Triển khai nghiệp vụ Bảo hiểm hàng hoá nhập khẩu vận chuyển bằng đường biển tại Công ty PJICO. Thực trạng & một số giải pháp
Trang 1Lời giới thiệu
Trong giai đoạn hiện nay giao lưu buôn bán giữa các nước trong khu vực cũng như trên thế giới ngày càng phát triển dẫn tới lượng hàng hoá xuất nhập khẩu (XNK) ngày càng cao Lượng hàng hoá này có thể chuyên chở theo nhiều con đường khác nhau như đường bộ, đường sông, đường không… nhưng chủ yếu là theo đường biển Khoa học công nghệ hiện đại đã giúp chúng ta đóng được những con tàu có trọng tải lên tới hàng nghìn tấn có thể chở được lượng hàng hoá vô cùng lớn Tuy nhiên, thuận lợi mà cũng chính là khó khăn của vận chuyển hàng hoá bằng đường biển là nó phụ thuộc rất nhiều vào điều kiện tự nhiên Hiện nay, mặc dù chúng ta đã phát minh ra những công cụ hiện đại có thể lường trước được những rủi ro do thiên tai như dự báo thời tiết qua vệ tinh, hệ thống cảnh báo động đất, sóng thần… nhưng thiên tai thường xảy ra bất ngờ và không thể lường trước được Bởi vậy, khi thiên tai xảy sẽ gây tổn thất lớn cả về người và của Xuất phát từ nhu cầu của thực tế bảo hiểm hàng hoá vận chuyển bằng đường biển đã ra đời Có thể nói nghiệp vụ bảo hiểm này là một trong những nghiệp vụ ra đời sớm nhất trong ngành bảo hiểm (Năm 1182, bản hợp đồng bảo hiểm hàng hoá vận chuyển bằng đường biển đầu tiên xuất hiện ở miền Bắc Italia) nhưng vẫn phát triển mạnh cho tới tận ngày nay
và trở thành công cụ không thể thiếu khi tham gia hoạt động thương mại quốc tế Nghiệp
vụ bảo hiểm này ra đời không những giúp cho các doanh nghiệp, tổ chức, cá nhân yên tâm, ổn định sản xuất thúc đẩy nền kinh tế phát triển mà còn mang lại nguồn thu lớn cho ngân sách nhà nước Nhờ có bảo hiểm hàng hoá vận chuyển hàng hoá bằng đường biển
mà thương mại quốc tế có thể phát triển vượt bậc như ngày hôm nay
Việt Nam đang trong quá trình công nghiệp hoá - hiện đại hoá (CNH - HĐH) đất nước
để chuẩn bị hội nhập với nền kinh tế toàn cầu Muốn đẩy nhanh quá trình này Việt Nam rất cần vốn cũng như công nghệ từ các đối tác nước ngoài Do đó, nhu cầu nhập khẩu các công nghệ, máy móc thiết bị, nguyên vật liệu sẽ ngày càng tăng Theo các chuyên gia
Sv: bïi ngäc tó líp bh43A1
Trang 2phân tích thì trong giai đoạn CNH - HĐH đất nước thì nhập khẩu có thể cao hơn xuất khẩu một chút là phù hợp Điều này tất nhiên sẽ kéo theo kim nghạch tham gia bảo hiểm đối với hàng hoá nhập khẩu sẽ tăng Nhưng trên thực tế ở Việt Nam lại không như vậy, trong khi kim ngạch nhập khẩu năm 2004 là 31,25 tỷ USD (tăng 25% so với năm 2003) thì kim ngạch nhập khẩu tham gia bảo hiểm còn quá khiêm tốn chỉ xấp xỉ 25% kim ngạch nhập khẩu còn lại đều tham gia mua bảo hiểm ở nước ngoài Đây thực sự là điều rất đáng tiếc bởi nó không những ảnh hưởng đến chính bản thân người được bảo hiểm mà còn tác động xấu đến thị trường bảo hiểm Việt Nam và mất đi một nguồn thu lớn cho Ngân sách Nhà nước Vì vậy, việc tìm ra những biện pháp để đáp ứng được nhu cầu của khách hàng cũng như tồn tại và phát triển trong thời gian tới là nghiệm vụ của các doanh nghiệp bảo hiểm trong nước kinh doanh các nghiệp vụ bảo hiểm trong đó có nghiệp vụ bảo hiểm hàng hoá XNK.
Trong thời gian thực tập tại Công ty cổ phần bảo hiểm Petrolimex, nhận thức rõ được vai trò của nghiệp vụ hàng hoá nhập vận chuyển bằng đường biển không chỉ ảnh hưởng tới công ty mà còn ảnh hưởng tới cả thị trường bảo hiểm Việt Nam nên em đã lựa chọn
đề tài “Triển khai nghiệp vụ Bảo hiểm hàng hoá nhập khẩu vận chuyển bằng đường
biển tại Công ty PJICO thực trạng và một số giải pháp” để nghiên cứu.
Để nghiên cứu hiệu quả nhất bài nghiên cứu này em chia làm 3 chương:
Chương 1: Khái quát chung về nghiệp vụ bảo hiểm hàng hoá nhập khẩu vận chuyển bằng đường biển
Chương 2: Thực trạng khai thác nghiệp vụ bảo hiểm hàng hoá nhập khẩu vận chuyển bằng đường biển tại Công ty cổ phần bảo hiểm Petrolimex (PJICO)
Chương 3: Một số biện pháp nhằm nâng cao hiệu qủa kinh doanh của nghiệp vụ bảo hiểm hàng hoá nhập khẩu vận chuyển bằng đường biển tại Công ty PJICO trong thời gian tới
Mặc dù đã rất cố gắng song do sự hạn hẹp về kiến thức cũng như kinh nghiệm thực tế
và thời gian nên bài nghiên cứu này em thực hiện không thể tránh khỏi những sai sót Em
Trang 3rất mong nhận được những ý kiến đóng góp quý báu từ phía các thầy cô giáo, các anh, chị trong Công ty Em xin chân thành cảm ơn sự giúp đỡ chỉ bảo tận tình của cô giáo Nguyễn Ngọc Hương và các thầy cô giáo trong khoa đã giúp em hoàn thành bài nghiên cứu này
Em cũng xin cảm ơn những sự giúp đỡ quý báu của tập thể Ban lãnh đạo công ty bảo hiểm PJICO đặc biệt là sự hướng dẫn, giúp đỡ của các anh chị trong phòng Quản lý thị trường.
Sv: bïi ngäc tó líp bh43A3
Trang 4Chương 1: Khái quát chung về nghiệp vụ bảo hiểm hàng
hoá nhập khẩu vận chuyển bằng đường biển
I Đặc điểm của quá trình xuất nhập khẩu hàng hoá vận chuyển bằng
đường biển và sự cần thiết phải bảo hiểm hàng hoá xuất nhập khẩu bằng đường biển.
1 Đặc điểm của quá trình xuất nhập khẩu hàng hoá vận chuyển bằng đường biển
- Xuất nhập khẩu (XNK) hàng hoá là qúa trình chuyển giao quyền sở hữu lô hàng từ người bán sang người mua Do đó, việc xuất nhập khẩu hàng hoá thường được thực hiện thông qua hợp đồng giữa người mua và người bán Trong hợp đồng này thường được quy định rất rõ ràng các nội dung như số lượng, phẩm chất, mã hiệu, quy cách đóng gói, gía
cả hàng hoá, trách nhiệm thuê tàu, trả cước phí, phí bảo hiểm, thủ tục và loại tiền được thanh toán…
- Hàng hoá xuất nhập khẩu thường được vận chuyển qua biên giới quốc gia cho nên phải chịu sự kiểm soát rất kỹ lưỡng của hải quan, kiểm dịch… tuỳ theo quy định của nước sở tại Theo tập quán thương mại quốc tế bất kỳ hàng hoá xuất nhập khẩu nào vận chuyển ra (hoặc vào) qua biên giới của một quốc gia đều phải tham gia mua bảo hiểm Người tham gia mua bảo hiểm có thể là người bán hàng (người xuất khẩu) hoặc người mua hàng (người nhập khẩu) Quan hệ giữa Người bảo hiểm và người mua bảo hiểm đối với hàng hoá được bảo hiểm thường được thực hiện thông qua hợp đồng bảo hiểm (HĐBH) Trong trường hợp người bán hàng mua bảo hiểm thì người bán hàng phải chuyển nhượng HĐBH cho người mua hàng để khi hàng về đến nước nhập, nếu xẩy ra tổn thất có thể đòi công ty bảo hiểm bồi thường
- Hàng hoá XNK bằng đường biển được vận chuyển bằng tàu biển Người vận chuyển hàng đồng thời là người giao hàng cho người mua
Trang 5Trên đây là một số đặc điểm riêng của hàng hoá xuất nhập khẩu vận chuyển bằng đường biển cho nên xuất phát từ chính những đặc điểm này mà việc triển khai bắt buộc đối với nghiệp vụ bảo hiểm hàng hoá xuất nhập khẩu là một tất yếu khách quan.
