1. Trang chủ
  2. » Tất cả

Quản trị công bố thông tin của công ty cổ phần xây lắp đường ống bể chứa dầu khí

105 6 0
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Quản trị công bố thông tin của công ty cổ phần xây lắp đường ống bể chứa dầu khí
Tác giả Phạm Ngọc Hải
Người hướng dẫn PGS.TS. Hồ Sỹ Hùng
Trường học Trường Đại học Kinh tế Quốc dân
Chuyên ngành Quản trị kinh doanh
Thể loại luận văn
Năm xuất bản 2013
Thành phố Hà Nội
Định dạng
Số trang 105
Dung lượng 833,12 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

LỜI CẢM ƠN trêng §¹i häc Kinh tÕ Quèc d©n  PHẠM NGỌC HẢI QUẢN TRỊ CÔNG BỐ THÔNG TIN CỦA CÔNG TY CỔ PHẦN XÂY LẮP ĐƯỜNG ỐNG BỂ CHỨA DẦU KHÍ Chuyªn ngµnh QUẢN TRỊ KINH DOANH TỔNG HỢP Người hướng dẫn[.]

Trang 1

PHẠM NGỌC HẢI

QUẢN TRỊ CÔNG BỐ THÔNG TIN CỦA CÔNG TY CỔ PHẦN XÂY LẮP ĐƯỜNG ỐNG

BỂ CHỨA DẦU KHÍ

Người hướng dẫn khoa học: PGS.TS HỒ SỸ HÙNG

hµ néi, n¨m 2013

Trang 2

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan rằng đây là công trình nghiên cứu của tôi, có sự hỗ trợ từPGS.TS Hồ Sỹ Hùng – Bộ Kế hoạch và Đầu tư và những người tôi đã cảm ơn Cácnội dung nghiên cứu và kết quả trong đề tài này là trung thực và chưa từng được aicông bố trong bất kỳ công trình nào

Tôi xin chịu trách nhiệm về nghiên cứu của mình

Hà Nội, tháng 12 năm 2013

Tác giả luận văn

Phạm Ngọc Hải

Trang 3

thầy đã tận tình hướng dẫn, chỉ bảo tôi trong suốt quá trình thực hiện luận văn.Ngoài ra, thầy cũng thường xuyên quan tâm, nhắc nhở cũng như khích lệ tôi thựchiện luận văn theo đúng tiến độ Hơn nữa khi tôi gặp bất cứ khó khăn gì về kiếnthức cũng như các kĩ năng trình bày luận văn, tôi thường được thầy chỉ bảo và giúp

đỡ tôi qua điện thoại hoặc thư điện tử

Tôi cũng xin bày tỏ lòng biết ơn chân thành đến Khoa Quản trị kinh doanh,Đại học Kinh tế Quốc dân cùng các giảng viên đã tạo điều kiện cho tôi có cơ hộiđược tiếp xúc và học tập những kiến thức vô cùng có giá trị về quản trị

Xin chân thành cảm ơn các cán bộ, nhân viên Công ty Cổ phần Xây lắpĐường ống Bể chứa Dầu khí đã tạo điều kiện về thời gian, tài liệu giúp tôi nghiêncứu, tìm hiểu thực trạng công ty cũng như có những ý kiến đóng góp chân thànhcho tôi trong quá trinh thực hiện luận văn

Mặc dù đã nỗ lực và cố gắng hết sức để hoàn thành luận văn, tuy nhiên sẽkhông thể tránh khỏi những hạn chế và sai sót nhất định trong luận văn Kính mongquý thầy (cô) và những người quan tâm đóng góp ý kiến để tôi có thể làm tốt hơntrong những nghiên cứu về lĩnh vực quản trị kinh doanh trong thời gian tới

Hà Nội, tháng 12 năm 2013

Tác giả luận văn

Phạm Ngọc Hải

Trang 4

LỜI CẢM ƠN

MỤC LỤC

DANH MỤC BẢNG BIỂU VÀ HÌNH VẼ

TÓM TẮT LUẬN VĂN

PHẦN MỞ ĐẦU 2

CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN VỀ CÁC CÔNG TRÌNH NGHIÊN CỨU CÓ LIÊN QUAN 2

1.1 Mục tiêu nghiên cứu 2

1.2 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 2

1.2.1 Đối tượng nghiên cứu 2

1.2.2 Phạm vi nghiên cứu 2

1.3 Phương pháp nghiên cứu 2

1.4 Tổng quan về các công trình nghiên cứu có liên quan 2

1.5 Kết cấu của Luận văn 2

CHƯƠNG 2: LÝ THUYẾT VỀ THÔNG TIN VÀ QUẢN TRỊ CÔNG BỐ THÔNG TIN TRONG DOANH NGHIỆP 2

2.1 Khái niệm và đặc trưng của thông tin 2

2.1.1 Khái niệm dữ liệu và thông tin 2

2.1.2 Đặc trưng của thông tin 2

2.2 Hệ thống thông tin 2

2.2.1 Khái niệm hệ thống thông tin 2

2.2.2 Vai trò của hệ thống thông tin 2

2.2.3 Phân loại hệ thống thông tin 2

2.2.4 Lợi ích kinh tế của hệ thống thông tin 2

2.3 Công bố thông tin và quản trị công bố thông tin 2

2.3.1 Công bố thông tin và quản trị công bố thông tin 2

2.3.2 Phương tiện và hình thức công bố thông tin 2

2.4 Nội dung và yêu cầu đối với thông tin cung cấp theo quy định của pháp luật 2

2.4.1 Công bố thông tin trên thị trường sơ cấp 2

2.4.2 Công bố thông tin trên thị trường thứ cấp 2

CHƯƠNG 3: THỰC TRẠNG QUẢN TRỊ CÔNG BỐ THÔNG TIN CỦA CÔNG TY CỔ PHẦN XÂY LẮP ĐƯỜNG ỐNG BỂ CHỨA DẦU KHÍ 2

3.1 Một vài nét về Công ty Cổ phần Xây lắp Đường ống Bể chứa Dầu khí 2

3.1.1 Lịch sử hình thành và phát triển 2

3.1.2 Cơ cấu tổ chức 2

Trang 5

Bể chứa Dầu khí 2

3.2.1 Thực trạng quản trị công bố hệ thống thông tin tài chính 2

3.3.2 Thực trạng quản trị công bố các hệ thống thông tin Marketing 2

3.2.3 Thực trạng quản trị công bố các hệ thống thông tin sản xuất kinh doanh 2 3.2.4 Thực trạng quản trị công bố hệ thống thông tin nhân sự 2

3.2.5 Phương tiện và hình thức công bố thông tin 2

3.2.6 Tiếp nhận, phản hồi các thông tin cung cấp 2

3.3 Đánh giá kết quả và hạn chế 2

3.3.1 Những kết quả đạt được 2

3.3.2 Những hạn chế chủ yếu 2

CHƯƠNG 4: MỘT SỐ GIẢI PHÁP NÂNG CAO CÔNG TÁC QUẢN TRỊ CÔNG BỐ THÔNG TIN DOANH NGHIỆP 2

4.1 Nhóm giải pháp hoàn thiện công bố hệ thống thông tin tài chính 2

4.1.1 Thực hiện công bố các thông tin trong phân hệ phân tích tài chính 2

4.1.2 Xây dựng phân hệ thông tin phân tích và đánh giá những rủi ro trong kinh doanh 2

4.1.3 Thiết lập các hệ thống dự báo tài chính trong dài hạn 2

4.1.4 Áp dụng thông tin về các chuẩn mực khác nhau khi công bố thông tin tài chính 2

4.2 Nhóm giải pháp hoàn thiện công bố hệ thống thông tin Marketing 2

4.2.1 Thiết lập phân hệ thông tin xúc tiến bán hàng 2

4.2.2 Thiết lập phân hệ thông tin tính giá thành 2

4.3 Nhóm giải pháp hoàn thiện công bố hệ thống thông tin sản xuất kinh doanh 2

4.3.1 Chú trọng tới phân hệ thông tin về mua hàng, nhận hàng, kiểm tra chất lượng nguyên liệu 2

4.3.2 Xây dựng phân hệ thông tin hoạch định nhu cầu nguyên vật liệu 2

4.4 Nhóm giải pháp hoàn thiện quản trị công bố hệ thống thông tin nhân sự 2

4.5 Nhóm các giải pháp chung khác 2

4.5.1 Xây dựng đội ngũ quản trị thực sự có năng lực, phù hợp và có trách nhiệm đối với thông tin doanh nghiệp 2

4.5.2 Xây dựng các kênh cung cấp thông tin và tiếp nhận phản hồi đa dạng 2

4.5.3 Chú trọng đến yêu cầu của Pháp luật trong việc công bố thông tin 2

KẾT LUẬN 2 TÀI LIỆU THAM KHẢO

PHỤ LỤC

Trang 6

Bảng 3.2: Cơ sở dữ liệu tài chính từ bên ngoài đã thu thập từ năm 2009 đến 2013 2

Bảng 3.3: So sánh lợi nhuận dự báo và lợi nhuận thực tế từ 2009 đến 2012 2

Bảng 3.4: Báo cáo đánh giá dự án Hoàng Long – Tê Giác Trắng 2

Bảng 3.5: Báo cáo quyêt toán thu nhập và chi phí năm 2011 2

Bảng 3.6: Tổng hợp thông tin tài chính công bố từ năm 2009 đến 2013 2

Bảng 3.7: Đánh giá khả năng đạt được dự án xây lắp công trình Topsite 5 2

Bảng 3.8: Đánh giá sự hài lòng về chất lượng thông tin của Công ty 2

Trang 7

Hình 3.1: Tổ chức của Công ty Cổ phần Xây lắp đường Ống Bể chứa Dầu khí 32

Trang 8

TÓM TẮT LUẬN VĂN

Thông tin đối với doanh nghiệp là yếu tố sống còn, quyết định đến sự tồn tại

và phát triển của các doanh nghiệp trên thị trường, nhất là trong bối cảnh hiện naykhi mà thị trường tài chính nói chung và thị trường các doanh nghiệp xây lắp, bấtđộng sản nói riêng đang gặp rất nhiều khó khăn Tình trạng cạnh tranh găy gắt nhưhiện nay cùng với các yêu cầu rất cao về thông tin trên thị trường đặt ra cho các nhàquản trị doanh nghiệp các thách thức không nhỏ liên quan đến việc quản trị hệthống thông tin doanh nghiệp làm sao để các thông tin công bố ra bên ngoài vừađảm bảo đúng quy định của luật pháp, vừa đảm bảo chiến lược kinh doanh của công

ty là hạn chế sức mạnh của các đối thủ cạnh tranh và nâng cao vị thế và uy tín củadoanh nghiệp đối với khách hàng, các cổ đông và các nhà đầu tư Thách thức nàycũng đặt ra đối với Công ty Cổ phần Xây lắp Đường Ống Bể chứa Dầu khí, mộtdoanh nghiệp chuyên về lĩnh vực xây lắp các công trình dân dụng Dầu khí Tuynhiên, hiện tại lại chưa có các nghiên cứu nào đi sâu vào vấn đề này Vì vậy, tác giả

