A A §Æt vÊn ®Ò NÒn kinh tÕ ViÖt Nam tr¶i qua nhiÒu giai ®o¹n g¾n liÒn víi tõng thêi kú lÞch sö C¸c kú §¹i héi §¶ng ®Òu ® ®a ra nh÷ng ho¹ch ®Þnh vÒ ph¬ng híng ®êng lèi kinh tÕ còng nh chÝnh trÞ cña ®Êt[.]
Néi dung
Lí luận về kinh tế thị trờng
1 Kinh tế tự nhiên, kinh tế hàng hóa, kinh tế thị trêng. a Khái niệm
Kinh tế tự nhiên là hình thức tổ chức kinh tế đầu tiên của con người, chủ yếu dựa vào tự nhiên để sản xuất và tiêu dùng Trong nền kinh tế này, sản phẩm được tiêu dùng ngay tại đơn vị sản xuất như bộ lạc, thị tộc hoặc công xã, phản ánh tính tự cung tự cấp và phụ thuộc vào điều kiện tự nhiên Do đó, kinh tế tự nhiên thường được xem là nền kinh tế thấp kém, ít phát triển hơn các hình thức tổ chức kinh tế sau này.
Kinh tế hàng hóa là hình thức tổ chức kinh tế dựa trên việc sử dụng con người để tổ chức hoạt động kinh tế xã hội nhằm phát triển sản xuất và phân phối hàng hóa Trong nền kinh tế hàng hóa, sản phẩm được sản xuất không nhằm tiêu dùng nội bộ mà để trao đổi, mua bán trên thị trường theo quy luật cung cầu và do thị trường quyết định giá trị Đây là một nền kinh tế mở, nơi các mối quan hệ kinh tế chủ yếu thể hiện qua hình thức hàng hóa và tiền tệ, phản ánh quá trình trao đổi và phân phối trong xã hội.
Kinh tế thị trường là hình thức kinh tế dựa trên sự vận động của nhiều thành phần hàng hóa theo cơ chế thị trường, nhấn mạnh vai trò của cung cầu và cạnh tranh Khác với kinh tế tự nhiên, kinh tế hàng hóa và kinh tế thị trường có những đặc điểm riêng biệt rõ ràng Trong đó, kinh tế tự nhiên chủ yếu dựa vào các yếu tố tự nhiên và tự cung tự cấp, còn kinh tế hàng hóa chuyển dịch hướng sang sản xuất dựa trên quy mô và lợi nhuận Kinh tế thị trường nổi bật với hoạt động trao đổi hàng hóa tự do, cạnh tranh mở, thúc đẩy sự phát triển và phân phối nguồn lực hiệu quả Việc phân biệt rõ ràng giữa các loại hình kinh tế này giúp hiểu rõ hơn về cơ chế vận hành và đặc điểm của nền kinh tế thị trường.
Kinh tế tự nhiên là nền kinh tế dựa trên sản phẩm do người tiêu dùng trực tiếp làm ra và tiêu thụ, phản ánh mối quan hệ trực tiếp giữa sản xuất và tiêu dùng tự nhiên Khác với kinh tế hàng hóa, kinh tế tự nhiên ít phát triển riêng biệt vì hai mô hình thị trường này bổ trợ lẫn nhau, nhằm thúc đẩy sự phát triển toàn diện của nền kinh tế Trong giai đoạn cao, kinh tế thị trường thể hiện rõ nét qua sự kết hợp giữa kinh tế hàng hóa và kinh tế tự nhiên, phản ánh sự tiến bộ của nền kinh tế trong quá trình phát triển.