2 Sự cần thiết của bảo hiểm hàng hoá xuất nhập khẩu bằng đường
biển
Có thể nói chưa bao giờ xu thế toàn cầu hoá lại diễn ra mạnh mẽ như giai đoạn hiện nay cho nên vai trò của dịch vụ vận chuyển hàng hoá XNK bằng đường biển là vô cùng quan trọng Theo thống kê có khoảng hơn 90% khối lượng hàng hoá XNK của thế giới được vận chuyển bằng đường biển Bởi vì, vận chuyển bằng đường biển có những ưu điểm mà các dịch vụ vận chuyển khác không có được như:
- Vận chuyển bằng đường biển có thể chở được nhiều chủng loại hàng hoá với khối lượng lớn thậm chí cả những loại hàng hoá siêu trường và siêu trọng mà các phương tiện vận tải khác như: Đường bộ, đường sông, đường hàng không… không thể đảm nhận được
- Do vận chuyển bằng đường biển lợi dụng được những điều kiện thiên nhiên của biển nên chi phí như vốn, nguyên vật liệu, sức lao động… bỏ ra thường ít hơn so với chi phí bỏ ra cho những phương tiện khác Chính điều này làm cho giá thành vận chuyển bằng đường biển thấp hơn so với các phương tiện khác Đây là ưu thế mà những doanh nghiệp thường lựa chọn vận chuyển bằng đường biển để XNK hàng hoá trong thương mại quốc tế
- Các tuyến vận chuyển bằng đường biển thường là rộng lớn nên người ta có thể tổ chức được nhiều tuyến tàu trong cùng một lúc trên cùng một tuyến hoặc cho cả hai chiều
- Vận chuyển bằng đường biển góp phần phát triển mối quan hệ kinh tế giữa các nước trong khu vực cũng như quốc tế, tăng nguồn thu ngoại tệ…
Vì vậy, nhiều nước mặc dù không tiếp giáp với biển nhưng cũng phải thông qua cảng của người khác để vận chuyển hàng hoá bằng đường biển như Lào, Séc…
Sv: bïi ngäc tó líp bh43A5
Trang 6Tuy nhiên, bên cạnh những mặt tích cực đó thì vận chuyển bằng đường biển cũng có một số nhược điểm sau:
- Vận chuyển bằng đường biển gặp rất nhiều rủi ro do các yếu tố tự nhiên, yếu tố kỹ thuật, yếu tố xã hội hoặc con người
Do yếu tố tự nhiên: Quá trình vận chuyển hàng hoá trên biển phụ thuộc rất nhiều vào điều kiện tự nhiên như thời tiết, khí hậu… Mặc dù hiện nay khoa học kỹ thuật rất phát triển chúng ta có thể dự báo được thời tiết, cảnh báo được động đất sóng thần… nhưng các yếu tố tự nhiên luôn xảy ra bất cứ lúc nào và không theo một quy luật nhất định nào
Vì vậy, những thiên tai như: bão, sóng thần, lốc, vòi rồng… khi xảy ra có thể gây thiệt hại vô cùng to lớn về cả người và của
Do yếu tố kỹ thuật: Ngày nay, con người ngày càng sử dụng nhiều hơn các phương tiện khoa học kỹ thuật hiện đại Nhưng dù máy móc hiện đại đến đâu thì cũng không thể tránh khỏi những sai sót, trục trặc về mặt kỹ thuật Đó có thể là trục trặc của chính bản thân con tàu, kỹ thuật dự báo, các tín hiệu điều khiển từ đất liền hoặc từ vệ tinh… từ đó gây ra đổ vỡ mất mát hàng hoá trong quá trình vận chuyển hàng hoá XNK
Do yếu tố xã hội con người: Hàng hoá có thể bị mất trộm, mất cắp, bị cướp hoặc bị thiệt hại do chiến tranh…
- Tốc độ tàu biển thường chậm, hành trình trên biển thường có thời gian dài nên xác suất rủi ro xảy ra trên biển là rất cao Thêm vào đó, việc ứng cứu rủi ro, tai nạn lại gặp rất nhiều khó khăn
- Cùng với sự phát triển kinh tế - xã hội, mỗi chuyến hàng thường có giá trị rất lớn bao gồm giá trị tàu và hàng hoá trở trên tàu nên khi tổn thất xảy ra sẽ gây tổn thất rất lớn về tài sản, trách nhiệm và con người
- Trong quá trình vận chuyển hàng hoá, chủ phương tiện sẽ là người chịu trách nhiệm chính Nhưng trách nhiệm này rất hạn chế về thời gian, phạm vi và mức độ tuỳ theo điều kiện giao hàng và hợp đồng vận chuyển
Trang 7Để phát huy tối đa những mặt tích cực đồng thời hạn chế những mặt tiêu cực trong vận chuyển hàng hoá bằng đường biển thì nghiệp vụ bảo hiểm hàng hoá vận chuyển bằng đường biển đã ra đời Từ khi nghiệp vụ ra đời thì các doanh nghiệp yên tâm sản xuất, ổn định kinh doanh giúp nền kinh tế phát triển tăng nguồn thu cho ngân sách nhà nước Nghiệp vụ cũng là nhân tố quan trọng thúc đẩy hoạt động XNK hàng hoá phát triển nhanh chóng như ngày hôm nay Chính vì lẽ đó tầm quan trọng của nghiệp vụ ngày càng được nhiều các nước trên thế giới thừa nhận cho nên các điều khoản thương mại quốc tế đều quy định bắt buộc phải tham gia bảo hiểm đối với hàng hoá XNK Đã có những điều khoản riêng quy định rất cụ thể và chặt chẽ vấn đề này.
3 Trách nhiệm của các bên có liên quan
Quá trình vận chuyển hàng hoá có liên quan đến rất nhiều bên trong đó có bốn bên chủ yếu: người bán hàng, người mua hàng, người vận chuyển và nhà bảo hiểm Vì vậy, việc phân định rõ ràng trách nhiệm của các bên liên quan là rất quan trọng Trong đó:
* Người bán (người xuất khẩu):
- Chuẩn bị hàng hoá theo đúng hợp đồng về số lượng, chất lượng, loại hàng, bao bì đóng gói, thời hạn tập kết hàng ở cảng, thủ tục hải quan, kiểm dịch…
- Người bán phải đứng ra làm các thủ tục có liên quan nếu trong hợp đồng quy định
- Nếu người bán mua bảo hiểm thì phải có nghĩa vụ chuyển nhượng lại cho người mua
* Người mua (người nhập khẩu):
- Nhận hàng từ người chuyên chở theo đúng số lượng, chất lượng đã ghi trong hợp đồng vận chuyển và hợp đồng mua bán lấy giấy chứng nhận kiểm đếm, biên bản kế toán giao nhận hàng với chủ tàu, biên bản hàng hoá hư hỏng đổ vỡ do tàu gây nên (nếu có)
- Nhận chuyển nhượng phần bảo hiểm từ người bán nếu có và tiếp tục theo dõi đến khi hàng nhập kho
Sv: bïi ngäc tó líp bh43A7
Trang 8- Nếu có vấn đề sơ xuất liên quan đến hàng hoá thì phải kịp thời thông báo cho các bên liên quan biết để kịp thời giải quyết.
* Người vận chuyển:
- Chuẩn bị người và phương tiện vận chuyển an toàn
- Có trách nhiệm giao hàng theo đúng địa điểm, thời gian quy định
- Trong quá trình vận chuyển phải có trách nhiệm đề phòng hạn chế tổn thất
- Ghi lại hành trình vận chuyển và nguyên nhân xảy ra tổn thất nếu có
* Người bảo hiểm:
- Kiểm tra lại toàn bộ chứng từ hoá đơn, hàng hoá, con người và phương tiện vận chuyển trước khi hàng được đưa lên các phương tiện vận chuyển
- Kịp thời cử nhân viên hoặc người được uỷ quyền đi giám định tổn thất khi nhận được thông báo tổn thất Xem xét giải quyết bồi thường nhanh, thoả đáng cho người tham gia bảo hiểm
Hoạt động trao đổi mua bán hàng hóa thường được thực hiện thông qua ba loại hợp đồng:
Cụ thể như sau:
- Nhóm F: Cước vận chuyển chính chưa trả, gồm:
+ FCA (Free carrier): giao hàng cho người vận tải
+ FAS (Free alongside ship): giao hàng dọc mạn tàu
Trang 9+ FOB (Free on board): giao hàng lên tàu
+ CFR(Cost and freight) tiền hàng và cước phí
+ CIF (Cost insurance freight) tiền hàng, phí bảo hiểm và cước phí
+ CPT (Carriage paid to…) cước phí trả tới
+ CIP ( Carriage and insurance paid to…) tiền cước và phí bảo hiểm trả tới
gồm:
+ DAF (Delivered at frontier) giao hàng tại biên giới
+ DES (Delivered ex-ship) giao hàng tại tàu
+ DEQ (Delivered ex-quay) giao hàng tại cầu cảng
+ DDU (Delivered duty unpaid) giao hàng tại đích, chưa nộp thuế
+ DDP (Delivered duty paid) giao hàng tại đích, đã nộp thuế
Trong trường hợp Người bảo hiểm muốn làm bảo hiểm đối với hàng hoá nhập cần phải chú ý đến các điều khoản trên Bởi vì, chỉ khi hợp đồng được ký theo điều kiện FOB, CF (CIF), CPT thì người nhập khẩu hàng được quyền và có trách nhiệm mua bảo hiểm hàng hoá
Theo điều kiện EXW, nhóm F và điều kiện CFR hay CPT không bên nào phải có trách nhiệm mua bảo hiểm cho hàng hoá Tuy nhiên trong quá trình chuyên chở người mua phải chịu rủi ro đối với hàng hoá nên để bảo vệ lợi ích của mình, người mua thường
là người đứng ra mua bảo hiểm Người bán theo điều kiện này thường cho rằng việc người mua có hay không muab ảo hiểm cho hàng hoá thì không ảnh hưởng gì đến mình,
do đó trong hợp đồng không quy định về nghĩa vụ mua bảo hiểm của người mua trước khi người bán giao hàng
Giải thích rõ các điều kiện liên quan đến trách nhiệm mua bảo hiểm của người nhập khẩu:
Sv: bïi ngäc tó líp bh43A9
Trang 10- Điều kiện FOB: nghĩa là người bán giao hàng qua lan can tàu tại cảng xếp Theo điều kiện này người bán sẽ đưa hàng đến cảng, xếp lên tàu Người mua chịu chi phí và rủi
ro hư hỏng đối với hàng hoá kể từ thời điểm đó
- Điều kiện CPT: người bán giao hàng cho người chuyên chở do chính người bán chỉ định và đồng thời người bán phải trả cước phí vận chuyển cần thiết để đưa hàng đến nơi quy định Điều này có nghĩa là người mua phải chịu mọi rủi ro và các phí tổn khác phát sinh sau khi hàng được giao như trên