đã chọn đề tài “Quản trị công bố thông tin của Công ty Cổ phần Xây lắp Đường ống

Bể chứa Dầu khí”

Mục tiêu nghiên cứu tổng quát của đề tài là áp dụng các cơ sở lý luận về hệthống thông tin doanh nghiệp và quản trị hệ thống thông tin doanh nghiệp để ápnghiên cứu thực trạng thực tế quản trị công bố thông tin của doanh nghiệp để từ đó

có các giải pháp đứng đắn nhất giúp các nhà quản trị doanh nghiệp nâng cao côngtác quản trị hệ thống thông tin cho mục đích công bố

Đối tượng nghiên cứu được xác định là hoạt động quản trị hệ thống thông tincho mục đích công bố của Công ty Cổ phần Xây lắp Đường ống Bể chứa Dầu khí.Hoạt động quản trị này được xem xét trên phương diện gia lợi ích cho doanh nghiệpnói riêng và cho thị trường tài chính nói chung

Trang 9

Phạm vi nghiên cứu được giới hạn chủ yếu là hoạt động quản trị công bốthông tin của Công ty Cổ phần Xây lắp đường ống bể chứa Dầu khí trong thời gian

5 năm trở lại đây

Để thực hiện triệt để những mục tiêu nghiên cứu của đề tài nêu trên, phươngpháp nghiên cứu được tác giả lựa chọn là vận dụng kết hợp nhiều phương phápnghiên cứu, đi từ khái quát đến chi tiết hoặc từ chi tiết tổng hợp nên các vấn đề mấuchốt trong quá trình nghiên cứu

Để thực hiện được những mục tiêu nghiên cứu nêu trên, tác giả đã đi sâu vào

ba vấn đề chính trong luận văn của mình:

Phần thứ nhất: tác giả tập trung vào cơ sở lý thuyết để vận dụng cho đánh

giá thực tế tại Công ty Cổ phần Xây lắp Đường ống Bể chứa Dầu khí Cơ sở lýthuyết được vận dụng ở đây bao gồm lý thuyết chung về thông tin, hệ thống thôngtin và quản trị hệ thống thông tin Lý thuyết chung này được tác giả nghiên cứu vàtổng hợp từ các tài liệu bao gồm: các giáo trình, các đề tài nghiên cứu và các thôngtin trên các phương tiện thông tin đại chúng Bên cạnh đó, tác giả còn tổng hợp các

lý thuyết về công bố thông tin và các yêu cầu Pháp lý của việc công bố thông tintheo Luật định (công bố thông tin định kỳ, công bố thông tin bất thường) Các quyđịnh về việc công bố thông tin theo luật định này được tác giá tổng hợp chủ yếu từLuật chứng Khoán, các Quyết định của UBCK Nhà nước và Sở giao dịch Chứngkhoán

Thông tin là một thuật ngữ được sử dụng khá phổ biến ngày nay Người ta cónhu cầu đọc báo, xem truyền hình, giao tiếp với người khác để có thông tin Thôngtin là tất cả những gì mang lại hiểu biết cho con người Thông tin là tập hợp các dữliệu được sắp xếp hoặc tổ chức theo một cách có ý nghĩa Thông tin có các đặctrưng cơ bản bao gồm: Tính chính xác; tính đầy đủ; tính kinh tế; tính mềm dẻo; tínhtin cậy; tính phù hợp; tính đơn giản; tính kịp thời; tính kiểm tra được; tính dễ khaithác; và tính an toàn

Trang 10

Hệ thống thông tin là một hệ thống bao gồm các yếu tố có quan hệ với nhaucùng làm nhiệm vụ thu thập, xử lý, lưu trữ và phân phối dữ liệu và thông tin vàcung cấp một cơ chế phản hồi để đạt được một mục tiêu định trước Chu trình củamột hệ thống thông tin bao gồm dữ liệu đầu vào, quá trình xử lý dữ liệu, thông tinđầu ra và thông tin phản hồi Hệ thống thông tin có vai trò rất quan trọng, mang tínhchất sống còn đối với tổ chức Hai vai trò chủ đạo của hệ thống thông tin trong tổchức bao gồm:

- Vai trò gia tăng giá trị của hệ thống thông tin;

- Vai trò chiến lược của hệ thống thông tin trong môi trường cạnh tranh

Hệ thống thông tin được phân loại theo nhiều cách khác nhau, mỗi cách phânloại lại chứa đựng rất nhiều loại thông tin khác nhau Cụ thể:

- Phân loại hệ thống thông tin theo phạm vi hoạt động, hệ thống thông tinbao gồm (i) Nhóm các hệ thống thông tin hỗ trợ hoạt động nội bộ tổ chức; và (ii)Nhóm các hệ thống thông tin phối hợp hoạt động giữa các tổ chức

- Phân loại hệ thống thông tin theo lĩnh vực hoạt động, hệ thống thông tinbao gồm (i) Nhóm các hệ thống thông tin hỗ trợ hoạt động tác nghiệp; và (ii) Nhómcác hệ thống thông tin hỗ trợ quản lý

- Phân loại hệ thống thông tin theo mục đích và đối tượng phục vụ, hệ thốngthông tin bao gồm (i) Hệ thống chuyên gia; (ii) Hệ thống quản trị tri thức; (iii) Hệthống thông tin chiến lược; (iv) Hệ thống thông tin nghiệp vụ; và (v) Hệ thốngthông tin tích hợp

- Phân loại hệ thống thông tin theo lĩnh vực chức năng, hệ thống thông tinbao gồm (i) Hệ thống thông tin bán hàng và marketing; (ii) Hệ thống thông tin tàichính – kế toán; (iii) Hệ thống thông tin kinh doanh và tác nghiệp; và (iv) Hệ thốngthông tin quản trị nhân lực

Trang 11

Trong luận văn của mình, tác giả nghiên cứu quản trị hệ thống thông tin chomục đích công bố dưới giác độ lĩnh vực chức năng của hệ thống thông tin

Từ các nội dung cơ bản của thông tin và hệ thống thông tin, tác giả đã rút rakhái niệm của quản trị công bố thông tin: Quản trị công bố thông tin là việc một tổchức sử dụng các phương thức để lập kế hoạch, tập hợp, tạo mới, tổ chức, sử dụng,kiểm soát, phổ biến và loại bỏ một cách hiệu quả các thông tin của tổ chức để từ đócung cấp thông tin theo những mục đích nhất định của tổ chức Thông qua quản trịcông bố thông tin, tổ chức có thể đảm bảo rằng giá trị của các thông tin đó đượcxác lập và sử dụng tối đa để hỗ trợ cho các hoạt động trong nội bộ tổ chức cũngnhư góp phần nâng cao tính tuân thủ của doanh nghiệp đối với các yêu cầu vềcông bố thông tin của pháp luật

Các phương tiện được các tổ chức sử dụng để công bố thông tin của tổchức bao gồm:

- Thông qua các website, bao gồm trên website của tổ chức, website của các

tổ chức trung gian đối với các thông tin cần công bố công khai cho với tất cả các đốitượng hoặc nhóm đối tượng quan tâm

- Thông qua các phương tiện thông tin đại chúng như báo, đài, tạp chí, ấnphẩm,…Phương tiện này cũng chủ yếu áp dụng cho các thông tin cần công bố côngkhai cho tất cả các nhóm đối tượng

- Thông qua hệ thống thư điện tử, thư tay: Phương tiện này áp dụng chủ yếucho việc công bố thông tin cho một số ít các đối tượng hoặc nhóm đối tượng vìnhững mục đích đặc biệt của tổ chức

- Thông qua các quảng cáo, bảng tin, sản phẩm của chính các tổ chức

- Thông qua các phương tiện nội bộ tổ chức

Nội dung công bố thông tin, ngoài các thông tin công bố tự nguyện theocác mục đích đặc biệt của tổ chức còn có các yêu cầu công bố theo quy định của

Trang 12

pháp luật đối với các tổ chức, bao gồm: Công bố trên thị trường sơ cấp; công bốtrên thị trường thứ cấp.

Phần thứ hai: tác giả tập trung đi sâu nghiên cứu thực trạng quản trị công bố

thông tin của Công ty Cổ phần Xây lắp Đường ống Bể chứa Dầu khí – một đơn vịthành viên của Tổng Công ty xây lắp Dầu khí Việt Nam theo lĩnh vực chức năngcủa thông tin Thực trạng quản trị công bố thông tin của Công ty Cổ phần Xây lắpĐường ống Bể chứa Dầu khí được nghiên cứu trên các khía cạnh chính:

- Thực trạng quản trị công bố hệ thống thông tin tài chính

- Thực trạng quản trị công bố hệ thống thông tin Marketing

- Thực trạng quản trị công bố hệ thống thông tin Sản xuất kinh doanh

- Thực trạng quản trị công bố hệ thống thông tin Nhân sự

Tác giả đã tập trung đánh giá thực tế quá trình quản trị từng hệ thống thôngtin nêu trên từ khi thu thập dữ liệu, xử lý dữ liệu để cho ra các thông tin đầu ra vàcông bố cho các nhóm đối tượng quan tâm tùy theo mục đích yêu cầu của Công ty

và các yêu cầu của Pháp Luật Việc đánh giá dựa trên các dữ liệu thực tế thu thậpđược từ công ty, kết hợp với các phân tích, đánh giá, tổng hợp và so sánh được thựchiện từ tác giả đã cho thấy một bức tranh tổng quan về thực trạng quản trị công bốcác hệ thống thông tin hiện nay của Công ty

Dựa trên việc đánh giá thực tế quá trình quản trị công bố thông tin của Công

ty, tác giả đã rút ra những ưu điểm và thiết sót của quá trình quản trị công bố thôngtin của Công ty như sau:

Về ưu điểm:

- Thực hiện tìm hiểu sâu về nhu cầu thông tin của các nhóm đối tượng

- Thu thập thông tin đa dạng từ nhiều nguồn khác nhau giúp cho thông tin cóđược cái nhìn theo nhiều chiều

- Xử lý các dữ liệu chặt chẽ và hoàn chỉnh

Trang 13

- Đảm bảo thông tin công bố minh bạch, tuân thủ các quy định của Pháp luật.

