Microsoft Word TRẦN VćN SÆ€N BỘ Y TẾ TRƯỜNG ĐẠI HỌC ĐIỀU DƯỠNG NAM ĐỊNH TRẦN VĂN SƠN THỰC TRẠNG KIẾN THỨC VÀ THÁI ĐỘ VỀ CHĂM SÓC GIẢM NHẸ CỦA ĐIỀU DƯỠNG TẠI CÁC KHOA LÂM SÀNG BỆNH VIỆN VIỆT NAM THỤ[.]
Trang 1TRƯỜNG ĐẠI HỌC ĐIỀU DƯỠNG NAM ĐỊNH
TRẦN VĂN SƠN
THỰC TRẠNG KIẾN THỨC VÀ THÁI ĐỘ VỀ CHĂM SÓC GIẢM NHẸ CỦA ĐIỀU DƯỠNG TẠI CÁC KHOA LÂM SÀNG
BỆNH VIỆN VIỆT NAM - THỤY ĐIỂN UÔNG BÍ
TỈNH QUẢNG NINH NĂM 2022
BÁO CÁO CHUYÊN ĐỀ TỐT NGHIỆP
NAM ĐỊNH – 2022
Trang 2TRƯỜNG ĐẠI HỌC ĐIỀU DƯỠNG NAM ĐỊNH
TRẦN VĂN SƠN
THỰC TRẠNG KIẾN THỨC VÀ THÁI ĐỘ VỀ CHĂM SÓC GIẢM NHẸ CỦA ĐIỀU DƯỠNG TẠI CÁC KHOA LÂM SÀNG
BỆNH VIỆN VIỆT NAM - THỤY ĐIỂN UÔNG BÍ
TỈNH QUẢNG NINH NĂM 2022
Chuyên ngành: Điều dưỡng Nội người lớn
BÁO CÁO CHUYÊN ĐỀ TỐT NGHIỆP
GIẢNG VIÊN HƯỚNG DẪN:
ThS.BS NGUYỄN THỊ THẢO
NAM ĐỊNH – 2022
Trang 3LỜI CẢM ƠN
Trước hết, tôi xin chân thành bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc đến ThS.Bác sĩ Nguyễn Thị Thảo, người đã hết lòng giúp đỡ và tạo mọi điều kiện tốt nhất cho tôi hoàn thành chuyên đề tốt nghiệp này
Tôi xin gửi lời cảm ơn chân thành nhất tới Ban Giám hiệu trường Đại học Điều Dưỡng Nam Định, các thầy cô giáo trong toàn trường đã tận tình hỗ trợ, truyền đạt những kiến thức quý báu cho tôi trong suốt quá trình học tập nghiên cứu
và thực hiện chuyên đề
Tôi cũng xin gửi lời tri ân đến các Điều dưỡng tại các khoa lâm sàng Bệnh viện Việt Nam – Thụy Điển Uông Bí đã không ngừng hỗ trợ và tạo mọi điều kiện
để tôi hoàn thành tốt nhất chuyên đề này
Đồng thời, tôi xin cảm ơn gia đình, bạn bè, những người đã luôn ở bên cạnh động viên, khích lệ tôi trong suốt quá trình học tập, nghiên cứu
Với sự nỗ lực hết sức của bản thân tôi đã cố gắng hoàn thành chuyên đề tốt nghiệp với nội dung đầy đủ, sâu sắc Tuy nhiên, do hạn chế về nhận thức và thời gian nghiên cứu, chuyên đề chắc chắn sẽ không tránh khỏi những thiếu sót Tôi rất mong nhận được sự chỉ bảo, góp ý của quý thầy cô giáo và các bạn để khóa luận được hoàn thiện hơn
Xin trân trọng cảm ơn!
Nam Định, ngày 15 tháng 8 năm 2022
Học viên
Trần Văn Sơn
Trang 4LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan chuyên đề “Thực trạng kiến thức và thái độ về chăm sóc giảm nhẹ của điều dưỡng tại các khoa lâm sàng bệnh viện Việt Nam – Thụy Điển Uông Bí, tỉnh Quảng Ninh năm 2022” là công trình nghiên cứu cá nhân của tôi trong thời gian qua Mọi số liệu sử dụng phân tích trong chuyên đề và kết quả nghiên cứu là do tôi tự tìm hiểu, phân tích một cách khách quan, trung thực, có nguồn gốc rõ ràng và chưa được công bố dưới bất kỳ hình thức nào
Tôi xin chịu hoàn toàn trách nhiệm nếu có sự không trung thực trong thông tin
sử dụng trong công trình nghiên cứu này
Nam Định, ngày 15 tháng 6 năm 2022
Học viên
Trần Văn Sơn
Trang 5MỤC LỤC
LỜI CẢM ƠN i
LỜI CAM ĐOAN ii
MỤC LỤC iii
DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT v
DANH MỤC CÁC BẢNG vi
DANH MỤC CÁC HÌNH, BIỂU ĐỒ vii
ĐẶT VẤN ĐỀ 1
Chương 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN 3
1.1 Cơ sở lý luận 3
1.1.1 Định nghĩa 3
1.1.2 Nguyên tắc trong thực hiện chăm sóc giảm nhẹ 3
1.1.3 Vai trò của chăm sóc giảm nhẹ 5
1.1.4 Điều dưỡng trong chăm sóc giảm nhẹ 6
1.2 Cơ sở thực tiễn 8
1.2.1 Kiến thức về chăm sóc giảm nhẹ 8
1.2.2 Yếu tố liên quan đến kiến thức và thái độ chăm sóc giảm nhẹ của điều dưỡng 10
Chương 2: MÔ TẢ VẤN ĐỀ CẦN GIẢI QUYẾT 11
2.1 Giới thiệu về Bệnh viện Việt Nam – Thụy Điển Uông Bí 11
2.2 Đặc điểm chung về đối tượng nghiên cứu 12
2.1.1 Đặc điểm của đối tượng nghiên cứu 12
2.2.2 Đặc điểm có liên quan đến chăm sóc giảm nhẹ 13
2.3 Kiến thức về chăm sóc giảm nhẹ 13
2.3.1 Kiến thức về quản lý đau và các triệu chứng 13
2.3.2 Kiến thức các yếu tố cơ bản của chăm sóc giảm nhẹ 15
2.3.3 Kiến thức về chăm sóc tâm lý và lĩnh vực tâm linh cho người bệnh 16
2.3.4 Điểm trung bình kiến thức về CSGN của điều dưỡng 16
2.3.5 Phân loại mức độ kiến thức về CSGN của điều dưỡng 17
2.4 Thái độ về chăm sóc giảm nhẹ của điều dưỡng 18
2.4.1 Thái độ của điều dưỡng về chăm người bệnh 19
Trang 62.4.2 Thái độ của điều dưỡng về chăm sóc gia đình người bệnh 21
2.4.3 Điểm trung bình thái độ về CSGN của điều dưỡng 22
2.4.4 Phân loại thái độ của điều dưỡng về CSGN 23
2.5 Một số yếu tố liên quan tới kiến thức và thái độ của điều dưỡng về CSGN 24
2.5.1 Một số yếu tố liên quan tới kiến thức của điều dưỡng về CSGN 24
2.5.2 Một số yếu tố liên quan tới thái độ của điều dưỡng về CSGN 25
Chương 3: BÀN LUẬN 26
3.1 Thực trạng kiến thức và thái độ về CSGN của điều dưỡng 26
3.1.1 Đặc điểm của đối tượng nghiên cứu 26
3.1.2 Kiến thức về chăm sóc giảm nhẹ của điều dưỡng 27
3.1.3 Thái độ của điều dưỡng về chăm sóc giảm nhẹ 30
3.1.4 Mối tương quan giữa 1 số yếu tố và kiến thức, thái độ về CSGN của điều dưỡng 31
3.2 Đề xuất giải pháp 32
KẾT LUẬN 36
ĐỀ XUẤT GIẢI PHÁP 37 TÀI LIỆU THAM KHẢO
Phụ lục 1: PHIẾU ĐIỀU TRA