2 Kinh tế thị trờng định hớng xã hội chủ nghĩa ở
Việt Nam. a Nhận thức về kinh tế thị trờng định hớng xã hội chủ nghĩa
Nền kinh tế Việt Nam đã thoát khỏi khủng hoảng nhanh chóng nhờ vào cuộc cải cách kinh tế theo mô hình thị trường, hệ thống hóa giá cả tự do hóa, ngoại trừ một số lĩnh vực như điện, xăng dầu Việc xóa bỏ độc quyền nhà nước trong định giá hàng hóa thúc đẩy phát triển kinh tế, tạo điều kiện cho các thành phần kinh tế cạnh tranh, hợp tác và liên kết, hướng tới nền kinh tế mở, hội nhập quốc tế Đầu tư trong nền kinh tế chủ yếu dựa vào nguồn vốn trong và ngoài nước, trong đó việc huy động vốn từ FDI, ODA gặp khó khăn song vẫn là yếu tố then chốt để đạt mục tiêu phát triển Chính sách thu hút vốn cần gắn với các biện pháp kích thích tiết kiệm, phát hành trái phiếu, phát triển thị trường cổ phần, chứng khoán và các hoạt động kinh tế vĩ mô nhằm xây dựng môi trường đầu tư minh bạch, công bằng Để thúc đẩy tăng trưởng, Việt Nam tập trung vào các lĩnh vực chiến lược như du lịch, hạ tầng và khai thác nguồn vốn hợp pháp, đồng thời tuân thủ các nguyên tắc cạnh tranh công bằng và quản lý nhà nước, hạn chế tiêu cực như tham nhũng và lợi dụng đầu tư phi pháp Vai trò của Đảng và Nhà nước là điều phối, hướng dẫn phát triển nền kinh tế theo nguyên tắc thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, đảm bảo phát huy hiệu suất sử dụng vốn và phát triển bền vững Qua các giai đoạn phát triển, Việt Nam luôn giữ vai trò chủ đạo trong hoạch định chính sách, rà soát và khắc phục những khuyết điểm của nền kinh tế thị trường, đồng thời đẩy mạnh phát triển công nghiệp nhẹ, nặng, du lịch, xuất khẩu nông thủy sản, và các lĩnh vực kinh tế chuyên ngành phù hợp với đặc thù quốc gia.
Trong quá trình xây dựng nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa tại Việt Nam, mục tiêu chính là kết hợp giữ vững định hướng xã hội chủ nghĩa với phát triển kinh tế thị trường, tuân theo nguyên tắc và nhiệm vụ kinh tế cơ bản do Nhà nước đề ra Các kỳ Đại hội Đảng đã đề ra mục tiêu khôi phục và ổn định kinh tế, chính trị, xã hội, nâng cao đời sống nhân dân, đồng thời mở rộng thị trường trong nước và toàn cầu phù hợp với từng vùng kinh tế và ngành nghề Việt Nam tập trung đào tạo nguồn nhân lực chất lượng cao, nâng cao trình độ kỹ thuật, chuyển dịch cơ cấu lao động nhằm góp phần vào quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa, trở thành một nước công nghiệp vào năm 2020 theo định hướng xã hội chủ nghĩa Trong bối cảnh đó, nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam mang đặc điểm vừa phát huy sự tự chủ của thị trường, vừa giữ vững vai trò chủ đạo của nhà nước để đảm bảo phát triển bền vững, phù hợp với đặc thù của đất nước và quy luật tự nhiên, góp phần thúc đẩy mạnh mẽ quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước.
Việt Nam đã trải qua quá trình chuyển đổi nền kinh tế từ tự cung tự cấp dựa trên quản lý hành chính tập trung sang nền kinh tế hàng hóa nhiều thành phần vận hành theo cơ chế thị trường có sự quản lý của Nhà nước theo hướng xã hội chủ nghĩa, nhằm hướng tới mục tiêu dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ và văn minh Hiện tại, nền kinh tế Việt Nam vẫn đang trong giai đoạn quá độ với kết cấu hạ tầng còn thấp, công nghệ lạc hậu, quy mô sản xuất nhỏ, năng suất chưa cao, và cơ cấu kinh tế nặng về nông nghiệp còn nhiều hạn chế, chưa có thị trường phù hợp và phát triển đầy đủ Nguyên nhân chính khiến nền kinh tế kém phát triển là do mô hình kinh tế chỉ huy với cơ chế tập trung quan liêu bao cấp, dẫn đến các cơ chế thị trường còn yếu và chưa toàn diện Tại Đại hội đại biểu toàn quốc của Đảng Cộng Sản Việt Nam năm 1991, Việt Nam chính thức chuyển đổi sang phát triển nền kinh tế nhiều thành phần theo cơ chế thị trường có sự quản lý của Nhà nước, phù hợp với đặc điểm và bản chất của nền kinh tế trong thời kỳ hiện tại và tương lai Vì là một quốc gia có nền nông nghiệp chủ đạo, Việt Nam đặc biệt chú trọng đầu tư phát triển nông nghiệp, với mục tiêu xuất khẩu gạo từ 3,5 đến 4,5 triệu tấn mỗi năm, đạt vị trí thứ hai sau Thái Lan vào năm 2000, đồng thời đảm bảo sự phát triển bền vững của nền kinh tế nông nghiệp thông qua quản lý kinh tế Nhà nước chủ đạo Sự đổi mới từ chính sách khoán ruộng cho các hộ gia đình bắt đầu từ năm 1986 đã mang lại hiệu quả rõ rệt, góp phần đưa Việt Nam trở thành một quốc gia vững mạnh về nền nông nghiệp nhờ vào sự chỉ đạo và quản lý đúng đắn của Đảng.