- Đánh giá, tiếp nhận phản hồi thông tin nhanh chóng và kịp thời

Về các hạn chế: các hạn chế được đánh giá trên giác độ của từng hệ thống thông tincủa Công ty, bao gồm:

- Hạn chế về quản trị công bố hệ thông tin tài chính

+ Chưa công bố các thông tin trong phân hệ phân tích tài chính doanh nghiệp;+ Chưa xây dựng phân hệ phân tích và đánh giá những rủi ro trong kinhdoanh;

+ Chưa thiết lập các hệ thống dự báo trong dài hạn;

+ Chưa tiến hành áp dụng thông tin về các chuẩn mực khác nhau khi công bốthông tin tài chính

- Hạn chế trong quản trị công bố hệ thống thông tin Marketing

+ Chưa thiết lập phân hệ thông tin xúc tiến bán hàng;

+ Chưa thiết lập phân hệ thông tin giá thành

- Hạn chế trong quản trị công bố hệ thống thông tin sản xuất kinh doanh

+ Phân hệ thông tin về mua hàng, nhận hàng, kiểm tra chất lượng chưa đượcchú trọng;

+ Phân hệ quản trị và kiểm soát hàng tồn kho dự trữ chưa được thiết lập cóquy củ;

+ Phân hệ thông tin hoạch định nhu cầu nguyên vật liệu chưa được thiết lập;

- Hạn chế trong quản trị công bố hệ thống thông tin nhân sự

Phần thứ ba: Từ những hạn chế đã chỉ ra, tác giả đã đưa ra các giải pháp cần

thiết để nâng cao công tác quản trị công bố thông tin đối với các doanh nghiệp hiệnnay Các giải pháp đó bao gồm:

- Nhóm giải pháp hoàn thiện công bố hệ thống thông tin tài chính

Trang 14

+ Thực hiện công bố các thông tin trong phân hệ phân tích tài chính;

+ Xây dựng phân hệ thông tin phân tích và đánh giá những rủi ro trong kinhdoanh;

+ Thiết lập các hệ thống dự báo tài chính trong dài hạn;

+ Áp dụng thông tin về các chuẩn mực khác nhau khi công bố thông tin tàichính

- Nhóm giải pháp hoàn thiện công bố hệ thống thông tin Marketing

+ Thiết lập phân hệ thông tin xúc tiến bán hàng;

+ Thiết lập phân hệ thông tin tính giá thành;

- Nhóm giải pháp hoàn thiện công bố hệ thống thông tin sản xuất kinh doanh+ Chú trọng tới phân hệ thông tin về mua hàng, nhận hàng, kiểm tra chấtlượng nguyên liệu;

+ Xây dựng phân hệ thông tin hoạch định nhu cầu nguyên vật liệu;

- Nhóm giải pháp hoàn thiện quản trị công bố hệ thống thông tin nhân sự

Trang 15

PHẦN MỞ ĐẦU

Hàng ngày, có biết bao nhiêu luồng thông tin mạnh mẽ và dồn dập đưa vôvàn các dữ liệu vào máy tính, điện thoại và bàn làm việc của các nhà lãnh đạodoanh nghiệp Trong khối lượng thông tin khổng lồ đó có thể chưa đựng những bíquyết giúp đem lại ưu thế cạnh tranh, nhưng có thể đem lại các bước đi sai lầm nếu

sa đà vào các dữ liệu chẳng có liên quan và đánh mất đi những thông tin quý giá.Chính vì vậy, thông tin được coi là một trong những loại tài sản quan trọng nhất đốivới bất kỳ tổ chức cũng như doanh nghiệp nào

Trong những thập kỷ gần đây, thông tin luôn được xem là người cố vấn sángsuốt và trung thực, đáng tin cậy và thực sự cần thiết cho các nhà lãnh đạo trong hoạtđộng quản lý và điều hành doanh nghiệp của mình Sự phát triển của hệ thống thôngtin đã thu hẹp khoảng cách giữa các khu vực và thành phần kinh tế, làm cho tất cảmọi người có hiểu biết nhanh, đầy đủ về mọi lĩnh vực mà mình quan tâm NhưLênin đã nói: “Không có thông tin thì không có thắng lợi trong bất kỳ lĩnh vực nào,

cả khoa học, kĩ thuật và sản xuất”

Thông tin trên thị trường là một trong những yếu tố đóng vai trò then chốttrong các việc ra các quyết định, không chỉ các quyết định của nội bộ doanh nghiệp

mà còn là của các đối tượng bên ngoài quan tâm trực tiếp đến doanh nghiêp và cácđối tượng khác có liên quan như các nhà cung cấp, khách hàng, các đối thủ cạnhtranh trực tiếp và tiềm tàng, các nhà đầu tư, cổ đông, các cơ quan nhà nước…Bất kỳmột thông tin nào liên quan đến doanh nghiệp được công bố sẽ có ảnh hưởng trựctiếp và sống còn đến hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp Nếu những thông tinnày được thu thập, xử lý và chắt lọc một cách hợp lý và đáng tin cậy sẽ giúp chonguồn thông tin đầu ra đáp ứng được các yêu cầu và mục tiêu của doanh nghiệptrong việc công bố các thông tin này ra bên ngoài Ngược lại, việc quản trị thông tinkém hiệu quả sẽ dẫn đến những tác hại khôn lường đối với doanh nghiệp khi màthông tin này được công bố như bị đối thủ cạnh tranh chiếm lĩnh mất thị trường, mấtniềm tin ở khách hàng, nhà cung cấp cũng như các cổ đông và nhà đầu tư

Trang 16

trọng của thông tin lại càng được thể hiện rõ nét Thông tin trên thị trường chứngkhoán là yếu tố cực kỳ nhạy cảm trong việc ra các quyết định đầu tư Bất kỳ một sailệnh nào trong thông tin được công bố sẽ dẫn đến những thất bại của thị trường tàichính nói chung và tình hình tài chính của doanh nghiệp nói riêng Thông tin càngkịp thời, chính xác và hiệu quả thì niềm tin và sự kỳ vọng của các nhà đầu tư vào thịtrường và các doanh nghiệp niêm yết càng lớn Do vậy, việc cung cấp thông tin rabên ngoài sao cho đầy đủ, trung thực và tuân thủ các quy định của Pháp luật là tráchnhiệm cũng như nghĩa vụ của các nhà quản trị doanh nghiệp trong việc đóng gópvào việc tăng cường sự hiệu quả cũng như công bằng của hoạt động tài chính nóichung và của các công ty đại chúng nói riêng.

Tùy theo mức độ phức tạp trong hoạt động của doanh nghiệp mà yêu cầu đốivới thông tin doanh nghiệp cung cấp ngày càng lớn, đặc biệt là yêu cầu về thông tinđối với các công ty đại chúng trong bối cảnh thị trường tài chính đang khó khăn nhưhiện nay Thông tin vào doanh nghiệp từ nhiều nguồn khác nhau, nhưng không phảithông tin nào doanh nghiệp thu thập được cũng sử dụng được ngay, mà nó phải trảiqua quá trinh xử lý, phân tích, tổng hợp, cuối cùng những thông tin chắt lọc đượcmới được sử dụng cho những mục đích mà doanh nghiệp đã đặt ra

Để thực hiện tốt công tác quản trị nguồn thông tin không phải là công việc dễdàng đối với tất cả các doanh nghiệp, sẽ có những thuận lợi, khó khăn, và cách thứcthực hiện như thế nào cho hợp lý và có hiệu quả…Vì vậy, việc nghiên cứu thực

trạng Quản trị công bố thông tin của Công ty cổ phần xây lắp đường ống bể chứa

Dầu khí nhằm đưa ra các giải pháp giúp cho nhà quản trị doanh nghiệp có thể xây

dựng hệ thống quản trị công bố thông tin có chất lượng, góp phần nâng nâng cao vịthế, uy tín và hình ảnh của doanh nghiệp trên thị trường

Trang 17

CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN VỀ CÁC CÔNG TRÌNH NGHIÊN CỨU CÓ LIÊN QUAN

1.1 Mục tiêu nghiên cứu

Dựa trên cơ sở tìm hiểu về các yêu cầu đối với thông tin công bố của cácdoanh nghiệp, hệ thống hóa, tổng hợp các cơ sở lý luận liên quan đến quản trị công

bố thông tin và thực trạng quản trị công bố thông tin của các doanh nghiệp trong bốicảnh thị trường hiện nay để đưa ra các giải pháp giúp các nhà quản trị doanh nghiệpxây dựng hệ thống quản trị công bố thông tin hữu hiệu, tuân thủ các quy định củaPháp luật với chi phí thấp nhất và mang lại hiệu quả quản lý cao nhất cho doanhnghiệp

Đề tài xây dựng cơ sở lý luận cho các giải pháp với mục đích nâng cao sựhiệu quả trong quản trị công bố thông tin của các doanh nghiệp và nâng cao trình độhiểu biết của nhà đầu tư cá nhân trong quyết định của họ, nhằm góp phần quantrọng vào tính lành mạnh và công bằng của thị trường chứng khoán Trên cơ sở đó,

đề tài tập trung vào giải quyết các vấn đề sau:

+ Thông tin của doanh nghiệp được công bố hiện nay có giúp cho doanhnghiệp đạt được những mục tiêu của mình hay không? Trong đó mục tiêu tối đa hóahình ảnh và giá trị doanh nghiệp có đạt được không?