Phụ lục 2: DANH SÁCH LẤY SỐ LIỆU
Phụ lục 3: DANH SÁCH ĐIỀU DƯỠNG THAM GIA NGHIÊN CỨU
Trang 7DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT
CSGN - Chăm sóc giảm nhẹ WHO - Tổ chức Y tế thế giới COPD - Bệnh phổi tắc nghẽn mạn tính
Trang 8DANH MỤC CÁC BẢNG
Bảng 2.1 Đặc điểm của đối tượng nghiên cứu 12
Bảng 2.2 Đặc điểm liên quan đến chăm sóc giảm nhẹ của ĐTNC 13
Bảng 2.3 Tỷ lệ kiến thức về quản lý đau và các triệu chứng 13
Bảng 2.4 Tỷ lệ kiến thức các yếu tố cơ bản của chăm sóc giảm nhẹ 15
Bảng 2.5 Tỷ lệ kiến thức về chăm sóc tâm lý và tâm linh cho người bệnh 16
Bảng 2.6 Cách tính điểm phần kiến thức 17
Bảng 2.7 Điểm trung bình kiến thức về CSGN của điều dưỡng 17
Bảng 2.8 Tỷ lệ thái độ của điều dưỡng về chăm sóc người bệnh 19
Bảng 2.9 Tỷ lệ thái độ của điều dưỡng về chăm sóc gia đình người bệnh 21
Bảng 2.10 Cách tính điểm các mục của phần thái độ 22
Bảng 2.11 Điểm trung bình thái độ về CSGN của điều dưỡng 22
Bảng 2.12 Một số yếu tố liên quan tới kiến thức của điều dưỡng về CSGN 24
Bảng 2.13 Mối liên quan giữa 1 số yếu tố với thái độ của điều dưỡng về CSGN 25
Trang 9
DANH MỤC CÁC HÌNH, BIỂU ĐỒ
Hình 1.1 Sơ đồ chăm sóc giảm nhẹ trong suốt diễn tiến bệnh 4
Biểu đồ 2.1 Phân loại mức độ kiến thức về CSGN của điều dưỡng 18 Biểu đồ 2.2 Phân loại thái độ của điều dưỡng về CSGN 23
Trang 10ĐẶT VẤN ĐỀ
Theo Tổ chức Y tế Thế giới (WHO): Chăm sóc giảm nhẹ là hoạt động nhằm cải thiện chất lượng cuộc sống của người bệnh và gia đình người bệnh, những người đang đối mặt với những vấn đề liên quan tới sự ốm đau đe dọa đến tính mạng, thông qua sự ngăn ngừa và làm giảm gánh nặng họ chịu đựng bằng cách nhận biết sớm, đánh giá toàn diện và điều trị đau và các vấn đề khác, thể lực, tâm lý xã hội và tâm linh [22]
Mỗi năm ước tính có khoảng 40 triệu người cần được chăm sóc giảm nhẹ, 78% trong số đó sống ở các nước có thu nhập thấp và trung bình tuy nhiên chỉ có 14% được chăm sóc Các báo cáo trên toàn thế giới dự báo rằng nhu cầu về chăm sóc giảm nhẹ sẽ leo thang trong vài thập kỷ tới, do nhân khẩu học thay đổi, quỹ đạo bệnh dài hơn và tỷ lệ mắc bệnh cao hơn [21]
Chăm sóc giảm nhẹ là cần thiết cho nhiều loại bệnh Đa số người trưởng thành cần được chăm sóc giảm nhẹ mắc các bệnh mãn tính như tim mạch (38,5%), ung thư (34%), bệnh hô hấp mãn tính (10,3%), AIDS (5,7%) và tiểu đường (4,6%) Nhiều tình trạng khác có thể cần chăm sóc giảm nhẹ, bao gồm suy thận, bệnh gan mãn tính, bệnh đa xơ cứng, bệnh Parkinson, viêm khớp dạng thấp, bệnh thần kinh,
sa sút trí tuệ, dị tật bẩm sinh và bệnh lao kháng thuốc [23] Theo một cuộc khảo sát của WHO liên quan đến các bệnh không lây nhiễm được thực hiện ở 194 quốc gia thành viên vào năm 2019: kinh phí cho chăm sóc giảm nhẹ được cung cấp ở 68% quốc gia và chỉ 40% quốc gia báo cáo rằng các dịch vụ này đã tiếp cận được ít nhất một nửa số bệnh nhân có nhu cầu [22]
Chăm sóc giảm nhẹ bao gồm một loạt các dịch vụ được cung cấp bởi một loạt các chuyên gia mà tất cả đều có vai trò quan trọng như nhau, bao gồm: bác sĩ, điều dưỡng, nhân viên hỗ trợ, y tế, dược sĩ, vật lý trị liệu và tình nguyện viên - hỗ trợ bệnh nhân và gia đình của họ [23] Như vậy nhân viên y tế nói chung và điều dưỡng nói riêng đóng vai trò rất quan trọng trong công tác chăm sóc giảm nhẹ Điều này đòi hỏi người điều dưỡng cần có kiến thức đúng và đầy đủ về chăm sóc giảm nhẹ Tuy nhiên một nghiên cứu đã thực hiện trên các sinh viên điều dưỡng tại các trường đại học Đông Nam Hoa Kỳ, kết quả nghiên cứu cho thấy điểm trung bình chăm sóc giảm nhẹ của sinh viên điều dưỡng đạt là 61% [12] Theo nghiên cứu tại Jordan
Trang 11năm 2014 đánh giá kiến thức về chăm sóc giảm nhẹ của điều dưỡng làm việc tại các bệnh viện ở Jordan cho thấy điều dưỡng ở đây có kiến thức về chăm sóc giảm nhẹ còn rất nhiều hạn chế cả về lý thuyết và thực hành chăm sóc giảm nhẹ, đa số trong
đó là những điều dưỡng không làm việc tại những khoa liên quan nhiều đến chăm sóc giảm nhẹ tại các bệnh viện [9] Một khảo sát cắt ngang về kiến thức chăm sóc giảm nhẹ của 363 điều dưỡng tại một bệnh viện đa chuyên khoa tại Ấn Độ cho thấy mức độ hiểu biết chung về CSGN của điều dưỡng là kém, đặc biệt là kiến thức về các vấn đề đau, khó thở [20]
Tại Việt Nam, có hơn một phần ba điều dưỡng được khảo sát không được đào tạo, giảng dạy về chăm sóc giảm nhẹ, tỷ lệ điều dưỡng có kiến thức và thái độ đúng
về chăm sóc giảm nhẹ là khá thấp [2] Nghiên cứu của Trịnh Thị My (2018) [6] cho thấy điểm trung bình kiến thức về chăm sóc giảm nhẹ của điều dưỡng ở mức thấp: 13,34 ± 1,91 trên tổng 30 (đạt 44,5% so với điểm tối đa) Nghiên cứu của Dương Minh Anh (2020) [1] chỉ ra 96,61 % điều dưỡng tham gia khảo sát có kiến thức về chăm sóc giảm nhẹ ở mức độ trung bình và thấp; 67% có thái độ trung bình; 2% điều dưỡng có thái độ không tích cực về chăm sóc giảm nhẹ Để có thêm nhiều bằng chứng khoa học về kiến thức, thái độ, thực hành chăm sóc giảm nhẹ của điều dưỡng, chúng tôi tiến hành nghiên cứu “Thực trạng kiến thức và thái độ về chăm sóc giảm nhẹ của điều dưỡng tại các khoa lâm sàng Bệnh viện Việt Nam - Thụy Điển Uông Bí, tỉnh Quảng Ninh năm 2022” với 2 mục tiêu sau:
1 Mô tả thực trạng kiến thức và thái độ về chăm sóc giảm nhẹ của điều dưỡng tại các khoa lâm sàng Bệnh viện Việt Nam - Thụy Điển Uông Bí năm 2022
2 Đề xuất một số giải pháp nhằm tăng cường kiến thức và thái độ về chăm sóc giảm nhẹ của điều dưỡng tại các khoa lâm sàng Bệnh viện Việt Nam - Thụy Điển Uông Bí năm 2022
Trang 12Theo Bộ Y tế Việt Nam [5]:
Chăm sóc giảm nhẹ là chuyên ngành chăm sóc, điều trị vận dụng những chứng
cứ tốt nhất hiện có nhằm ngăn ngừa và giảm nhẹ các đau khổ về thể chất, tâm lê, xã hội, hay tâm linh - mà người bệnh là người lớn hay trẻ em mắc bệnh nặng, nghiêm trọng, đang phải chịu đựng
Chăm sóc giảm nhẹ là quá trình chăm sóc lấy người bệnh làm trung tâm, đồng hành với người bệnh và gia đình người bệnh trong toàn bộ quá trình diễn biến của bệnh, kể cả giai đoạn cuối đời, nhằm đạt được chất lượng và giá trị cuộc sống cao nhất Đây là một cấu phần không thể thiếu của chăm sóc toàn diện cho người bệnh mắc các bệnh nặng, nghiêm trọng Do đó, người bệnh phải được tiếp cận dễ dàng với hình thức chăm sóc giảm nhẹ này tại cơ sở y tế ở tất cả các tuyến, đặc biệt tại nhà người bệnh
Đặc biệt, chăm sóc giảm nhẹ chuyên sâu cần được cung cấp tại các bệnh viện
đa khoa và chuyên khoa tuyến trên, các trung tâm ung thư lớn; chăm sóc giảm nhẹ mức độ trung gian/nâng cao là trách nhiệm của tất cả các bác sĩ nội khoa, bác sĩ gia đình, nhi khoa, ung bướu, huyết học và các chuyên ngành khác trong bệnh viện; và chăm sóc giảm nhẹ cơ bản nên được cung cấp bởi các nhân viên chăm sóc sức khỏe ban đầu trong cộng đồng
1.1.2 Nguyên tắc trong thực hiện chăm sóc giảm nhẹ [7]
Đối tượng nên được đánh giá chăm sóc giảm nhẹ:
- Tất cả bệnh nhân HIV/AIDS tiến triển hoặc ung thư
Trang 13Hỗ trợ GĐ khi cầnCHĂM SÓC GIẢM NHẸ
Chăm sóc cuối đời(hay hoàn thành các điều trị chữa bệnh)
Chẩn đoán
Điều trị thay đổi diễn tiến bệnh
- Tất cả bệnh nhân mắc những bệnh đe dọa đến tính mạng khác
- Bất kỳ bệnh nhân nào có thể qua đời trong vòng 6 tháng
- Khi liệu pháp điều trị đặc hiệu không còn hiệu quả, không khả thi và bệnh có
xu hướng ngày càng trở nên trầm trọng
- Bất kỳ bệnh nhân nào phải chịu đựng sự đau đớn, những triệu chứng thực thể khác, hoặc những vấn đề tâm lý xã hội mạn tính ở mức độ vừa đến nặng
Thời điểm chăm sóc giảm nhẹ nên được cung cấp:
Từ khi được chẩn đoán: đánh giá chăm sóc giảm nhẹ ban đầu cần được thực hiện ngay từ giai đoạn sớm của bệnh và nếu cần, can thiệp nên diễn ra vào thời điểm chẩn đoán hoặc sau đó càng sớm càng tốt
Xuyên suốt quá trình bị bệnh
Hình 1.1 Sơ đồ chăm sóc giảm nhẹ trong suốt diễn tiến bệnh [7]
Chăm sóc giảm nhẹ có thể áp dụng sớm trong thời gian điều trị bệnh cùng với những biện pháp điều trị đặc hiệu như: trị liệu kháng virus (ARV), hóa trị liệu hoặc điều trị phóng xạ ung thư
Chăm sóc giảm nhẹ có thể làm giảm hoặc làm dịu những tác dụng phụ của những phương pháp điều trị
Chăm sóc giảm nhẹ có thể thúc đẩy sự tuân thủ những liệu pháp điều trị:
- Tầm quan trọng của chăm sóc giảm nhẹ tăng lên khi liệu pháp điều trị đặc hiệu trở nên kém thích hợp, kém hiệu quả hoặc không khả thi
Tử vong
Trang 14- Cung cấp sự động viên, hỗ trợ cho người thân của người bệnh sau khi người bệnh qua đời
Đối tượng tham gia cung cấp chăm sóc giảm nhẹ
Một cách lý tưởng, chăm sóc giảm nhẹ cần được cung cấp bởi sự phân phối của một nhóm nhân viên đa ngành với người bệnh là trung tâm Nhóm chăm sóc này bao gồm :
- Nhân viên y tế: Bác sĩ (hoặc y sĩ ở một cơ sở), điều dưỡng, dược sĩ
- Nhân viên y tế cộng đồng: Thành viên trong gia đình, người chăm sóc (sẽ cần hỗ trợ về tâm lý xã hội và đào tạo); người hỗ trợ đồng đẳng và/hoặc người tự nguyện (có thể cần đào tạo); cán bộ xã hội; nhà sư/linh mục
1.1.3 Vai trò của chăm sóc giảm nhẹ
Theo báo cáo của Bộ y tế, mô hình bệnh tật ở Việt Nam đang là mô hình kép, trong đó song song các bệnh truyền nhiễm được đẩy lùi thì xu hướng mắc các bệnh không lây nhiễm ngày càng tăng cao bao gồm: ung thư, tim mạch, đái tháo đường, bệnh phổi tắc nghẽn mạn tính… Trong đó đáng lo ngại là sự gia tăng không ngừng của bệnh ung thư và HIV Cụ thể tại Việt Nam, ước tính mỗi năm có khoảng 150.000 ca mắc ung thư mới, 2.900 ca HIV mới, 70.000 người chết do ung thư và 1.700 người chết do HIV [7] Phần lớn những bệnh nhân này được chẩn đoán khi đã
ở giai đoạn muộn và phải trải qua những chịu đựng về thể chất, tâm lý và tinh thần
Vì vậy nhu cầu chăm sóc giảm nhẹ ở những người bệnh này là rất lớn Những người bệnh mắc bệnh mạn tính như COPD, đái tháo đường, tăng huyết áp nếu được chăm sóc giảm nhẹ và quản lý chăm sóc giảm nhẹ phù hợp sẽ giảm thời gian nằm tại ICU hơn những người bệnh không được chăm sóc giảm nhẹ [13] Trong sản khoa những thai phụ có nguy cơ nguy hiểm trong thời kỳ thai sản, nếu được chăm sóc giảm nhẹ