Nhà nước đã đóng vai trò quan trọng trong việc phát triển kinh tế và nâng cao đời sống nhân dân theo tinh thần chủ nghĩa xã hội Nền kinh tế thị trường của Việt Nam kết hợp các hình thức sở hữu như sở hữu toàn dân, sở hữu tập thể và sở hữu tư nhân, trong đó nhà nước giữ vai trò chủ đạo để đảm bảo phân phối dựa trên kết quả lao động và hiệu quả kinh tế Việc phân phối lao động và điều tiết thu nhập hợp lý là yếu tố then chốt trong hệ thống kinh tế, nhằm khai thác nguồn lực từ các địa phương, vùng miền và mở rộng quan hệ kinh tế quốc tế để phát triển tiềm năng lao động và tài nguyên quốc gia Hiện nay, nền kinh tế Việt Nam dựa trên chế độ sở hữu công về tư liệu sản xuất, với vai trò dẫn dắt trong việc quản lý hoạt động các thành phần kinh tế, tạo điều kiện thu hút đầu tư vào những lĩnh vực trọng yếu và phát triển trung tâm kinh tế đô thị mới Chính sách của nhà nước nhằm đảm bảo công bằng xã hội, giảm chênh lệch thu nhập, nâng cao đời sống của các nhóm dân cư, đồng thời ứng dụng khoa học công nghệ hiện đại để thúc đẩy tăng trưởng kinh tế bền vững Trong quá trình đổi mới, Việt Nam đã đề ra các nhiệm vụ phù hợp với điều kiện, bối cảnh đất nước, trong đó chú trọng phục hồi kinh tế sau chiến tranh, đẩy mạnh công nghiệp hóa và hiện đại hóa, đồng thời xây dựng một hệ thống pháp luật vững mạnh để thúc đẩy phát triển kinh tế và giảm đói nghèo, đảm bảo sự cân đối và phát triển bền vững của đất nước.
Nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa là một nền kinh tế mở, mang tính quốc tế hóa và khu vực hóa, yêu cầu quan niệm đa phương hóa và đa dạng hóa các quan hệ kinh tế đối ngoại Trong các mối quan hệ kinh tế đối ngoại, cần luôn giữ vững nguyên tắc độc lập, thống nhất chủ nghĩa xã hội và đảm bảo lợi ích kinh tế cùng lợi ích dân tộc mà không vi phạm chủ quyền quốc gia Khi được Đảng và Nhà nước quan tâm, nền kinh tế cần được xây dựng vững chắc nhằm thúc đẩy sự phát triển bền vững.
Việc mở rộng và phát triển đồng bộ thị trường là yếu tố cơ bản để đạt được sự phát triển lành mạnh, trong đó mục tiêu xây dựng, tham gia và quản lý thị trường đóng vai trò quan trọng Chính phủ cần chuyển hướng từ nền kinh tế hạn chế, dựa trên quan hệ trong khu vực xã hội chủ nghĩa, sang hội nhập toàn cầu trong khu vực ASEAN và thế giới, đẩy mạnh công nghiệp hóa hiện đại nhằm hướng tới mục tiêu trở thành quốc gia công nghiệp phát triển Quản lý nhà nước giữ vai trò thiết yếu để duy trì sự ổn định kinh tế, cân bằng giữa kiểm soát và tự do của thị trường, góp phần thúc đẩy hoạt động sản xuất kinh doanh hiệu quả Việt Nam luôn theo đuổi chính sách xây dựng mối quan hệ hài hòa giữa Nhà nước, thị trường và kế hoạch để thúc đẩy cạnh tranh công bằng, hội nhập kinh tế quốc tế cùng với việc giữ vững chủ quyền, độc lập và bản sắc văn hóa dân tộc Để thúc đẩy sự phát triển bền vững, cần nâng cao chất lượng và hiệu quả các lĩnh vực, tăng cường hợp tác quốc tế, giảm thiểu các rào cản thương mại, đa dạng hóa hình thức dịch vụ và phát huy nguồn lực lao động dồi dào, cần cù, sáng tạo Đặc biệt, đội ngũ khoa học công nghệ và công nhân đóng vai trò quan trọng trong quá trình mở rộng hội nhập kinh tế toàn cầu, tận dụng thành tựu của cuộc cách mạng khoa học công nghệ hiện đại để đa dạng hóa nền kinh tế và thúc đẩy quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước nhanh chóng, góp phần rút ngắn chặng đường phát triển theo định hướng xã hội chủ nghĩa.