+ Các yếu tố nào ảnh hưởng đến chất lượng thông tin doanh nghiệp cung cấp

ra bên ngoài?

+ Tầm quan trọng trong việc quản trị thông tin đối với doanh nghiệp, thịtrường và Nhà nước?

Trang 18

1.2.1 Đối tượng nghiên cứu

Đối tượng nghiên cứu được xác định là hoạt động quản trị công bố thông tincủa Công ty Cổ phần Xây lắp Đường ống Bể chứa Dầu khí – doanh nghiệp chuyên

về xây lắp các công trình dân dụng dầu khí Hoạt động quản trị công bố thông tin ấyđược xem xét trên khía cạnh làm gia tăng lợi ích cho doanh nghiệp và cho thịtrường tài chính

Tuy nhiên, trong quá trình nghiên cứu, để những ý kiến phân tích, so sánh,đánh giá và nhận định về công ty khách quan hơn và để có thể dễ nắm bắt được vịthế cũng như xu hướng phát triển của công ty trong ngành, trong nền kinh tế, việcnghiên cứu đề tài có liên hệ mở rộng, so sánh với một số những công ty cùng ngànhxây lắp và một số công ty cùng trực thuộc Tổng Công ty Xây lắp Dầu khí ViệtNam

1.2.2 Phạm vi nghiên cứu

Phạm vi nghiên cứu được giới hạn chủ yếu là hoạt động quản trị công bốthông tin của Công ty Cổ phần Xây lắp đường ống bể chứa Dầu khí trong thời gian

5 năm trở lại đây

1.3 Phương pháp nghiên cứu

Cơ sở lý thuyết được vận dụng để phân tích thực tiễn quá trình quản trị công

bố thông tin của công ty Cổ phần Xây lắp Đường ống Bể chứa Dầu khí là những cơ

sở lý thuyết, lý luận về hệ thống thông tin quản lý trong doanh nghiệp cũng như tầmquan trọng của việc quản trị hệ thống thông tin để công bố góp phần đạt đượcnhững mục tiêu nhất định cho doanh nghiệp

Nguồn dữ liệu được thu thập sẽ bao gồm các báo cáo, dữ liệu tổng quát vàchi tiết về tình hình quản lý hệ thống thông tin của công ty, các chính sách quản trị

Trang 19

việc công bố Ngoài ra, một số dữ liệu về hệ thống thông tin và quản trị hệ thốngthông tin của các doanh nghiệp trong cùng ngành, cùng Tổng Công ty được thu thập

để so sánh và đánh giá khách quan với những kết quả công ty đã đạt được

Để thực hiện triệt để những mục tiêu nghiên cứu của đề tài nêu trên, phươngpháp nghiên cứu được lựa chọn là vận dụng kết hợp nhiều phương pháp nghiên cứu,

đi từ khái quát đến chi tiết hoặc từ chi tiết tổng hợp nên các vấn đề mấu chốt trognquá trình nghiên cứu Các phương pháp nghiên cứu được vận dụng kết hợp trongquá trình nghiên cứu ấy bao gồm:

- Phương pháp phân tích định tính được sử dụng thông qua việc đưa ranhững quan điểm, nhận xét đánh giá về ảnh hưởng của sự tác động hiện hữu, ảnhhưởng từ thay đổi có thể lường trước được và không thể lường trước được của cácyếu tố từ môi trường vĩ mô, thị trường tài chính và môi trường ngành xây lắp hoạtđộng quản trị hệ thống thông tin và công bố thông tin của công ty

- Phương pháp phân tích định lượng được sử dụng thông qua việc áp dụngcác công cụ, các phương pháp tính toán, phân tích thống kê các dữ liệu, phân tích

mô tả Qua đó có thể đánh giá được thực trạng thực tế việc quản trị hệ thống thôngtin cho mục đích công bố của công ty

1.4 Tổng quan về các công trình nghiên cứu có liên quan

Thông tin trong doanh nghiệp là một yếu tố của vai trò then chốt quyết địnhtới sự thành công cũng như vị thế của doanh nghiệp trên thị trường, nhất là đối vớicác doanh nghiệp đại chúng trong bối cảnh thị trường tài chính và thị trường cácdoanh nghiệp xây lắp đang cực kỳ khó khăn như hiện nay Trên thực tế, đã có khánhiều công trình nghiên cứu về hệ thống thông tin cũng như quản trị hệ thống thôngtin trong những năm vừa qua Tuy nhiên, các công trình này về cơ bản mới chỉ đềcập đến một khía cạnh cụ thể của thông tin và công bố thông tin mà chưa đi sâu vào

Trang 20

của doanh nghiệp Một số công trình nghiên cứu chi tiết được chỉ ra dưới đây:

Luận văn thạc sỹ “hoàn thiện việc trình bày và công bố thông tin Báo cáo tàichính các công ty niêm yết tại Sở giao dịch Chứng khoán Hồ Chí Minh” của tác giảNguyễn Thị Hồng Oanh (2008) – Khoa Kế toán, Kiểm toán, Trường đại học Kinh tếThành Phố Hồ Chí Minh Nội dung chính của Luận văn đề cập đến việc quản trịthông tin tài chính của doanh nghiệp niêm yết (được thể hiện qua các báo cáo tàichính) và việc công bố các thông tin tài chính này theo Luật định tới Sở giao dịchChứng khoán Hồ Chí Minh Luận văn đã đề cập đến các yêu cầu Pháp lý về việccông bố thông tin tài chính của các doanh nghiệp niêm yết trên thị trường nói chung

và yêu cầu về công bố thông tin tài chính của Sở giao dịch Chứng khoán Hồ ChíMinh nói riêng Từ những yêu cầu về công bố thông tin tài chính theo quy định,Luận văn đã thực hiện phân tích, đánh giá tổng quan và chi tiết tất cả mọi mặt liênquan đến hệ thông tin tài chính và quản trị thông tin tài chính cho mục đích công bốtheo luật định của doanh nghiệp niêm yết dựa trên lý thuyết về hệ thống thông tindoanh nghiệp, bao gồm các báo cáo tài chính, các chỉ số tài chính và các rủi ro tàichính Các dữ liệu thu thập được và dựa trên các phương pháp phân tích, so sánh,tổng hợp và đánh giá đã giúp tác giả đưa ra được những ưu điểm cũng như hạn chếtrong việc quản trị hệ thống thông tin tài chính của các doanh nghiệp niêm yết, từ

đó đưa ra các giải pháp để giúp các doanh nghiệp hoàn thiện hơn công tác quản trị

hệ thống thông tin tài chính của mình

Luận văn thạc sỹ “Các giải pháp hoàn thiện vấn đề công bố thông tin kế toáncủa các doanh nghiệp niêm yết trên thị trường Chứng khoán Việt Nam” của tác giả

Lã Thanh Huyền (2008) – Khoa kế toán, Kiểm toán, Trường đại học Kinh tế Thànhphố Hồ Chí Minh Nội dung của luận văn cũng đi sâu vào phân tích, đánh giá thựctrạng của việc quản trị hệ thống thông tin tài chính, kế toán của các doanh nghiệpniêm yết phục vụ việc công bố thông tin theo Luật định Đề tài đã đưa ra khá nhiềucái nhìn mới mẻ về cách nhìn nhận về thông tin kế toán, báo cáo tài chính, công bố

Trang 21

riêng Thông qua nội dung đề tài, tác giả đã phản ánh, đánh giá và đưa ra các giảipháp, kiến nghị các vấn đề có liên quan trong lĩnh vực thông tin kế toán trên thịtrường chứng khoán như sau:

+ Nội dung công bố thông tin kế toán;

+ Phạm vi và hình thức công bố thông tin;

+ Điều kiện và trách nhiệm trong việc cong bố thông tin;

+ Đanh giá chất lượng thông tin được công bố;

+ Hình thức xử lý các vi phạm – các biện pháp chế tài;

+ Công tác kiểm toán và ảnh hưởng của nó đến thông tin công bố

Các kiến nghị được tác giả đưa ra đối với các cơ quan quản lý nhà nước, cácnhà điều hành, cung cấp hàng hóa trên thị trường chứng khoán Việt Nam đã bám sátthực tế việc quản lý chất lượng công bố thông tin trên thị trường chứng khoán ViệtNam hiện nay, từ đó các kiến nghị này rất hữu ích cho sự minh bạch hóa thông tincủa các doanh nghiệp

Luận văn Thạc sỹ “Minh bạch thông tin của các các doanh nghiệp niêm yếttại Sở giao dịch Chứng khoán Hồ Chí Minh” của tác giả Lê Trường Vinh (2008) –Khoa Tài chính Doanh nghiệp, Trường đại học Kinh tế Thành Phố Hồ Chí Minh.Mục tiêu nghiên cứu của luận văn này là xác định nhân tố ảnh hưởng đến minh bạcthông tin của các doanh nghiệp niêm yết Trên cơ sở đó nâng cao tính hiệu quảtrong việc công bố thông tin của các công ty niêm yết và nâng cao trình độ hiểu biếtcủa nhà đầu tư cá nhân trong quyết định đầu tư của họ, nhằm góp phần quan trọngvào tính lành mạnh và công bằng của một thị trường chứng khoán

Kết quả nghiên cứu cho thấy yếu tố quy mô, yếu tố lợi nhuận đo lường theođại lượng tỷ suất sinh lợi trên tổng tài sản, chỉ số nợ trên tổng tài sản, chỉ số tài sản

Trang 22

doanh nghiệp niêm yết Trong khi đó, yếu tố lợi nhuận đo lường bằng chỉ số Q lạiảnh hưởng đến minh bạch thông tin của các doanh nghiệp niêm yết.