và theo dõi sát tình trạng sức khỏe thì giảm tỷ lệ trẻ sơ sinh dị tật ra đời, giảm nguy
cơ nguy hiểm cho cả mẹ và bé trong quá trình chuyển dạ, các vấn đề về cuộc sống của thai phụ sẽ tốt hơn những thai phụ không được chăm sóc giảm nhẹ [17] [7] Do vậy, người điều dưỡng cần được trang bị những kiến thức và kỹ năng về chăm sóc giảm nhẹ nhằm:
- Theo dõi và quản lý, làm dịu sự đau đớn và chịu đựng (nguyên tắc cơ bản nhất và mệnh lệnh lương tâm của người thầy thuốc)
Trang 15- Nâng cao tối đa chất lượng cuộc sống và phẩm giá của người bệnh cho đến lúc chết
- Giảm sự đau khổ về xã hội như nghèo khổ, cô lập và không nhà cửa
- Giảm sự đau khổ về tâm lý như mất sự tin tưởng hay tình yêu thương
- Giúp người bệnh duy trì được sự thanh thản và đảm bảo ước nguyện về nơi
ra đi của người bệnh được thực hiện
- Hỗ trợ gia đình đối phó với quá trình bệnh tật và sự mất mát người thân 1.1.4 Điều dưỡng trong chăm sóc giảm nhẹ [5]
Đánh giá điều dưỡng trong chăm sóc giảm nhẹ
Mỗi người bệnh có nhu cầu cần được chăm sóc giảm nhẹ nên được đánh giá bởi một điều dưỡng trong lần nhận bệnh nội trú hoặc ngoại trú đầu tiên
Các thành phần chính của đánh giá điều dưỡng chăm sóc giảm nhẹ gồm:
- Xem xét tiền sử y khoa từ bệnh án và người bệnh, bao gồm các bệnh chính
và các điều trị gần đây
- Đánh giá chức năng bằng cách sử dụng các thang đánh giá mức độ hoạt động chức năng Thang đo kết quả chăm sóc giảm nhẹ dành cho người Việt Nam (VietPOS) hoặc ECOG
- Đánh giá các triệu chứng thể chất và tâm lý
- Các loại thuốc hiện tại, bao gồm cả liều lượng và khoảng thời gian dùng
- Dị ứng thuốc
- Khám thể chất
- Nhận định các vấn đề của người bệnh
- Lập kế hoạch chăm sóc điều dưỡng
Biện hộ/lên tiếng vì lợi ích của người bệnh (health advocacy)
Điều dưỡng đóng vai trò quan trọng trong việc đảm bảo người bệnh nhận được
sự chăm sóc tốt nhất có thể bằng cách hỗ trợ các bác sĩ thấu hiểu nhu cầu của người bệnh và hỗ trợ người bệnh tiếp cận với sự chăm sóc tốt nhất
Người điều dưỡng có cơ hội tiếp xúc, chia sẻ với người bệnh và họ có thể truyền đạt cho bác sĩ nhiều thông tin quan trọng về tiền sử y khoa, các giá trị sống, hiểu biết về bệnh tật, hy vọng và nỗi sợ hãi của người bệnh
Trang 16- Nhiều người bệnh và gia đình không quen thuộc với hệ thống y tế và/hoặc không biết cách tìm kiếm hoặc yêu cầu sự chăm sóc mà họ cần Điều dưỡng có thể cung cấp, tư vấn hiệu quả để giúp người bệnh lựa chọn loại hình dịch vụ chăm sóc
- Trong các bệnh viện có dịch vụ tư vấn hội chẩn chăm sóc giảm nhẹ, các điều dưỡng có thể xác định người bệnh nào trong phòng bệnh của họ sẽ được hưởng lợi
từ dịch vụ chăm sóc giảm nhẹ
- Các điều dưỡng có vai trò quan trọng trong việc thông báo cho bác sĩ có trách nhiệm và nhóm làm việc khi triệu chứng (thể chất, tâm lý, xã hội, tâm linh) không được kiểm soát tốt
Liều cứu hộ morphin
Khi bác sĩ kê đơn thuốc opioid như morphin với liều cố định (theo giờ cố định) để giảm đau hoặc khó thở, trong hầu hết các trường hợp bác sĩ cũng kê đơn liều cứu hộ cho cơn đau hoặc khó thở đột xuất Trong bệnh viện, điều dưỡng có vai trò quan trọng trong quá trình chăm sóc:
- Nhận định kịp thời thời điểm khi nào người bệnh cần một liều cứu hộ morphin do đau hoặc khó thở và thông báo cho bác sĩ
- Cung cấp liều cứu hộ thwo chỉ định của bác sĩ và đánh giá hiệu quả giảm đau, giảm khó thở cũng như tác dụng không mong muốn nếu có sau mỗi liều cứu
Điều dưỡng thường giữ trách nhiệm chính trong việc chăm sóc vết thương kể
cả lành tính hoặc ác tính như thay băng, giảm áp lực lên các nền xương cứng, kiểm soát mùi hôi và trao đổi tình trạng vết thương với bác sĩ
Hỗ trợ cảm xúc cho người bệnh và người nhà
Điều dưỡng có vai trò quan trọng trong việc động viên, hỗ trợ cảm xúc cho những người bệnh đang sợ hãi, các thành viên gia đình của họ và giúp họ hiểu về tình trạng bệnh
Giáo dục sức khỏe cho người bệnh và người chăm sóc
Trang 17- Điều dưỡng cũng có vai trò quan trọng trong việc giáo dục sức khỏe cho người bệnh và/hoặc người chăm sóc của họ để đáp ứng các nhu cầu cụ thể của người bệnh, cả trong khi ở bệnh viện và đặc biệt là tại nhà
- Tại một số bệnh viện, điều dưỡng cung cấp thuốc của người bệnh cho người chăm sóc, sau đó chịu trách nhiệm cung cấp đúng liều lượng của từng loại thuốc cho người bệnh vào đúng thời điểm Điều dưỡng phải huấn luyện người chăm sóc
để thực hiện nhiệm vụ này đúng cách
- Trước khi xuất viện, điều dưỡng nên giáo dục người chăm sóc tất cả các nhiệm vụ cần thiết để chăm sóc người bệnh Có thể bao gồm: Tiêm thuốc; chăm sóc vết thương; tắm cho người bệnh; vệ sinh; cho người bệnh ăn các loại thực phẩm phù hợp và giảm thiểu rủi ro hít sặc; cung cấp dinh dưỡng qua ống mở dạ dày hoặc hỗng tràng ra da
