1. Trang chủ
  2. » Tất cả

Thực trạng kiến thức và thái độ về chăm sóc giảm nhẹ của điều dưỡng tại các khoa lâm sàng bệnh viện việt nam thụy điển uông bí tỉnh quảng ninh năm 2022

60 37 5
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Thực trạng kiến thức và thái độ về chăm sóc giảm nhẹ của điều dưỡng tại các khoa lâm sàng bệnh viện Việt Nam - Thụy Điển Uông Bí tỉnh Quảng Ninh năm 2022
Tác giả Trần Văn Sơn
Người hướng dẫn ThS.BS. Nguyễn Thị Thảo
Trường học Trường Đại Học Điều Dưỡng Nam Định
Chuyên ngành Chăm sóc giảm nhẹ
Thể loại Báo cáo chuyên đề tốt nghiệp
Năm xuất bản 2022
Thành phố Nam Định
Định dạng
Số trang 60
Dung lượng 789,88 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Cấu trúc

  • Chương 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN (0)
    • 1.1. Cơ sở lý luận (12)
      • 1.1.1. Định nghĩa (12)
      • 1.1.2. Nguyên tắc trong thực hiện chăm sóc giảm nhẹ (12)
      • 1.1.3. Vai trò của chăm sóc giảm nhẹ (14)
      • 1.1.4. Điều dưỡng trong chăm sóc giảm nhẹ (15)
    • 1.2. Cơ sở thực tiễn (17)
      • 1.2.1. Kiến thức về chăm sóc giảm nhẹ (17)
      • 1.2.2. Yếu tố liên quan đến kiến thức và thái độ chăm sóc giảm nhẹ của điều dưỡng (19)
  • Chương 2: MÔ TẢ VẤN ĐỀ CẦN GIẢI QUYẾT (0)
    • 2.1. Giới thiệu về Bệnh viện Việt Nam – Thụy Điển Uông Bí (20)
    • 2.2. Đặc điểm chung về đối tượng nghiên cứu (21)
      • 2.1.1. Đặc điểm của đối tượng nghiên cứu (21)
      • 2.2.2 Đặc điểm có liên quan đến chăm sóc giảm nhẹ (22)
    • 2.3. Kiến thức về chăm sóc giảm nhẹ (22)
      • 2.3.1. Kiến thức về quản lý đau và các triệu chứng (22)
      • 2.3.2. Kiến thức các yếu tố cơ bản của chăm sóc giảm nhẹ (24)
      • 2.3.3. Kiến thức về chăm sóc tâm lý và lĩnh vực tâm linh cho người bệnh (25)
      • 2.3.4. Điểm trung bình kiến thức về CSGN của điều dưỡng (25)
      • 2.3.5. Phân loại mức độ kiến thức về CSGN của điều dưỡng (26)
    • 2.4. Thái độ về chăm sóc giảm nhẹ của điều dưỡng (27)
      • 2.4.1. Thái độ của điều dưỡng về chăm người bệnh (28)
      • 2.4.2. Thái độ của điều dưỡng về chăm sóc gia đình người bệnh (30)
      • 2.4.3. Điểm trung bình thái độ về CSGN của điều dưỡng (31)
      • 2.4.4. Phân loại thái độ của điều dưỡng về CSGN (32)
    • 2.5. Một số yếu tố liên quan tới kiến thức và thái độ của điều dưỡng về CSGN (33)
      • 2.5.1. Một số yếu tố liên quan tới kiến thức của điều dưỡng về CSGN (33)
      • 2.5.2. Một số yếu tố liên quan tới thái độ của điều dưỡng về CSGN (34)
  • Chương 3: BÀN LUẬN (0)
    • 3.1. Thực trạng kiến thức và thái độ về CSGN của điều dưỡng (35)
      • 3.1.1. Đặc điểm của đối tượng nghiên cứu (35)
      • 3.1.2. Kiến thức về chăm sóc giảm nhẹ của điều dưỡng (36)
      • 3.1.3. Thái độ của điều dưỡng về chăm sóc giảm nhẹ (39)
      • 3.1.4. Mối tương quan giữa 1 số yếu tố và kiến thức, thái độ về CSGN của điều dưỡng (40)
    • 3.2. Đề xuất giải pháp (41)
  • KẾT LUẬN (45)

Nội dung

Microsoft Word TRẦN VćN SÆ€N BỘ Y TẾ TRƯỜNG ĐẠI HỌC ĐIỀU DƯỠNG NAM ĐỊNH TRẦN VĂN SƠN THỰC TRẠNG KIẾN THỨC VÀ THÁI ĐỘ VỀ CHĂM SÓC GIẢM NHẸ CỦA ĐIỀU DƯỠNG TẠI CÁC KHOA LÂM SÀNG BỆNH VIỆN VIỆT NAM THỤ[.]

Trang 1

TRƯỜNG ĐẠI HỌC ĐIỀU DƯỠNG NAM ĐỊNH

TRẦN VĂN SƠN

THỰC TRẠNG KIẾN THỨC VÀ THÁI ĐỘ VỀ CHĂM SÓC GIẢM NHẸ CỦA ĐIỀU DƯỠNG TẠI CÁC KHOA LÂM SÀNG

BỆNH VIỆN VIỆT NAM - THỤY ĐIỂN UÔNG BÍ

TỈNH QUẢNG NINH NĂM 2022

BÁO CÁO CHUYÊN ĐỀ TỐT NGHIỆP

NAM ĐỊNH – 2022

Trang 2

TRƯỜNG ĐẠI HỌC ĐIỀU DƯỠNG NAM ĐỊNH

TRẦN VĂN SƠN

THỰC TRẠNG KIẾN THỨC VÀ THÁI ĐỘ VỀ CHĂM SÓC GIẢM NHẸ CỦA ĐIỀU DƯỠNG TẠI CÁC KHOA LÂM SÀNG

BỆNH VIỆN VIỆT NAM - THỤY ĐIỂN UÔNG BÍ

TỈNH QUẢNG NINH NĂM 2022

Chuyên ngành: Điều dưỡng Nội người lớn

BÁO CÁO CHUYÊN ĐỀ TỐT NGHIỆP

GIẢNG VIÊN HƯỚNG DẪN:

ThS.BS NGUYỄN THỊ THẢO

NAM ĐỊNH – 2022

Trang 3

LỜI CẢM ƠN

Trước hết, tôi xin chân thành bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc đến ThS.Bác sĩ Nguyễn Thị Thảo, người đã hết lòng giúp đỡ và tạo mọi điều kiện tốt nhất cho tôi hoàn thành chuyên đề tốt nghiệp này

Tôi xin gửi lời cảm ơn chân thành nhất tới Ban Giám hiệu trường Đại học Điều Dưỡng Nam Định, các thầy cô giáo trong toàn trường đã tận tình hỗ trợ, truyền đạt những kiến thức quý báu cho tôi trong suốt quá trình học tập nghiên cứu

và thực hiện chuyên đề

Tôi cũng xin gửi lời tri ân đến các Điều dưỡng tại các khoa lâm sàng Bệnh viện Việt Nam – Thụy Điển Uông Bí đã không ngừng hỗ trợ và tạo mọi điều kiện

để tôi hoàn thành tốt nhất chuyên đề này

Đồng thời, tôi xin cảm ơn gia đình, bạn bè, những người đã luôn ở bên cạnh động viên, khích lệ tôi trong suốt quá trình học tập, nghiên cứu

Với sự nỗ lực hết sức của bản thân tôi đã cố gắng hoàn thành chuyên đề tốt nghiệp với nội dung đầy đủ, sâu sắc Tuy nhiên, do hạn chế về nhận thức và thời gian nghiên cứu, chuyên đề chắc chắn sẽ không tránh khỏi những thiếu sót Tôi rất mong nhận được sự chỉ bảo, góp ý của quý thầy cô giáo và các bạn để khóa luận được hoàn thiện hơn

Xin trân trọng cảm ơn!