- Điều kiện CFR: theo điều kiện này thì người bán giao hàng qua lan can tàu tại cảng bốc hàng Người bán phải trả các chi phí và cước phí cần thiết để đưa hàng tới cảng đến quy định Sau khi giao hàng thì mọi chi phí cũng như những tổn thất (nếu có) sẽ được chuyển từ người bán sang người mua
- Điều kiện EXW: người bán giao hàng cho người mua tại cơ sở của người bán hoặc địa điểm khác đã được quy định từ trước Bắt đầu từ thời điểm giao hàng người mua phải chịu mọi chi phí (kể cả chi phí vận chuyển, bốc dỡ, thông quan xuất khẩu) cũng như tổn thất xảy ra đối với hàng hoá (nếu có) Điều kiện này thể hiện trách nhiệm của người bán
ở mức tối thiểu
II Những nội dung cơ bản của nghiệp vụ bảo hiểm hàng hoá nhập khẩu vận chuyển bằng đường biển
1 Nguyên tắc chung
2 Đối tượng được bảo hiểm
Trong nghiệp vụ bảo hiểm này đối tượng bảo hiểm là mọi hàng hoá nhập khẩu vận chuyển bằng đường biển
Các loại hàng hoá này bao gồm:
- Nguyên vật liệu ban đầu như than, gỗ, dầu thô, các sản phẩm hoá học dạng bột hoặc dạng nước…
Trang 11- Các sản phẩm thuỷ sản đông lạnh như tôm, cá…
- Các sản phẩm nông sản thực phẩm (ngũ cốc, rau, hoa quả…)
- Hàng công nghiệp, trang thiết bị và máy móc hoàn chỉnh…
Thông thường trong hợp đồng bảo hiểm thường có hai bên liên quan: Người bảo hiểm
và Người được bảo hiểm
* Người được bảo hiểm: Mặc dù trong hợp đồng bảo hiểm có thể là người mua hoặc
người bán đứng ra mua bảo hiểm cho một số lượng hàng hoá nào đó nhưng người được hưởng quyền lợi bảo hiểm thường là những người mua hàng Nếu người bán đứng ra mua bảo hiểm cho hàng hoá thì thường áp dụng phương pháp ký hậu do thoả thuận giữa người mua và người bán
* Người bảo hiểm (nhà bảo hiểm): là những Công ty bảo hiểm đang triển khai kinh
doanh nghiệp vụ bảo hiểm hàng hoá xuất nhập khẩu bằng đường biển
3 Thời hạn bảo hiểm và thủ tục bảo hiểm
3.1 Thời hạn bảo hiểm
Thời hạn bảo hiểm là khoảng thời gian mà hàng hoá được bảo hiểm khi gặp tổn thất (trừ những rủi ro loại trừ không được bảo hiểm) thì vẫn phát sinh trách nhiệm bồi thường của nhà bảo hiểm đối với hàng hoá đó
Trong bảo hiểm hàng hoá xuất nhập khẩu bằng đường biển thì trách nhiệm bảo hiểm bắt đầu có hiệu lực từ khi hàng hoá được bảo hiểm được rời kho hoặc nơi chứa hàng tại địa điểm ghi trong HĐBH để bắt đầu vận chuyển và tiếp tục có hiệu lực trong suốt quá trình vận chuyển bình thường Trách nhiệm bảo hiểm kết thúc sẽ kết thúc khi:
- Khi giao hàng vào kho hay nơi chứa hàng cuối cùng của người nhận hàng hoặc của một người nào khác tại nơi nhận có ghi trên HĐBH
- Khi giao hàng vào kho hay nơi chứa hàng nào khác, dù trước khi tới hay tại nơi nhận ghi trong HĐBH mà Người được bảo hiểm chọn làm:
+ Nơi chia hay phân phối hàng
Sv: bïi ngäc tó líp bh43A11
Trang 12+ Nơi chứa hàng ngoài quá trình vận chuyển bình thường
- Khi hết hạn 60 ngày sau khi hoàn thành việc dỡ hàng hoá bảo hiểm hoặc sà lan (nếu
là tàu Lash) khỏi tàu biển tại cảng dỡ hàng cuối cùng ghi trên đơn bảo hiểm
* Nếu sau khi dỡ hàng khỏi tàu biển tại cảng dỡ hàng cuối cùng, nhưng chưa kết thúc bảo hiểm, hàng hoá được gửi tới một nơi nhận hàng không đúng với địa danh nhận hàng ghi trong đơn bảo hiểm thì bảo hiểm trong khi giữ nguyên hiệu lực, sẽ không mở rộng giới hạn qua lúc bắt đầu vận chuyển tới một nơi nhận hàng khác như vậy
* Trong quá trình vận chuyển nếu xảy ra chậm trễ mà Người được bảo hiểm không thể tránh được hoặc những trường hợp tàu đi chệch hướng, dỡ hàng bắt buộc, chuyển tải ngoại lệ hoặc thay đổi hành trình thì hợp đồng bảo hiểm vẫn giữ nguyên hiệu lực với điều kiện phải thông báo ngay cho Người bảo hiểm biết về việc xảy ra hoặc thay đổi đó và phải trả thêm phí bảo hiểm nếu có yêu cầu Người được bảo hiểm sẽ mất quyền đòi bồi thường nếu không đáp ứng đúng yêu cầu này
3.2 Thủ tục bảo hiểm
* Khái niệm: Thủ tục bảo hiểm là những công đoạn mà cả hai bên người tham gia bảo
hiểm và Người bảo hiểm phải thực hiện khi xác định quan hệ bảo hiểm giữa hai bên thông qua hợp đồng bảo hiểm
* Thủ tục bảo hiểm bao gồm:
Thứ nhất: Người bảo hiểm phải có nghĩa vụ hướng dẫn Người được bảo hiểm các thông tin ban đầu về hàng hoá được bảo hiểm và phương thức vận chuyển để trên cơ sở
đó cấp giấy chứng nhận bảo hiểm Yêu cầu người tham gia bảo hiểm phải tuyệt đối trung thực, khai báo đúng mọi chi tiết liên quan đến rủi ro có thể xảy ra của hàng hóa cần bảo hiểm
Khi có nhu cầu bảo hiểm, Người được bảo hiểm phải làm giấy yêu cầu bảo hiểm
Giấy yêu cầu bảo hiểm ghi rõ những thông tin chính sau:
- Tên Người được bảo hiểm
Trang 13- Tên hàng hoá, loại bao bì, cách đóng gói hoặc mã kí hiệu của hàng hoá được bảo hiểm
- Khối lượng hàng hoá, số lượng và giá trị hàng hoá được bảo hiểm
- Hành trình vận chuyển (nơi xuất phát, nơi đến, nơi chuyển tải nếu có)
- Tên chủ phương tiện, loại phương tiện, số đăng kí các phương tiện vận chuyển đó
- Ngày tháng khởi hành và dự kiến ngày đến
Trên cơ sơ thông tin do khách hàng cung cấp Người bảo hiểm sẽ xem xét nếu chấp nhận bảo hiểm thì Người bảo hiểm sẽ cung cấp giấy chứng nhận bảo hiểm cho khách hàng
Khi nhận được giấy chứng nhận bảo hiểm thì người tham gia bảo hiểm phải thanh toán phí bảo hiểm cho Người bảo hiểm Thông thường Người bảo hiểm chỉ bồi thường tổn thất khi đã nhận được phí bảo hiểm trước khi tổn thất xảy ra nhằm tránh trường hợp người tham gia bảo hiểm chờ đến khi tổn thất xảy ra mới trả phí còn nếu không tổn thất
sẽ tìm cách huỷ bỏ hợp đồng hoặc giảm giá trị bảo hiểm để giảm bớt phí bảo hiểm phải trả Tuy nhiên, trong nhiều trường hợp công ty bảo hiểm vẫn có thể cho nợ phí (khi có sự thoả thuận trước) thì khi tổn thất xảy ra công ty bảo hiểm sẽ phải đòi phí bảo hiểm trước mới tiến hành bồi thường hoặc trừ trực tiếp phí vào giá trị bồi thường
Trong thời gian mà hợp đồng bảo hiểm có hiệu lực nếu có bất kỳ sự thay đổi nào liên quan đến lô hàng được bảo hiểm thì Người được bảo hiểm phải thông báo ngay cho Người bảo hiểm biết Khi nhận được thông báo Người bảo hiểm sẽ cấp giấy sửa đổi bổ sung và có thể yêu cầu Người được bảo hiểm trả thêm phí bảo hiểm
Sau khi nhận được giấy yêu cầu bảo hiểm Người được bảo hiểm phải cung cấp các giấy tờ liên quan như:
Chứng từ vận chuyển: Hợp đồng vận chuyển giữa chủ hàng và chủ phương tiện, hành trình của chuyến hàng, giấy phép quá cảnh
Chứng từ xác định rõ quyền sở hữu hàng hoá
Sv: bïi ngäc tó líp bh43A13
Trang 14Chứng từ kiểm tra về số lượng, trọng lượng, chất lượng, qui cách hàng hoá… và giá trị của lô hàng đó.
Thứ hai:
Người bảo hiểm khi chấp nhận bảo hiểm đều phải cung cấp cho Người được bảo hiểm tất cả các điều kiện chi tiết của hợp đồng bảo hiểm Việc xác định ai là người được hưởng quyền lợi bảo hiểm cũng rất quan trọng đối với Người bảo hiểm
Nếu người tham gia bảo hiểm cố tình khai báo sai hoặc giầu giếm những điều đề ra trong giấy yêu cầu bảo hiểm hoặc không thông báo cho Người bảo hiểm biết những thay đổi trong quá trình vận chuyển hàng hoá thì Người bảo hiểm có thể không phải bồi thường tổn thất mà vẫn có quyền nhận phí bảo hiểm
Trong giao dịch mua bán hàng hoá có thể người bán hoặc người mua đứng ra làm thủ tục mua bảo hiểm và thuê phương tiện vận chuyển Trong trường hợp người bán đứng ra mua bảo hiểm thì Người được bảo hiểm ghi trong HĐBH chính là người bán nhưng trên thực tế quyền lợi bảo hiểm lại thuộc về người mua hàng Đây chính là tập quán mua bán hàng hoá do đó khi mua bảo hiểm người bán hoặc đại diện của họ phải ký hậu ở mặt sau giấy chứng nhận bảo hiểm để chuyển toàn bộ quyền lợi bảo hiểm sang cho người mua Lúc đó, người mua hàng phải thực hiện đầy đủ nghĩa vụ của Người được bảo hiểm đã quy định trong hợp đồng
4 Giá trị bảo hiểm, số tiền bảo hiểm
4.1 Giá trị bảo hiểm
Muốn kí kết được hợp đồng bảo hiểm thì đầu tiên Người bảo hiểm phải xác định được giá trị của lô hàng mà mình đứng ra bảo hiểm
Giá trị bảo hiểm (GTBH) là giá trị thực tế của lô hàng trong đó bao gồm cả giá trị hàng hoá, cước phí vận chuyển, phí bảo hiểm và các chi phí liên quan khác Trong thực tế việc xác định giá trị bảo hiểm tại thời điểm xảy ra tổn thất là rất khó khăn nên thông thường Người bảo hiểm và Người được bảo hiểm thường thoả thuận trước về giá trị hàng
Trang 15hoá trước khi kí hợp đồng bảo hiểm – đó là giá trị bảo hiểm thoả thuận theo qui tắc Và các đơn bảo hiểm được cấp theo hình thức này là các đơn bảo hiểm có định giá.