1.2 Cơ sở thực tiễn
1.2.1 Kiến thức về chăm sóc giảm nhẹ
Các nghiên cứu trên thế giới
Một trong những yếu tố quan trọng ảnh hưởng đến việc cung cấp thành công dịch vụ chăm sóc sức khỏe giảm nhẹ là kiến thức, thái độ, niềm tin và kinh nghiệm của các chuyên gia chăm sóc sức khỏe, những yếu tố này quyết định không chỉ quy trình mà còn cả hành vi của họ trong quá trình đánh giá và điều trị bệnh nhân Sau khi các bác sĩ, các y tá là những thành viên có giá trị nhất trong nhóm chăm sóc giảm nhẹ giải quyết các khía cạnh thể chất, chức năng, xã hội và tinh thần của việc chăm sóc [16]
Các nghiên cứu đã ghi nhận rằng y tá và các chuyên gia chăm sóc sức khỏe khác không được chuẩn bị đầy đủ để chăm sóc bệnh nhân bị đau Một số lý do đã được xác định bao gồm giáo dục không đầy đủ, không có nội dung chương trình giảng dạy chính thức về chăm sóc giảm nhẹ, vì vậy dẫn đến sinh viên điều dưỡng thiếu kiến thức về chăm sóc giảm nhẹ [17] Về lâu dài có thể dẫn đến một hệ thống điều dưỡng trên thế giới nói chung và Việt Nam nói riêng sẽ không có kiến thức đầy
đủ và đúng về chăm sóc giảm nhẹ
Theo nghiên cứu tại Ireland vào năm 2016 cho thấy những điều dưỡng tham gia khóa đào tạo chăm sóc giảm nhẹ có kiến thưc tốt hơn nhiều so với những điều dưỡng không tham gia khóa đào tạo về chăm sóc giảm nhẹ [1] Những thách thức,
Trang 18hạn chế trong việc giáo dục, đào tạo điều dưỡng có kỹ năng trong chăm sóc giảm nhẹ là một phần của tổng quan, bao gồm các hạn chế về văn hóa và thái độ dành riêng cho chăm sóc giảm nhẹ của Singapore [1]
Một nghiên cứu được thực hiện tại Hàn Quốc vào năm 2013 chỉ ra rằng đào tạo chăm sóc giảm nhẹ cho điều dưỡng là cần thiết để nâng cao kiến thức, thái độ và thực hành về chăm sóc giảm nhẹ của điều dưỡng [1] Một nghiên cứu đã thực hiện trên các sinh viên điều dưỡng tại các trường đại học Đông Nam Hoa Kỳ, kết quả nghiên cứu cho thấy điểm trung bình chăm sóc giảm nhẹ của sinh viên điều dưỡng đạt là 61% và chỉ ra các chương trình đào tạo về chăm sóc giảm nhẹ là nền tảng cốt lõi để nâng cao kiến thức, thái độ và thực hành về chăm sóc giảm nhẹ của điều dưỡng [11] Những thách thức, hạn chế trong việc giáo dục, đào tạo điều dưỡng có
kỹ năng trong chăm sóc giảm nhẹ là một phần của tổng quan, bao gồm các hạn chế
về văn hóa và thái độ dành riêng cho chăm sóc giảm nhẹ của Singapore [1]
Theo nghiên cứu tại Jordan năm 2014 đánh giá kiến thức về chăm sóc giảm nhẹ của điều dưỡng làm việc tại các bệnh viện ở Jordan cho thấy điều dưỡng ở đây
có kiến thức về chăm sóc giảm nhẹ còn rất nhiều hạn chế cả về lý thuyết và thực hành chăm sóc giảm nhẹ, đa số trong đó là những điều dưỡng không làm việc tại những khoa liên quan nhiều đến chăm sóc giảm nhẹ tại các bệnh viện [10] Một khảo sát cắt ngang về kiến thức chăm sóc giảm nhẹ của 363 điều dưỡng tại một bệnh viện đa chuyên khoa tại Ấn Độ cho thấy mức độ hiểu biết chung về CSGN của điều dưỡng là kém, đặc biệt là kiến thức về các vấn đề đau, khó thở [23]
Tại Việt Nam
Bộ y tế đã ra Quyết định số 3483/QĐ-BYT về việc ban hành ‘Hướng dẫn chăm sóc giảm nhẹ đối với người bệnh ung thư và AIDS’ vào ngày 15/9/2006 Tới năm 2017 Bộ Y tế đã mở rộng đối tượng cần được chăm sóc giảm nhẹ thay cho quan điểm trước đó chỉ dừng lại ở người bệnh Ung thư và AIDS Mới nhất đây vào ngày 25/01/2022, Bộ Y tế đã ra Quyết định số 183/QĐ-BYT về việc ban hành hướng dẫn chăm sóc giảm nhẹ
Tại Việt Nam đã có nhiều nghiên cứu về chăm sóc giảm nhẹ Tuy nhiên đa số các nghiên cứu tập trung nhiều về nhu cầu chăm sóc giảm nhẹ của người bệnh, một
số ít nghiên cứu về kiến thức, thái độ và thực hành về chăm sóc giảm nhẹ của nhân viên y tế Cụ thể một nghiên cứu năm 2015 đã chỉ ra kiến thức, thái độ và nhận thức
Trang 19chăm sóc giảm nhẹ của điều dưỡng là khá thấp, có đến một phần ba điều dưỡng được khảo sát chưa từng được đào tạo về chăm sóc giảm nhẹ Cho tới thời điểm hiện tại tại Việt Nam chưa có một chương trình đào tạo quốc gia về chăm sóc giảm nhẹ, trong chương trình đào tạo tại các cơ sở y khoa cũng chưa có chương trình đào tạo đào tạo cho sinh viên về chăm sóc giảm nhẹ Nghiên cứu được thực hiện tại bệnh viện Kiến An, Hải Phòng năm 2018 cho thấy kiến thức về chăm sóc giảm nhẹ của điều dưỡng ở mức thấp và chỉ có 26,7% điều dưỡng đã được đào tạo về chăm sóc giảm nhẹ [3] Một nghiên cứu khác vào năm 2020 của tác giả Dương Minh Anh cũng chỉ ra rằng phần lớn điều dưỡng có kiến thức về chăm sóc giảm nhẹ ở mức độ trung bình chiếm 77,97% và 31% điều dưỡng có thái độ tích cực về chăm sóc giảm nhẹ [1]
1.2.2 Yếu tố liên quan đến kiến thức và thái độ chăm sóc giảm nhẹ của điều dưỡng