Ba trong số những đề xuất và gợi ý chính sách tác giả đưa ra nhằm nâng caominh bạch thông tin các doanh nghiệp niêm yết: (i) đưa thêm chỉ số Q vào báo cáotài chính (quý, năm) đồng thời giải thích chỉ số này cho nhà đầu tư biết một cách rõràng; (ii) thực hiện khiêm khắc biện pháp chế tài và biện pháp thị trường; (iii) bổsung bảng báo cáo vốn cổ phần của cổ đông vì nó cung cấp thông tin và nguyênnhân gây ra những biến động của các tài khoản trong vốn cổ phần

Luận văn thạc sỹ “Phân tích và thiết kế hệ thống thông tin quản lý chi phí tại

Sở giao dịch 1 Ngân hàng Đầu tư và Phát triển Việt Nam” (2011) - Ngành quản lý

và Phân tích thông tin kinh tế, Đại học Kinh tế Quốc dân Nội dung của Luận văntập trung xoay quanh đánh giá thực trạng hệ thống Thông tin quản lý chi phí tại Sởgiao dịch 1 Ngân hàng Đầu tư và Phát triển Việt Nam Luận văn đã đưa ra nhữngđánh giá thực tế vì thực trạng hệ thống thông tin quản lý chi phí, bao gồm các điểm

đã đạt được và các điểm chưa đạt được của hệ thống thông tin quản lý chi phí tại Sởgiao dịch 1 Ngân hàng Đầu tư và phát triển Việt Nam

- Các điểm đã đạt được: Hệ thống thông tin quản lý chi phí được thiết kế phùhợp và đảm bảo độ chính xác cho việc tính toán và quản lý chi phí

- Các điểm chưa đạt được bao gồm:

+ Hệ thống thông tin về chi phí của Sở giao dịch 1 Ngân hàng Đầu tư và Pháttriển Việt Nam chưa được xây dựng để giúp cho việc quản lý các khoản chi phí mộtcách nhanh chóng và dễ dàng

+ Hệ thống các báo cáo về các khoản chi phí chưa được xây dựng đảm bảo sựnhanh gọn, không phải trải qua nhiều khâu, nhiều công đoạn

Trang 23

phí chưa được thiết kế giúp một cách tiện lợi, dễ dàng.

Luận văn thạc sỹ “ Hoàn thiện hệ thống thông tin kế toán phục vụ quản trịchi phí, doanh thu và kết quả tại công ty cổ phần Gang thép Thái Nguyên” của tácgiả Trần Thị Thu Hiền (2010) – Ngành kế toán, Trường đại học Kinh tế quốc dân.Luận văn dựa trên lý thuyết về thông tin và hệ thống thông tin để tập trung phântích và đánh giá việc quản lý các thông tin kế toán phục vụ cho mục đích quản trịchi phí, doanh thu và kết quả kinh doanh tại Công ty Cổ phần Gang thép TháiNguyên Dựa trên việc thu thập dữ liệu, phân tích, tổng hợp, luận văn đã chỉ ranhững điểm đã đạt được và chưa đạt được trong việc quản trị hệ thống thông tin kếtoán của Công ty Cổ phần Gang thép Thái Nguyên như sau:

- Những kế quả đạt được:

+ Về áp dụng các chế độ kế toán: thực hiện đầy đủ, nghiêm chỉnh các chuẩnmực kế toán, chế độ kế toán, chính sách tài chính hiện hành

+ Các báo cáo phục vụ quản trị chi phí, doanh thu và kết quả: Với phần mềm

kế toán được cài đặt sẵn, hàng tháng cho phép lập các báo cáo chi tiết và phân tíchbiến động chi phí theo từng loại biến động

+ Thông tin trên báo cáo nội bộ về giá thành sản phẩm giúp nhà quản trị phântích sự biến động giữa thực tế và kế hoạch nhằm tìm ra những bất hợp lý trên cơ sở

đó có biện pháp hạ giá thành sản phẩm một cách tối đa

+ Báo cáo tổng hợp doanh thu cung cấp thông tin về doanh thu từng mặt hàngtrên cơ sở đó các nhà quản trị có những quyết định để thúc đẩy doanh thu, thực hiệnchiến lược kinh doanh trên từng mặt hàng

+ Báo cáo chi phí bán hàng phản ánh toàn bộ chi phí bán hàng được chia thànhcác yếu tố chi phí Những số liệu của chi phí bán hàng là cơ sở quan trọng để đánhgiá chi phí bán hàng nhằm tối thiểu hóa chi phí để tối đa hóa lợi nhuận

Trang 24

quản lý doanh nghiệp trong kỳ báo cáo được chi tiết theo từng yếu tố chi phí.Những thông tin này là căn cứ để phân tích, so sánh và đánh giá về chi phí quản lýdoanh nghiệp đã phát sinh, trên cơ sở đó tìm biện pháp hạ thấp chi phí quản lýdoanh nghiệp.

+ Thông tin trên báo cáo kết quả hoạt động kinh doanh chưa thật sự đầy đủ.Không có thông tin so sánh giữa các kỳ hay giữa thực tế và kế hoạch

+ Bộ máy kế toán của công ty được xây dựng theo mô hình kết hợp kế toán tàichính và kế toán quản trị Việc vận dụng kế toán quản trị còn tự phát, thiếu đồng bộ,chưa thống nhất Bộ máy kế toán công ty được xây dựng mới tập trung vào công tácthu nhận, xử lý và cung cấp thông tin theo yêu cầu thuộc kế toán quản trị Hạn chếnày đã chi phối đến việc xây dựng thông tin phục vụ quản trị chi phí, doanh thu vàkết quả

Dựa trên những đánh giá nêu trên, tác giả đã đưa ra các giải pháp hữu hiệu

để nâng cao công tác quản trị hệ thống thông tin kế toán giúp cho việc quản lý chiphí, doanh thu và kết quả kinh doanh của Công ty cổ phần Gang thép Thái Nguyên

Trang 25

biệt, ở những phạm vi xác định Chủ yếu đối tượng nghiên cứu của các công trìnhnghiên cứu đã có đều là quản trị hệ thống thông tin tài chính doanh nghiệp niêm yếtnhằm công bố thông tin trên thị trường chứng khoán hiện nay hoặc quản trị của mộtthông tin cụ thể trong doanh nghiệp phục vụ mục đích nội bộ Xem xét mối quan hệcủa các công trình nghiên cứu đã có trong quá khứ, thì đề tài “Quản trị công bốthông tin của Công ty Cổ phần Xây lắp Đường ống Bể chứa Dầu khí” là một đề tàinghiên cứu khá mới, không hề trùng lặp với bất kỳ đề tài nào trước đó, nghiên cứutổng quan về hệ thống thông tin và quản trị hệ thống thông tin cho mục đích công

bố rộng rãi, không chỉ bó hẹp công bố theo luật định

1.5 Kết cấu của Luận văn

Kết cấu nội dung của Luận văn được chia làm 4 phần chính, cụ thể như sau:

Chương 1: Tổng quan về các công trình nghiên cứu có liên quan

Chương 2: Lý thuyết về thông tin và quản trị công bố hệ thống thông tin trong doanh nghiệp

Chương 3: Thực trạng quản trị công bố thông tin của Công ty Cổ phần Xây lắp đường ống Bể chứa Dầu khí.

Chương 4: Một số giải pháp nâng cao công tác quản trị công bố thông tin của Doanh nghiệp.

Trang 26

CHƯƠNG 2

LÝ THUYẾT VỀ THÔNG TIN VÀ QUẢN TRỊ CÔNG BỐ

THÔNG TIN TRONG DOANH NGHIỆP

2.1 Khái niệm và đặc trưng của thông tin

2.1.1 Khái niệm dữ liệu và thông tin

Dữ liệu là những sự kiện hoặc quan sát về các hiện tượng vật lý hoặc cácgiao dịch kinh doanh Cụ thể hơn, dữ liệu là những phản ánh khách quan về thuộctính (đặc điểm) của các thực thể như người, địa điểm, hoặc các sự kiện Dữ liệu cóthể ở dạng số hoặc văn bản và bản thân dữ liệu thường chưa mang giá trị thông tin,Khi các yếu tố này được sắp xếp hoặc tổ chức theo một cách có ý nghĩa thì chúngtrở thành thông tin Việc biến đổi dữ liệu thành thông tin thực sự là một quá trình,một tập hợp các công việc có quan hệ logic với nhau để đạt được một kết quả đầu ramong muốn

Thông tin là một thuật ngữ được sử dụng khá phổ biến ngày nay Người ta cónhu cầu đọc báo, xem truyền hình, giao tiếp với người khác để có thông tin Thôngtin là tất cả những gì mang lại hiểu biết cho con người

Cần đặt thông tin trong mục đích hoạt động cụ thể Khi tiếp nhận thông tin,người ta phải “xử lý” để có những quyết định Một công ty luôn phải tìm hiểu thôngtin về thị trường để có chiến lược kinh doanh thích hợp, một người điều khiển xemáy luôn nhìn đường và các đối tượng tham gia giao thông khác để lái tới đích vàkhông bị tai nạn Thông tin làm tăng thêm hiểu biết cho con người, là nguồn gốccủa nhận thức và là cơ sở của quyết định

Thông tin được chuyển tải qua các môi trường vật lý khác nhau như ánhsáng, sóng âm, sóng điện từ Thông tin được ghi trên các phương tiện hữu hình nhưcác văn bản trên giấy, băng ghi âm hay phim ảnh,…Về nguyên tắc, bất kỳ cấu trúc

Trang 27

vật chất nào hoặc bất kỳ dòng năng lượng nào cũng có thể mang thông tin Các vật

có thể mang được thông tin gọi là giá mang tin Hình thức vật lý của thông tin gọi làtín hiệu Thông tin và tín hiệu có một độ độc lập tương đối Người ta có thể chuyểntải một nội dung thông tin như nhau bằng những tín hiệu khác nhau Thông tin cóthể được phát sinh và lưu lại trong một giá mang tin nào đấy Thông tin có thể đượcchuyển tải từ một giá mang tin này sang một giá mang tin khác Như vậy, thông tin

có thể được nhân bản và khi nhân bản ý nghĩa của thông tin không hề suy giảm

Thông tin là một bộ các dữ liệu được tổ chức theo một cách sao cho chúngmang lại một giá trị gia tăng so với giá trị vốn có của bản thân các dữ kiện đó Để tổchức dữ liệu thành thông tin có ích và có giá trị, người ta phải sử dụng các quy tắc

và các mối quan hệ giữa các dữ liệu Kiểu của thông tin được tạo ra phụ thuộc vàomối quan hệ giữa các dữ liệu hiện có