Ngoài ra, đối với hàng hoá thương mại, Người bảo hiểm có thể nhận thêm cả phần lãi
dự tính tức là phần chênh lệch giữa giá mua ở cảng đi và gía bán ở cảng đến (thực ra đây
là lợi nhuận thương mại, không hoàn toàn là giá trị của hàng được bảo hiểm)
GTBH được tính theo giá CIF của hàng hoá bao gồm cả lãi được tính theo công thức: (C+F)(1+a)
V=
1-R
Trong đó:
V: Giá trị bảo hiểm
C (Cost): Giá FOB của hàng hoá
F(Freight): Cước phí vận chuyểna: Số phần trăm lãi dự tính
R: Tỷ lệ phí bảo hiểm
Số lãi dự tính theo quy định không được vượt quá 10%.GTBH
4.2 Số tiền bảo hiểm
Số tiền bảo hiểm (STBH) là giới hạn trách nhiệm cao nhất của Người bảo hiểm khi có tổn thất xảy ra với lô hàng được bảo hiểm Số tiền này được ghi trong HĐBH và là căn
Trang 16- Nếu STBH lớn hơn GTBH đó gọi là “bảo hiểm trên giá trị” hay “bảo hiểm vượt mức” Thông thường khi bồi thường các công ty bảo hiểm chỉ bồi thường đúng bằng GTBH phần thừa ra sẽ không được tính tới trừ trường hợp đã có sự thoả thuận trước.
- Nếu STBH nhỏ hơn GTBH đó gọi là “bảo hiểm dưới giá trị” hay “bảo hiểm dưới mức” Người bảo hiểm chi trả bồi thường theo tỷ lệ giữa STBH và GTBH
5 Phí bảo hiểm
Phí bảo hiểm là khoản tiền do người tham gia bảo hiểm nộp cho Người bảo hiểm để bảo hiểm cho hàng hoá của mình
Phí bảo hiểm được tính dựa trên cơ sở STBH hoặc GTBH và tỷ lệ phí bảo hiểm
Công thức tính phí bảo hiểm như sau:
Nếu chủ hàng mua ngang gía trị:
P=CIF*R (Nếu không bảo hiểm theo lãi dự tính)
Hoặc P=CIF*(1+a)*R (Nếu bảo hiểm thêm phần lãi dự tính a)
Tỷ lệ phí bảo hiểm được ghi trong HĐBH theo thoả thuận giữa Người bảo hiểm và người tham gia bảo hiểm
Tỷ lệ phí bảo hiểm phụ thuộc vào các yếu tố sau:
- Loại hàng hoá: Những mặt hàng dễ bị tổn thất hoặc giá trị cao như vàng, bạc, đá quý, kim cương… dễ bị mất cắp hoặc bị cướp thì tỷ lệ phí bảo hiểm sẽ cao hơn
- Loại bao bì: bao bì càng chắc chắn thì tỷ lệ phí càng giảm
- Phương tiện vận chuyển: tàu càng cũ thì tỷ lệ phí càng cao
Trang 17- Hành trình: theo thống kê kinh nghiệm thì những hành trình nào thường gặp nhiều rủi ro hoặc đi qua những vùng bất ổn như chiến tranh… thì tỷ phí sẽ cao hơn.
- Điều kiện bảo hiểm: Điều kiện bảo hiểm có phạm vi càng hẹp thì tỷ lệ phí bảo hiểm càng thấp
Trong một số trường hợp có nguy cơ gia tăng rủi ro (chở hàng trên tàu già, chở hàng qua vùng có xung đột…) thì tỷ lệ phí bảo hiểm bao gồm hai phần như sau:
R= Rgốc + Rphụ
Với: Rgốc là tỷ lệ phí gốc
Rphụ là tỷ lệ phí phụ (phụ thuộc vào tuổi tàu, quốc tịch tàu, vùng có xung đột…)
Do đó, phí bảo hiểm cũng gồm hai phần:
III Các loại rủi ro và tổn thất
1.Các loại rủi ro
Khái niệm: Rủi ro là khả năng có thể gây ra những tổn thất cho đối tượng bảo hiểm Rủi ro bao gồm: Rủi ro được bảo hiểm và rủi ro không được bảo hiểm
1.1 Rủi ro được bảo hiểm
Trong bảo hiểm hàng hoá XNK vận chuyển bẳng đường biển, Người bảo hiểm chỉ chịu trách nhiệm đối với những rủi ro do thiên tai, tai nạn bất ngờ trong phạm vi bảo hiểm và xảy ra trên biển làm tổn thất đến hàng hoá, phương tiện chuyển chở (tàu, xà lan…)
Sv: bïi ngäc tó líp bh43A17
Trang 18Những tổn thất do những nguyên nhân sau sẽ được Công ty bảo hiểm bồi thường:
a Rủi ro do động đất, bão lụt, gió lốc, vòi rồng, sóng thần, sét đánh
Bất kỳ những tổn thất nào xảy ra đối với hàng hoá bắt nguồn từ những nguyên nhân trên đều được bảo hiểm bồi thường bởi vì đây là những thảm hoạ do thiên nhiên gây ra mang tính bất ngờ và khó tránh khỏi
Động đất gây thiệt hại cho hàng hoá và phương tiện chuyên chở bằng các chấn động Kéo theo động đất có thể là sóng thần, sụt lở…
Bão lụt có thể cuốn trôi tàu và hàng hoá được bảo hiểm Còn gió lốc, vòi rồng sẽ tạo
ra những cơn sóng thần gây ra thảm hoạ vô cùng to lớn cho các phương tiện vận chuyển trên biển và hàng hoá chở trên đó
Sét mang tia lửa điện có thể gây cháy
b Rủi ro do cháy hoặc nổ
Cháy là một trong những rủi ro thường gây tổn thất lớn cho hàng hoá được bảo hiểm.Cháy có thể do nhiều nguyên nhân gây ra như:
- Do yếu tố tự nhiên như sét, ánh nắng mặt trời, trời hanh khô…
- Do bản thân nội tỳ của hàng hoá
- Do sơ suất của người trên tàu gây ra như hút thuốc, đun nấu…
Công ty bảo hiểm chỉ có trách nhiệm bồi thường cho hàng hoá bị cháy hoặc bị nhiệt làm hỏng do những nguyên nhân bất ngờ gây ra
Thông thường các đám cháy xảy ra thường phát ra ánh sáng và lượng nhiệt khá cao tuy nhiên có những đám chỉ cháy âm ỉ rất khó phát hiện Nhưng cho dù cháy to hay nhỏ miễn là đám cháy xảy ra bất ngờ thì đều thuộc trách nhiệm của bảo hiểm Ngoài ra, bảo hiểm cũng chịu trách nhiệm đối với những tổn thất liên quan đến hàng hoá khác được bảo hiểm do những yếu tố của vụ cháy gây ra như do sức nóng, do khói, do lửa bén sang hay
do chữa cháy
Tương tự như trong trường hợp tổn thất gây ra do nổ, bảo hiểm cũng chỉ chịu trách nhiệm đối với những tổn thất do nguyên nhân khách quan, bất ngờ Những tổn thất đối
Trang 19với hàng hoá được bảo hiểm do ảnh hưởng trực tiếp từ vụ nổ hoặc do sức ép của vụ nổ nếu không thuộc các rủi ro loại trừ sẽ được công ty bảo hiểm bồi thường.
c Rủi ro đâm va
Những vụ tổn thất do tàu đâm va nhau bất kể do sơ xuất hoặc bất cẩn của người điều khiển phương tiện gây tổn thất cho hàng hoá được bảo hiểm đều sẽ được công ty bảo hiểm bồi thường
Khi xảy ra tai nạn do tàu đâm va tàu thường phát sinh hai vấn đề đối với Người bảo hiểm: rủi ro đâm va và trách nhiệm đâm va
Rủi ro đâm va là trách nhiệm của Người bảo hiểm đối với chính bản thân của tàu và hàng hoá bị tổn thất
Trách nhiệm đâm va là trách nhiệm của Người bảo hiểm với bên thứ ba (tàu, hàng hoá…) Trong trách nhiệm đâm va thường có ba trường hợp:
- Không bên nào có lỗi: đây là trường hợp tổn thất thường do các yếu tố tự nhiên như bão, sóng thần… khi đó thì tổn thất bên nào thì bên đó chịu
- Lỗi từ một phía: bên có lỗi phải có trách nhiệm bồi thường cho bên kia
- Hai bên cùng có lỗi: do sơ suất hoặc không chú ý
d Rủi ro do tàu bị đắm hoặc mắc cạn
- Rủi ro mắc cạn: Mắc cạn là trường hợp tàu bị đâm vào một trướng ngại vật như đá ngầm, cọc… làm cho tàu không thể chạy được nữa và cần sự giúp đỡ của bên ngoài Vì vậy, mắc cạn thường xảy ra bất ngờ nên thuộc trách nhiệm của bảo hiểm Nhưng việc phân định trường hợp nào là mắc cạn và trường hợp nào không phải là mắc cạn là rất quan trọng Chẳng hạn, như tàu bị chạm đáy do nước thuỷ chiều xuống và phải chờ thuỷ chiều lên để tiếp tục hành trình thì đó không phải là mắc cạn Tuy nhiên, trường hợp tàu tránh bão phải vào cảng lúc thuỷ chiều xuống hoặc thuyền trưởng quyết định lái tàu vào chỗ nước cạn thì lại được coi là mắc cạn
Rủi ro do đắm: Đắm là trường hợp tàu bị chìm hẳn xuống nước, không hoạt động được nữa và tất nhiên là hành trình không hoàn thành Khi đó, nước sẽ chàn vào tàu gây
Sv: bïi ngäc tó líp bh43A19
Trang 20tổn thất cho hàng hoá thì lúc đó thuộc trách nhiệm của bảo hiểm Tuy nhiên, trong thực tế khi tàu bị lật úp, không bị đắm nhưng hàng hóa vẫn bị tổn thất thì bảo hiểm cũng bồi thường
e Rủi ro đặc biệt như chiến tranh, đình công, bạo loạn, cướp biển, bắt giữ, tịch thu…
1.2 Những rủi ro loại trừ
Đây là những rủi ro xảy ra đối với đối tượng bảo hiểm nhưng không thuộc trách nhiệm bảo hiểm, Người bảo hiểm sẽ không có trách nhiệm bồi thường tổn thất và các chi phí khác do những rủi ro này gây ra trừ trường hợp có sự thoả thuận từ trước
* Những rủi ro sau đây không thuộc nhiệm của Người bảo hiểm nếu không được sự thoả thuận khác:
a Những mất mát, hư hỏng hay chi phí gây ra bởi:
- Chiến tranh, nội chiến, cách mạng, khởi nghĩa, phản loạn hoặc quần chúng nổi dậy khi xảy ra những biến cố này hoặc do bất kỳ hành động thù địch nào khác của một thế lực tham chiến hay chống lại thế lực đó
- Việc chiếm giữ bắt giữ, cầm giữ tìa sản hoặc kiềm chế và hậu quả hay bất kỳ mưu toan nào phát sinh từ những sự việc này
b Những mất mát, hư hỏng hay chi phí do:
- Những người đình công hay công nhân bị cấm xưởng gây ra hoặc do những người tham gia các vụ gây rối trong lao động, làm náo loạn hoặc bạo động gây ra và những chi phí phát sinh từ những sự kiện đó
- Do khủng bố hoặc bất kỳ một hành động vì lý do chính trị gây ra
c Những mất mát hư hỏng hay chi phí phát sinh là hậu quả trực tiếp hoặc gián tiếp của việc sử dụng năng lượng nguyên tử, hạt nhân và/hoặc phản ứng hạt nhân, phóng xạ hoặc tương tự sẽ bị loại trừ trong bảo hiểm ngay cả khi mục đích sử dụng của nó là chính đáng
Trang 21d Những mất mát, hư hỏng, hay chi phí do khuyết tật vốn có hoặc do tính chất riêng của loại hàng hoá được bảo hiểm.