Kiến thức và thái độ về chăm sóc giảm nhẹ của điều dưỡng được rèn luyện qua học tập lý thuyết, tìm hiểu các tài liệu tham khảo về chăm sóc giảm nhẹ và thời gian thực hành chăm sóc giảm nhẹ tại lâm sàng [11] Vì vậy, những điều dưỡng có thời gian thực hành lâm sàng lâu năm sẽ có kiến thức và thái độ tốt hơn những điều dưỡng ít có kinh nghiệm Hay những khoa lâm sàng chuyên sâu về chăm sóc giảm nhẹ hoặc có thực hành chăm sóc giảm nhẹ nhiều, thường xuyên có đào tạo về chăm sóc giảm nhẹ thì điều dưỡng ở đó sẽ có kiến thức và thái độ về chăm sóc giảm nhẹ
từ trung bình đến tốt Ngược lại điều dưỡng tại các khoa lâm sàng không thực hành chăm sóc giảm nhẹ hoặc thực hành ít sẽ có kiến thức và thái độ về chăm sóc giảm nhẹ thấp hơn [9]
Trang 20Chương 2
MÔ TẢ VẤN ĐỀ CẦN GIẢI QUYẾT
2.1 Giới thiệu về Bệnh viện Việt Nam – Thụy Điển Uông Bí
Bệnh viện Việt Nam – Thụy Điển Uông Bí là bệnh viện đa khoa hạng I, là tuyến chuyên môn kỹ thuật cao của hệ thống y tế tỉnh Quảng Ninh, đáp ứng nhu cầu khám chữa bệnh và chăm sóc sức khỏe cho người dân thành phố Uông Bí và các vùng lân cận Đồng thời bệnh viện cũng là cơ sở thực hành cho sinh viên trường Đại học Điều dưỡng Nam Định và sinh viên trường Đại học Y dược Thái Bình Bệnh viện Việt Nam – Thụy Điển Uông Bí được thành lập rất sớm từ những năm 1981 Trải qua hơn 1 thế kỷ hình thành và phát triển, Bệnh viện Việt Nam – Thụy Điển Uông Bí đã khẳng định được vị thế của bản thân trong công tác khám, điều trị bệnh cho người dân Hàng ngày, bệnh viện tiếp nhận hàng trăm lượt khám bệnh
Về cơ cấu tổ chức, Bệnh viện hoạt động dưới sự lãnh đạo của Ban chấp hành Đảng ủy, Ban Giám đốc và 43 đơn vị trực thuộc gồm 34 khoa lâm sàng và cận lâm sàng, 7 phòng nghiệp vụ, 2 trung tâm
Các khoa lâm sàng của Bệnh viện Việt Nam – Thụy Điển Uông Bí là những chuyên khoa quan trọng có chức năng chẩn đoán, điều trị, tầm soát bệnh và cung cấp đầy đủ các dịch vụ chăm sóc y tế cần thiết cho người bệnh bao gồm: hoá trị, xạ trị, điều trị ngoại khoa, điều trị nội khoa, ; đồng thời giúp kiểm soát các cơn đau bằng chăm sóc giảm nhẹ Số lượng người bệnh điều trị nội trú tại bệnh viện dao động từ 800-1000 người bệnh với số nhân lực hiện có tại các khoa lâm sàng: 187 bác sĩ và 370 điều dưỡng, do đó các khoa lâm sàng của bệnh viện gặp rất nhiều khó khăn cho công tác chăm sóc nói chung, ảnh hưởng rất nhiều đến công tác chăm sóc giảm nhẹ của điều dưỡng
Trang 212.2 Đặc điểm chung về đối tượng nghiên cứu
2.1.1 Đặc điểm của đối tượng nghiên cứu
Bảng 2.1 Đặc điểm của đối tượng nghiên cứu (n=136)
- Về giới tính: điều dưỡng chủ yếu là nữ giới, chiếm tỷ lệ 86,8%
- Về độ tuổi: trong số 136 điều dưỡng tham gia nghiên cứu, điều dưỡng có tuổi thấp nhất là 24 tuổi, điều dưỡng tuổi cao nhất là 48 tuổi Tuổi trung bình là 34,11 ± 5,34 Lứa tuổi 31-40 tuổi chiếm tỷ lệ cao 52,9%
- Về trình độ chuyên môn: Phần lớn điều dưỡn có trình độ cao đẳng, chiếm 69,1%; chỉ có 1 điều dưỡng có trình độ trung cấp chiếm 0,7% Không có điều dưỡng nào trình độ sau đại học
- Về khoa công tác: Phần lớn điều dưỡng tham gia nghiên cứu làm việc tại các khoa hệ nội chiếm 69,1%; trong đó có 28,7% điều dưỡng tại các khoa liên quan nhiều tới CSGN
- Thời gian công tác: Đa số điều dưỡng có thời gian công tác tại bệnh viện trên
6 năm, trong đó có 41,2% điều dưỡng có thời gian làm việc trên 10 năm
Trang 222.2.2 Đặc điểm có liên quan đến chăm sóc giảm nhẹ
Bảng 2.2 Đặc điểm liên quan đến chăm sóc giảm nhẹ của ĐTNC (n=136)
2.3 Kiến thức về chăm sóc giảm nhẹ
2.3.1 Kiến thức về quản lý đau và các triệu chứng
Bảng 2.3 Tỷ lệ kiến thức về quản lý đau và các triệu chứng (n=136)
Liều dùng morphin cho người bệnh được xác định là liều thấp
nhất có thể giảm đau hoàn toàn hoặc giảm đau tới mức mà
người bệnh có thể chấp nhận được
115 (84,6%)
21 (15,4)
Tiến triển của bệnh quyết định phương pháp điều trị giảm đau 30
(22,1%)
106 (77,9%)
Sử dụng các liệu pháp hỗ trợ (VD: dược phẩm hỗ trợ, thuốc
chống trầm cảm, thuốc chống nôn hoặc các biện pháp không
dung thuốc: giáo dục sức khỏe, thư giãn) là quan trọng trong
kiểm soát đau
106 (77,9%)
30 (22,1%)
Trong những ngày cuối đời, tình trạng lơ mơ do rối loạn điện
giải có thể làm giảm nhu cầu sử dụng thuốc an thần
99 (72,8%)
37 (27,2%) Nghiện thuốc là vấn đề nghiêm trọng khi morphin được sử
dụng lâu dài để quản lý đau đối với người bệnh ung thư
20 (14,7%)
116 (85,3%)
Trang 23Nội dung Đúng Sai Người sử dụng opiodis cũng nên được kê đơn thuốc nhuận
tràng
100 (73,5%)
36 (26,5%) Trong giai đoạn cuối của bệnh, những loại thuốc có thể gây
ức chế hô hấp vẫn phù hợp để điều trị khó thở nặng
63 (46,3%)
73 (53,7%) Việc sử dụng giả dược là phù hợp trong điều trị một số loại
đau
40 (29,4%)
96 (70,6%) Khi sử dụng liều cao, codeine gây buồn nôn và nôn nhiều hơn
so với morphin
90 (66,2%)
46 (33,8%) Các biểu hiện của đau mạn tính khác với đau cấp tính 118
(86,8%)
18 (13,2%) Phương pháp điều trị đau tối ưu có thể khác nhau tùy thuộc
nền văn hóa và tín ngưỡng
39 (28,7%)
97 (71,3%) Một trong những can thiệp quan trọng nhất đối với điều trị
ngứa do bất kỳ nguyên nhân nào là đảm bảo các móng tay của
