TRƯỜNG ĐẠI HỌC ĐIỀU DƯỠNG NAM ĐỊNH TRẦN THỊ MỸ HẠNH ĐÁNH GIÁ KIẾN THỨC VỀ PHÒNG VÀ XỬ TRÍ PHẢN VỆ TẠI BỆNH VIỆN DA LIỄU TRUNG ƯƠNG NĂM 2022 Chuyên ngành: Điều dưỡng Nội người lớn BÁO
Trang 1TRƯỜNG ĐẠI HỌC ĐIỀU DƯỠNG NAM ĐỊNH
TRẦN THỊ MỸ HẠNH
ĐÁNH GIÁ KIẾN THỨC VỀ PHÒNG VÀ XỬ TRÍ PHẢN VỆ TẠI BỆNH VIỆN DA LIỄU TRUNG ƯƠNG NĂM 2022
BÁO CÁO CHUYÊN ĐỀ TỐT NGHIỆP
NAM ĐỊNH – 2022
Trang 2TRƯỜNG ĐẠI HỌC ĐIỀU DƯỠNG NAM ĐỊNH
TRẦN THỊ MỸ HẠNH
ĐÁNH GIÁ KIẾN THỨC VỀ PHÒNG VÀ XỬ TRÍ PHẢN VỆ TẠI BỆNH VIỆN DA LIỄU TRUNG ƯƠNG NĂM 2022
Chuyên ngành: Điều dưỡng Nội người lớn
BÁO CÁO CHUYÊN ĐỀ TỐT NGHIỆP
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC ThS Nguyễn Thị Thùy Dương
NAM ĐỊNH – 2022
Trang 3Đặc biệt tôi xin tỏ lòng kính trọng và biết ơn sâu sắc tới cô hướng dẫn – Ths Nguyễn Thị Thùy Dương Người Thầy đã định hướng học tập, nghiên cứu và tận tình chỉ bảo để tôi hoàn thành chuyên đề này
Tôi xin chân trọng biết ơn các Thầy, Cô trong Hội đồng đã đóng góp những ý kiến quý báu giúp tôi hoàn thiện chuyên đề
Tôi xin chân thành cảm ơn các bạn đồng nghiệp và các đối tượng nghiên cứu
đã nhiệt tình cộng tác để tôi có được số liệu cho nghiên cứu này
Cuối cùng tôi xin gửi lời cảm ơn tới gia đình, bạn bè cùng tập thể lớp chuyên khoa 1 đã động viên, giúp đỡ tôi trong suốt quá trình học tập, nghiên cứu
Xin trân trọng cảm ơn!
Học viên
Trần Thị Mỹ Hạnh
Trang 4LỜI CAM ĐOAN Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của chính tôi Các số liệu trong chuyên đề là trung thực và chưa từng được công bố trong các công trình nghiên cứu khác Nếu sai sót tôi xin hoàn toàn chịu trách nhiệm
Học viên
Trần Thị Mỹ Hạnh
Trang 5MỤC LỤC
LỜI CẢM ƠN i
LỜI CAM ĐOAN ii
ĐẶT VẤN ĐỀ 1
MỤC TIÊU 3
Chương 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN 4
1 Cơ sở lý luận 4
1.1 Một số khái niệm phản vệ 4
1.2 Nguyên nhân 4
1.3 Chẩn đoán phản vệ 4
1 4 Các mức độ của phản vệ 5
1.5 Nguyên tắc và phác đồ xử trí phản vệ 6
1.6 Công tác dự phòng 8
2 Cơ sở thực tiễn 11
2.1 Tình hình nghiên cứu ngoài nước liên quan tới đề tài 11
2.2 Tình hình nghiên cứu trong nước liên quan tới đề tài 12
2.1 Giới thiệu khái quát về bệnh viện Da liễu Trung Ương 16
2.2 Mô tả vấn đề cần giải quyết 17
2.3 Kết quả đánh giá 19
2.3.1 Thông tin chung của đối tượng nghiên cứu 19
2.3.2 Thực trạng kiến thức phản vệ của đối tượng nghiên cứu 21
Chương 3 BÀN LUẬN 25
3.1 Thực trạng kiến thức của ĐD về phòng và xử trí phản vệ tại Bệnh viện Da liễu Trung ương năm 2022 25
Trang 63 2 Vấn đề còn tồn tại 28
3.3 Đề xuất một số giải pháp nâng cao kiến thức của điều dưỡng về phòng và xử trí phản vệ tại Bệnh viện Da liễu Trung ương 28
KẾT LUẬN 30
PHỤ LỤC : CÔNG CỤ THU THẬP SỐ LIỆU 31