Nam Định, ngày 15 tháng 8 năm 2022

Học viên

Trần Văn Sơn

Trang 4

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan chuyên đề “Thực trạng kiến thức và thái độ về chăm sóc giảm nhẹ của điều dưỡng tại các khoa lâm sàng bệnh viện Việt Nam – Thụy Điển Uông Bí, tỉnh Quảng Ninh năm 2022” là công trình nghiên cứu cá nhân của tôi trong thời gian qua Mọi số liệu sử dụng phân tích trong chuyên đề và kết quả nghiên cứu là do tôi tự tìm hiểu, phân tích một cách khách quan, trung thực, có nguồn gốc rõ ràng và chưa được công bố dưới bất kỳ hình thức nào

Tôi xin chịu hoàn toàn trách nhiệm nếu có sự không trung thực trong thông tin

sử dụng trong công trình nghiên cứu này

Nam Định, ngày 15 tháng 6 năm 2022

Học viên

Trần Văn Sơn

Trang 5

MỤC LỤC

LỜI CẢM ƠN i

LỜI CAM ĐOAN ii

MỤC LỤC iii

DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT v

DANH MỤC CÁC BẢNG vi

DANH MỤC CÁC HÌNH, BIỂU ĐỒ vii

ĐẶT VẤN ĐỀ 1

Chương 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN 3

1.1 Cơ sở lý luận 3

1.1.1 Định nghĩa 3

1.1.2 Nguyên tắc trong thực hiện chăm sóc giảm nhẹ 3

1.1.3 Vai trò của chăm sóc giảm nhẹ 5

1.1.4 Điều dưỡng trong chăm sóc giảm nhẹ 6

1.2 Cơ sở thực tiễn 8

1.2.1 Kiến thức về chăm sóc giảm nhẹ 8

1.2.2 Yếu tố liên quan đến kiến thức và thái độ chăm sóc giảm nhẹ của điều dưỡng 10

Chương 2: MÔ TẢ VẤN ĐỀ CẦN GIẢI QUYẾT 11

2.1 Giới thiệu về Bệnh viện Việt Nam – Thụy Điển Uông Bí 11

2.2 Đặc điểm chung về đối tượng nghiên cứu 12

2.1.1 Đặc điểm của đối tượng nghiên cứu 12

2.2.2 Đặc điểm có liên quan đến chăm sóc giảm nhẹ 13

2.3 Kiến thức về chăm sóc giảm nhẹ 13

2.3.1 Kiến thức về quản lý đau và các triệu chứng 13

2.3.2 Kiến thức các yếu tố cơ bản của chăm sóc giảm nhẹ 15

2.3.3 Kiến thức về chăm sóc tâm lý và lĩnh vực tâm linh cho người bệnh 16

2.3.4 Điểm trung bình kiến thức về CSGN của điều dưỡng 16

2.3.5 Phân loại mức độ kiến thức về CSGN của điều dưỡng 17

2.4 Thái độ về chăm sóc giảm nhẹ của điều dưỡng 18

2.4.1 Thái độ của điều dưỡng về chăm người bệnh 19

Trang 6

2.4.2 Thái độ của điều dưỡng về chăm sóc gia đình người bệnh 21

2.4.3 Điểm trung bình thái độ về CSGN của điều dưỡng 22

2.4.4 Phân loại thái độ của điều dưỡng về CSGN 23

2.5 Một số yếu tố liên quan tới kiến thức và thái độ của điều dưỡng về CSGN 24

2.5.1 Một số yếu tố liên quan tới kiến thức của điều dưỡng về CSGN 24

2.5.2 Một số yếu tố liên quan tới thái độ của điều dưỡng về CSGN 25

Chương 3: BÀN LUẬN 26

3.1 Thực trạng kiến thức và thái độ về CSGN của điều dưỡng 26

3.1.1 Đặc điểm của đối tượng nghiên cứu 26

3.1.2 Kiến thức về chăm sóc giảm nhẹ của điều dưỡng 27

3.1.3 Thái độ của điều dưỡng về chăm sóc giảm nhẹ 30

3.1.4 Mối tương quan giữa 1 số yếu tố và kiến thức, thái độ về CSGN của điều dưỡng 31

3.2 Đề xuất giải pháp 32

KẾT LUẬN 36

ĐỀ XUẤT GIẢI PHÁP 37 TÀI LIỆU THAM KHẢO

Phụ lục 1: PHIẾU ĐIỀU TRA

Phụ lục 2: DANH SÁCH LẤY SỐ LIỆU

Phụ lục 3: DANH SÁCH ĐIỀU DƯỠNG THAM GIA NGHIÊN CỨU

Trang 7

DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT

CSGN - Chăm sóc giảm nhẹ WHO - Tổ chức Y tế thế giới COPD - Bệnh phổi tắc nghẽn mạn tính

Trang 8

DANH MỤC CÁC BẢNG

Bảng 2.1 Đặc điểm của đối tượng nghiên cứu 12

Bảng 2.2 Đặc điểm liên quan đến chăm sóc giảm nhẹ của ĐTNC 13

Bảng 2.3 Tỷ lệ kiến thức về quản lý đau và các triệu chứng 13

Bảng 2.4 Tỷ lệ kiến thức các yếu tố cơ bản của chăm sóc giảm nhẹ 15

Bảng 2.5 Tỷ lệ kiến thức về chăm sóc tâm lý và tâm linh cho người bệnh 16

Bảng 2.6 Cách tính điểm phần kiến thức 17

Bảng 2.7 Điểm trung bình kiến thức về CSGN của điều dưỡng 17

Bảng 2.8 Tỷ lệ thái độ của điều dưỡng về chăm sóc người bệnh 19

Bảng 2.9 Tỷ lệ thái độ của điều dưỡng về chăm sóc gia đình người bệnh 21

Bảng 2.10 Cách tính điểm các mục của phần thái độ 22

Bảng 2.11 Điểm trung bình thái độ về CSGN của điều dưỡng 22

Bảng 2.12 Một số yếu tố liên quan tới kiến thức của điều dưỡng về CSGN 24

Bảng 2.13 Mối liên quan giữa 1 số yếu tố với thái độ của điều dưỡng về CSGN 25

Trang 9

DANH MỤC CÁC HÌNH, BIỂU ĐỒ

Hình 1.1 Sơ đồ chăm sóc giảm nhẹ trong suốt diễn tiến bệnh 4

Biểu đồ 2.1 Phân loại mức độ kiến thức về CSGN của điều dưỡng 18 Biểu đồ 2.2 Phân loại thái độ của điều dưỡng về CSGN 23

Trang 10

ĐẶT VẤN ĐỀ

Theo Tổ chức Y tế Thế giới (WHO): Chăm sóc giảm nhẹ là hoạt động nhằm cải thiện chất lượng cuộc sống của người bệnh và gia đình người bệnh, những người đang đối mặt với những vấn đề liên quan tới sự ốm đau đe dọa đến tính mạng, thông qua sự ngăn ngừa và làm giảm gánh nặng họ chịu đựng bằng cách nhận biết sớm, đánh giá toàn diện và điều trị đau và các vấn đề khác, thể lực, tâm lý xã hội và tâm linh [22]

Mỗi năm ước tính có khoảng 40 triệu người cần được chăm sóc giảm nhẹ, 78% trong số đó sống ở các nước có thu nhập thấp và trung bình tuy nhiên chỉ có 14% được chăm sóc Các báo cáo trên toàn thế giới dự báo rằng nhu cầu về chăm sóc giảm nhẹ sẽ leo thang trong vài thập kỷ tới, do nhân khẩu học thay đổi, quỹ đạo bệnh dài hơn và tỷ lệ mắc bệnh cao hơn [21]

Chăm sóc giảm nhẹ là cần thiết cho nhiều loại bệnh Đa số người trưởng thành cần được chăm sóc giảm nhẹ mắc các bệnh mãn tính như tim mạch (38,5%), ung thư (34%), bệnh hô hấp mãn tính (10,3%), AIDS (5,7%) và tiểu đường (4,6%) Nhiều tình trạng khác có thể cần chăm sóc giảm nhẹ, bao gồm suy thận, bệnh gan mãn tính, bệnh đa xơ cứng, bệnh Parkinson, viêm khớp dạng thấp, bệnh thần kinh,

sa sút trí tuệ, dị tật bẩm sinh và bệnh lao kháng thuốc [23] Theo một cuộc khảo sát của WHO liên quan đến các bệnh không lây nhiễm được thực hiện ở 194 quốc gia thành viên vào năm 2019: kinh phí cho chăm sóc giảm nhẹ được cung cấp ở 68% quốc gia và chỉ 40% quốc gia báo cáo rằng các dịch vụ này đã tiếp cận được ít nhất một nửa số bệnh nhân có nhu cầu [22]

Chăm sóc giảm nhẹ bao gồm một loạt các dịch vụ được cung cấp bởi một loạt các chuyên gia mà tất cả đều có vai trò quan trọng như nhau, bao gồm: bác sĩ, điều dưỡng, nhân viên hỗ trợ, y tế, dược sĩ, vật lý trị liệu và tình nguyện viên - hỗ trợ bệnh nhân và gia đình của họ [23] Như vậy nhân viên y tế nói chung và điều dưỡng nói riêng đóng vai trò rất quan trọng trong công tác chăm sóc giảm nhẹ Điều này đòi hỏi người điều dưỡng cần có kiến thức đúng và đầy đủ về chăm sóc giảm nhẹ Tuy nhiên một nghiên cứu đã thực hiện trên các sinh viên điều dưỡng tại các trường đại học Đông Nam Hoa Kỳ, kết quả nghiên cứu cho thấy điểm trung bình chăm sóc giảm nhẹ của sinh viên điều dưỡng đạt là 61% [12] Theo nghiên cứu tại Jordan