người bệnh được cắt rất ngắn
84 (61,8%)
52 (38,2%)
Lơ mơ do opioids sẽ biến mất sau vài ngày 80
(58,8%)
56 (41,2%) Morphine thường dẫn đến trạng thái phấn khích 26
(19,1%)
110 (80,9%)
Có liều tối đa opioids để giảm đau đối với mỗi người bệnh 34
(25%)
102 (75%) Sau một thời gian hiệu quả của liều cố định opioids có thể bị
suy giảm do sự dung nạp của opioids
117 (86%)
19 (14%) Morphine hiệu quả trong việc giảm cảm giác khó thở 49
(36%)
87 (64%) Trong quá trình điều trị thuốc hóa trị, người bệnh phải đậy
nắp bồn cầu rồi xả nước sau mỗi lần đi vệ sinh
112 (82,4%)
24 (17,6%) Trong quá trình điều trị thuốc hóa trị, quần áo người bệnh
phải được giặt tại nhà với nhiệt độ 60 C
54 (39,7%)
82 (60,3%) Xylocaine có thể dùng cho người bệnh bị loét ở miệng và
họng
76 (55,9%)
60 (44,1%)
(63,2%)
50 (36,8%)
Trang 24Nhận xét:
4 nội dung điều dưỡng có kiến thức đúng đạt tỷ lệ cao: ‘‘Liều dùng morphin cho người bệnh được xác định là liều thấp nhất có thể giảm đau hoàn toàn hoặc giảm đau tới mức mà người bệnh có thể chấp nhận được’’ (84,6%); ‘‘Các biểu hiện của đau mạn tính khác với đau cấp tính’’ (86,8%); ‘‘Sau một thời gian hiệu quả của liều cố định opioids có thể bị suy giảm do sự dung nạp của opioids’’ (86%) và 82,4% điều dưỡng đúng khi cho rằng ‘‘trong quá trình điều trị thuốc hóa trị, người bệnh phải đậy nắp bồn cầu rồi xả nước sau mỗi lần đi vệ sinh’’
2.3.2 Kiến thức các yếu tố cơ bản của chăm sóc giảm nhẹ
Bảng 2.4 Tỷ lệ kiến thức các yếu tố cơ bản của chăm sóc giảm nhẹ (n=136)
Chăm sóc giảm nhẹ thích hợp trong những tình huống có bằng
chứng cho thấy bệnh lý tiến triển xấu đi
58 (42,6%)
78 (57,4%) Các thành viên trong gia đình luôn phải bên giường bệnh cho
tới khi người bệnh qua đời là vô cùng cần thiết
26 (19,1%)
110 (80,9%) Thực hành chăm sóc giảm nhẹ đòi hỏi người điều dưỡng
không để cảm xúc ảnh hưởng đến công việc chăm sóc
18 (13,2%)
118 (86,8%) Chăm sóc giảm nhẹ có thể được phối hợp cùng lúc với điều trị
tích cực
130 (95,6%)
6 (4,4%)
Xạ trị là phương pháp thích hợp trong điều trị giảm nhẹ 64
(47,1%)
72 (52,9%)
Mệt mỏi là tác dụng phụ của tia xạ trong thời gian xạ trị 115
(84,6%)
21 (15,4%) Nhận xét:
2 nội dung điều dưỡng có kiến thức đúng đạt tỷ lệ cao nhất : Chăm sóc giảm nhẹ có thể được phối hợp cùng lúc với điều trị tích cực (95,6%); Mệt mỏi là tác dụng phụ của tia xạ trong thời gian xạ trị (84,6%)
Trang 252.3.3 Kiến thức về chăm sóc tâm lý và lĩnh vực tâm linh cho người bệnh
Bảng 2.5 Tỷ lệ kiến thức về chăm sóc tâm lý và tâm linh cho người bệnh (n=136)
Nam giới nói chung vượt qua sự mất mát nhanh hơn nữ giới 56
(41,2%)
80 (58,8%)
Sự tích tụ các mất mát khiến cho nhân viên chăm sóc giảm
nhẹ không tránh khỏi cảm thấy kiệt sức
108 (79,4%)
28 (20,6%)
Ngưỡng chịu đau có thể bị giảm do sự mệt mỏi và lo lắng 116
(85,3%)
20 (14,7%)
Cự tuyệt sự giúp đỡ luôn cho thấy rằng người chăm sóc
không chuyên (gia đình người bệnh) quá mệt mỏi
52 (38,2%)
84 (61,8%) Mối quan hệ giữa gia đình và người bệnh tạo nên những
gánh nặng chủ quan đối với các thành viên trong gia đình
93 (68,4%)
43 (31,6%)
Thuốc có thể là nguyên nhân gây trầm cảm 109
(80,1%)
27 (19,9%) Nỗi đau mất mát của một quan hệ họ hàng xa sẽ luôn dễ giải
quyết hơn nỗi đau mất mát của một quan hệ họ hàng gần gũi,
thân thiết
118 (86,8%)
18 (13,2%)
Nhận xét:
Phần lớn điều dưỡng có kiến thức đúng về chăm sóc tinh thần và lĩnh vực tâm linh của người bệnh, trong đó có tới 86,8% điều dưỡng đã nhận thức đúng khi cho rằng Nỗi đau mất mát của một quan hệ họ hàng xa sẽ luôn dễ giải quyết hơn nỗi đau mất mát của một quan hệ họ hàng gần gũi, thân thiết
2.3.4 Điểm trung bình kiến thức về CSGN của điều dưỡng
Để đánh giá kiến thức về CSGN của điều dưỡng chúng tôi sử dụng phương pháp cho điểm Đối với mỗi câu hỏi, nếu điều dưỡng trả lời đúng được 01 điểm, trả lời sai không cho điểm Cách quy đổi điểm cho từng lĩnh vực kiến thức và đánh giá chung cụ thể như sau:
Trang 26
Bảng 2.6 Cách tính điểm phần kiến thức
1 Quản lý đau và các triệu chứng 1 x 21 câu = 21 điểm
2 Các yếu tố cơ bản của chăm sóc giảm nhẹ 1 x 6 câu = 8 điểm
3 Chăm sóc tâm lý và lĩnh vực tâm linh cho người
bệnh
1 x 7 câu = 7 điểm
Bảng 2.7 Điểm trung bình kiến thức về CSGN của điều dưỡng (n=136)
Quản lý đau và các triệu chứng 11,31 ± 1,76 7,0 15,0 Các yếu tố cơ bản của chăm sóc giảm nhẹ 3,02 ± 1,11 0,0 5,0 Chăm sóc tâm lý và lĩnh vực tâm linh cho
2.3.5 Phân loại mức độ kiến thức về CSGN của điều dưỡng
Kiến thức về CSGN của điều dưỡng được phân thành 3 mức độ như sau:
- Mức 1: kiến thức tốt khi đạt ≥ 24 điểm
- Mức 2: Kiến thức mức độ trung bình khi đạt 17- 23 điểm
- Mức 3: Kiến thức yếu khi đạt ≤ 17 điểm
Trang 27Biểu đồ 2.1 Phân loại mức độ kiến thức về CSGN của điều dưỡng (n=136)
Nhận xét:
Phần lớn điều dưỡng có kiến thức về CSGN ở mức trung bình chiếm 86%, chỉ
có 1,5% điều dưỡng có kiến thức ở mức tốt