TÀI LIỆU THAM KHẢO 39
Trang 7DANH MỤC CÁC BẢNG, HÌNH ẢNH, BIỂU ĐỒ
Bảng 1 1 Các bệnh cảnh lâm sàng của phản vệ 5
Bảng 1 2 Các mức độ của phản ứng phản vệ……… … 6
Bảng 1 3 Quy trình kỹ thuật test da 9
Bảng 1 4 Thành phần hộp thuốc cấp cứu phản vệ 10
Bảng 2 1 : Thông tin chung của đối tượng nghiên cứu……… 19
Bảng 2 2 Kiến thức chung về phản vệ của đối tượng nghiên cứu 21
Bảng 2 3 Kết quả kiến thức chung về phản vệ của đối tượng nghiên cứu 21
Bảng 2 4 Kiến thức về dự phòng phản vệ của đối tượng nghiên cứu 22
Bảng 2 5 Kết quả sự hiểu biết về dự phòng phản vệ của đối tượng nghiên cứu 22
Bảng 2 6 Kiến thức về xử trí và theo dõi phản vệ của đối tượng nghiên cứu 23
Bảng 2 7.Kết quả về xử trí và theo dõi phản vệ của đối tượng nghiên cứu 24
Biểu đồ 2 1.Phân loại đối tượng đã học Phản vệ theo Thông tư mới…….… 20
Biểu đồ 2 2 Phân loại đối tượng đã từng chứng kiến phản vệ trên thực tế 20
Trang 8DANH MỤC VIẾT TẮT
Trang 9ĐẶT VẤN ĐỀ Phản vệ là tình trạng dị ứng, có thể xuất hiện ngay lập tức từ vài giây, vài phút đến vài giờ sau khi cơ thể tiếp xúc với dị nguyên gây ra các bệnh cảnh lâm sàng khác nhau, có thể nghiêm trọng dẫn đến tử vong nhanh chóng [3] Phản ứng phản vệ biểu hiện ở nhiều cơ quan như: da và niêm mạc (mẩn đỏ, ngứa, nổi mề đay, phù…), đường tiêu hóa (nôn, đau bụng, ỉa chảy…), đường hô hấp (khó thở do phù nề thanh quản hoặc khó thở kiểu hen…), hệ tim mạch (mạch nhanh, tụt huyết áp, loạn nhịp) [2]
Những năm gần đây, vấn đề phản vệ ngày càng được quan tâm nhiều hơn do tính chất gây nguy hiểm của nó, gây nên tâm lý lo lắng đối với người dân Đặc biệt khi Bộ y tế đang triển khai công tác tiêm chủng Vaccine phòng Covid 19, mối quan tâm về theo dõi phản ứng sau tiêm đối với 1 loại thuốc mới đang gây tâm lý hoang mang đối với người dân
Phản vệ có thể do thuốc, máu và chế phẩm máu, hóa chất, thức ăn, nọc côn trùng…Thuốc đưa vào cơ thể bằng bất cứ đường nào đề có thể gây phản vệ dẫn đên
tử vong, một số thước hay gặp như : Penicillin, Streptomycin, một số thuốc gây tê, gây mê…Phản vệ có thể xảy ra ngay sau khi dùng thuốc lần đầu hoặc sau khi dùng thuốc vài lần, một số trường hợp làm test thử phản ứng thuốc cũng có thể bị phản vệ… nên yêu cầu phải luôn trang bị hộp thuốc cấp cứu phản vệ và phương tiện cấp cứu ở các xe tiêm và phòng cấp cứu Cấp cứu phản vệ đòi hỏi phải khẩn trương như cấp cứu ngừng tuần hoàn, phải tiến hành ngay tại chỗ, các tai biến và tỷ lệ tử vong
do phản vệ có thể giảm khi điều dưỡng nắm được các kiến thức về phòng và xử lý các trường hợp phản vệ [1, 2]
Với mục đích cập nhật những kiến thức mới nhất về cách phòng, chẩn đoán