2.1.2 Đặc trưng của thông tin

Thông tin để có giá trị đối với những người sử dụng cho việc ra quyết định,thông tin cần có những đặc trưng sau:

- Tính chính xác: Thông tin chính xác là những thông tin không chứa lỗi.Thông tin không chính xác thường được tạo ra từ những dữ liệu không chính xácđược nhập vào hệ thống trước đó

- Tính đầy đủ: Thông tin đầy đủ là thông tin chứa mọi dữ kiện quan trọng Vídụ: Một báo cáo đầu tư bị xem là không đầy đủ nếu nó không đề cập đến tất cả cácchi phí có liên quan

- Tính kinh tế: thông tin được xem là kinh tế khi giá trị mà nó mang lại caohơn chi phí tạo ra nó

- Tính mềm dẻo: Thông tin được coi là có tính chất mềm dẻo khi nó có thểđược sử dụng cho nhiều mục đích khác nhau Ví dụ: Thông tin về hàng tồn kho

Trang 28

trong doanh nghiệp có thể sử dụng cho mục đích quản lý bán hàng, đồng thời cũng

có giá trị sử dụng cho quản lý sản xuất và quản lý tài chính

- Tính tin cậy: Tính tin cậy của thông tin phụ thuộc vào nhiều yếu tố khácnhau Nó có thể phụ thuộc vào phương pháp thu thập dữ liệu hoặc cũng có thể phụthuộc vào nguồn gốc của thông tin

- Tính phù hợp: Tính phù hợp của thông tin đối với người ra quyết định là rấtquản trọng, thể hiện ở chỗ nó có đến đúng với đối tượng nhận tin, có mang lại giátrị sử dụng cho đối tượng nhận tin hay không

- Tính đơn giản: Thông tin đến tay người sử dụng cần ở dạng đơn giản,không quá phức tạp Nhiều khi thông tin quá nhiều sẽ gây ra những khó khăn nhấtđịnh cho người sử dụng thông tin trong việc lựa chọn thông tin

- Tính kịp thời: Thông tin được coi là kịp thời khi nó đến tay người sử dụngvào đúng thời điểm cần thiết nhất

- Tính kiểm tra được: Đó là thông tin cho phép người ta kiểm định để chắcchắn rằng nó hoàn toàn chính xác bằng cách kiểm tra nhiều nguồn cho cùng mộtthông tin

- Tính dễ khai thác: Đó là những thông tin có thể tra cứu dễ dàng đối vớinhững người sử dụng có thẩm quyền, theo đúng dạng, vào đúng thời điểm mà họcần

- Tính an toàn: Thông tin cần được bảo vệ trước những người sử dụng không

có thẩm quyền

Trang 29

2.2 Hệ thống thông tin

2.2.1 Khái niệm hệ thống thông tin

Hệ thống thông tin là một hệ thống bao gồm các yếu tố có quan hệ với nhaucùng làm nhiệm vụ thu thập, xử lý, lưu trữ và phân phối dữ liệu và thông tin vàcung cấp một cơ chế phản hồi để đạt được một mục tiêu định trước

Đầu vào: Trong hệ thống thông tin, đầu vào thực hiện thu thập và nhập dữ

liệu thô chưa được qua xử lý vào hệ thống Đầu vào có thể tổn tại ở nhiều dạng khácnhau nhưng trong bất cứ hệ thống nào, dạng của dữ liệu đầu vào đều phụ thuộc vàođều phụ thuộc vào kết quả đầu ra mong muốn Việc nhập dữ liệu đầu vào có thểđược thực hiện thủ công, bán tự động hoặc tự động hoàn toàn Không phụ thuộc vàocách nhập dữ liệu, tính chính xác của dữ liệu đầu vào là yếu tố quan trọng nhất đảmbảo có được thông tin đầu ra như mong muốn

Xử lý: Trong một hệ thống thông tin, xử lý là quá trình chuyển đổi dữ liệu

đầu vào thành các thông tin đầu ra hữu ích Quá trình này có thể bao gồm các thaotác tính toán, so sánh và lưu trữ dữ liệu cho mục đích sử dụng sau này Quá trình xử

lý có thể được thực hiện thủ công hay với sự trợ giúp của các máy tính

Đầu ra: Trong một hệ thống thông tin, đầu ra thực hiện việc tọa ra thông tin

hữu ích thông thường ở dạng các tài liệu, báo cáo Đầu ra của hệ thống thông tintrong một số trường hợp lại là đầu vào của các hệ thống thông tin khác Kết quả đầu

ra có thể được tồn tại ở nhiều dạng khác nhau như trên màn hình máy tính, trêngiấy,…

Thông tin phản hồi: Trong một hệ thống thông tin, thông tin phản hồi là kết

quả đầu ra được sử dụng để thực hiện những thay đổi đối với các hoạt động nhậpliệu và hoạt động xử lý của hệ thống Nếu có lỗi hay có vấn đề đối với đầu ra thì cầnthực hiện việc hiệu chỉnh dữ liệu đầu vào hoặc thay đổi một tiến trình công việc.Thông tin phản hồi cũng rất quan trọng đối với các nhà quản lý Ví dụ: thông tin do

Trang 30

hệ thống thông tin hàng tồn kho cung cấp sẽ cảnh báo về tình trạng tồn kho dướimức tối thiểu của một số mặt hàng sẽ là cơ sở để nhà quản lý đi đến quyết định đặthàng để bổ sung tồn kho những mặt hàng đó.

2.2.2 Vai trò của hệ thống thông tin

Trong tổ chức hiện đại, các hệ thống thông tin đóng vai trò then chốt vàđương nhiên được sự đánh giá cao của các nhà quản lý Công nghệ số hóa thực sự

đã làm thay đổi các tổ chức kinh doanh Các hệ thống thông tin ngày nay đã ảnhhưởng trực tiếp tới cách thức các nhà quản lý đưa ra quyết định, các nhà lãnh đạolập kế hoạch và thậm chí cả việc quyết định các sản phẩm, dịch vụ nào được đưavào sản xuất Hệ thống thông tin thực sự đang đóng vai trò chiến lược trong đờisống của tổ chức Vai trò chi tiết của hệ thống thông tin đối với tổ chức bao gồm:

- Vai trò gia tăng giá trị của hệ thống thông tin: Các hệ thống thông tin có

thể gia tăng giá trị cho tổ chức bằng nhiều cách: cải tiến sản phẩm và cải tiến cácquá trình nghiệp vụ liên quan đến việc sản xuất ra các sản phẩm, nâng cao chấtlượng sản phẩm và hỗ trợ các nhà quản lý trong quá trình ra quyết định

Hệ thống thông tin gia tăng giá trị cho các quá trình nghiệp vụ: Các hệ thốngthông tin có ảnh hưởng nhất định đến các quá trình nghiệp vụ của tổ chức Với việc

sử dụng các hệ thống thông tin, chi phí nhân công cho các quá trình nghiệp vụ cóthể giảm đáng kể, hiệu quả của các quá trình tăng lên rõ rệt, chúng được thực hiệnnhanh hơn và thuận tiện hơn Trong mỗi tổ chức sẽ bao gồm nhiều quá trình hoạtđộng nghiệp vụ Các quá trình hoạt động ở mức này có nhiệm vụ xác định mục tiêu

và chiến lược cho tổ chức và kiểm soát quá trình thực hiện các mục tiêu đó

Hệ thống thông tin gia tăng giá trị cho các sản phẩm: sản phẩm đầu ra củaquá trình hoạt động nghiệp vụ trong một tổ chức doanh nghiệp có thể là các vậtdụng, các tài liệu, các thỏa thuận hay các dịch vụ Các sản phẩm phân biệt nhau ởđặc điểm hay tính năng và hình thức cung cấp, vậy nên một trong các cách mà hệthống thông tin có thể gia tăng giá trị cho các sản phẩm là nâng cao hoặc bổ sung

Trang 31

đặc tính mới cho sản phẩm hoặc cải tiến hình thức cung cấp Ngoài ra, hệ thốngthông tin cung có thể gia tăng giá trị cho sản phẩm bằng cách cải tiến phương thứccung cấp sản phẩm đến khách hàng.

Hệ thống thông tin gia tăng giá trị cho chất lượng sản phẩm: các hệ thốngthông tin có thể gia tăng giá trị cho chất lượng sản phẩm bằng nhiều cách: gia tănggiá trị cho các quá trình nghiệp vụ và gia tăng giá trị cho bản thân các sản phẩmbằng cách đổi mới hoặc nâng cao chất lượng các quá trình và các sản phẩm đó

- Vai trò chiến lược của hệ thống thông tin trong môi trường cạnh tranh:

Trong môi trường kinh doanh đầy biến động, các hệ thống thông tin quản lý nóichung và hệ thống thông tin chiến lược nói riêng đã và đang đóng vai trò quyết địnhđối với hiệu quả kinh doanh và tính sống còn của tổ chức Những hệ thống thông tinnhư vậy là những công cụ then chốt, đảm bảo cho tổ chức đạt được những ưu thếcạnh tranh, bao gồm cả cạnh tranh trong kinh doanh và cạnh tranh trong đầu tư

Để có thể sử dụng hệ thống thông tin như một vũ khí cạnh tranh, tổ chứcphải biết xác định xem cơ hội chiến lược của hoạt động kinh doanh nằm ở đâu Các

hệ thống thông tin chiến lược thường đem đến sự thay đổi đối với tổ chức, đối vớicác sản phẩm và dịch vụ và các thủ tục nghiệp vụ của nó Những thay đổi nàythường đòi hỏi một lực lượng lao động mới, một đội ngũ các nhà quản lý mới cókhản năng giữ một mối quan hệ chặt chẽ với các khách hàng và các nhà cung cấp