Thực trạng nền kinh tế thị trờng ở nớc ta
1 Tình hình nhận thức nền kinh tế a Quá trình phát triển t duy kinh tế - chính trị qua các kỳ Đại hội. Đất nớc ta chịu ảnh hởng rất nhiều t tởng của cuộc chiến tranh lâu dài từ nhiều năm lên sau khi giành đợc thắng lợi hoàn toàn năm 1975 Đất nớc đồng nhất giữa Đảng và nhân dân ra sức xây dựng lại bộ mặt về toàn diện. Trong bối cảnh quốc tế và tình hình khu vực hiện nay với sự hạn chế về quỹ đất và tài nguyên, sự dồi dào về nhân lực, giá nhân công thì rẻ, vị trí địa lý thuận lợi cho phép chúng ta lựa chọn chiến lợc công nghiệp hóa Với t duy và nhận thức đúng đắn đờng lối và tình hình nền kinh tế Việt Nam Đảng và Nhà nớc đã có những bớc đi qua các kỳ đại hội chủ động hội nhập vào nền kinh tế thế giới và khu vực với từng giai đoạn dựa trên nguyên tắc vừa bảo vệ độc lập dân tộc vừa phát triển kinh tế Chúng ta đứng lên từ mét níc cã nÒn kinh tÕ bao cÊp mang tÝnh tù cung tù cÊp chuyển sang kinh tế thị trờng nhng đến nay sự phát triển vẫn còn khá chênh lệch giữa các vùng, các nghành Nh nghành nông nghiệp nông thôn chiếm số lao động quá đông, ngoài ra nguồn nhân lực đấy còn là vành đai an toàn cho đất nớc Với kế hoạch đặc trng về cơ chế thị tr- ờng xã hội hóa lao động ở nớc ta thúc đẩy sự phân công lao động xã hội, tập trung sản xuất để hình thành thị trờng trong nớc lớn mạnh gắn liền với thị trờng thế giới, chuyển đổi cơ cấu kinh tế, cơ cấu lao động và toàn dân c từ nông nghiệp chuyển sang công nghiệp và các nghành khác trên cơ sở phát triển mạnh kinh tế thị trờng bằng một hệ thống quản lý vĩ mô có hiệu lực thể hiện qua nghị quyết 6
Khóa IV về các vấn đề cấp bách trong quản lý kinh tế năm 1979 đánh dấu sự chuyển đổi của nền kinh tế Việt Nam từ cơ chế quản lý cũ sang cơ chế mới Đại hội VI của Đảng vào tháng 12 năm 1986 xác nhận vai trò của cơ chế thị trường có sự quản lý của nhà nước, góp phần chuyển đổi nền kinh tế từ tập trung quan liêu bao cấp sang đa thành phần, thúc đẩy động lực vật chất và tinh thần của người lao động Tuy nhiên, hệ thống nhà nước vẫn còn bao trùm và cứng nhắc, hạn chế xung lực của thị trường do các doanh nghiệp nhà nước còn độc quyền, dẫn đến nền kinh tế vẫn còn đóng cửa và thiếu cạnh tranh Chính vì tình hình này, tại Đại hội VI, Đảng khẳng định cần xóa bỏ cơ chế tập trung quan liêu, bao cấp để thúc đẩy sản xuất, kinh doanh hiệu quả, thực hiện đúng chế độ tập trung dân chủ, hạch toán kinh tế và kinh doanh theo định hướng xã hội chủ nghĩa.
