo dùng mà dùng không đúng, theo Hồ Chí Minh, sẽ phạm phải chứng bệnhham dùng người bà con, anh em quen biết, bầu bạn Ham dùng kẻ khéo nịnhhót mình mà chán ghét những người chính trực, ham dùng người hợp với mình
mà tránh những người không hợp với mình
Để phát huy nhân tố con người, Hồ Chí Minh cùng tập thể Đảng, Chínhphủ đã hoạch định, xác lập một hệ thống chính sách tương đối hoàn chỉnh, phùhợp với thực tiễn, phục vụ cho lợi ích của dân tộc, tự do, ấm no, hạnh phúc củanhân dân, bao quát các lĩnh vực đời sống xã hội, nhất là những vấn đề an sinh
xã hội để tất cả mọi tầng lớp nhân dân từ miền xuôi đến miềm ngược, dù khácnhau về giai cấp, tôn giáo, địa vị xã hội, đều có thể đem khả năng của mình raphục vụ cho đất nước Người còn nói "Chúng ta đã hy sinh phấn đấu để giànhđộc lập Chúng ta đã tranh được rồi… Chúng ta tranh được tự do, độc lập rồi
mà dân cứ chết đói, chết rét, thì tự do, độc lập cũng không làm gì Dân chỉ biết
rõ giá trị của tự do, của độc lập khi mà dân được ăn no, mặc đủ"2 Người cònchú ý đến chính sách thúc đẩy phát triển sản xuất đáp ứng nhu cầu vật chấtngày càng cao của nhân dân Người quan niệm, kinh tế là lĩnh vực thuộc cơ sở
1 Hồ Chí Minh: Toàn tập, Sđd, t.4, tr.43
2 Hồ Chí Minh: Toàn tập, Sđd, t.4, tr.175.
Trang 15hạ tầng, có ý nghĩa quyết định đối với sự phát triển mọi mặt của đời sống xãhội Phải chú trọng xây dựng kinh tế thì mới có điều kiện để xây dựng và pháttriển các yếu tố thuộc kiến trúc thượng tầng như văn hóa Theo Người “có thựcmới vực được đạo” vì thế kinh tế phải đi trước một bước Chú trọng các chínhsách an sinh xã hội nhằm phát huy nguồn động lực con người cũng là một giải
pháp được Hồ Chí Minh chú ý Trong Di chúc trước lúc đi xa, Chủ tịch Hồ Chí
Minh đã để lại những lời dặn dò tha thiết và đầy trách nhiệm “Đảng cần phải có
kế hoạch thật tốt để phát triển kinh tế, văn hoá nhằm không ngừng nâng cao đờisống của nhân dân” 1
Giải pháp về giáo dục: Khi xác định vị trí, ý nghĩa của chiến lược con
người, Hồ Chí Minh nói: “Vì lợi ích mười năm thì phải trồng cây, vì lợi íchtrăm năm thì phải trồng người”; “Muốn tiến lên chủ nghĩa xã hội thì phải cócon người xã hội chủ nghĩa ” Con người xã hội chủ nghĩa có thể được hoàn
thiện trước một bước so với hoàn cảnh kinh tế – xã hội Người nêu rõ trong Thư gửi các học sinh: “Ngày nay, các em được cái may mắn hơn cha anh là được
hấp thụ một nền giáo dục của một nước độc lập, một nền giáo dục nó sẽ đào tạocác em nên những người công dân hữu ích cho nước Việt Nam, một nền giáodục làm phát triển hoàn toàn những năng lực sẵn có của các em…Non sôngViệt Nam có trở nên tươi đẹp hay không, dân tộc Việt Nam có bước tới đàivinh quang để sánh vai với các cường quốc năm châu được hay không, chính lànhờ một phần lớn ở công học tập của các em”2
Hồ Chí Minh chủ trương phải xây dựng một nền giáo dục hướng vào cácgiá trị dân tộc, hiện đại và nhân văn, một nền giáo dục phục vụ Tổ quốc, phục
vụ nhân dân, tôn trọng nhân phẩm, rèn luyện chí khí, phát triển tài năng củamọi người để phụng sự đoàn thể và góp phần vào cuộc tiến hóa chung của nhânloại Con người được giáo dục toàn diện sẽ trở thành những con người mới -
1 Hồ Chí Minh: Toàn tập, Sđd, t 15, tr 622.
2 Hồ Chí Minh: Toàn tập, Sđd, tập 4, tr.34-35.
Trang 16chủ nhân tương lai của đất nước, góp phần thực hiện thắng lợi mục tiêu dângiàu, nước mạnh.