e Hàng hoá hay một bộ phận của hàng hoá bị hư hại hay bị phá huỷ có chủ tâm do hành động sai lầm của bất kỳ người nào gây ra
* Người bảo hiểm sẽ không phải chịu trách nhiệm đối với bất kỳ tổn thất gây ra sau đây:
a Những hành động xấu, cố ý hay vi phạm pháp luật của Người được bảo hiểm hay người làm công cho họ
b Những tổn thất, mất mát hư hỏng hay chi phí có liên quan có nguyên nhân trực tiếp
do chậm chễ kể cả rủi ro được bảo hiểm hoặc không
c Những mất mát, hư hỏng hay chi phí phát sinh do tàu, sà lan không đủ khả năng đi biển hoặc công-ten-nơ không thích hợp cho việc chuyên chở hàng hoá an toàn mà Người được bảo hiểm hoặc người làm công cho họ biết trước nhưng vẫn bốc xếp hàng lên tàu
d Hàng hoá được bảo hiểm bị tổn thất do việc đóng gói hoặc chuẩn bị không đầy đủ hoặc không thích hợp và do việc xếp hàng hỏng lên tàu
f Hàng hoá được bảo hiểm bị rò chảy thông thường, hao hụt trọng lượng hay giảm thể tích thông thường hoặc hao mòn tự nhiên
g Xếp hàng quá tải hoặc xếp hàng sai quy cách, không đảm bảo an toàn cho hàng khi vận chuyển
h Những mất mát, hư hỏng hay chi phí phát sinh do chủ tàu, người quản lý, người thuê hay người điều hành không trả được nợ hoặc thiếu thốn về tài chính gây ra
i Hàng hoá trở quá điểm kết thúc chuyến hành trình được ghi trên HĐBH
j Trộm cắp, không giao hàng
Sv: bïi ngäc tó líp bh43A21
Trang 222 Các loại tổn thất và chi phí liên quan
2.1 Các loại tổn thất
Khái niệm: Tổn thất trong bảo hiểm hàng hoá XNK là những thiệt hại, hư hỏng của hàng hoá được bảo hiểm do rủi ro gây ra Khi tổn thất xảy ra sẽ làm phát sinh trách nhiệm vật chất của bảo hiểm
Một số căn cứ để phân loại tổn thất:
2.1.1 Căn cứ vào mức độ và quy mô của tổn thất thì có hai loại: Tổn thất bộ phận và Tổn thất toàn bộ.
- Giảm về số lượng: mất một số bao, kiện, thùng, hòm
- Giảm giá trị hàng hoá được bảo hiểm có thể một phần hoặc toàn bộ hàng hoá
- Tổn thất toàn bộ một phần hàng hóa
Trong trường hợp hàng hỏng: Nếu tại nơi giao nhận hàng mà hàng hoá bị tổn thất thì mức độ tổn thất được xác định theo tỷ lệ phần trăm so với hàng nguyên hoặc có thể bằng chi phí đối với hàng
Trong quá trình vận chuyển, nếu hàng hoá bị tổn thất do các nguyên nhân được bảo hiểm gây ra mà hàng hoá không thể đưa đến được nơi giao nhận cuối cùng hoặc việc chuyên chở tiếp sẽ rất lãng phí thì người chuyên chở có thể bán phần hàng hoá bị tổn thất
đó theo yêu cầu của công ty bảo hiểm hay giám định viên Số hàng bán đi đó sẽ được coi
là tổn thất toàn bộ một phần hàng
b Tổn thất toàn bộ (Total Loss)
Trang 23Tổn thất toàn bộ là tình trạng toàn bộ lô hàng của từng chủ hàng thu xếp theo một HĐBH riêng biệt bị hư hỏng hay mất mát hết
Trong bảo hiểm hàng hoá XNK tổn thất toàn bộ được chia thành: tổn thất toàn bộ thực
tế và tổn thất toàn bộ ước tính
* Tổn thất toàn bộ thực tế (Fact Total Loss) xảy ra khi hàng hoá được bảo hiểm bị phá huỷ hoàn toàn hay hư hỏng nghiêm trọng tới mức không còn là hàng hoá so với tính chất ban đầu của nó nữa hoặc Người được bảo hiểm bị mất hẳn quyền sở hữu hàng hoá đó Tổn thất toàn bộ (TTTB) thực tế thường xảy ra trong các trường hợp sau:
- Hàng hoá bị huỷ hoại hoàn toàn do cháy, nổ, nước cuốn trôi…
- Hàng hoá bị tước đoạt vĩnh viễn do cướp biển, chiến tranh, tịch thu…
- Hàng hoá bị mất do tàu hoặc sà lan bị đắm
- Toàn bộ hàng hoá bị mục nát, phá huỷ, biến chất đến mức không còn được coi là vật thể có thể sử dụng được hay nói cách khác hàng bị mất hết giá trị sử dụng
- Tàu chở hàng bị mất tích thì hàng hoá được bảo hiểm cũng được coi là TTTB thực
tế
* Tổn thất toàn bộ ước tính (Actual Total Loss): thực chất là tổn thất bộ phận nhưng không thể tránh khỏi tổn thất toàn bộ thực tế trong tương lai hoặc do các chi phí cứu hàng, chi phí chỉnh lý và gửi hàng đến nơi nhận ghi trong HĐBH có thể vượt quá giá trị hàng hoá khi tới nơi nhận
Tất cả những trường hợp tổn thất hoặc mất mát không thuộc hai trường hợp trên đều được coi là tổn thất bộ phận
2.1.2 Căn cứ vào quyền lợi và trách nhiệm của bảo hiểm thì tổn thất được chia
thành: tổn thất riêng và tổn thất chung.
a Tổn thất riêng (Particular Average)
Tổn thất riêng là tổn thất xảy ra một cách ngẫu nhiên bất ngờ và chỉ ảnh hưởng tới quyền lợi của từng chủ hàng và chủ tàu trong chuyến hành trình Do đó, tổn thất riêng xảy ra với bên nào thì bên đó phải tự chịu
Sv: bïi ngäc tó líp bh43A23
Trang 24Nhà bảo hiểm không những phải có trách nhiệm bồi thường cho những tổn thất riêng được bảo hiểm mà còn phải chi trả cho những chi phí liên quan đến tổn thất riêng này nhằm hạn chế tổn thất thêm hoặc làm hỏng hàng hoá khác Những chi phí tổn thất riêng
có thể là chi phí xếp dỡ, gửi hàng, đóng gói lại, thay thế bao bì… ở bến khởi hành hoặc dọc đường Những chi phí đề phòng, hạn chế tổn thất đối với hàng hoá trước khi được vận chuyển sẽ không được coi là chi phí tổn thất riêng
Nhà bảo hiểm chỉ chịu trách nhiệm đối với hàng hoá chứ không chịu trách nhiệm đối với bao bì bên ngoài, nếu trong quá trình vận chuyển từ nơi điểm xuất phát đến điểm cuối cùng mà bao bì bị rách, hỏng mà hàng hoá vẫn còn nguyên vẹn sẽ không được bảo hiểm
d Tổn thất chung (General Average)
Tổn thất chung (TTC) xảy ra trong những trường hợp đặc biệt xuất phát từ một việc làm tự nguyện có chủ định gọi là hành động TTC nhằm cứu một tổn thất lớn hơn có thể xảy ra liên quan đến tất cả các bên có mặt trong chuyến hành trình Vì vậy, TTC ảnh hưởng đến quyền lợi của tất cả các đối tượng trên tàu nên việc đóng góp vào TTC là nghĩa vụ của tất cả mọi người trên tàu
Theo quy tắc YORK ANTWERP 1994 thì TTC trong bảo hiểm hàng hoá XNK bằng đường biển phải đáp ứng các điều kiện sau:
- Chỉ xảy ra trên biển
- Có nguy cơ đe doạ thực sự và bất thường đối với chuyến hành trình
- Hành động TTC phải do chủ tàu hoặc những người có thẩm quyền trên tàu quyết định (thuyền trưởng hoặc người đại diện thuyền trưởng) và phải được cần nhắc rất kỹ lưỡng trước khi ra quyết định
- Hy sinh hoặc chi phí phải hợp lý và vì an toàn chung của tất cả các bên có quyền lợi trong chuyến hành trình
- Mất mát, thiệt hại hoặc chi phí bỏ ra phải là hậu quả trực tiếp của hành động TTC
- Hành trình phải được cứu vãn
TTC gồm hai bộ phận chủ yếu đó là hy sinh TTC và chi phí TTC:
Trang 25Hy sinh TTC là những chi phí, thiệt hại do hành động tổn thất chung mang lại Ví dụ: việc vứt bỏ bớt hành lý vì lý do an toàn cho tàu, đốt hàng làm nhiên liệu…
Chi phí TTC là những khoản phải trả cho người thứ ba để cứu tàu và hàng hoặc những chi phí để tiếp tục hành trình Chi phí này bao gồm chi phí cứu nạn, chi phí làm nổi tàu khi mắc cạn, chi phí thuê kéo, lai, dắt tàu khi bị nạn; chi phí tại cảng lánh nạn như: Chi phí ra vào cảng, chi phí xếp dỡ hàng, nhiên liệu… vì an toàn chung hoặc để sửa chữa tạm thời, chi phí xếp hàng, lưu kho hàng hóa, tiền lương cho thuyền trưởng, thuyền viên, lương thực, thực phẩm nhiên liệu tiêu thụ tại cảng lánh nạn
Có thể nói việc xác định và phân bổ tổn thất chung cho các bên liên quan là rất quan trọng Việc phân bổ TTC có thể khái quát qua các bước sau:
Bước 1: Xác định giá trị tổn thất chung (Gt)
Giá trị hàng (tàu) chi phí
Gt = bị thiệt hại + tổn thất
trong hoạt động TTC chung
Bước 2: Xác định giá trị chịu phân bổ tổn thất chung của các bên (Gci) Trong bước này có hai cách xác định:
Giá trị tổn thất riêng xảy ra trước TTC
Giá trị tổn thất riêng xảy ra trước TTC
Giá trị hàng (tàu) trước khi
về đích
Giá trị tàu (hàng) thiệt hại trong TTC
Giá trị tổn thất riêng xảy ra sau TTC
Trang 262.2 Các chi phí liên quan
Ngoài các chi phí phải bồi thường các tổn thất xảy ra đối với hàng hoá được bảo hiểm, Người bảo hiểm phải chịu thêm các chi phí liên quan sau đây:
* Chi phí đề phòng hạn chế tổn thất:
- Chi phí nhằm ngăn ngừa hoặc hạn chế tổn thất thuộc phạm vi bảo hiểm trứơc khi hàng đến kho bãi Những chi phí này có thể là chi phí đòi bồi thường hoặc kiện người chuyên chở, người nhận uỷ thác hàng hoá hay người thứ ba khác Nhưng chi phí hoặc tiền công này phải do Người được bảo hiểm, người làm công hay đại lý của họ chi ra
- Chi phí chi ra để cứu hàng hoá được bảo hiểm
- Chi phí không thể tránh khỏi trong trường hợp rủi ro trong phạm vi bảo hiểm xảy ra
* Chi phí tổn thất chung và chi phí cứu hộ
Giá trị tổn thất riêng xảy ra sau TTC
Giá trị tàu (hàng) TTR mà không tính đến chí phí TTC
Mức phải đóng góp TTC
Mức đã đóng góp thực tế vào TTC
Trang 27- Các chi phí đảm bảo an toàn cho hành trình an toàn như:
+ Chi phí làm nổi tàu và làm cho tàu khỏi mắc cạn
+ Chi phí dỡ hàng hoặc vứt hàng hoá để làm nhẹ tàu
Tuy nhiên, Người bảo hiểm sẽ không chịu trách nhiệm đối với những chi phí không được coi là chi phí đề phòng hạn chế tổn thất như:
- Chi phí bỏ ra để đề phòng hạn chế tổn thất trước khi tổn thất do những rủi ro được bảoh iểm gây ra
- Chi phí chi ra để phòng tránh hay giảm nhẹ tổn thất không do rủi ro được bảo hiểm gây ra hoặc không thực sự cần thiết hoặc không hiệu quả
- Chi phí tại điểm dỡ hàng bị tai nạn trước khi tới nơi nhận hàng
- Những tổn thất xảy ra cho hàng hoá xếp trên boong tàu trái với tập quán thương mại hay những chi phí liên quan
IV Hợp đồng bảo hiểm, quyền lợi và nghĩa vụ của các bên tham gia bảo hiểm.