2.2.3 Phân loại hệ thống thông tin

Trên thực tế, có rất nhiều loại hình hệ thống thông tin khác nhau được pháttriển với những vai trò và vị trí khác nhau đối với tổ chức Chính vậy nên người ta

có thể phân loại hệ thống thông tin theo nhiều cách khác nhau nhằm nhấn mạnh cácvai trò khác nhau của chúng

Trang 32

2.2.3.1 Phân loại hệ thống thông tin theo phạm vi hoạt động

Theo phạm vi hoạt động, hệ thống thông tin có thể được chia thành hai nhómchính:

- Nhóm các hệ thống thông tin hỗ trợ hoạt động nội bộ tổ chức: Đây là các

hệ thống thông tin hỗ trợ thu thập và xử lý thông tin phục vụ quản trị nội bộ tổ chứcdoanh nghiệp Có hai loại hình hệ thống thông tin hỗ trợ nội bộ, bao gồm:

+ Hệ thống thông tin hỗ trợ hoạt động tác nghiệp như: Hệ thống xử lý giaodịch; Hệ thống quản trị thích hợp doanh nghiệp; Hệ thống kho dữ liệu; Hệ thống tựđộng hóa văn phòng; Hệ thống hỗ trợ nhóm cộng tác; Hệ thống tự động hóa sảnxuất; Hệ thống quản lý chuỗi cung cấp

+ Hệ thống thông tin hỗ trợ hoạt động quản lý như: Hệ thống trợ giúp raquyết định; Hệ thống khai phá dữ liệu; Hệ thống hỗ trợ nhóm làm việc; Hệ thốngthông tin địa lý; Hệ thống thông tin phục vụ lãnh đạo; Hệ thống tri thức kinh doanh;

Hệ thống thông tin quản lý tri thức; Hệ thống chuyên gia

- Nhóm các hệ thống thông tin phối hợp hoạt động giữa các tổ chức: Đây là

các hệ thống thông tin liên kết tổ chức với các tổ chức khác, ví dụ hệ thống thôngtin liên kết doanh nghiệp với khách hàng và nhà cung cấp Nhóm các hệ thốngthông tin phối hợp hoạt động giữa các tổ chức bao gồm:

+ Hệ thống trao đổi dữ liệu điện tử

+ Hệ thống thương mại điện tử

+ Hệ thống JIT

Trong khi nhóm các hệ thống thông tin hỗ trợ hoạt động nộ bộ cho phép tổchức thực hiện các hoạt động sản xuất kinh doanh của mình hiệu quả hơn thì nhómcác hệ thống thông tin hỗ trợ phối hợp hoạt động liên tổ chức lại giúp các tổ chức

Trang 33

tiếp cận và trao đổi giao dịch được với khách hàng, nhà cung cấp, các bạn hàng vàcác đối thủ thông qua một hoặc nhiều hệ thống mạng máy tính và truyền thông.2.2.3.2 Phân loại hệ thống thông tin theo lĩnh vực hoạt động

Theo lĩnh vực hoạt động, các hệ thống thông tin được phân thành hai nhómchính: nhóm các hệ thống thông tin hỗ trợ hoạt động tác nghiệp và nhóm các hệthống thông tin hỗ trợ quản lý

- Nhóm các hệ thống thông tin hỗ trợ hoạt động tác nghiệp: Các hệ thống

thông tin loại này tập trung vào việc xử lý các dữ liệu phát sinh trong các hoạt độngnghiệp vụ, cung cấp nhiều sản phẩm thông tin khác nhau tuy nhiên chưa phải lànhững thông tin chuyên biệt, sử dụng được ngay cho các nhà quản lý

+ Hệ thống thông tin xử lý giao dịch: xử lý các giao dịch nghiệp vụ

+ Hệ thống kiểm soát các tiến trình: Kiểm soát các tiến trình nghiệp vụ.+ Hệ thống hỗ trợ các cộng tác trong tổ chức: Hỗ trợ cộng tác làm việc theonhóm

- Nhóm các hệ thống thông tin hỗ trợ quản lý: Đây là các hệ thống thông tin

có khả năng cung cấp thông tin hỗ trợ ra quyết định quản lý

+ Hệ thống thông tin quản lý: Cung cấp các báo cáo chuẩn mực, định kỳ chocác nhà quản lý

+ Hệ thống trợ giúp ra quyết định: Hỗ trợ quá trình ra quyết định thông quagiao diện đối thoại

+ Hệ thống trợ giúp lãnh đạo: Cung cấp những thông tin đúng dạng cho cán

bộ lãnh đạo

Trang 34

2.2.3.3 Phân loại hệ thống thông tin theo mục đích và đối tượng phục vụ

Dựa theo mục đích và đối tượng phục vụ, hệ thống thông tin có thể đượcphân loại thành năm loại:

- Hệ thống chuyên gia: Là một hệ thống thông tin dựa trên máy tính có sử

dụng tri thức liên quan đến một lĩnh vực ứng dụng phức tạp, mang tính chuyên biệt

để tương tác trong vai trò chuyên gia tư vấn với người sử dụng Hệ chuyên gia baogồm một cơ sở tri thức và các mô đun phần mềm có khả năng suy luận tri thức, tìmkiếm câu trả lời cho các câu hỏi của người sử dụng Các hệ chuyên gia hiện nay chỉ

có thể ứng dụng cho các vấn đề trong lĩnh vực hẹp Các vấn đề liên quan đến chẩnđoán là những ứng dụng phổ biến của hệ chuyên gia

- Hệ thống quản trị tri thức: Hỗ trợ quá trình tạo mới, tổ chức và phân phối

tri thức nghiệp vụ tới các thành viên và bộ phận trong tổ chức

- Hệ thống thông tin chiến lược: Cung cấp cho tổ chức các sản phẩm và dịch

vụ chiến lược, giúp tổ chức đạt được các lợi thế cạnh tranh

- Hệ thống thông tin nghiệp vụ: Hỗ trợ các hoạt động tác nghiệp và quản lý

trong các lĩnh vực chức năng điển hình của tổ chức

- Hệ thống thông tin tích hợp: Tích hợp nhiều vai trò khác nhau trong một hệ

thống và có khả năng cung cấp thông tin, hỗ trợ quá trình ra quyết định ở nhiều mứcquản lý khác nhau trong nhiều lĩnh vực khác nhau

2.2.3.4 Phân loại hệ thống thông tin theo lĩnh vực chức năng

Dựa theo lĩnh vực chức năng, hệ thống thông tin được phân thành bốn loại,

cụ thể như sau:

- Hệ thống thông tin bán hàng và marketing: Là các hệ thống được sử dụng

để quản lý và phát triển sản phẩm mới, phân phối, định giá sản phẩm, hiệu quảkhuyến mại hàng hóa, dự án bán hàng hóa và sản phẩm của tổ chức

Trang 35

- Hệ thống thông tin tài chính – kế toán: là các hệ thống được sử dụng để

quản lý, kiểm soát và kiểm toán các nguồn lực tài chính của tổ chức

- Hệ thống thông tin kinh doanh và tác nghiệp: Là các hệ thống được sử

dụng để quản lý, kiểm soát và kiểm toán các nguồn lực kinh doanh và tác nghiệpcủa tổ chức

- Hệ thống thông tin quản trị nhân lực: Là các hệ thống được sử dụng để

quản lý, kiểm soát và kiểm toán các nguồn nhân lực của tổ chức

2.2.4 Lợi ích kinh tế của hệ thống thông tin

Lợi ích kinh tế do hệ thống thông tin mang lại rất đa dạng Đó có thể lànhững lợi ích hữu ích (lợi ích trực tiếp) đo đếm được bằng tiền, có thể là những lợiích vô hình (lợi ích gián tiếp) không đo đếm được bằng tiền nhưng góp phần tăng

uy tín cho tổ chức

- Giá trị của một thông tin quản lý: Nếu một tổ chức tạo ra thông tin để bán

thì tổ chức đó có thể tính giá trị của nó theo các chi phí để có được thông tin đó

Giá thành của thông tin = ∑ các khoản chi tạo ra thông tin

Tuy nhiên, cách diễn đạt thông tin dựa vào giá thành là không phù hợp vớiquản điểm hiện nay của các nhà quản lý về giá trị thông tin Một thông tin do hệthống thông tin quản lý tạo ra nhằm tạo điều kiện thuận lợi cho việc ra quyết định

Vì vậy, giá trị của thông tin cần phải được xem xét thông qua việc thông tin đóđóng góp như thế nào vào quyết định quản lý và kết quả ứng xử của tổ chức sau khithực hiện quyết định trên của nhà quản lý Tức là cần xem xét giá trị của thông tintheo hai bước:

+ Bước 1: Giá trị của một thông tin phải được đánh giá thông qua tác độngcủa nó đối với những quyết định của tổ chức

Trang 36

+ Bước 2: Cách thức thực hiện quyết định của tổ chức phải được đánh giáthông qua việc đối chiếu với các mục tiêu mà tổ chức đã ấn định.