Ngày nay, trong bối cảnh cuộc cách mạng khoa học – công nghệ pháttriển như vũ bão, toàn cầu hoá trở thành xu thế tất yếu, kinh tế tri thức trở thànhmột đặc trưng của nền kinh tế thế giới thì vai trò động lực, vị trí trung tâm củacon người trong quá trình phát triển đã thực sự được khẳng định Trong hệthống các nhân tố tác động tới sự phát triển xã hội, nhân tố con người luônđứng ở vị trí trung tâm, giữ vai trò quyết định Các nguồn lực khác như: vốn,tài nguyên thiên nhiên tự nó tồn tại dưới dạng tiềm năng, chúng chỉ trở thànhđộng lực của sự phát triển khi kết hợp với nhân tố con người, trở thành kháchthể chịu sự cải tạo, khai thác, sử dụng của con người Trong khi các nhân tốkhác có thể bị khai thác cạn kiệt thì nhân tố con người lại có tính vô hạn.Tính
vô hạn đó được biểu hiện ở chỗ nó có khả năng không chỉ tự sản sinh về mặtsinh học mà còn tự đổi mới không ngừng, phát triển về chất trong con người xãhội nếu biết chăm lo, nuôi dưỡng và khai thác một cách hợp lý Trong điều kiện
đó, chúng ta càng cần nhận thức đầy đủ hơn những chỉ dẫn quý báu trong tưtưởng Hồ Chí Minh về phát huy nhân tố con người nhằm xây dựng một nướcViệt Nam giàu mạnh và ngày càng phát triển
Trang 17PHẦN II: THỰC TRẠNG VÀ NHỮNG GIẢI PHÁP NHẰM PHÁT HUY NHÂN TỐ CON NGƯỜI Ở TRUNG TÂM HỌC VIỆN CHÍNH TRỊ QUỐC GIA HỒ CHÍ MINH THEO TƯ TƯỞNG HỒ CHÍ MINH
Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh là trung tâm quốc gia đào tạo,bồi dưỡng cán bộ lãnh đạo, quản lý chủ chốt trung, cao cấp, cán bộ khoa học lýluận chính trị của Đảng, Nhà nước và các đoàn thể chính trị - xã hội; là trungtâm quốc gia nghiên cứu khoa học lý luận Mác-Lênin và tư tưởng Hồ ChíMinh, nghiên cứu đường lối, chính sách của Đảng và Nhà nước, nghiên cứu vềkhoa học chính trị Để đáp ứng được yêu cầu, nhiệm vụ, Học viện phải xâydựng được đội ngũ cán bộ đủ về số lượng và đảm bảo chất lượng, có đủ phẩmchất, trình độ, năng lực đáp ứng yêu cầu, nhiệm vụ được giao
1.Thực trạng vấn đề phát huy nhân tố con người ở Học viện Chính trị quốc gia trong những năm vừa qua
1.1 Những thành tựu
Trong những năm vừa qua, vấn đề phát huy nhân tố con người ở Học việnChính trị quốc gia Hồ Chí Minh đã đạt được một số thành tựu sau:
Thứ nhất: Đội ngũ cán bộ, công chức, viên chức tại Học viện không ngừng
phát triển về số lượng và chất lượng Tính đến tháng 2-2013, ở trung tâm Họcviện có hơn 800 công chức, viên chức Về trình độ chuyên môn, có: 211 Tiến sĩ(gồm cả PGS,TS; 156 nam, 55 nữ); 238 thạc sĩ (103 nam, 135 nữ) Về độ tuổicủa cán bộ khoa học có học hàm, học vị TS (gồm cả PGS,TS): độ tuổi 30-34: 2đồng chí; 35-39 tuổi: 20 đồng chí; 40-49 tuổi: 35 đồng chí).Về độ tuổi của cán
bộ khoa học có trình độ Ths: độ tuổi 25-29: 9 đồng chí; 30-34 tuổi: 50 đồngchí; 35-39 tuổi: 83 đồng chí; 40-44 tuổi: 47 đồng chí Tính đến ngày 31/7/2014,
số cán bộ tại Trung tâm Học viện là 889 cán bộ trong biên chế và 5 người hợpđồng, trong đó có 91 giảng viên cao cấp, 3 nghiên cứu viên cao cấp, 16 chuyênviên cao cấp; 7 giáo sư, tiến sĩ; 82 phó giáo sư, tiến sĩ; 208 tiến sĩ