1 Hợp đồng bảo hiểm
Khái niệm: HĐBH hàng hoá XNK vận chuyển bằng đường biển là văn bản trong đó công ty bảo hiểm cam kết sẽ bồi thường cho người tham gia bảo hiểm hàng hoá theo các điều kiện đã ký kết còn người tham gia bảo hiểm cam kết trả phí bảo hiểm
Hiện nay HĐBH hàng hoá XNK có hai loại: HĐBH chuyến và HĐBH bao
Sv: bïi ngäc tó líp bh43A27
Trang 28* HĐBH chuyến là HĐ mà người tham gia bảo hiểm chỉ ký kết với công ty bảo hiểm
về việc bảo hiểm cho từng chuyến hàng riêng biệt
HĐBH chuyến thường được sử dụng dưới hình thức đơn bảo hiểm hay giấy chứng nhận bảo hiểm do công ty bảo hiểm cấp Trong đơn bảo hiểm ghi đầy đủ các thông tin cần thiết nhất do đó đơn bảo hiểm được coi như là HĐBH chính thức và đầy đủ Nội dung trong đơn bảo hiểm gồm hai phần: Mặt trước thường ghi các chi tiết về hàng, tàu, phí bảo hiểm, hành trình Mặt sau, thường ghi các điều lệ hay các quy tắc bảo hiểm của công ty bảo hiểm Thông tin chủ yếu trong HĐBH gồm:
- Tên công ty bảo hiểm, trụ sở chính, địa chỉ, điện thoại, fax…
- Số đơn được phát hành
- Tên địa chỉ của người mua bảo hiểm
- Tên hàng được bảo hiểm
- Qui cách đóng gói, loại bao bì và mã hiệu của hàng
- Số lượng, trọng lượng của hàng
- Ngày tàu khởi hành
- Gía trị bảo hiểm và số tiền bảo hiểm
- Điều kiện bảo hiểm
- Phí bảo hiểm bao gồm cả VAT
- Địa chỉ của giám định viên bảo hiểm
- Phương thức và địa điểm trả tiền bồi thường do Người được bảo hiểm lựa chọn
Trang 29- Ngày cấp đơn bảo hiểm
- Chữ ký, con dấu của người thay mặt công ty ký kết hợp đồng
* HĐBH bao là HĐBH cho một khối lượng hàng vận chuyển trong nhiều chuyến kế tiếp nhau trong một thời gian nhất định (thường là một năm) hoặc nhận bảo hiểm cho một lượng hàng vận chuyển nhất định (không kể đến thời gian)
HĐBH bao có thể được ký trước cho những hàng hoá cần được bảo hiểm trong đó phải ghi rõ tên hàng hoá được bảo hiểm, loại tàu trở hàng, cách tính GTBH của hàng, STBH tối đa cho những chuyến hàng và điều kiện bảo hiểm, tỷ lệ phí bảo hiểm và thanh toán phí bảo hiểm phí bảo hiểm, giám định, khiếu nại đòi bồi thường, hiệu lực của hợp đồng, xử lý tranh chấp… và những điểm liên quan khác đã được Người được bảo hiểm
và công ty bảo hiểm thoả thuận trong khi ký hợp đồng Sau khi hợp đồng được ký kết nếu Người được bảo hiểm muốn sửa đổi bổ sung một số điều mà được công ty bảo hiểm chấp nhận thì sẽ được cấp giấy bảo hiểm bổ sung Giấy này cũng có giá trị như đơn bảo hiểm
và bắt buộc phải đi kèm với đơn bảo hiểm (hoặc HĐBH) ban đầu
Tuy nhiên, do các HĐBH bao thường có giá trị lớn, khả năng rủi ro cao nên khi tham gia ký kết HĐ các công ty bảo hiểm phải yêu cầu người tham gia bảo hiểm phải đáp ứng đầy đủ các yêu cầu sau:
- Điều kiện về tàu chuyên chở hàng hoá được bảo hiểm phải có khả năng đi biển bình thường và tuổi tàu thấp (dưới 15 năm) và phải được cấp hạng cao (nếu được 10 hãng đăng kiểm nổi tiếng trên thế giới cấp mới được chấp nhận một cách tuyệt đối)
- Điều kiện về GTBH: Người được bảo hiểm phải kê khai giá trị hàng theo từng chuyến về số kiện, mua theo giá nào (giá CIF hoặc FOB…), số hợp đồng mua bán, số thư tín dụng, ngày mở, trị giá L/C, số vận đơn B/L…
- Điều kiện về quan hệ hợp tác trên tinh thần thiện chí: Nghĩa là chỉ được mua bảo hiểm bao tại một công ty
Khi bắt đầu xếp hàng lên tàu hay khi nhận được thông báo xếp hàng lên tàu, Người được bảo hiểm phải thông báo cho Người bảo hiểm biết càng sớm càng tốt các thông tin
Sv: bïi ngäc tó líp bh43A29
Trang 30liên quan đến hàng hoá được bảo hiểm mà Người bảo hiểm muốn biết chậm nhất là khi tàu bắt đầu dỡ lô hàng đầu tiên tại cảng đến cuối cùng ghi trên đơn bảo hiểm Nếu Người được bảo hiểm cố ý không thông báo hoặc thông báo không kịp thời hay sai lệch thì Người bảo hiểm có quyền chấm dứt ngay hợp đồng sau khi phát hiện ra điều đó và thu toàn bộ số phí bảo hiểm phải trả trước khi Hợp đồng kết thúc.
Trong trường hợp đặc biệt nếu hàng hoá bị mất mát, hư hỏng thuộc phạm vi trách nhiệm bảo hiểm thì Người bảo hiểm vẫn phải có trách nhiệm bồi thường Tiền bồi thường
sẽ được tính theo nguyên tắc xác định giá trị bảo hiểm như đã quy định trong HĐBH.Nếu có sự thay đổi đặc biệt về số lượng, giá trị hàng…không phù hợp với nội dung của HĐBH bao đã ký kết thì Người được bảo hiểm phải ký kết hợp đồng khác
2 Các điều kiện bảo hiểm
Điều kiện bảo hiểm là những quy định thể hiện phạm vi trách nhiệm của công ty bảo hiểm đối với những rủi ro xảy ra đối với hàng hoá được bảo hiểm Hàng được bảo hiểm theo điều kiện nào chỉ những rủi ro tổn thất quy định trong điều kiện đó mới được bồi thường Hiện nay trên thị trường thế giới có thể nói tất cả các đơn bảo hiểm hàng hoá XNK đều sử dụng theo các điều kiện bảo hiểm của học việc bảo hiểm Luân Đôn (Institute of London Underwriters – ILU) là ICC 1963 và ICC 1982
2.1 ICC 1963 (Institute Cargo Clauses)
Ngày 01/01/1963 ILU nghiên cứu và đưa ra các điều kiện đối với hàng hoá vận chuyển bằng đường đường biển gọi tắt là ICC 1963 ICC 1963 gồm ba điều kiện cụ thể là FPA, WA và AR và đã được áp dụng rộng rãi trong các hoạt động thương mại quốc tế
- FPA (Free Particular Average): điều kiện bảo hiểm miển tổn thất riêng Tuy nhiên, trong điều kiện này vẫn bồi thường cho:
+ Tổn thất riêng: tổn thất toàn bộ (do bất kỳ nguyên nhân nào), tổn thất do 4 rủi
ro chính (mắc cạn, chìm đắm, đâm va, cháy nổ), tổn thất nguyên kiện
+ Tổn thất chung
Trang 31- WA (With Average): điều kiện bảo hiểm tổn thất riêng.