2.4 Thái độ về chăm sóc giảm nhẹ của điều dưỡng
Trong nghiên cứu của tôi có 5 mức độ đánh giá thái độ của điều dưỡng: rất không đồng ý, không đồng ý, không chắc chắn, đồng ý và rất đồng ý
Để thuận lợi cho việc xác định tỷ lệ thái độ của điều dưỡng về CSGN ở từng lĩnh vực, chúng tôi quy ước mức độ thái độ của điều dưỡng thành 3 nhóm:
- Nhóm 1: Đồng ý nếu điều dưỡng lựa chọn mức độ đồng ý và rất đồng ý
- Nhóm 2: Không chắc chắn
- Nhóm 3: Không đồng ý nếu điều dưỡng lựa chọn mức độ không đồng ý và rất không đồng ý
Trang 282.4.1 Thái độ của điều dưỡng về chăm người bệnh
Bảng 2.8 Tỷ lệ thái độ của điều dưỡng về chăm sóc người bệnh (n=136)
đồng ý
Không chắc chắn Đồng ý Chăm sóc người cận tử là một trải nghiệm đáng
giá
10 (7,4%)
28 (20,6%)
98 (72%) Cái chết không phải là điều tồi tệ nhất có thể xảy
đến cho một người
28 (20,6%)
23 (16,9%)
85 (62,5%) Tôi sẽ cảm thấy không thoải mái khi nói về cái
chết gần kề đối với một người sắp mất
30 (22,1%)
21 (15,4%)
84 (61,8%)
Tôi không muốn chăm sóc cho người cận tử 68
(50%)
43 (31,6%)
25 (18,4%) Điều dưỡng không nên trao đổi về cái chết với
người sắp mất
21 (15,5%)
32 (23,5%)
83 (61%) Quãng thời gian chăm sóc cho người cận tử làm
tôi cảm thấy khó chịu
70 (51,5%)
38 (27,9%)
28 (20,6%) Tôi sẽ buồn khi người cận tử mà tôi chăm sóc từ
bỏ hi vọng vào khả năng cải thiện tình trạng bệnh
của họ
7 ( 5,1%)
25 (18,4%)
104 (76,5%)
Thật sự là khó tạo lập được mối quan hệ gần gũi
với người cận tử
54 (39,7%)
33 (24,3%)
49 (36%)
Có những thời điểm mà người cận tử sẵn sàng đón
nhận cái chết
14 (10,3%)
19 (14%)
103 (75,7%) Khi người bệnh hỏi “tôi sắp chết phải không” tôi
nghĩ tốt nhất nên chuyển sang chủ đề vui hơn
10 (7,3%)
36 (26,5%)
90 (66,2%) Tôi hi vọng rằng tôi không phải chứng kiến sự ra
đi của người mà tôi đang chăm sóc
15 (11%)
24 (17,6%)
97 (71,4%)
Tôi lo sợ khi trở thành bạn của người sắp mất 59
(43,4%)
31 (22,8%)
46 (33,8%) Tôi có cảm giác muốn chạy trốn khi người bệnh
qua đời
74 (54,4%)
34 (25%)
28 (20,5%)
Trang 29Nội dung Không
đồng ý
Không chắc chắn Đồng ý Khi một người bệnh gần mất, người điều dưỡng
nên tham gia vào chăm sóc người bệnh
97 (71,3%)
19 (14%)
20 (14,7%) Người sắp mất không nên được đưa ra quyết định
về việc chăm sóc sức khỏe của họ
77 (56,7%)
30 (22,1%)
29 (21,3%) Việc nói lên những cảm xúc của bản thân thì sẽ có
lợi với người sắp mất
21 (15,4%)
39 (28,7%)
76 (55,9%) Nhân viên y tế nên tạo điều kiện cho người sắp
mất có lịch thăm nom linh hoạt
3 (2,2%)
22 (16,2%)
111 (81,6%) Nghiện thuốc giảm đau không phải là mối lo ngại
cho người bệnh
39 (28,6%)
50 (36,8%)
47 (34,5%) Tôi sẽ cảm thấy không thoải mái khi bước vào
phòng có người bệnh giai đoạn cuối và thấy họ
khóc
52 (38,2%)
42 (30,9%)
42 (30,9%)
Người sắp chết nên nhận được những câu trả lời
trung thực về tình trạng sức khỏe của họ
22 (16,2%)
54 (39,7%)
60 (44,1%) Điều dưỡng có thể hỗ trợ người bệnh chuẩn bị đón
nhận cái chết
5 (3,6%)
28 (20,6%)
103 (75,7%)
Nhận xét:
Phần lớn điều dưỡng có thái độ tích cực về CSGN cho người bệnh trong đó quan điểm được đồng ý cao nhất là: Nhân viên y tế nên tạo điều kiện cho người sắp mất có lịch thăm nom linh hoạt (81,6%) và 75,7% đồng ý cho rằng Điều dưỡng có thể hỗ trợ người bệnh chuẩn bị đón nhận cái chết
Trang 302.4.2 Thái độ của điều dưỡng về chăm sóc gia đình người bệnh
Bảng 2.9 Tỷ lệ thái độ của điều dưỡng về chăm sóc gia đình người bệnh (n=136)
đồng ý
Không chắc chăn
Đồng ý Chăm sóc gia đình người bệnh nên được tiếp tục
trong suốt giai đoạn đau buồn và mất người thân
23 (16,9%)
25 (18,4%)
88 (64,7%) Gia đình nên được tham gia vào việc chăm sóc cho
người bệnh sắp mất
1 (0,7%)
18 (13,2%)
117 (86%) Gia đình người bệnh cần sự hỗ trợ tinh thần để
chấp nhận sự thay đổi hành vi của người cận tử
0 (0%)
20 (14,7%)
116 (85,3%) Gia đình nên quan tâm tới việc giúp người sắp mất
tận dụng thời gian còn lại một cách giá trị nhất
9 (6,6%)
16 (11,8%)
111 (81,6%) Gia đình nên duy trì môi trường sống bình thường
nhất có thể đối với người sắp mất
1 (0,7%)
18 (13,2%)
117 (86,1%)
Sự chăm sóc của nhân viên y tế cần mở rộng tới cả
gia đình người bệnh, chứ không đơn thuần chỉ là
người bệnh
3 (2,2%)
22 (16,2%)
111 (81,6%)
Người bệnh và gia đình của họ là người đưa ra
quyết định trong chăm sóc giảm nhẹ
13 (9,6%)
27 (19,9%)
96 (70,6%) Giáo dục gia đình về cái chết và tiến trình chết
không phải là trách nhiệm của điều dưỡng
64 (47,1%)
29 (21,3%)
43 (31,6%) Những thành viên trong gia đình, gần gũi với
người sắp mất, thường can thiệp vào công tác
chuyên môn
46 (33,8%)
44 (32,4%)
46 (33,8%)
Nhận xét:
Phần lớn điều dưỡng có thái độ tích cực về CSGN cho gia đình người bệnh trong đó 2 quan điểm được đồng ý cao nhất là: Gia đình nên được tham gia vào việc chăm sóc cho người bệnh sắp mất và Gia đình nên duy trì môi trường sống bình thường nhất có thể đối với người sắp mất, đều đạt 86,1%