Trang 18Đội ngũ cán bộ, nhất là cán bộ giảng dạy và nghiên cứu của Học viện đượctuyển chọn với yêu cầu cao cả về năng lực và phẩm chất chính trị từ các địaphương, các ngành, các trường đại học, được đào tạo đúng chuyên ngành, cơbản và chuyên sâu Qua thống kê sơ bộ đánh giá về chất lượng công chức, viênchức (căn cứ vào bình xét các danh hiệu thi đua năm học), năm 2013, qua đánhgiá thực hiện nhiệm vụ năm học, có: 38,1% công chức hoàn thành xuất sắcnhiệm vụ; hoàn thành tốt nhiệm vụ là 61,86% Tỷ lệ viên chức hoàn thành xuấtsắc nhiệm vụ là 5,88%; hoàn thành tốt nhiệm vụ là 77,5% và hoàn thành nhiệm
vụ là 16,5% Đội ngũ cán bộ trẻ cũng được chuẩn hóa cao từ khi được tuyểndụng, được Hội đồng tuyển dụng chọn lọc một cách khắt khe, vì vậy về cơ bản
họ có một nền tảng kiến thức tương đối vững vàng
Trên nhiều lĩnh vực chuyên ngành đã có những cán bộ có uy tín trong vàngoài Học viện, đã và đang phát huy có hiệu quả năng lực nghiên cứu, tổng kếtthực tiễn và giảng dạy lý luận chính trị Một số cán bộ khoa học vừa là nhà giáodục, nhà sư phạm, người thầy gương mẫu, vừa là nhà khoa học có nhiều côngtrình được đánh giá cao, có thể trở thành những nhà khoa học đầu ngành có uytín Một số cán bộ có khả năng sư phạm tốt, biết kết hợp một cách sáng tạo cácphương pháp khác nhau, các phương tiện hiện đại cho từng môn học và từngđối tượng học viên mang lại hiệu quả cao, phát huy được tính chủ động, tíchcực và sáng tạo của người học Nhiều cán bộ, giảng viên luôn theo sát nhữngvấn đề bức xúc nảy sinh từ thực tiễn để thu thập và xử lý thông tin, vì vậy cácbài giảng luôn sống động, mang tính thời sự cao nhờ những tri thức thực tiễn vàcách thức luận giải vấn đề khoa học từ thực tiễn đang đòi hỏi Một số cán bộkhoa học được đào tạo ở nước ngoài có trình độ ngoại ngữ khá thành thạo trongnghiên cứu khoa học và trong giao tiếp Trong những năm qua đội ngũ cán bộcủa Học viện đã có những đóng góp xứng đáng vào sự nghiệp cách mạng củaĐảng và của dân tộc; đã có bước trưởng thành vượt bậc cả về số lượng và chấtlượng
Trang 19Thứ hai: Học viện đã xây dựng được cơ chế và chính sách nhằm tạo điều
kiện cho việc phát huy nhân tố con người ngày càng hiệu quả hơn
Những căn cứ có tính nguyên tắc được quán triệt khi tiến hành công táccán bộ nói chung của Học viện có thể kể đến bao gồm:
Nghị quyết số 03-NQ/TW, ngày 18/6/1997 của Ban Chấp hành Trungương (khoá VIII) về Chiến lược cán bộ thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hoá, hiệnđại hoá đất nước và Kết luận của Hội nghị lần thứ 9 Ban Chấp hành Trungương khóa X về tiếp tục đẩy mạnh thực hiện Chiến lược cán bộ từ nay đến năm2020;
Chiến lược cán bộ Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh đến năm
2015 (2010); xây dựng quy hoạch nhân lực Học viện đến năm 2020 (năm2012);
Chiến lược hoạt động khoa học mười năm (2005-2015) của Học việnChính trị quốc gia Hồ Chí Minh