Việc bố trí lại cơ cấu kinh tế phải đi đôi với đổi mới cơ chế quản lý kinh tế, vì cơ chế quản lý tập trung, quan liêu, bao cấp lâu dài không tạo động lực phát triển, làm suy yếu kinh tế xã hội chủ nghĩa và hạn chế sử dụng cũng như cải tạo các thành phần kinh tế khác Nhà nước cần nắm giữ các mạch máu của nền kinh tế để đảm bảo quản lý hiệu quả theo một kế hoạch thống nhất, kết hợp hợp lý giữa sản xuất và thị trường Đổi mới cơ chế quản lý nhằm vận dụng tổng hợp các quy luật tác động lên nền kinh tế, đồng thời thúc đẩy phát triển thông qua việc ban hành các luật lệ mới như luật công ty, luật doanh nghiệp tư nhân và quyền lao động, nhằm khuyến khích các thành phần kinh tế khác phát triển phù hợp với yêu cầu của thời kỳ đổi mới.
Hiến pháp năm 1992 đã mở ra nền tảng pháp lý quan trọng cho sự phát triển của hệ thống kinh tế nhiều thành phần ở Việt Nam, trong đó sở hữu tư nhân được công nhận và coi là một thành phần chính của nền kinh tế Nhìn lại quá trình đổi mới, Đại hội VI của Đảng đề ra chính sách xây dựng nền kinh tế hàng hóa nhiều thành phần vận hành theo cơ chế thị trường có sự quản lý của Nhà nước theo định hướng xã hội chủ nghĩa Các kỳ đại hội tiếp theo như VII, VIII và IX đã liên tục hoàn thiện chính sách này, khẳng định vai trò chủ đạo của kinh tế nhà nước, đồng thời thừa nhận sự đóng vai trò của kinh tế tập thể và kinh tế tư nhân trong cơ cấu nền kinh tế Hiến pháp 1992 còn lần đầu tiên quy định quyền tự do kinh doanh của công dân theo pháp luật, tạo cơ sở pháp lý thúc đẩy đổi mới chính sách đối ngoại và phát triển các hình thức kinh tế tư nhân, góp phần nâng cao sức mạnh và sự phát triển của nền kinh tế Việt Nam trong hợp tác hội nhập quốc tế.
Luật đất đai thuộc sở hữu toàn dân, mang lại các chính sách thuận lợi về quyền sử dụng đất cho hộ nông dân, bao gồm việc tổ chức giao ruộng và cho thuê đất Các quy định này giúp tăng cường quyền lợi của người nông dân trong việc khai thác và quản lý đất đai một cách hiệu quả hơn Chính sách đất đai linh hoạt và phù hợp đã thúc đẩy phát triển nông nghiệp bền vững, góp phần nâng cao đời sống của người dân vùng nông thôn.
Năm 1994, Bộ luật Lao động quy định rõ quyền và nghĩa vụ của người lao động, người tuyển dụng và sử dụng lao động, nhằm bảo vệ quyền lợi hợp pháp trong lĩnh vực lao động và đặt ra trách nhiệm cho các tổ chức sử dụng lao động Các luật về thuế được ban hành trong thời kỳ đổi mới, quy định quyền và nghĩa vụ nộp thuế của các thành phần kinh tế, với mức thuế suất phù hợp Ngoài ra, còn có các luật quan trọng như luật Thương mại, luật Khoán sản, luật Ngân hàng, và các luật dành riêng cho từng thành phần kinh tế, như luật Đầu tư nước ngoài ban hành năm 1997 và đã trải qua ba lần sửa đổi vào các năm 1990 và 1992, góp phần thúc đẩy phát triển nền kinh tế quốc gia.