và xử trí phản vệ cho các cơ sở khám chữa bệnh, bác sĩ và nhân viên y tế, Bộ Y tế đã ban hành thông tư số 51/2017/TT-BYT “Hướng dẫn phòng, chẩn đoán và xử trí phản vệ” Thông tư 51/2017/TT-BYT đã có hiệu lực từ 15/02/2018 Thông tư mới có một
Trang 10số thay đổi trong quy định phòng và xử trí phản vệ Điều đầu tiên khẳng định: Adrenalin là thuốc thiết yếu, quan trọng hàng đầu, sẵn có để sử dụng cấp cứu phản
vệ, cần phân biệt rõ sốc phản vệ là mức độ nặng nhất của phản vệ do đột ngột giãn toàn bộ hệ thống mạch và co thắt phế quản có thể gây tử vong trong vòng một vài phút Điều dưỡng cần thực hiện theo các nguyên tắc trong công tác dự phòng và cấp cứu phản vệ để có thể giảm nhẹ các tai biến trên người bệnh [1]
Nhận thấy sự quan trọng trong việc phát hiện và xử trí sớm phản vệ của nhân viên
y tế nói chung của điều dưỡng nói riêng Bệnh viện Da liễu Trung ương đã tiến hành tập huấn theo thông tư 51/2017/TT-BYT và thường xuyên cập nhật các kiến thức và
kỹ năng mới Ngoài ra, phòng Điều dưỡng phối hợp với phòng Chỉ đạo tuyến thường xuyên kiểm tra, đôn đốc và nhắc nhở đến từng khoa phòng các nội dung liên quan đến kiến thức và phương tiện dự phòng phản vệ
Cùng với mục đích trên, tôi đã tiến hành chuyên đề: “Đánh giá kiến thức của Điều dưỡng về phòng và xử trí phản vệ tại Bệnh viện Da liễu Trung ương năm 2022”
Trang 11MỤC TIÊU
1 Đánh giá kiến thức của điều dưỡng về phòng và xử trí phản vệ tại Bệnh viện
Da liễu Trung ương năm 2022
2 Đề xuất một số giải pháp nâng cao kiến thức của điều dưỡng về phòng và
xử trí phản vệ tại Bệnh viện Da liễu Trung ương năm 2022
Trang 12Dị nguyên là yếu tố lạ khi tiếp xúc có khả năng gây phản ứng dị ứng cho cơ thể, bao gồm thức ăn, thuốc và các yếu tố khác
Sốc phản vệ là mức độ nặng nhất của phản vệ do đột ngột giãn toàn bộ hệ thống mạch và co thắt phế quản có thể gây tử vong trong vòng vài phút [2]
Các chế phẩm máu: các loại vaccin, huyết thanh…
Một số nọc của côn trùng: khi bị các loại côn trùng như ong; rắn, rết, bọ cạp, nhện… cắn thì lượng độc tố trong nọc côn trùng tiết ra sẽ gây phản vệ
Một số thực phẩm: thủy-hải sản, nhộng, trứng, dứa, phấn hoa, các loại hạt và các chất phụ gia…[1]
1.1.3 Chẩn đoán phản vệ [2]
Một số triệu chứng gợi ý phản vệ: Mày đay, phù mạch nhanh, khó thở, tức ngực, thở rít, đau bụng hoặc nôn, tụt huyết áp (HA) hoặc ngất, rối loạn ý thức
Các bệnh cảnh lâm sàng của phản vệ:
Trang 13Phản vệ có thể biểu hiện thành các bệnh cảnh có triệu chứng lâm sàng khác nhau nhưng đều xuất hiện trong vòng vài giây đến vài giờ:
Các triệu chứng hô hấp (khó thở, thở rít, ran rít) Tụt HA hay các hậu quả của tụt HA (rối loạn ý thức, đại tiện, tiểu tiện không tự chủ )
Da, niêm mạc (mày đay, phù mạch, ngứa)