Việc tuyển dụng cán bộ công chức viên chức và xét tuyển cán bộ được tiếnhành thường xuyên, chặt chẽ về quy trình, tiêu chuẩn ngày càng cao để khôngnhững đáp ứng về số lượng mà còn từng bước đổi mới và nâng cao chất lượngđội ngũ cán bộ Học viện thường xuyên tiến hành quy hoạch, rà soát, bổ sungquy hoạch cán bộ lãnh đạo, quản lý theo đúng quy định Vụ Tổ chức cán bộtham mưu cho Giám đốc ban hành 9 quy chế về công tác tổ chức, cán bộ; quyđịnh về việc xác định vị trí việc làm của cán bộ, công chức, viện chức các đơn
vị trực thuộc Học viện; quy định về luân chuyển, biệt phái và đi thực tế dài hạncủa cán bộ, giảng viên, nghiên cứu viên; quy hoạch về phát triển nguồn nhânlực của Học viện đến năm 2020
Thứ ba: Việc tổ chức phát huy nhân tố con người của các đơn vị trong hệ
thống học viện có nhiều chuyển biến tích cực Ngoài việc thực hiện theo sự chỉđạo chung của cấp trên, nhiều đơn vị rất quan tâm đến việc xây dựng đội ngũcán bộ của đơn vị mình Xây dựng chiến lược con người trong đơn vị để tạo ra
Trang 20lớp thế hệ cán bộ kế cận; tạo ra môi trường làm việc bình đẳng, công khai; cócác chính sách thiết thực nhằm động viên, khuyến khích cán bộ, công chứctrong quá trình công tác Trong những năm gần đây, nhiều cán bộ trẻ được tạođiều kiện tham gia nghiên cứu khoa học với hình thức đấu thầu các đề tàinghiên cứu khoa học cấp bộ, cấp bộ trọng điểm; đề tài Giám đốc giao nhiệmvụ.
Có được những thành tựu đó phải kể đến những nguyên nhân chủ yếu sauđây:
Thứ nhất, được sự quan tâm, chỉ đạo sát sao của Bộ Chính trị, Ban Bí thư,
Đảng ủy và Ban Giám đốc Học viện đã chỉ đạo các đơn vị trực thuộc cùng toànthể cán bộ, công chức, viên chức thực hiện mục tiêu, phương hướng chung củaHọc viện là: tiếp tục đổi mới mạnh mẽ, toàn diện các mặt công tác; tập trungnâng cao chất lượng công tác đào tạo, bồi dưỡng cán bộ và nghiên cứu khoahọc, nỗ lực hoàn thành nhiệm vụ
Đại hội Đảng bộ Học viện Chính trị - Hành chính quốc gia Hồ Chí Minhlần thứ nhất ngày 16/9/2010 với chủ đề: “Đoàn kết, đổi mới mạnh mẽ, hoànthành xuất sắc nhiệm vụ đào tạo, bồi dưỡng cán bộ và nghiên cứu khoa học,xứng đáng với Học viện mang tên Chủ tịch Hồ Chí Minh” được tiến hành Đạihội nêu rõ mục tiêu: “Xây dựng Đảng bộ luôn luôn trong sạch, vững mạnh,đoàn kết, lãnh đạo Học viện hoàn thành xuất sắc mọi nhiệm vụ chính trị đểxứng đáng là trung tâm quốc gia về đào tạo, bồi dưỡng cán bộ lãnh đạo và quảnlý; là trung tâm quốc gia về về nghiên cứu khoa học Mác – Lênin, tư tưởng HồChí Minh, đường lối của Đảng, chính sách pháp luật của Nhà nước, các khoahọc chính trị và khoa học hành chính”1
Với phương châm chỉ đạo đó là bám sát đường lối và nhiệm vụ của Đảng
và Nhà nước, xây dựng Học viện trở thành trường Đảng hiện đại và vững
tr.112
Trang 21mạnh, Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh đã chuẩn bị mọi mặt cho sựphát triển mới Để thực hiện mục tiêu đó, Đảng ủy và Ban Giám đốc Học việnluôn xác định con người là trung tâm của chiến lược phát triển, là nhân tố quantrọng nhất phải được phát huy tối đa.