Như vậy, giá trị của một thông tin bằng lợi ích thu được của việc thay đổiphương án quyết định do thông tin đó tạo ra

- Tính giá trị của một hệ thống thông tin: Giá trị của một hệ thống thông tin

là sự thể hiện bằng tiền tập hợp những rủi ro mà tổ chức tránh được và những cơ hộithuận lợi mà tổ chức có được nhờ hệ thống thông tin Để tính toán thiệt hại của rủi

ro có thể tiến hành theo cách thức của các nhà bảo hiểm như sau:

Lợi ích tránh rủi ro (PR) = ∑ Ai Pi Ri (trong đó Ai, Pi và Ri là thiệt hại docác rủi ro, xác suất xẩy ra các rủi ro và tỷ lệ giảm bới rủi ro nhờ có hệ thống thôngtin)

Lợi ích tận dụng cơ hội (CR) = ∑ Ci Pi Ri (trong đó Ci, Pi và Ri là lợi ích khitận dụng được cơ hội, xác suất xẩy ra cơ hội và tỷ lệ tận dụng cơ hội của một hệthống thông tin)

Vì vậy, lợi ích của hệ thống thông tin hàng năm = Lợi ích tránh rủi ro (PR) –Lợi ích tận dụng cơ hội (CR)

- Phương pháp chuyên gia: Hệ thống chuyên gia mang lại hai lợi ích trực

tiếp và gián tiếp Theo kinh nghiệm của nhiều nước trên thế giới thì lợi ích trực tiếpcủa hệ thống thông tin chiếm từ 5 – 20% kết quả hoạt động của tổ chức

Lợi ích gián tiếp là loại lợi ích không thể cân đong đo đếm chính xác được

Có thể dựa vào ý kiến đánh giá tốt xấu của các chuyên gia về hệ thống thông tin đểước lượng lợi ích gián tiếp theo công thức sau:

Pg(i) = a.Pt(i).mTrong đó: Pg(i): Là lợi ích gián tiếp của hệ thống thông tin năm thứ i

Pt(i): Là lợi ích trực tiếp của hệ thống thông tin năm thứ i

Trang 37

a: Là tỉ lệ % của Pg(i) đối với Pt(i) Theo kinh nghiệm của nhiều

tổ chức thì a nằm trong khoảng từ 0,3 đến 0.5m: Là hệ số chất lượng của hệ thống thông tin theo sự đánh giácủa các chuyên gia m = 1 nếu có trên 90% số chuyên gia đánhgiá cao hệ thống thông tin, m = 0,5 nếu có từ 50% - 90% sốchuyên gia đánh giá tốt về hệ thống thông tin và m = 0 nếu códưới 50% số chuyên gia cho rằng hệ thống thông tin tốt

2.3 Công bố thông tin và quản trị công bố thông tin

2.3.1 Công bố thông tin và quản trị công bố thông tin

Hệ thống thông tin có vai trò rất quan trọng, mang tính sống còn đối vớidoanh nghiệp Tuy nhiên, thông tin sau khi xử lý thành đầu ra mà không được sửdụng có hiệu quả sẽ không mang lại bất kỳ lợi ích nào cho doanh nghiệp Vì vậy,muốn biến những kết quả của thông tin đã được xử lý thành những lợi ích mang lạicho tổ chức, các thông tin này cần được công bố theo những mục tiêu nhất định củanhà quản lý Hay nói cách khác, công bố thông tin chính là việc đưa thông tin saukhi đã được thu thập, xử lý cho các đối tượng hoặc các nhóm đối tượng nhất định.Các đối tượng hoặc nhóm đối tượng này có thể trong nội bộ tổ chức hoặc bên ngoài

tổ chức Các thông tin được đưa ra có thể là những thông tin mang tính chất chủquan của các nhà quản lý (công bố tự nguyện vì mục đích của nhà quản lý) hoặccũng có thể là những thông tin mang tính chất bắt buộc (khách quan) theo yêu cầucủa pháp luật

Quản trị công bố thông tin là một phần của quản trị thông tin doanh nghiệp

Từ nội dung của hệ thống thông tin và công bố thông tin sẽ đưa đến một khái niệmhoàn chỉnh của quản trị công bố thông tin

Quản trị công bố thông tin là việc một tổ chức sử dụng các phương thức đểlập kế hoạch, tập hợp, tạo mới, tổ chức, sử dụng, kiểm soát, phổ biến và loại bỏ một

Trang 38

cách hiệu quả các thông tin của tổ chức để từ đó cung cấp thông tin theo những mụcđích nhất định của tổ chức Thông qua quản trị công bố thông tin, tổ chức có thểđảm bảo rằng giá trị của các thông tin đó được xác lập và sử dụng tối đa để hỗtrợ cho các hoạt động trong nội bộ tổ chức cũng như góp phần nâng cao tính tuânthủ của doanh nghiệp đối với các yêu cầu về công bố thông tin của pháp luật.

Như đã nói ở trên, việc công bố thông tin có thể vì mục đích chủ quan củacác nhà quản lý hoặc cũng có thể bắt buộc theo yêu cầu của pháp luật Các thôngtin công bố theo mục đích chủ quan của nhà quản lý có nội dung và hình thứcphụ thuộc vào kết quả mục tiêu của thông tin đó, chủ yếu là mang lại lợi ích tối

đa cho tổ chức Trái lại, với các thông tin công bố theo yêu cầu của pháp luật,nội dung và hình thức phải theo quy chuẩn và kết quả của việc công bố thông tinmang lại không chỉ cho tổ chức mà còn cho xã hội, cho nhà nước

2.3.2 Phương tiện và hình thức công bố thông tin

Các phương tiện công bố thông tin đối với các tổ chức chủ yếu bao gồm:

- Thông qua các website, bao gồm trên website của tổ chức, website của các

tổ chức trung gian đối với các thông tin cần công bố công khai cho với tất cả các đốitượng hoặc nhóm đối tượng quan tâm

- Thông qua các phương tiện thông tin đại chúng như báo, đài, tạp chí, ấnphẩm,…Phương tiện này cũng chủ yếu áp dụng cho các thông tin cần công bố côngkhai cho tất cả các nhóm đối tượng

- Thông qua hệ thống thư điện tử, thư tay: Phương tiện này áp dụng chủ yếucho việc công bố thông tin cho một số ít các đối tượng hoặc nhóm đối tượng vìnhững mục đích đặc biệt của tổ chức

- Thông qua các quảng cáo, bảng tin, sản phẩm của chính các tổ chức

- Thông qua các phương tiện nội bộ tổ chức

Trang 39

Hình thức công bố thông tin gồm có 2 loại: bằng văn bản gồm văn bản giấy

và văn bản điện tử (đối với việc công bố các thông tin mang tính chất chính thống,trang trọng); bằng lời (đối với những thông tin không chính thống) Hình thức công

bố thông tin nào được lựa chọn sẽ tùy thuộc vào mục đích cũng như những lợi íchmong muốn của các nhà quản lý Không phải lúc nào hình thức bằng văn bản cũngmang lại hiệu quả, chúng cần đặt vào những tình huống quản lý cụ thể

2.4 Nội dung và yêu cầu đối với thông tin cung cấp theo quy định của pháp luật

Việc công bố thông tin theo quy định của pháp luật chủ yếu áp dụng chocác tổ chức là các doanh nghiệp đại chúng hoặc những doanh nghiệp hoạt độngtrong những lĩnh vực đặc thù cần công bố công khai thông tin Nội dung dướiđây trình bày chi tiết về yêu cầu của pháp luật đối với các tổ chức là công ty đạichúng đối với việc công bố thông tin

2.4.1 Công bố thông tin trên thị trường sơ cấp

Khi một tổ chức phát hành thực hiện phát hành chứng khoán lần đầu ra côngchúng để niêm yết thì cần phải công bố thông tin theo các bước sau:

- Công bố thông tin khi xin giấy phép phát hành: Tổ chức đăng ký niêm yết

chứng khoán phải nộp hồ sơ đăng ký niêm yết cho Sở Giao dịch chứng khoán,Trung tâm Giao dịch chứng khoán

Hồ sơ niêm yết bao gồm: giấy đăng ký chào bán cổ phiếu ra công chúng;Bản cáo bạch theo quy định tại Điều 15 Luật Chứng khoán; điều lệ của tổ chức pháthành; quyết định của Đại hội đồng cổ đông thông qua phương án phát hành vàphương án sử dụng vốn thu được từ đợt chào bán cổ phiếu ra công chúng; Cam kếtbảo lãnh phát hành (nếu có)

Hồ sơ đăng ký chào bán cổ phiếu ra công chúng phải kèm theo quyết địnhcủa Hội đồng quản trị hoặc Hội đồng thành viên hoặc Chủ sở hữu công ty thông qua

Trang 40

hồ sơ Đối với việc chào bán chứng khoán ra công chúng của tổ chức tín dụng, hồ

sơ phải có văn bản chấp thuận của Ngân hàng nhà nước Việt Nam

Trong thời gian Uỷ ban Chứng khoán Nhà nước xem xét hồ sơ đăng ký chàobán chứng khoán ra công chúng, tổ chức phát hành, tổ chức bảo lãnh phát hành và

tổ chức, cá nhân có liên quan chỉ được sử dụng trung thực và chính xác các thôngtin trong Bản cáo bạch đã gửi Uỷ ban Chứng khoán Nhà nước để thăm dò thịtrường, trong đó phải nêu rõ các thông tin về ngày phát hành và giá bán chứngkhoán là thông tin dự kiến Việc thăm dò thị trường không được thực hiện trênphương tiện thông tin đại chúng

- Công bố thông tin khi nhận được giấy phép phát hành: Trong thời hạn ba

mươi ngày, kể từ ngày nhận được hồ sơ hợp lệ, Uỷ ban Chứng khoán Nhà nướcxem xét và cấp Giấy chứng nhận chào bán chứng khoán ra công chúng Trường hợp

từ chối, Uỷ ban Chứng khoán Nhà nước phải trả lời bằng văn bản và nêu rõ lý do

Giấy chứng nhận chào bán chứng khoán ra công chúng của Uỷ ban Chứngkhoán Nhà nước là văn bản xác nhận hồ sơ đăng ký chào bán chứng khoán ra côngchúng đáp ứng đủ điều kiện, thủ tục theo quy định của pháp luật

Trong thời hạn bảy ngày, kể từ ngày Giấy chứng nhận chào bán chứng khoán

ra công chúng có hiệu lực, tổ chức phát hành phải công bố Bản thông báo phát hànhtrên một tờ báo điện tử hoặc báo viết trong ba số liên tiếp

Chứng khoán chỉ được chào bán ra công chúng sau khi đã công bố theo quyđịnh tại khoản 3 Điều 20 Luật chứng khoán (2006)

- Công bố thông tin khi có sửa đổi, bổ sung hồ sơ đăng ký chào bán chứng khoán ra công chúng: Trong thời gian hồ sơ đăng ký chào bán chứng khoán ra

công chúng đang được xem xét, tổ chức phát hành có nghĩa vụ sửa đổi, bổ sung hồ

sơ nếu phát hiện thông tin không chính xác hoặc bỏ sót nội dung quan trọng theoquy định phải có trong hồ sơ hoặc thấy cần thiết phải giải trình về vấn đề có thể gâyhiểu nhầm

Ngày đăng: 08/02/2023, 11:19

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w