Trang 11

năm 2014 đánh giá kiến thức về chăm sóc giảm nhẹ của điều dưỡng làm việc tại các bệnh viện ở Jordan cho thấy điều dưỡng ở đây có kiến thức về chăm sóc giảm nhẹ còn rất nhiều hạn chế cả về lý thuyết và thực hành chăm sóc giảm nhẹ, đa số trong

đó là những điều dưỡng không làm việc tại những khoa liên quan nhiều đến chăm sóc giảm nhẹ tại các bệnh viện [9] Một khảo sát cắt ngang về kiến thức chăm sóc giảm nhẹ của 363 điều dưỡng tại một bệnh viện đa chuyên khoa tại Ấn Độ cho thấy mức độ hiểu biết chung về CSGN của điều dưỡng là kém, đặc biệt là kiến thức về các vấn đề đau, khó thở [20]

Tại Việt Nam, có hơn một phần ba điều dưỡng được khảo sát không được đào tạo, giảng dạy về chăm sóc giảm nhẹ, tỷ lệ điều dưỡng có kiến thức và thái độ đúng

về chăm sóc giảm nhẹ là khá thấp [2] Nghiên cứu của Trịnh Thị My (2018) [6] cho thấy điểm trung bình kiến thức về chăm sóc giảm nhẹ của điều dưỡng ở mức thấp: 13,34 ± 1,91 trên tổng 30 (đạt 44,5% so với điểm tối đa) Nghiên cứu của Dương Minh Anh (2020) [1] chỉ ra 96,61 % điều dưỡng tham gia khảo sát có kiến thức về chăm sóc giảm nhẹ ở mức độ trung bình và thấp; 67% có thái độ trung bình; 2% điều dưỡng có thái độ không tích cực về chăm sóc giảm nhẹ Để có thêm nhiều bằng chứng khoa học về kiến thức, thái độ, thực hành chăm sóc giảm nhẹ của điều dưỡng, chúng tôi tiến hành nghiên cứu “Thực trạng kiến thức và thái độ về chăm sóc giảm nhẹ của điều dưỡng tại các khoa lâm sàng Bệnh viện Việt Nam - Thụy Điển Uông Bí, tỉnh Quảng Ninh năm 2022” với 2 mục tiêu sau:

1 Mô tả thực trạng kiến thức và thái độ về chăm sóc giảm nhẹ của điều dưỡng tại các khoa lâm sàng Bệnh viện Việt Nam - Thụy Điển Uông Bí năm 2022

2 Đề xuất một số giải pháp nhằm tăng cường kiến thức và thái độ về chăm sóc giảm nhẹ của điều dưỡng tại các khoa lâm sàng Bệnh viện Việt Nam - Thụy Điển Uông Bí năm 2022

Trang 12

Theo Bộ Y tế Việt Nam [5]:

Chăm sóc giảm nhẹ là chuyên ngành chăm sóc, điều trị vận dụng những chứng

cứ tốt nhất hiện có nhằm ngăn ngừa và giảm nhẹ các đau khổ về thể chất, tâm lê, xã hội, hay tâm linh - mà người bệnh là người lớn hay trẻ em mắc bệnh nặng, nghiêm trọng, đang phải chịu đựng

Chăm sóc giảm nhẹ là quá trình chăm sóc lấy người bệnh làm trung tâm, đồng hành với người bệnh và gia đình người bệnh trong toàn bộ quá trình diễn biến của bệnh, kể cả giai đoạn cuối đời, nhằm đạt được chất lượng và giá trị cuộc sống cao nhất Đây là một cấu phần không thể thiếu của chăm sóc toàn diện cho người bệnh mắc các bệnh nặng, nghiêm trọng Do đó, người bệnh phải được tiếp cận dễ dàng với hình thức chăm sóc giảm nhẹ này tại cơ sở y tế ở tất cả các tuyến, đặc biệt tại nhà người bệnh

Đặc biệt, chăm sóc giảm nhẹ chuyên sâu cần được cung cấp tại các bệnh viện

đa khoa và chuyên khoa tuyến trên, các trung tâm ung thư lớn; chăm sóc giảm nhẹ mức độ trung gian/nâng cao là trách nhiệm của tất cả các bác sĩ nội khoa, bác sĩ gia đình, nhi khoa, ung bướu, huyết học và các chuyên ngành khác trong bệnh viện; và chăm sóc giảm nhẹ cơ bản nên được cung cấp bởi các nhân viên chăm sóc sức khỏe ban đầu trong cộng đồng

1.1.2 Nguyên tắc trong thực hiện chăm sóc giảm nhẹ [7]

 Đối tượng nên được đánh giá chăm sóc giảm nhẹ:

- Tất cả bệnh nhân HIV/AIDS tiến triển hoặc ung thư

Trang 13

Hỗ trợ GĐ khi cầnCHĂM SÓC GIẢM NHẸ

Chăm sóc cuối đời(hay hoàn thành các điều trị chữa bệnh)

Chẩn đoán

Điều trị thay đổi diễn tiến bệnh

- Tất cả bệnh nhân mắc những bệnh đe dọa đến tính mạng khác

- Bất kỳ bệnh nhân nào có thể qua đời trong vòng 6 tháng

- Khi liệu pháp điều trị đặc hiệu không còn hiệu quả, không khả thi và bệnh có

xu hướng ngày càng trở nên trầm trọng

- Bất kỳ bệnh nhân nào phải chịu đựng sự đau đớn, những triệu chứng thực thể khác, hoặc những vấn đề tâm lý xã hội mạn tính ở mức độ vừa đến nặng

 Thời điểm chăm sóc giảm nhẹ nên được cung cấp:

Từ khi được chẩn đoán: đánh giá chăm sóc giảm nhẹ ban đầu cần được thực hiện ngay từ giai đoạn sớm của bệnh và nếu cần, can thiệp nên diễn ra vào thời điểm chẩn đoán hoặc sau đó càng sớm càng tốt

Xuyên suốt quá trình bị bệnh

Hình 1.1 Sơ đồ chăm sóc giảm nhẹ trong suốt diễn tiến bệnh [7]

Chăm sóc giảm nhẹ có thể áp dụng sớm trong thời gian điều trị bệnh cùng với những biện pháp điều trị đặc hiệu như: trị liệu kháng virus (ARV), hóa trị liệu hoặc điều trị phóng xạ ung thư

Chăm sóc giảm nhẹ có thể làm giảm hoặc làm dịu những tác dụng phụ của những phương pháp điều trị

Chăm sóc giảm nhẹ có thể thúc đẩy sự tuân thủ những liệu pháp điều trị:

- Tầm quan trọng của chăm sóc giảm nhẹ tăng lên khi liệu pháp điều trị đặc hiệu trở nên kém thích hợp, kém hiệu quả hoặc không khả thi

Tử vong

Trang 14

- Cung cấp sự động viên, hỗ trợ cho người thân của người bệnh sau khi người bệnh qua đời

 Đối tượng tham gia cung cấp chăm sóc giảm nhẹ

Một cách lý tưởng, chăm sóc giảm nhẹ cần được cung cấp bởi sự phân phối của một nhóm nhân viên đa ngành với người bệnh là trung tâm Nhóm chăm sóc này bao gồm :

- Nhân viên y tế: Bác sĩ (hoặc y sĩ ở một cơ sở), điều dưỡng, dược sĩ

- Nhân viên y tế cộng đồng: Thành viên trong gia đình, người chăm sóc (sẽ cần hỗ trợ về tâm lý xã hội và đào tạo); người hỗ trợ đồng đẳng và/hoặc người tự nguyện (có thể cần đào tạo); cán bộ xã hội; nhà sư/linh mục

1.1.3 Vai trò của chăm sóc giảm nhẹ

Theo báo cáo của Bộ y tế, mô hình bệnh tật ở Việt Nam đang là mô hình kép, trong đó song song các bệnh truyền nhiễm được đẩy lùi thì xu hướng mắc các bệnh không lây nhiễm ngày càng tăng cao bao gồm: ung thư, tim mạch, đái tháo đường, bệnh phổi tắc nghẽn mạn tính… Trong đó đáng lo ngại là sự gia tăng không ngừng của bệnh ung thư và HIV Cụ thể tại Việt Nam, ước tính mỗi năm có khoảng 150.000 ca mắc ung thư mới, 2.900 ca HIV mới, 70.000 người chết do ung thư và 1.700 người chết do HIV [7] Phần lớn những bệnh nhân này được chẩn đoán khi đã

ở giai đoạn muộn và phải trải qua những chịu đựng về thể chất, tâm lý và tinh thần