Trong những năm đầu đổi mới, Luật đất đai năm 1996 là luật sớm nhất có tính chiến lược trong việc xây dựng và phát triển nền kinh tế nhiều thành phần của Việt Nam, góp phần chuyển đổi từ kinh tế kế hoạch tập trung sang nền kinh tế thị trường mở có sự quản lý của Nhà nước Luật doanh nghiệp được bổ sung vào năm 1999 và sửa đổi đầy đủ vào năm 2000, tạo nền tảng pháp lý vững chắc cho các hoạt động kinh doanh và doanh nghiệp, góp phần thúc đẩy sự phát triển của các thành phần kinh tế mới năng động Các kỳ Đại hội từ Đại hội VI đến Đại hội IX đều đạt được những thành tựu quan trọng, đặc biệt là Đại hội IX với việc xác lập mô hình xây dựng chủ nghĩa xã hội trong thời kỳ quá độ, khẳng định rõ các mục tiêu phát triển như nền văn hóa tiên tiến, bản sắc dân tộc đậm đà, giải phóng con người khỏi bóc lột và bất công, nâng cao đời sống và tạo điều kiện phát triển cá nhân Sau hơn 15 năm đổi mới, nền kinh tế Việt Nam đã đạt nhiều thành tựu rõ rệt như đứng thứ hai thế giới về xuất khẩu gạo, hội nhập sâu rộng với ASEAN và thị trường thế giới, cải thiện mạnh mẽ ngành nông nghiệp nhờ khoa học công nghệ, đồng thời ngành giáo dục được chú trọng nhằm nâng cao nguồn nhân lực chất lượng cao cho sự phát triển bền vững của đất nước, mặc dù vẫn còn nhiều khó khăn phía trước.
+ các dân tộc trong nớc bình đẳng, đoàn kết và giúp đỡ lẫn nhau cùng tiến bộ.
+ có quan hệ hữu nghị và hợp tác với tất cả nhân dân các nớc trên thế giới.
Đảng và Nhà nước ta thống nhất thực hiện lâu dài chính sách phát triển kinh tế hàng hóa nhiều thành phần vận động theo cơ chế thị trường có sự quản lý của Nhà nước theo hướng xã hội chủ nghĩa, tạo ra mô hình kinh tế tổng quát phù hợp với đặc thù của đất nước Mô hình này xác định rõ mối quan hệ giữa kinh tế thị trường định hướng XHCN và nhà nước pháp quyền XHCN, hai yếu tố cơ bản thúc đẩy sự vận động và phát triển của nền kinh tế Đại hội toàn quốc có vai trò quan trọng trong việc nhìn lại chặng đường phát triển của thế kỷ XX và đề ra định hướng cho thế kỷ XXI, trong đó xác lập vai trò của kinh tế nhà nước (KTNN) trong điều kiện mới, góp phần nâng cao nhận thức về cơ cấu kinh tế nhiều thành phần một cách khoa học và hiệu quả hơn.
- kinh tế thị trờng định hớng xã hội chủ nghĩa
- Nhà nớc pháp quyền xã hội chủ nghĩa
2 Thực trạng cơ chế kinh tế và cơ chế quản lý kinh tế của Nhà nớc. a.Cơ chế kinh tế Việt Nam trong giai đoạn chuyển sang cơ chế thị trờng.
Hệ thống phân phối- phân phối lại và cuộc khủng hoảng năm 1985.
Đại hội VI năm 1986 đã khẳng định đổi mới không đồng nghĩa từ bỏ mục tiêu xã hội chủ nghĩa, mà là tìm ra các phương thức và con đường phù hợp hơn để đạt được mục tiêu đó Trong quá trình đổi mới, nền kinh tế tập trung quan liêu bao cấp được chuyển sang nền kinh tế nhiều thành phần vận hành dựa trên cơ chế thị trường, góp phần thúc đẩy sự phát triển ổn định và nâng cao đời sống nhân dân Hệ thống phân phối và phân phối lại không dựa trên các yếu tố kích thích mà dựa trên thị trường và hệ thống định mức đánh giá đóng góp của từng tập thể, cá nhân theo vị trí quyền lực trong hệ thống Tuy nhiên, các biện pháp như áp dụng biện pháp sốc năm 1985 dẫn đến khủng hoảng nghiêm trọng, cạn kiệt tài nguyên, thị trường chợ đen phát triển mạnh, thúc đẩy tham nhũng, buôn lậu và gây mất cân đối kinh tế vĩ mô Tình trạng này khiến ngân sách hụt thu, dòng tiền đầu tư và tiết kiệm nội địa giảm sút, làm nền kinh tế rơi vào tình trạng mất cân bằng, đặc biệt là lạm phát tăng vọt, từ 50% năm 1984 lên 90% năm 1985 Nhận thức được tính chất nghiêm trọng của khủng hoảng, Đảng và Nhà nước đã quyết định thực hiện chuyển đổi cơ cấu và ổn định kinh tế vĩ mô trong năm 1986 với ba khía cạnh chính để phục hồi và phát triển nền kinh tế.