- AR (All Risks) điều kiện bảo hiểm mọi rủi ro
Ngoài ra, trong ICC 1963 còn có những điều kiện đặc biệt chỉ có sự thoả thuận trước giữa Người bảo hiểm và Người được bảo hiểm thì mới được bồi thường:
+ Rủi ro chiến tranh
+ Rủi ro đình công
+ Rủi ro mất cắp
Tuy nhiên do tình hình kinh tế trên thế giới có nhiều sự thay đổi nên ICC 1963 đã bọc
lộ những nhược điểm như mập mờ, khó hiểu khiến cho công việc giao dịch khó khăn thậm chí đôi khi còn xảy ra những nhầm lẫn không đáng có Vì vậy, ngày 01/01/1982 ILU đã ban hành ICC 1982 thay cho ICC 1963 Các điều kiện bảo hiểm trong ICC 1982 được trình bày rõ ràng và dể hiểu hơn và đã có những thay đổi về cơ bản so với ICC
1963 Tên gọi của những điều kiện là A, B, C thay cho tên gọi cũ FPA, WA, AR nên dễ nhớ và dễ sử dụng hơn
2.2 Nội dung cơ bản của ICC 1982
2.2.1 Điều kiện bảo hiểm thường
a Điều kiện bảo hiểm A (ICC A)
Phạm vi bảo hiểm của điều kiện này là rộng nhất, Người bảo hiểm phải có trách bồi thường cho tất cả những hư hỏng, mất mát của hàng hoá được bảo hiểm kể cả rủi ro do cướp biển chỉ trừ những rủi ro loại trừ theo quy định và không áp dụng miễn thường
b Điều kiện bảo hiểm B (ICC B)
Ngoài những điều kiện loại trừ, trong điều kiện bảo hiểm này Người bảo hiểm phải chịu trách nhiệm bồi thường cho những mất mát, hư hỏng xảy ra cho hàng hoá được bảo hiểm do các nguyên nhân sau:
- Cháy hoặc nổ
- Tàu hay sà lan bị mắc cạn, đắm hoặc lật úp
Sv: bïi ngäc tó líp bh43A31
Trang 32- Tàu đâm va nhau hoặc tàu, sà lan hay phương tiện vận tải đâm va phải bất kỳ vật thể
gì bên ngoài không kể nước
- Dỡ hàng tại một cảng nơi tàu gặp nạn
- Phương tiện vận tải đường bộ bị lật đổ hoặc trật bánh
- Động đất, núi lửa phun, sét đánh
- Hy sinh hàng trong tổn thất chung
- Ném hàng khỏi tàu hoặc hàng bị nước cuốn đi
- Nước biển tràn vào tàu, sà lan, hầm hàng, phương tiện vận tải, công-ten-nơ hoặc nơi chứa hàng
- Tổn thất toàn bộ xảy ra đối với hàng bất kể đang trong quá trình vận chuyển hay khi đang xếp hàng lên hay dỡ hàng xuống
- Hàng bị mất tích theo tàu hoặc phương tiện vận chuyển
Trong điều kiện bảo hiểm B có áp dụng mức miễn thường
c Điều kiện C (ICC C)
Công ty bảo hiểm sẽ chịu trách nhiệm bồi thường đối với các tổn thất như đã nói trong điều kiện B nhưng những tổn thất do động đất, núi lửa, sét đánh, bị nước biển cuốn khỏi tàu, nước biển xâm nhập vào hầm tàu, công-te-nơ hoặc nơi để hàng, tổn thất nguyên kiện trong quá trình xếp dỡ, chuyển tải sẽ không được bồi thường trong điều kiện C Tất nhiên giống như trong các điều kiện bảo hiểm A và B thì điều kiện C cũng không bồi thưòng cho những rủi ro loại trừ theo quy định Đây là điều kiện bảo hiểm có phạm vi hẹp nhất Nếu tham gia theo điều kiện bảo hiểm “B” hoặc “C” thì Người được bảo hiểm có thể yêu cầu Người bảo hiểm nhận trách nhiệm bảo hiểm thêm một hay nhiều rủi ro phụ dưới đây với điều kiện phải trả thêm phí bảo hiểm theo thoả thuận:
- Tổn thất do những hành vi ác ý hay phá hoại gây ra
- Hư hại do nước mưa, nước ngọt, do đọng hơi nước và hấp hơi nóng
- Va đập phải hàng hoá khác
Trang 33- Gỉ và oxy hoá
- Vỡ, cong và/hoặc bẹp, móp méo
- Rò, rỉ và/hoặc thiếu hụt hàng hoá
- Hư hại do móc cẩu hàng
- Dây bẩn do dầu và/hoặc mỡ
- Và những rủi ro phụ khác tương tự
Qua những điều khoản chính đã nêu ở trên có thể thấy điểm khác nhau cơ bản trong cả
3 điều kiện của ICC 1982 so với ICC 1963 là trong ICC 1982 thì không phân biệt TTTB
và TTBP, chỉ cần những tổn thất thuộc phạm vi bảo hiểm sẽ được công ty bảo hiểm bồi thường
2.2.2 Điều kiện bảo hiểm đặc biệt
Ngoài những điều kiện chính ở trên trong trường hợp có sự thoả thuận trước thì Người bảo hiểm cũng có thể bồi thường cho những tổn thất gây ra bởi chiến tranh, đình công…
a Điều kiện bảo hiểm chiến tranh
Theo điều kiện này, Người bảo hiểm phải có trách nhiệm bồi thường những tổn thất xảy ra đối với hàng hoá được bảo hiểm do những nguyên nhân sau:
- Chiến tranh, nội chiến, cách mạng, nổi loạn, khởi nghĩa hoặc xung đột dân sự xảy ra
từ những biến cố đó hoặc do bất kỳ hành động thù địch nào khác của một thế lực tham chiến
- Chiếm đoạt, bắt giữ, kiềm chế hoặc cầm giữ
- Mìn, thuỷ lôi, bom hoặc các vũ khí chiến tranh khác
- TTC và chi phí cứu nạn
Phạm vi không gian và thời gian bảo hiểm đối với rủi ro chiến tranh hẹp hơn các rủi
ro thông thường Thời hạn bảo hiểm bắt đầu có hiệu lực khi hàng hoá được xếp lên tàu biển và kết thúc khi được dỡ khỏi tàu ở tại cảng cuối cùng hoặc khi hết thời hạn 15 ngày
kể từ nửa đêm ngày tàu đến cảng dỡ cuối cùng, tuỳ theo điều kiện nào xảy ra trước
Sv: bïi ngäc tó líp bh43A33
Trang 34Trong trường hợp có chuyển tải thì bảo hiểm vẫn tiếp tục có hiệu lực cho đến khi hết hạn
15 ngày kể từ nửa đêm ngày tàu đến cảng chuyển tải
Đối với rủi ro xảy ra do mìn hoặc ngư lôi thì Người bảo hiểm phải chịu trách nhiệm đối với hàng hoá ngay cả khi hàng còn ở trên xà lan để vận chuyển ra tàu hoặc từ tàu vào
bờ nhưng không vượt quá 60 ngày kể từ ngày dỡ hàng khỏi tàu, trừ khi có thoả thuận khác
b Điều kiện bảo hiểm đình công
Theo điều kiện này thì Người bảo hiểm chỉ bồi thường cho những mất mát, hư hỏng gây ra đối với hàng hoá được bảo hiểm do những nguyên nhân sau:
- Đình công, công nhân bị cấm xưởng hoặc những người tham gia gây rối loạn lao động, bạo động hoặc nổi dậy
- Hành động khủng bố hoặc vì mục đích chính trị
- TTC và chi phí cứu nạn
Tuy nhiên, cần chú là Người bảo hiểm chỉ bồi thường cho những tổn thất gây ra do đình công nhưng không chịu trách nhiệm đối với những thiệt hại gây ra do hậu quả của đình công
3 Quyền lợi và nghĩa vụ của các bên tham gia bảo hiểm
3.1 Đối với Người được bảo hiểm
Người được bảo hiểm và người đại diện hợp pháp phải thực hiện nghĩa vụ như sau:
* Cung cấp trung thực và đầy đủ các thông tin về hàng hoá và các thông tin cần thiết liên quan cho Người bảo hiểm biết
Trang 35* Khi có tổn thất xảy ra đối với hàng hoá thuộc phạm vi trách nhiệm của Người bảo hiểm thì Người được bảo hiểm phải thực hiện các nghĩa vụ sau:
- Người được bảo hiểm phải có trách nhiệm thông báo cho các cơ quan liên quan nơi gần nhất như cơ quan hàng hải, cơ quan bảo hiểm… trong trường hợp phương tiện chở hàng bị tai nạn và đe doạ đến sự an toàn của hàng hoá để cơ quan này có biện pháp theo dõi và phòng bị
- Khi nhận được thông tin hoặc phát hiện thấy hàng hoá bị tổn thất thì người được bảo hiểm phải thông báo ngay cho người bảo hiểm biết và làm giấy yêu cầu Người bảo hiểm giám định ngay Việc giám định hàng hoá bị tổn thất phải được tiến hành bởi Người bảo hiểm theo đơn đề nghị của Người được bảo hiểm Người bảo hiểm sẽ không chấp nhận bồi thường nếu không được giám định viên của họ thực hiện
* Khi xảy ra mất mát hư hỏng, Người bảo hiểm hay đại lý của họ phải áp dụng mọi biện pháp cần thiết để đề phòng và hạn chế tổn thất xảy ra đối với hàng hoá Người bảo hiểm sẽ không chịu trách nhiệm bồi thường cho những mất mát hư hỏng xảy ra do phía Người được bảo hiểm không chấp hành đầy đủ nghĩa vụ của họ như đã quy định như trên Người được bảo hiểm có thể độc lập làm công việc này hoặc có thể nhờ sự chỉ dẫn
về các biện pháp đó từ phía Người bảo hiểm
* Trong trường hợp tổn thất, mất mát xảy ra đối với hàng hoá được bảo hiểm có liên quan đến người chuyên chở, người nhận uỷ thác hàng hoá hay người thứ ba thì Người được bảo hiểm phải làm các thủ tục để bảo lưu quyền khiếu nại cho Người bảo hiểm Đặc biệt Người được bảo hiểm phải làm theo các quy định sau đây:
- Nếu thấy bất kỳ kiện hàng nào bị mất hay hư hỏng thì Người được bảo hiểm phải khiếu nại ngay với người vận chuyển, chính quyền cảng hay những người nhận uỷ thác hàng Và yêu cầu người chuyên chở hay người nhận uỷ thác hàng tham gia việc chứng kiến giám định Người được bảo hiểm phải lập hồ sơ khiếu nại người chuyên chở hay người nhận uỷ thác khi thấy thực tế có tổn thất
Sv: bïi ngäc tó líp bh43A35
Trang 36- Gửi giấy báo cho đại diện người chuyên chở hay người nhận uỷ thác hàng hoá trong vòng ba ngày sau khi nhận hàng nếu tổn thất thuộc loại khó phát hiện vào thời gian nhận hàng
* Nếu tổn thất do lỗi của người thứ ba thì Người được bảo hiểm phải chuyển quyền đòi bồi thường cho Người bảo hiểm Người bảo hiểm chỉ giải quyết bồi thường cho Người được bảo hiểm nếu chưa nhận được giấy uỷ quyền đòi bồi thường đối với người thứ ba Trong nhiều hợp vì những nguyên nhân khác nhau mà Người bảo hiểm không muốn chuyển quyền đòi người thứ ba thì công ty bảo hiểm sẽ căn cứ vào mức độ lỗi của Người được bảo hiểm mà bồi thường
Nếu Người bảo hiểm không thi hành đầy đủ những nghĩa vụ trên của mình thì Người bảo hiểm có quyền từ chối bồi thường một phần hay toàn bộ tổn thất
3.2 Đối với Người bảo hiểm
a Quyền lợi:
- Thu phí bảo hiểm của người tham gia bảo hiểm
- Người bảo hiểm có quyền từ chối bồi thường hoặc đòi lại tiền bồi thường đối với Người được bảo hiểm nếu có đầy đủ bằng chứng chứng minh được rằng các tổn thất gây
ra thuộc rủi ro loại trừ hoặc bỏ quyền lợi đối với người thứ ba
- Khi có tổn thất xảy ra đối với hàng hoá được bảo hiểm thuộc trách nhiệm của mình thì Người bảo hiểm phải có nghĩa vụ bồi thường nhanh chóng và thoả đáng cho Người được bảo hiểm
Trang 37- Trong trường hợp Người tham gia bảo hiểm cần thay đổi một số thông tin liên quan đến lô hàng được bảo hiểm thì Người bảo hiểm phải có nghĩa vụ cấp giấy bảo hiểm sửa đổi bổ sung và có quyền yêu cầu Người tham gia trả thêm phí.