Vì vậy nhu cầu chăm sóc giảm nhẹ ở những người bệnh này là rất lớn Những người bệnh mắc bệnh mạn tính như COPD, đái tháo đường, tăng huyết áp nếu được chăm sóc giảm nhẹ và quản lý chăm sóc giảm nhẹ phù hợp sẽ giảm thời gian nằm tại ICU hơn những người bệnh không được chăm sóc giảm nhẹ [13] Trong sản khoa những thai phụ có nguy cơ nguy hiểm trong thời kỳ thai sản, nếu được chăm sóc giảm nhẹ

và theo dõi sát tình trạng sức khỏe thì giảm tỷ lệ trẻ sơ sinh dị tật ra đời, giảm nguy

cơ nguy hiểm cho cả mẹ và bé trong quá trình chuyển dạ, các vấn đề về cuộc sống của thai phụ sẽ tốt hơn những thai phụ không được chăm sóc giảm nhẹ [17] [7] Do vậy, người điều dưỡng cần được trang bị những kiến thức và kỹ năng về chăm sóc giảm nhẹ nhằm:

- Theo dõi và quản lý, làm dịu sự đau đớn và chịu đựng (nguyên tắc cơ bản nhất và mệnh lệnh lương tâm của người thầy thuốc)

Trang 15

- Nâng cao tối đa chất lượng cuộc sống và phẩm giá của người bệnh cho đến lúc chết

- Giảm sự đau khổ về xã hội như nghèo khổ, cô lập và không nhà cửa

- Giảm sự đau khổ về tâm lý như mất sự tin tưởng hay tình yêu thương

- Giúp người bệnh duy trì được sự thanh thản và đảm bảo ước nguyện về nơi

ra đi của người bệnh được thực hiện

- Hỗ trợ gia đình đối phó với quá trình bệnh tật và sự mất mát người thân 1.1.4 Điều dưỡng trong chăm sóc giảm nhẹ [5]

 Đánh giá điều dưỡng trong chăm sóc giảm nhẹ

Mỗi người bệnh có nhu cầu cần được chăm sóc giảm nhẹ nên được đánh giá bởi một điều dưỡng trong lần nhận bệnh nội trú hoặc ngoại trú đầu tiên

Các thành phần chính của đánh giá điều dưỡng chăm sóc giảm nhẹ gồm:

- Xem xét tiền sử y khoa từ bệnh án và người bệnh, bao gồm các bệnh chính

và các điều trị gần đây

- Đánh giá chức năng bằng cách sử dụng các thang đánh giá mức độ hoạt động chức năng Thang đo kết quả chăm sóc giảm nhẹ dành cho người Việt Nam (VietPOS) hoặc ECOG

- Đánh giá các triệu chứng thể chất và tâm lý

- Các loại thuốc hiện tại, bao gồm cả liều lượng và khoảng thời gian dùng

- Dị ứng thuốc

- Khám thể chất

- Nhận định các vấn đề của người bệnh

- Lập kế hoạch chăm sóc điều dưỡng

 Biện hộ/lên tiếng vì lợi ích của người bệnh (health advocacy)

Điều dưỡng đóng vai trò quan trọng trong việc đảm bảo người bệnh nhận được

sự chăm sóc tốt nhất có thể bằng cách hỗ trợ các bác sĩ thấu hiểu nhu cầu của người bệnh và hỗ trợ người bệnh tiếp cận với sự chăm sóc tốt nhất

Người điều dưỡng có cơ hội tiếp xúc, chia sẻ với người bệnh và họ có thể truyền đạt cho bác sĩ nhiều thông tin quan trọng về tiền sử y khoa, các giá trị sống, hiểu biết về bệnh tật, hy vọng và nỗi sợ hãi của người bệnh

Trang 16

- Nhiều người bệnh và gia đình không quen thuộc với hệ thống y tế và/hoặc không biết cách tìm kiếm hoặc yêu cầu sự chăm sóc mà họ cần Điều dưỡng có thể cung cấp, tư vấn hiệu quả để giúp người bệnh lựa chọn loại hình dịch vụ chăm sóc

- Trong các bệnh viện có dịch vụ tư vấn hội chẩn chăm sóc giảm nhẹ, các điều dưỡng có thể xác định người bệnh nào trong phòng bệnh của họ sẽ được hưởng lợi

từ dịch vụ chăm sóc giảm nhẹ

- Các điều dưỡng có vai trò quan trọng trong việc thông báo cho bác sĩ có trách nhiệm và nhóm làm việc khi triệu chứng (thể chất, tâm lý, xã hội, tâm linh) không được kiểm soát tốt

 Liều cứu hộ morphin

Khi bác sĩ kê đơn thuốc opioid như morphin với liều cố định (theo giờ cố định) để giảm đau hoặc khó thở, trong hầu hết các trường hợp bác sĩ cũng kê đơn liều cứu hộ cho cơn đau hoặc khó thở đột xuất Trong bệnh viện, điều dưỡng có vai trò quan trọng trong quá trình chăm sóc:

- Nhận định kịp thời thời điểm khi nào người bệnh cần một liều cứu hộ morphin do đau hoặc khó thở và thông báo cho bác sĩ

- Cung cấp liều cứu hộ thwo chỉ định của bác sĩ và đánh giá hiệu quả giảm đau, giảm khó thở cũng như tác dụng không mong muốn nếu có sau mỗi liều cứu

Điều dưỡng thường giữ trách nhiệm chính trong việc chăm sóc vết thương kể

cả lành tính hoặc ác tính như thay băng, giảm áp lực lên các nền xương cứng, kiểm soát mùi hôi và trao đổi tình trạng vết thương với bác sĩ

 Hỗ trợ cảm xúc cho người bệnh và người nhà

Điều dưỡng có vai trò quan trọng trong việc động viên, hỗ trợ cảm xúc cho những người bệnh đang sợ hãi, các thành viên gia đình của họ và giúp họ hiểu về tình trạng bệnh

 Giáo dục sức khỏe cho người bệnh và người chăm sóc

Trang 17

- Điều dưỡng cũng có vai trò quan trọng trong việc giáo dục sức khỏe cho người bệnh và/hoặc người chăm sóc của họ để đáp ứng các nhu cầu cụ thể của người bệnh, cả trong khi ở bệnh viện và đặc biệt là tại nhà

- Tại một số bệnh viện, điều dưỡng cung cấp thuốc của người bệnh cho người chăm sóc, sau đó chịu trách nhiệm cung cấp đúng liều lượng của từng loại thuốc cho người bệnh vào đúng thời điểm Điều dưỡng phải huấn luyện người chăm sóc

để thực hiện nhiệm vụ này đúng cách

- Trước khi xuất viện, điều dưỡng nên giáo dục người chăm sóc tất cả các nhiệm vụ cần thiết để chăm sóc người bệnh Có thể bao gồm: Tiêm thuốc; chăm sóc vết thương; tắm cho người bệnh; vệ sinh; cho người bệnh ăn các loại thực phẩm phù hợp và giảm thiểu rủi ro hít sặc; cung cấp dinh dưỡng qua ống mở dạ dày hoặc hỗng tràng ra da

1.2 Cơ sở thực tiễn

1.2.1 Kiến thức về chăm sóc giảm nhẹ

 Các nghiên cứu trên thế giới

Một trong những yếu tố quan trọng ảnh hưởng đến việc cung cấp thành công dịch vụ chăm sóc sức khỏe giảm nhẹ là kiến thức, thái độ, niềm tin và kinh nghiệm của các chuyên gia chăm sóc sức khỏe, những yếu tố này quyết định không chỉ quy trình mà còn cả hành vi của họ trong quá trình đánh giá và điều trị bệnh nhân Sau khi các bác sĩ, các y tá là những thành viên có giá trị nhất trong nhóm chăm sóc giảm nhẹ giải quyết các khía cạnh thể chất, chức năng, xã hội và tinh thần của việc chăm sóc [16]

Các nghiên cứu đã ghi nhận rằng y tá và các chuyên gia chăm sóc sức khỏe khác không được chuẩn bị đầy đủ để chăm sóc bệnh nhân bị đau Một số lý do đã được xác định bao gồm giáo dục không đầy đủ, không có nội dung chương trình giảng dạy chính thức về chăm sóc giảm nhẹ, vì vậy dẫn đến sinh viên điều dưỡng thiếu kiến thức về chăm sóc giảm nhẹ [17] Về lâu dài có thể dẫn đến một hệ thống điều dưỡng trên thế giới nói chung và Việt Nam nói riêng sẽ không có kiến thức đầy

đủ và đúng về chăm sóc giảm nhẹ

Theo nghiên cứu tại Ireland vào năm 2016 cho thấy những điều dưỡng tham gia khóa đào tạo chăm sóc giảm nhẹ có kiến thưc tốt hơn nhiều so với những điều dưỡng không tham gia khóa đào tạo về chăm sóc giảm nhẹ [1] Những thách thức,

Trang 18

hạn chế trong việc giáo dục, đào tạo điều dưỡng có kỹ năng trong chăm sóc giảm nhẹ là một phần của tổng quan, bao gồm các hạn chế về văn hóa và thái độ dành riêng cho chăm sóc giảm nhẹ của Singapore [1]