Các đơn vị hành chính-kinh tế độc lập ra đời nhằm phân chia trách nhiệm trong việc cung cấp dịch vụ xã hội, giúp nâng cao hiệu quả quản lý và thúc đẩy phát triển kinh tế địa phương Việc thiết lập các đơn vị này đóng vai trò quan trọng trong việc đáp ứng nhu cầu xã hội một cách tối ưu, đồng thời tạo điều kiện thuận lợi cho sự tự chủ và phát triển bền vững của từng khu vực.
Công nhận quyền sở hữu t nhân, quyền đợc thuê, đợc khoán của t nhân đối với một số phơng tiện sản xuất chủ yếu là đất canh tác.
Trong giai đoạn 1980-1986, Việt Nam đã thực hiện quá trình tự do hóa giá cả từng bước nhằm thúc đẩy người sản xuất bắt kịp với nhu cầu thị trường, tạo điều kiện cho sự phát triển sản xuất Chính sách này nhằm mở rộng các ràng buộc về phân phối và cho phép tự do hóa giá cả ở mức cao nhất có thể, góp phần cải thiện hiệu quả hoạt động kinh tế trong nước.
Trước năm 1980, Việt Nam đã tiến hành cải tiến quản lý kinh tế thông qua phong trào "ba xây, ba chống" để thúc đẩy phát triển kinh tế Sau Đại hội VI, cơ chế kinh tế cũ dần dần được thay thế bằng những chỉnh sửa phù hợp hơn Đến tháng 12 năm 1988, Việt Nam chính thức khẳng định chuyển sang nền kinh tế thị trường có sự quản lý của Nhà nước, mở ra giai đoạn đổi mới toàn diện về cơ chế kinh tế.
Sau khi chiến tranh kết thúc, nhiều nước đã sao chép mô hình phát triển kinh tế và cơ chế quản lý của các nước xã hội chủ nghĩa, đặc biệt là Liên Xô Trong giai đoạn này, kế hoạch hóa được xem là công cụ quản lý chủ yếu, có tính pháp lệnh bắt buộc và được áp dụng trên toàn bộ các cấp, ngành, tổ chức kinh tế-xã hội, đơn vị và công dân Các công cụ như lãi suất, giá cả, thuế, tiền công, lương phải được điều chỉnh hợp lý để đảm bảo cân đối vĩ mô, hạn chế lạm phát và hạn chế việc bóc lột tiền tệ gây bất công xã hội Chính sách của thời kỳ này yêu cầu sử dụng công cụ tài chính linh hoạt nhằm thúc đẩy phát triển kinh tế ổn định Sau Nghị quyết 6TW khóa IV, nhiều chính sách đã được ban hành nhằm thúc đẩy phát triển kinh tế và nâng cao đời sống nhân dân, như Nghị quyết 100 của Ban Bí thư về chế độ khoán sản phẩm cho hợp tác xã nông nghiệp, chính sách bán sản phẩm cho Nhà nước theo giá thị trường, và các điều chỉnh về giá thu mua nông sản Đại hội VI của Đảng xác định tập trung phát triển mạnh nông nghiệp, coi đây là mặt trận hàng đầu, hướng tới sản xuất lớn Chính phủ cũng ban hành các quyết định như Quyết định 25/CP nhằm cho phép doanh nghiệp nhà nước thực hiện kế hoạch khai thác và phát triển sản xuất dựa trên năng lực thiết bị, máy móc và lao động hiện có, trong khuôn khổ các nghị quyết quan trọng của Bộ Chính trị.
Năm 1984 đánh dấu bước tiến về quyền tự chủ tài chính trong sản xuất nhằm thúc đẩy tính năng động, sáng tạo và nâng cao trách nhiệm của tập thể lao động trong các doanh nghiệp Ngoài ra, Nghị quyết 26 của Bộ Chính trị và Chỉ thị số 109 của Ban Bí thư năm 1980 đã đề ra các giải pháp cải tiến phân phối và lưu thông hàng hóa Nghị quyết 8 của Trung ương Đảng khóa V (6/1988) điều chỉnh giá cả phù hợp với mức giá và sức mua của đồng tiền, đồng thời cải cách chế độ tiền lương theo cơ chế cung cấp hiện vật, chuyển sang chế độ tiền lương bằng tiền, nâng cao hiệu quả phân phối ngân sách và quản lý lưu thông tiền tệ.