Bên cạnh sự quan tâm của Đảng ủy, Ban Giám đốc Học viện là sự quantâm và chỉ đạo của cấp ủy, thủ trưởng các đơn vị, các cơ quan trong việc tạo ramôi trường làm việc bình đẳng, tạo ra những cơ hội, điều kiện cho cán bộ, côngchức thông qua công việc để rèn luyện, đào tạo và trưởng thành, nâng cao trình
độ chuyên môn đáp ứng yêu cầu chung của đơn vị, không ngừng cải thiện vànâng cao đời sống vật chất và tinh thần của cán bộ, nhân viên; có các chínhsách động viên khích lệ cán bộ, nhân viên cống hiến sức mình cho tập thể
Thứ hai: các cơ chế chính sách của Học viện ngày càng tạo môi trường và
điều kiện thuận lợi cho quá trình phát huy nhân tố con người
Học viện thường xuyên có những phong trào thi đua, tạo môi trường phấnđấu, rèn luyện cho cán bộ, công chức, viên chức, nhất là những phong trào thiđua, sơ kết, tổng kết công tác nghiên cứu, giảng dạy, rèn luyện của cán bộgiảng dạy, nghiên cứu Ví dụ như tổng kết công tác nghiên cứu khoa học 5 nămmột lần, trong đó có nhiều hình thức ghi nhận, động viên khích lệ những cán bộ
có thành tích về viết bài đăng tạp chí, viết sách, tham gia đề tài cơ sở, cấp bộ,nhà nước, đề tài liên kết với các địa phương; tổ chức Hội thi giảng viên giảngdạy giỏi… Những cán bộ có thành tích cao được tặng bằng khen, được xét nânglương trước thời hạn, thưởng bậc lương, được xem xét khi xếp loại A, B, Ccuối năm Đây là động lực chính đáng có tác động rất lớn thúc đẩy cán bộ trẻtích cực tự đào tạo qua việc nghiên cứu, xã hội hóa công trình…
Học viện đã tổ chức thành công Đại hội thi đua yêu nước lần thứ III và lầnthứ IV Ngày 22/3/2012, Giám đốc Học viện ra Quyết định số 596/QĐ-HVCT-HCQG ban hành quy chế thi đua khen thưởng Phong trào thi đua ngày càng
Trang 22mở rộng và đi vào chiều sâu, là nguồn động viên khích lệ cho sự phấn đấu củađội ngũ cán bộ, công chức của Học viện
Công tác đào tạo, bồi dưỡng nâng cao trình độ của cán bộ, công chức tiếptục được chú trọng Hằng năm học viện tổ chức hàng chục lớp bồi dưỡng, vớitrên một nghìn người tham gia; tổ chức hàng chục đoàn đi bồi dưỡng nướcngoài theo kế hoạch 51 và đề án 322 của Chính phủ, đề án 165 của Ban Tổchức Trung ương
Việc luân chuyển, biệt phái, cử cán bộ, giảng viên đi thực tế dài hạn tại địaphương được thực hiện thành nền nếp với kế hoạch cụ thể Hầu hết cán bộgiảng viên được cử đi đều trưởng thành cả về chuyên môn, nghiệp vụ và kinhnghiệm thực tiễn, có đóng góp với đơn vị địa phương được phân công đến.Quyền lợi chính đáng của cán bộ công chức luôn được đảm bảo Việcthăm hỏi các gia đình chính sách có hoàn cảnh khó khăn, phụng dưỡng bà mẹViệt Nam anh hùng; tổ chức tốt hoạt động thăm hỏi, tặng quà, phát phầnthưởng khuyến học cho các cháu học sinh giỏi, xuất sắc, các cháu khuyết tậtđược tiến hành đền đặn và thường xuyên
Thứ ba, cá nhân mỗi cán bộ, công chức và người lao động ở Học viện
nhận thức ngày càng rõ hơn về vị trí, vai trò của một cán bộ trường Đảng,không ngừng nâng cao năng lực chuyên môn, nghiệp vụ, nêu cao tinh thầntrách nhiệm, nỗ lực thực hiện nhiệm vụ nặng nề do Đảng và Chính phủ giaophó Toàn thể cán bộ, công chức và người lao động ở Học viện đã tích cực thựchiện các phong trào thi đua theo những chủ đề thiết thực Tiêu biểu như phongtrào thi đua “Tiếp tục phát huy truyền thống Học viện mang tên Chủ tịch HồChí Minh, thi đua tu dưỡng đạo đức nghề nghiệp, nâng cao chất lượng giảngdạy, học tập và nghiên cứu khoa học”, phong trào thi đua “Chào mừng 65 nămngày Truyền thống Học viện”…
Thứ tư, hệ thống cơ sở vật chất phục vụ cho quá trình làm việc của cán bộ,
công chức Học viện trong những năm qua không ngừng được tăng cả về khối