Một nghiên cứu được thực hiện tại Hàn Quốc vào năm 2013 chỉ ra rằng đào tạo chăm sóc giảm nhẹ cho điều dưỡng là cần thiết để nâng cao kiến thức, thái độ và thực hành về chăm sóc giảm nhẹ của điều dưỡng [1] Một nghiên cứu đã thực hiện trên các sinh viên điều dưỡng tại các trường đại học Đông Nam Hoa Kỳ, kết quả nghiên cứu cho thấy điểm trung bình chăm sóc giảm nhẹ của sinh viên điều dưỡng đạt là 61% và chỉ ra các chương trình đào tạo về chăm sóc giảm nhẹ là nền tảng cốt lõi để nâng cao kiến thức, thái độ và thực hành về chăm sóc giảm nhẹ của điều dưỡng [11] Những thách thức, hạn chế trong việc giáo dục, đào tạo điều dưỡng có

kỹ năng trong chăm sóc giảm nhẹ là một phần của tổng quan, bao gồm các hạn chế

về văn hóa và thái độ dành riêng cho chăm sóc giảm nhẹ của Singapore [1]

Theo nghiên cứu tại Jordan năm 2014 đánh giá kiến thức về chăm sóc giảm nhẹ của điều dưỡng làm việc tại các bệnh viện ở Jordan cho thấy điều dưỡng ở đây

có kiến thức về chăm sóc giảm nhẹ còn rất nhiều hạn chế cả về lý thuyết và thực hành chăm sóc giảm nhẹ, đa số trong đó là những điều dưỡng không làm việc tại những khoa liên quan nhiều đến chăm sóc giảm nhẹ tại các bệnh viện [10] Một khảo sát cắt ngang về kiến thức chăm sóc giảm nhẹ của 363 điều dưỡng tại một bệnh viện đa chuyên khoa tại Ấn Độ cho thấy mức độ hiểu biết chung về CSGN của điều dưỡng là kém, đặc biệt là kiến thức về các vấn đề đau, khó thở [23]

 Tại Việt Nam

Bộ y tế đã ra Quyết định số 3483/QĐ-BYT về việc ban hành ‘Hướng dẫn chăm sóc giảm nhẹ đối với người bệnh ung thư và AIDS’ vào ngày 15/9/2006 Tới năm 2017 Bộ Y tế đã mở rộng đối tượng cần được chăm sóc giảm nhẹ thay cho quan điểm trước đó chỉ dừng lại ở người bệnh Ung thư và AIDS Mới nhất đây vào ngày 25/01/2022, Bộ Y tế đã ra Quyết định số 183/QĐ-BYT về việc ban hành hướng dẫn chăm sóc giảm nhẹ

Tại Việt Nam đã có nhiều nghiên cứu về chăm sóc giảm nhẹ Tuy nhiên đa số các nghiên cứu tập trung nhiều về nhu cầu chăm sóc giảm nhẹ của người bệnh, một

số ít nghiên cứu về kiến thức, thái độ và thực hành về chăm sóc giảm nhẹ của nhân viên y tế Cụ thể một nghiên cứu năm 2015 đã chỉ ra kiến thức, thái độ và nhận thức

Trang 19

chăm sóc giảm nhẹ của điều dưỡng là khá thấp, có đến một phần ba điều dưỡng được khảo sát chưa từng được đào tạo về chăm sóc giảm nhẹ Cho tới thời điểm hiện tại tại Việt Nam chưa có một chương trình đào tạo quốc gia về chăm sóc giảm nhẹ, trong chương trình đào tạo tại các cơ sở y khoa cũng chưa có chương trình đào tạo đào tạo cho sinh viên về chăm sóc giảm nhẹ Nghiên cứu được thực hiện tại bệnh viện Kiến An, Hải Phòng năm 2018 cho thấy kiến thức về chăm sóc giảm nhẹ của điều dưỡng ở mức thấp và chỉ có 26,7% điều dưỡng đã được đào tạo về chăm sóc giảm nhẹ [3] Một nghiên cứu khác vào năm 2020 của tác giả Dương Minh Anh cũng chỉ ra rằng phần lớn điều dưỡng có kiến thức về chăm sóc giảm nhẹ ở mức độ trung bình chiếm 77,97% và 31% điều dưỡng có thái độ tích cực về chăm sóc giảm nhẹ [1]

1.2.2 Yếu tố liên quan đến kiến thức và thái độ chăm sóc giảm nhẹ của điều dưỡng

Kiến thức và thái độ về chăm sóc giảm nhẹ của điều dưỡng được rèn luyện qua học tập lý thuyết, tìm hiểu các tài liệu tham khảo về chăm sóc giảm nhẹ và thời gian thực hành chăm sóc giảm nhẹ tại lâm sàng [11] Vì vậy, những điều dưỡng có thời gian thực hành lâm sàng lâu năm sẽ có kiến thức và thái độ tốt hơn những điều dưỡng ít có kinh nghiệm Hay những khoa lâm sàng chuyên sâu về chăm sóc giảm nhẹ hoặc có thực hành chăm sóc giảm nhẹ nhiều, thường xuyên có đào tạo về chăm sóc giảm nhẹ thì điều dưỡng ở đó sẽ có kiến thức và thái độ về chăm sóc giảm nhẹ

từ trung bình đến tốt Ngược lại điều dưỡng tại các khoa lâm sàng không thực hành chăm sóc giảm nhẹ hoặc thực hành ít sẽ có kiến thức và thái độ về chăm sóc giảm nhẹ thấp hơn [9]

Trang 20

Chương 2

MÔ TẢ VẤN ĐỀ CẦN GIẢI QUYẾT

2.1 Giới thiệu về Bệnh viện Việt Nam – Thụy Điển Uông Bí

Bệnh viện Việt Nam – Thụy Điển Uông Bí là bệnh viện đa khoa hạng I, là tuyến chuyên môn kỹ thuật cao của hệ thống y tế tỉnh Quảng Ninh, đáp ứng nhu cầu khám chữa bệnh và chăm sóc sức khỏe cho người dân thành phố Uông Bí và các vùng lân cận Đồng thời bệnh viện cũng là cơ sở thực hành cho sinh viên trường Đại học Điều dưỡng Nam Định và sinh viên trường Đại học Y dược Thái Bình Bệnh viện Việt Nam – Thụy Điển Uông Bí được thành lập rất sớm từ những năm 1981 Trải qua hơn 1 thế kỷ hình thành và phát triển, Bệnh viện Việt Nam – Thụy Điển Uông Bí đã khẳng định được vị thế của bản thân trong công tác khám, điều trị bệnh cho người dân Hàng ngày, bệnh viện tiếp nhận hàng trăm lượt khám bệnh

Về cơ cấu tổ chức, Bệnh viện hoạt động dưới sự lãnh đạo của Ban chấp hành Đảng ủy, Ban Giám đốc và 43 đơn vị trực thuộc gồm 34 khoa lâm sàng và cận lâm sàng, 7 phòng nghiệp vụ, 2 trung tâm

Các khoa lâm sàng của Bệnh viện Việt Nam – Thụy Điển Uông Bí là những chuyên khoa quan trọng có chức năng chẩn đoán, điều trị, tầm soát bệnh và cung cấp đầy đủ các dịch vụ chăm sóc y tế cần thiết cho người bệnh bao gồm: hoá trị, xạ trị, điều trị ngoại khoa, điều trị nội khoa, ; đồng thời giúp kiểm soát các cơn đau bằng chăm sóc giảm nhẹ Số lượng người bệnh điều trị nội trú tại bệnh viện dao động từ 800-1000 người bệnh với số nhân lực hiện có tại các khoa lâm sàng: 187 bác sĩ và 370 điều dưỡng, do đó các khoa lâm sàng của bệnh viện gặp rất nhiều khó khăn cho công tác chăm sóc nói chung, ảnh hưởng rất nhiều đến công tác chăm sóc giảm nhẹ của điều dưỡng

Trang 21

2.2 Đặc điểm chung về đối tượng nghiên cứu

2.1.1 Đặc điểm của đối tượng nghiên cứu

Bảng 2.1 Đặc điểm của đối tượng nghiên cứu (n=136)

- Về giới tính: điều dưỡng chủ yếu là nữ giới, chiếm tỷ lệ 86,8%

- Về độ tuổi: trong số 136 điều dưỡng tham gia nghiên cứu, điều dưỡng có tuổi thấp nhất là 24 tuổi, điều dưỡng tuổi cao nhất là 48 tuổi Tuổi trung bình là 34,11 ± 5,34 Lứa tuổi 31-40 tuổi chiếm tỷ lệ cao 52,9%