VI Giám định, bồi thường tổn thất và chuyển quyền đòi người thứ ba
1 Giám định tổn thất
Giám định là việclàm của Người bảo hiểm hoặc người được uỷ quyền nhằm đánh giá, xác định nguyên nhân, mức độ và trách nhiệm đối với tổn thất của hàng hoá được bảo hiểm để làm cơ sơ cho việc tính toán tiền bồi thường
Các bước của khâu giám định:
a Yêu cầu giám định:
Khi nhận được thông báo hàng hoá bị hư hỏng hoặc mát mát Người được bảo hiểm phải thông báo ngay cho Người bảo hiểm hay đại lý được họ chỉ định đến giám định Nếu người bảo hiểm không có đại lý địa phương thì Người được bảo hiểm có thể yêu cầu giám định viên có đăng ký ở nơi đó đến giám định Mục đích của giám định là xác nhận một cách thực tế nhất, chính xác nhất loại tổn thất, mức độ, nguyên nhân và thời gian xảy
ra tổn thất đối với hàng hoá được bảo hiểm Từ đó, hỗ trợ cho công việc khiếu nại bảo hiểm sau này Người tiến hành giám định được gọi là “Giám định viên”
Giám định viên chỉ tiến hành công việc giám định khi Người được bảo hiểm làm và gửi giấy yêu cầu bảo hiểm cho công ty bảo hiểm hoặc đại lý giám định của công ty Giấy yêu cầu giám định gồm những nội dung chủ yếu sau:
+ Tên, địa chỉ của người hoặc tổ chức yêu cầu giám định
+ Tên phương tiện vận chuyển, tên hàng, tên người bảo hiểm
+ Số, khối lượng hàng cần giám định
+ Nội dung yêu cầu giám định
+ Thời gian, địa điểm yêu cầu giám định
Sv: bïi ngäc tó líp bh43A37
Trang 38Tuỳ từng trường hợp cụ thể, giám định viên có thể yêu cầu Người được bảo hiểm xuất trình thêm các giấy tờ khác như: Vận tải đơn, đơn bảo hiểm, hoá đơn hàng hoá, thông báo nhận hàng…
b Chấp nhận yêu cầu giám định
Sau khi nhận được Giấy yêu cầu giám định từ phía Người được bảo hiểm, giám định viên phải phối hợp chặt chẽ với các cơ quan chức năng có liên quan tìm kiếm và thu thập những thông tin ban đầu về tổn thất Trên cơ sở đó, giám định viên phải xem xét, phân tích sơ bộ tổn thất đó có thể thuộc phạm vi trách nhiệm của công ty bảo hiểm hay không
Để cho công tác giám định được tiến hành nhanh chóng và chính xác cần có sự trợ giúp của Người tham gia bảo hiểm
c Tiến hành giám định
* Phương pháp giám định
Sau khi xem xét tình trạng hàng hóa bị tổn thất, nguyên nhân và mức độ tổn thất Người bảo hiểm sẽ lựa chọn phương pháp giám định sao cho phù hợp nhất để đảm bảo trung thực, nhanh chóng và hiệu quả Trong thực tế thường áp dụng một trong ba phương pháp chủ yếu sau:
+ Phương pháp giám định theo cảm quan
+ Phương pháp giám định điều tra chọn mẫu
+ Phương pháp giám định đo lường tính toán
Tuy nhiên, đối với những lô hàng có khối lượng lớn mà tình trạng tổn thất tương đối phức tạp thì các công ty bảo hiểm có thể áp dụng hai trong ba phương pháp trên
* Tiến hành giám định
Thông thường Người bảo hiểm căn cứ vào những yếu tố như hàng bị tổn thất được bảo hiểm, thời hạn bảo hiểm, tổn thất có thể do rủi ro được bảo hiểm gây ra để quyết định
tổ chức công tác giám định Trình tự các bước tiến hành giám định như sau:
Bước 1: Chuẩn bị cho quá trình giám định
- Xác định thời gian và địa điểm giám định
Trang 39- Lựa chọn phương pháp giám định
- Cử giám định viên có đầy đủ chuyên môn, nghiệp vụ để làm công tác giám định cho tốt có thể mời thêm giám định viên độc lập khác khi cần thiết
- Mời các liên quan tham gia như chủ hàng cảng đại diện chủ phương tiện Nguyên tắc giám định phải làm đối tịch giữa người bảo hiểm và người được bảo hiểm
- Mời các bên liên quan như chủ phương tiện, Người bảo hiểm, Người được bảo hiểm… tham gia Có thể có thêm các bên khác như hải quan, công an
Bước 2: Thực hiện công việc giám định theo trình tự
- Giám định hiện trường nơi xảy ra tai nạn
- Giám định hàng hoá bị tổn thất: cả bên ngoài lẫn bên trong
- Phân loại tổn thất và xác định mức độ tổn thất
- Xác định nguyên nhân gây ra tổn thất
Sau khi đã giám định xong, giám định viên phải ghi những thông tin quan trọng và cần thiết nhất vào một biên bản (gọi là “Biên bản giám định”) để làm căn cứ cho người yêu cầu giám định có cơ sở pháp lý để yêu cầu Người bảo hiểm hoặc những bên liên quan bồi thường cho những tổn thất đó
2 Bồi thường tổn thất và thời hạn khiếu nại đối với nghiệp vụ bảo hiểm hàng hoá nhập khẩu bằng đường biển
2.1 Cách tính toán và thanh toán bồi thường
Việc thanh toán bồi thường trong bảo hiểm hàng hoá XNK phải tuân thủ các nguyên tắc nhất định sau:
- Nguyên tắc thứ nhất: Giới hạn cao nhất trách nhiệm của Người bảo hiểm đối với
hàng hoá được bảo hiểm là STBH Tuy nhiên các khoản chi phí khác như chi phí đề phòng hạn chế tổn thất, chi phí cứu nạn, chi phí giám định, tiền đóng góp TTC… cũng sẽ được bồi thường cho dù tổng STBT có thể lớn hơn STBH
- Nguyên tắc thứ hai: bồi thường bằng tiền không bồi thường bằng hiện vật, thông
thường đóng phí bảo hiểm bằng tiền gì sẽ được chi trả bằng tiền đó
Sv: bïi ngäc tó líp bh43A39
Trang 40- Nguyên tắc thứ ba: Khi trả tiền bồi thường, Người bảo hiểm sẽ khấu trừ các khoản
tiền mà Người được bảo hiểm đã đòi được ở người thứ ba
Căn cứ vào những nguyên tắc trên, tuỳ theo từng loại tổn thất mà Người bảo hiểm sẽ bồi thường cho Người được bảo hiểm thoả đáng
* Đối với TTC
- Người bảo hiểm phải bồi thường cho Người được bảo hiểm mọi chi phí đóng góp vào TTC cho dù hàng hoá được bảo hiểm theo điều kiện nào Nếu STBH nhỏ hơn giá trị đóng góp vào TTC thì Người bảo hiểm chỉ bồi thường theo tỷ lệ giữa STBH và giá trị phải đóng góp vào TTC
- Không bồi thường trực tiếp cho Người được bảo hiểm mà thanh toán cho người thanh toán TTC do người chuyên chở chỉ định
- STBT này được cộng thêm hay khấu trừ phần chênh lệch giữa số tiền thực tế đã đóng góp vào TTC và số tiền phải đóng góp vào TTC
* Đối với TTR
- Đối với TTTB thực tế: STBT = STBH Trong trường hợp nếu phương tiện chuyên chở bị mất tích, hàng hoá sẽ được coi là tổn thất toàn bộ thực tế nhưng sau khi bồi thường lại tìm thấy phương tiện cùng hàng hoá thì Người bảo hiểm có quyền sở hữu số hàng đó
- Đối với TTTB ước tính: STBT = STBH nếu Người được bảo hiểm từ bỏ hàng
Nếu Người bảo hiểm không từ bỏ hàng hoặc Người bảo hiểm không chấp nhận thì sẽ bồi thường theo mức độ tổn thất thực tế
- Đối với TTBP: cách tính tiền bồi thường được quy định cụ thể như sau:
Tổng giá trị khi hàng bị tổn thấtTổng giá trị hàng
còn nguyên vẹn