- Về trình độ chuyên môn: Phần lớn điều dưỡn có trình độ cao đẳng, chiếm 69,1%; chỉ có 1 điều dưỡng có trình độ trung cấp chiếm 0,7% Không có điều dưỡng nào trình độ sau đại học

- Về khoa công tác: Phần lớn điều dưỡng tham gia nghiên cứu làm việc tại các khoa hệ nội chiếm 69,1%; trong đó có 28,7% điều dưỡng tại các khoa liên quan nhiều tới CSGN

- Thời gian công tác: Đa số điều dưỡng có thời gian công tác tại bệnh viện trên

6 năm, trong đó có 41,2% điều dưỡng có thời gian làm việc trên 10 năm

Trang 22

2.2.2 Đặc điểm có liên quan đến chăm sóc giảm nhẹ

Bảng 2.2 Đặc điểm liên quan đến chăm sóc giảm nhẹ của ĐTNC (n=136)

2.3 Kiến thức về chăm sóc giảm nhẹ

2.3.1 Kiến thức về quản lý đau và các triệu chứng

Bảng 2.3 Tỷ lệ kiến thức về quản lý đau và các triệu chứng (n=136)

Liều dùng morphin cho người bệnh được xác định là liều thấp

nhất có thể giảm đau hoàn toàn hoặc giảm đau tới mức mà

người bệnh có thể chấp nhận được

115 (84,6%)

21 (15,4)

Tiến triển của bệnh quyết định phương pháp điều trị giảm đau 30

(22,1%)

106 (77,9%)

Sử dụng các liệu pháp hỗ trợ (VD: dược phẩm hỗ trợ, thuốc

chống trầm cảm, thuốc chống nôn hoặc các biện pháp không

dung thuốc: giáo dục sức khỏe, thư giãn) là quan trọng trong

kiểm soát đau

106 (77,9%)

30 (22,1%)

Trong những ngày cuối đời, tình trạng lơ mơ do rối loạn điện

giải có thể làm giảm nhu cầu sử dụng thuốc an thần

99 (72,8%)

37 (27,2%) Nghiện thuốc là vấn đề nghiêm trọng khi morphin được sử

dụng lâu dài để quản lý đau đối với người bệnh ung thư

20 (14,7%)

116 (85,3%)

Trang 23

Nội dung Đúng Sai Người sử dụng opiodis cũng nên được kê đơn thuốc nhuận

tràng

100 (73,5%)

36 (26,5%) Trong giai đoạn cuối của bệnh, những loại thuốc có thể gây

ức chế hô hấp vẫn phù hợp để điều trị khó thở nặng

63 (46,3%)

73 (53,7%) Việc sử dụng giả dược là phù hợp trong điều trị một số loại

đau

40 (29,4%)

96 (70,6%) Khi sử dụng liều cao, codeine gây buồn nôn và nôn nhiều hơn

so với morphin

90 (66,2%)

46 (33,8%) Các biểu hiện của đau mạn tính khác với đau cấp tính 118

(86,8%)

18 (13,2%) Phương pháp điều trị đau tối ưu có thể khác nhau tùy thuộc

nền văn hóa và tín ngưỡng

39 (28,7%)

97 (71,3%) Một trong những can thiệp quan trọng nhất đối với điều trị

ngứa do bất kỳ nguyên nhân nào là đảm bảo các móng tay của

người bệnh được cắt rất ngắn

84 (61,8%)

52 (38,2%)

Lơ mơ do opioids sẽ biến mất sau vài ngày 80

(58,8%)

56 (41,2%) Morphine thường dẫn đến trạng thái phấn khích 26

(19,1%)

110 (80,9%)

Có liều tối đa opioids để giảm đau đối với mỗi người bệnh 34

(25%)

102 (75%) Sau một thời gian hiệu quả của liều cố định opioids có thể bị

suy giảm do sự dung nạp của opioids

117 (86%)

19 (14%) Morphine hiệu quả trong việc giảm cảm giác khó thở 49

(36%)

87 (64%) Trong quá trình điều trị thuốc hóa trị, người bệnh phải đậy

nắp bồn cầu rồi xả nước sau mỗi lần đi vệ sinh

112 (82,4%)

24 (17,6%) Trong quá trình điều trị thuốc hóa trị, quần áo người bệnh

phải được giặt tại nhà với nhiệt độ 60 C

54 (39,7%)

82 (60,3%) Xylocaine có thể dùng cho người bệnh bị loét ở miệng và

họng

76 (55,9%)

60 (44,1%)

(63,2%)

50 (36,8%)

Trang 24

Nhận xét:

4 nội dung điều dưỡng có kiến thức đúng đạt tỷ lệ cao: ‘‘Liều dùng morphin cho người bệnh được xác định là liều thấp nhất có thể giảm đau hoàn toàn hoặc giảm đau tới mức mà người bệnh có thể chấp nhận được’’ (84,6%); ‘‘Các biểu hiện của đau mạn tính khác với đau cấp tính’’ (86,8%); ‘‘Sau một thời gian hiệu quả của liều cố định opioids có thể bị suy giảm do sự dung nạp của opioids’’ (86%) và 82,4% điều dưỡng đúng khi cho rằng ‘‘trong quá trình điều trị thuốc hóa trị, người bệnh phải đậy nắp bồn cầu rồi xả nước sau mỗi lần đi vệ sinh’’

2.3.2 Kiến thức các yếu tố cơ bản của chăm sóc giảm nhẹ

Bảng 2.4 Tỷ lệ kiến thức các yếu tố cơ bản của chăm sóc giảm nhẹ (n=136)

Chăm sóc giảm nhẹ thích hợp trong những tình huống có bằng

chứng cho thấy bệnh lý tiến triển xấu đi

58 (42,6%)

78 (57,4%) Các thành viên trong gia đình luôn phải bên giường bệnh cho

tới khi người bệnh qua đời là vô cùng cần thiết

26 (19,1%)

110 (80,9%) Thực hành chăm sóc giảm nhẹ đòi hỏi người điều dưỡng

không để cảm xúc ảnh hưởng đến công việc chăm sóc

18 (13,2%)

118 (86,8%) Chăm sóc giảm nhẹ có thể được phối hợp cùng lúc với điều trị

tích cực

130 (95,6%)

6 (4,4%)

Xạ trị là phương pháp thích hợp trong điều trị giảm nhẹ 64

(47,1%)

72 (52,9%)

Mệt mỏi là tác dụng phụ của tia xạ trong thời gian xạ trị 115

(84,6%)

21 (15,4%) Nhận xét:

2 nội dung điều dưỡng có kiến thức đúng đạt tỷ lệ cao nhất : Chăm sóc giảm nhẹ có thể được phối hợp cùng lúc với điều trị tích cực (95,6%); Mệt mỏi là tác dụng phụ của tia xạ trong thời gian xạ trị (84,6%)

Trang 25

2.3.3 Kiến thức về chăm sóc tâm lý và lĩnh vực tâm linh cho người bệnh

Bảng 2.5 Tỷ lệ kiến thức về chăm sóc tâm lý và tâm linh cho người bệnh (n=136)

Nam giới nói chung vượt qua sự mất mát nhanh hơn nữ giới 56

(41,2%)

80 (58,8%)

Sự tích tụ các mất mát khiến cho nhân viên chăm sóc giảm

nhẹ không tránh khỏi cảm thấy kiệt sức

108 (79,4%)

28 (20,6%)

Ngưỡng chịu đau có thể bị giảm do sự mệt mỏi và lo lắng 116

(85,3%)

20 (14,7%)

Cự tuyệt sự giúp đỡ luôn cho thấy rằng người chăm sóc

không chuyên (gia đình người bệnh) quá mệt mỏi

52 (38,2%)

84 (61,8%) Mối quan hệ giữa gia đình và người bệnh tạo nên những

gánh nặng chủ quan đối với các thành viên trong gia đình

93 (68,4%)

43 (31,6%)

Thuốc có thể là nguyên nhân gây trầm cảm 109

(80,1%)

27 (19,9%) Nỗi đau mất mát của một quan hệ họ hàng xa sẽ luôn dễ giải

quyết hơn nỗi đau mất mát của một quan hệ họ hàng gần gũi,

thân thiết

118 (86,8%)

18 (13,2%)

Nhận xét:

Phần lớn điều dưỡng có kiến thức đúng về chăm sóc tinh thần và lĩnh vực tâm linh của người bệnh, trong đó có tới 86,8% điều dưỡng đã nhận thức đúng khi cho rằng Nỗi đau mất mát của một quan hệ họ hàng xa sẽ luôn dễ giải quyết hơn nỗi đau mất mát của một quan hệ họ hàng gần gũi, thân thiết

2.3.4 Điểm trung bình kiến thức về CSGN của điều dưỡng

Để đánh giá kiến thức về CSGN của điều dưỡng chúng tôi sử dụng phương pháp cho điểm Đối với mỗi câu hỏi, nếu điều dưỡng trả lời đúng được 01 điểm, trả lời sai không cho điểm Cách quy đổi điểm cho từng lĩnh vực kiến thức và đánh giá chung cụ thể như sau:

Trang 26

Bảng 2.6 Cách tính điểm phần kiến thức

1 Quản lý đau và các triệu chứng 1 x 21 câu = 21 điểm

2 Các yếu tố cơ bản của chăm sóc giảm nhẹ 1 x 6 câu = 8 điểm

3 Chăm sóc tâm lý và lĩnh vực tâm linh cho người

bệnh

1 x 7 câu = 7 điểm

Bảng 2.7 Điểm trung bình kiến thức về CSGN của điều dưỡng (n=136)

Quản lý đau và các triệu chứng 11,31 ± 1,76 7,0 15,0 Các yếu tố cơ bản của chăm sóc giảm nhẹ 3,02 ± 1,11 0,0 5,0 Chăm sóc tâm lý và lĩnh vực tâm linh cho

2.3.5 Phân loại mức độ kiến thức về CSGN của điều dưỡng

Kiến thức về CSGN của điều dưỡng được phân thành 3 mức độ như sau:

- Mức 1: kiến thức tốt khi đạt ≥ 24 điểm

- Mức 2: Kiến thức mức độ trung bình khi đạt 17- 23 điểm

- Mức 3: Kiến thức yếu khi đạt ≤ 17 điểm

Trang 27

Biểu đồ 2.1 Phân loại mức độ kiến thức về CSGN của điều dưỡng (n=136)

Nhận xét:

Phần lớn điều dưỡng có kiến thức về CSGN ở mức trung bình chiếm 86%, chỉ

có 1,5% điều dưỡng có kiến thức ở mức tốt

2.4 Thái độ về chăm sóc giảm nhẹ của điều dưỡng

Trong nghiên cứu của tôi có 5 mức độ đánh giá thái độ của điều dưỡng: rất không đồng ý, không đồng ý, không chắc chắn, đồng ý và rất đồng ý

Để thuận lợi cho việc xác định tỷ lệ thái độ của điều dưỡng về CSGN ở từng lĩnh vực, chúng tôi quy ước mức độ thái độ của điều dưỡng thành 3 nhóm:

- Nhóm 1: Đồng ý nếu điều dưỡng lựa chọn mức độ đồng ý và rất đồng ý

- Nhóm 2: Không chắc chắn

- Nhóm 3: Không đồng ý nếu điều dưỡng lựa chọn mức độ không đồng ý và rất không đồng ý

Trang 28

2.4.1 Thái độ của điều dưỡng về chăm người bệnh

Bảng 2.8 Tỷ lệ thái độ của điều dưỡng về chăm sóc người bệnh (n=136)

đồng ý

Không chắc chắn Đồng ý Chăm sóc người cận tử là một trải nghiệm đáng

giá

10 (7,4%)

28 (20,6%)

98 (72%) Cái chết không phải là điều tồi tệ nhất có thể xảy

đến cho một người

28 (20,6%)

23 (16,9%)

85 (62,5%) Tôi sẽ cảm thấy không thoải mái khi nói về cái

chết gần kề đối với một người sắp mất

30 (22,1%)

21 (15,4%)

84 (61,8%)

Tôi không muốn chăm sóc cho người cận tử 68

(50%)

43 (31,6%)

25 (18,4%) Điều dưỡng không nên trao đổi về cái chết với

người sắp mất

21 (15,5%)

32 (23,5%)

83 (61%) Quãng thời gian chăm sóc cho người cận tử làm

tôi cảm thấy khó chịu

70 (51,5%)

38 (27,9%)

28 (20,6%) Tôi sẽ buồn khi người cận tử mà tôi chăm sóc từ

bỏ hi vọng vào khả năng cải thiện tình trạng bệnh

của họ

7 ( 5,1%)

25 (18,4%)

104 (76,5%)

Thật sự là khó tạo lập được mối quan hệ gần gũi

với người cận tử

54 (39,7%)

33 (24,3%)

49 (36%)

Có những thời điểm mà người cận tử sẵn sàng đón

nhận cái chết

14 (10,3%)

19 (14%)

103 (75,7%) Khi người bệnh hỏi “tôi sắp chết phải không” tôi

nghĩ tốt nhất nên chuyển sang chủ đề vui hơn

10 (7,3%)

36 (26,5%)

90 (66,2%) Tôi hi vọng rằng tôi không phải chứng kiến sự ra

đi của người mà tôi đang chăm sóc

15 (11%)

24 (17,6%)

97 (71,4%)

Tôi lo sợ khi trở thành bạn của người sắp mất 59

(43,4%)

31 (22,8%)

46 (33,8%) Tôi có cảm giác muốn chạy trốn khi người bệnh

qua đời

74 (54,4%)

34 (25%)

28 (20,5%)

Trang 29

Nội dung Không

đồng ý

Không chắc chắn Đồng ý Khi một người bệnh gần mất, người điều dưỡng

nên tham gia vào chăm sóc người bệnh

97 (71,3%)

19 (14%)

20 (14,7%) Người sắp mất không nên được đưa ra quyết định

về việc chăm sóc sức khỏe của họ

77 (56,7%)

30 (22,1%)

29 (21,3%) Việc nói lên những cảm xúc của bản thân thì sẽ có

lợi với người sắp mất

21 (15,4%)

39 (28,7%)

76 (55,9%) Nhân viên y tế nên tạo điều kiện cho người sắp

mất có lịch thăm nom linh hoạt

3 (2,2%)

22 (16,2%)

111 (81,6%) Nghiện thuốc giảm đau không phải là mối lo ngại

cho người bệnh

39 (28,6%)

50 (36,8%)

47 (34,5%) Tôi sẽ cảm thấy không thoải mái khi bước vào

phòng có người bệnh giai đoạn cuối và thấy họ

khóc

52 (38,2%)

42 (30,9%)

42 (30,9%)

Người sắp chết nên nhận được những câu trả lời

trung thực về tình trạng sức khỏe của họ

22 (16,2%)

54 (39,7%)

60 (44,1%) Điều dưỡng có thể hỗ trợ người bệnh chuẩn bị đón

nhận cái chết

5 (3,6%)

28 (20,6%)

103 (75,7%)

Nhận xét:

Phần lớn điều dưỡng có thái độ tích cực về CSGN cho người bệnh trong đó quan điểm được đồng ý cao nhất là: Nhân viên y tế nên tạo điều kiện cho người sắp mất có lịch thăm nom linh hoạt (81,6%) và 75,7% đồng ý cho rằng Điều dưỡng có thể hỗ trợ người bệnh chuẩn bị đón nhận cái chết

Trang 30

2.4.2 Thái độ của điều dưỡng về chăm sóc gia đình người bệnh

Bảng 2.9 Tỷ lệ thái độ của điều dưỡng về chăm sóc gia đình người bệnh (n=136)

đồng ý

Không chắc chăn

Đồng ý Chăm sóc gia đình người bệnh nên được tiếp tục

trong suốt giai đoạn đau buồn và mất người thân

23 (16,9%)

25 (18,4%)

88 (64,7%) Gia đình nên được tham gia vào việc chăm sóc cho

người bệnh sắp mất

1 (0,7%)

18 (13,2%)

117 (86%) Gia đình người bệnh cần sự hỗ trợ tinh thần để

chấp nhận sự thay đổi hành vi của người cận tử

0 (0%)

20 (14,7%)

116 (85,3%) Gia đình nên quan tâm tới việc giúp người sắp mất

tận dụng thời gian còn lại một cách giá trị nhất

9 (6,6%)

16 (11,8%)

111 (81,6%) Gia đình nên duy trì môi trường sống bình thường

nhất có thể đối với người sắp mất

1 (0,7%)

18 (13,2%)

117 (86,1%)

Sự chăm sóc của nhân viên y tế cần mở rộng tới cả

gia đình người bệnh, chứ không đơn thuần chỉ là

người bệnh

3 (2,2%)

22 (16,2%)

111 (81,6%)

Người bệnh và gia đình của họ là người đưa ra

quyết định trong chăm sóc giảm nhẹ

13 (9,6%)

27 (19,9%)

96 (70,6%) Giáo dục gia đình về cái chết và tiến trình chết

không phải là trách nhiệm của điều dưỡng

64 (47,1%)

29 (21,3%)

43 (31,6%) Những thành viên trong gia đình, gần gũi với

người sắp mất, thường can thiệp vào công tác

chuyên môn

46 (33,8%)

44 (32,4%)

46 (33,8%)

Nhận xét:

Phần lớn điều dưỡng có thái độ tích cực về CSGN cho gia đình người bệnh trong đó 2 quan điểm được đồng ý cao nhất là: Gia đình nên được tham gia vào việc chăm sóc cho người bệnh sắp mất và Gia đình nên duy trì môi trường sống bình thường nhất có thể đối với người sắp mất, đều đạt 86,1%

Ngày đăng: 07/02/2023, 21:42

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Dương Minh Anh (2020). Kiến thức, thái độ về chăm sóc giảm nhẹ của điều dưỡng tại các khoa lâm sàng bệnh viện Đại học Y Hà Nội và một số yếu tố liên quan, Khóa luận tốt nghiệp cử nhân y khoa, Trường Đại học Y Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Kiến thức, thái độ về chăm sóc giảm nhẹ của điều dưỡng tại các khoa lâm sàng bệnh viện Đại học Y Hà Nội và một số yếu tố liên quan
Tác giả: Dương Minh Anh
Nhà XB: Trường Đại học Y Hà Nội
Năm: 2020
2. Bộ Y tế (2022). Quyết định số 183/QĐ-BYT về việc ban hành hướng dẫn chăm sóc giảm nhẹ, ban hành ngày 25/01/2022 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Quyết định số 183/QĐ-BYT về việc ban hành hướng dẫn chăm sóc giảm nhẹ
Tác giả: Bộ Y tế
Nhà XB: Bộ Y tế
Năm: 2022
3. Bộ Y tế (2006). Quyết định số 3483/QĐ-BYT về việc ban hành ‘Hướng dẫn chăm sóc giảm nhẹ đối với người bệnh ung thư và AIDS’, ban hành ngày 15/9/2006 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Hướng dẫn chăm sóc giảm nhẹ đối với người bệnh ung thư và AIDS
Tác giả: Bộ Y tế
Nhà XB: Bộ Y tế
Năm: 2006
4. Eric L K (2007). Tài liệu tập huấn cơ bản Chăm sóc giảm nhẹ cho bệnh nhân HIV/AIDS và Ung thư ở Việt Nam Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tài liệu tập huấn cơ bản Chăm sóc giảm nhẹ cho bệnh nhân HIV/AIDS và Ung thư ở Việt Nam
Tác giả: Eric L K
Năm: 2007
5. Nguyễn Thúy Ly, Yvonne Osborne và Patsty Yates (2014). Kiến thức, thái độ và sự tự tin trong thực hành chăm sóc giảm nhẹ của điều dưỡng tại một số bệnh viện chuyên khoa Ung bướu Hà Nội. Interrnational journal of palliative nursing, 20(9) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Kiến thức, thái độ và sự tự tin trong thực hành chăm sóc giảm nhẹ của điều dưỡng tại một số bệnh viện chuyên khoa Ung bướu Hà Nội
Tác giả: Nguyễn Thúy Ly, Yvonne Osborne, Patsty Yates
Nhà XB: Interrnational journal of palliative nursing
Năm: 2014
6. Trịnh Thị My (2018). Thực trạng kiến thức và sự tự tin trong thực hành chăm sóc giảm nhẹ của điều dưỡng bệnh viện Kiến An – Hải Phòng năm 2018, Luận văn Thạc sĩ Điều dưỡng, Trường Đại học Điều dưỡng Nam Định Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thực trạng kiến thức và sự tự tin trong thực hành chăm sóc giảm nhẹ của điều dưỡng bệnh viện Kiến An – Hải Phòng năm 2018
Tác giả: Trịnh Thị My
Nhà XB: Trường Đại học Điều dưỡng Nam Định
Năm: 2018
7. Đặng Huy Quốc Thịnh, Phạm Xuân Dũng và cộng sự (2020). Đại cương chăm sóc giảm nhẹ, Nhà xuất bản Y học, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đại cương chăm sóc giảm nhẹ
Tác giả: Đặng Huy Quốc Thịnh, Phạm Xuân Dũng
Nhà XB: Nhà xuất bản Y học
Năm: 2020
8. Bùi Minh Thu (2015). Đánh giá kiến thức và nhu cầu đào tạo về chăm sóc giảm nhẹ của điều dưỡng Bệnh viện Bạch Mai năm 2015, đề tài cơ sở bệnh viện Bạch Mai, 2015.Tiếng Anh Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đánh giá kiến thức và nhu cầu đào tạo về chăm sóc giảm nhẹ của điều dưỡng Bệnh viện Bạch Mai năm 2015
Tác giả: Bùi Minh Thu
Nhà XB: đề tài cơ sở bệnh viện Bạch Mai
Năm: 2015
9. Al-Qadire M (2014). Nurses knowledge about palliative care. Feature Article, Volum 16, Number 1: Fe.2014 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nurses knowledge about palliative care
Tác giả: Al-Qadire M
Năm: 2014
10. Hyunjin Noh (2020). Educational intervention to improve palliative care knowledge among informal caregivers of cognitively impaired older adults.Published online by Cambridge University Press: 25 November 2020 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Educational intervention to improve palliative care knowledge among informal caregivers of cognitively impaired older adults
Tác giả: Hyunjin Noh
Nhà XB: Cambridge University Press
Năm: 2020
11. Kassa H, Murugan R, Zewdu F and et al (2014). Assessment of Knowledge,attitude and practice and associated factors towards Palliative care knowledge among nurses working in selected hospitals, Addis Ababa, Ethiopia.BMC Palliative care, 13(1),6 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Assessment of Knowledge,attitude and practice and associated factors towards Palliative care knowledge among nurses working in selected hospitals, Addis Ababa, Ethiopia
Tác giả: Kassa H, Murugan R, Zewdu F
Nhà XB: BMC Palliative Care
Năm: 2014
12. Pope A (2013). Palliative care knowledge among Bachelors of Science nursing students. Kennesaw state University DigitalCommons@ Kennesaw state University Sách, tạp chí
Tiêu đề: Palliative care knowledge among Bachelors of Science nursing students
Tác giả: Pope A
Nhà XB: Kennesaw State University DigitalCommons
Năm: 2013
13. Racchael E.C. Schutz and et (2017). Is There Hope? Is She There? How Famillies anf Cliniccians Experience Severe Acute Brain Injury. Journal of Palliative Medicine 20, 2(2018):170-76 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Is There Hope? Is She There? How Famillies anf Cliniccians Experience Severe Acute Brain Injury
Tác giả: Racchael E.C. Schutz, et al
Nhà XB: Journal of Palliative Medicine
Năm: 2018
15. Shelly H.A, Ziemba Davis M and Storey S.L (2013). Knowledge of palliative care: An evaluation of oncology, intensive care, and heart failure nurses.Journal of Hospice Palliative Nursing, 15(5), 307-315 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Knowledge of palliative care: An evaluation of oncology, intensive care, and heart failure nurses
Tác giả: Shelly H.A, Ziemba Davis M, Storey S.L
Nhà XB: Journal of Hospice Palliative Nursing
Năm: 2013
16. Skar R. Knowledge use in nursing practice: The importance of practical understanding and personal involvement. Nurse Educ Today. 2010;30:132–6 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Knowledge use in nursing practice: The importance of practical understanding and personal involvement
Tác giả: Skar R
Nhà XB: Nurse Educ Today
Năm: 2010
17. Trisha Dunning (2016). Integrating Palliative Care with Usual Care of Diabetic Foot Wounds. Diabetes/Metabolism research and reviews 31 Suppl1: 303- 10 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Integrating Palliative Care with Usual Care of Diabetic Foot Wounds
Tác giả: Trisha Dunning
Nhà XB: Diabetes/Metabolism Research and Reviews
Năm: 2016
18. Yanping Hao, Lixuan Zhan, Meiling Huang, Nurses’ knowledge and attitudes towards palliative care and death: a learning intervention. BMC Palliative Care 20, Article number: 50 (2021) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nurses’ knowledge and attitudes towards palliative care and death: a learning intervention
Tác giả: Yanping Hao, Lixuan Zhan, Meiling Huang
Nhà XB: BMC Palliative Care
Năm: 2021
19. Joshua wales and et (2018). Providing Medical Assistance in Dying within a Home Palliative Care Program in Toronto, Canada: An Observational Study of the First Year of Experience. Journal of Palliative Medicine 21, 11(2018):1573-79 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Providing Medical Assistance in Dying within a Home Palliative Care Program in Toronto, Canada: An Observational Study of the First Year of Experience
Tác giả: Joshua Wales, et al
Nhà XB: Journal of Palliative Medicine
Năm: 2018
21. World Health Organization. Palliative Care [Internet]. Fact Sheets. 2018 from: http://www.who.int/en/news-room/factsheets/detail/palliative-care Sách, tạp chí
Tiêu đề: Palliative care
Tác giả: World Health Organization
Nhà XB: World Health Organization
Năm: 2018
22. WHO (2020). Assessing national capacity for the prevention and control of noncommunicable diseases: report of the 2019 global survey Sách, tạp chí
Tiêu đề: Assessing national capacity for the prevention and control of noncommunicable diseases: report of the 2019 global survey
Tác giả: World Health Organization
Nhà XB: World Health Organization
Năm: 2020

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w