Các triệu chứng hô hấp (khó thở, thở rít, ran rít) Tụt HA hoặc các hậu quả của tụt HA(rối loạn ý thức, đại tiện, tiểu tiện không tự chủ )
Các triệu chứng tiêu hóa (nôn, đau bụng ) Bệnh
Mày đay, phù mạch xuất hiện nhanh
Khó thở nhanh nông, tức ngực, khàn tiếng, chảy nước mũi
Đau bụng, nôn, ỉa chảy
HA chưa tụt hoặc tăng, nhịp tim nhanh hoặc loạn nhịp
cơ tròn
Tuần hoàn: sốc, mạch nhanh nhỏ, tụt huyết áp
Độ IV- Ngừng tuần hoàn Ngừng hô hấp, ngừng tuần hoàn
Trang 14Adrenalin là thuốc thiết yếu hàng đầu cứu sống NB (người bệnh) bị phản
vệ, phải tiêm bắp ngay khi chẩn đoán phản vệ từ độ II trở lên
1.5.2 Xử trí phản vệ nhẹ (độ I):
Dụng thuốc methylprednisolon hoặc diphenhydramin uống hoặc tiêm tùy tình trạng NB
Tiếp tục theo dõi ít nhất 24 giờ để xử trí kịp thời
1.5.3 Phác đồ xử trí cấp cứu phản vệ mức nặng và nguy kịch (độ II, III):
1 Ngừng ngay tiếp xúc với thuốc hoặc dị nguyên (nếu có)
2 Tiêm hoặc truyền adrenalin
3 Cho NB nằm tại chỗ, đầu thấp, nghiêng trái nếu có nôn
4 Thở ô xy: người lớn 6-101/phút, trẻ em 2-41/phút qua mặt nạ hở
5 Đánh giá tình trạng hô hấp, tuần hoàn, ý thức và các biểu hiện ở da, niêm mạc Ép tim ngoài lồng ngực và bóp bóng (nếu ngừng hô hấp, tuần hoàn) Đặt nội khí quản hoặc mở khí quản cấp cứu (nếu khó thở thanh quản)
6 Thiết lập đường truyền adrenalin tĩnh mạch với dây truyền thông thường nhưng kim tiêm to (cỡ 14 hoặc 16G) hoặc đặt catheter tĩnh mạch và một đường truyền tĩnh mạch thứ hai để truyền dịch nhanh
7 Hội ý với các đồng nghiệp, tập trung xử lý, báo cáo cấp trên, hội chẩn với bác sĩ chuyên khoa cấp cứu, hồi sức và/hoặc chuyên khoa dị ứng (nếu có)
Trang 151.5.4 Phác đồ sử dụng adrenalin và truyền dịch
Mục tiêu: nâng và duy trì ổn định HA tối đa và không còn dấu hiệu về hô hấp, tiêu hóa
1 Thuốc adrenalin 1mg = 1ml = 1ống, tiêm bắp:
Trẻ sơ sinh hoặc trẻ < 10kg: 0,2ml (tương đương 1/5 ống)
Trẻ khoảng 10 kg: 0,25ml (tương đương 1/4 ống)
Trẻ khoảng 20 kg: 0,3ml (tương đương 1/3 ống)
Trẻ em: Không áp dụng tiêm tĩnh mạch chậm
Đã có đường truyền, truyền tĩnh mạch liên tục adrenalin (pha adrenalin với dd natriclorid 0,9%) cho NB kém đáp ứng với adrenalin tiêm bắp và đã được truyền đủ dịch Bắt đầu bằng liều 0,1 µg/kg/phút, cứ 3-5 phút điều chỉnh liều adrenalin tùy theo đáp ứng của NB Truyền đồng thời adrenalin và dd natriclorid 0,9% (1000ml-2000ml
ở người lớn, 10-20ml/kg trong 10-20 phút ở trẻ em), nhắc lại nếu cần thiết
5 Khi đã có đường truyền tĩnh mạch adrenalin với liều duy trì huyết áp ổn định thì có thể theo dõi mạch và HA 1 giờ/lần đến 24 giờ
Trang 161.5.5 Xử trí tiếp theo:
Khai thông đường thở, đảm bảo hô hấp: Thở oxy (người lớn 6-10 lít/phút, trẻ
em 2-4 lít/phút); thông khí
Truyền tĩnh mạch dd natriclorid 0,9%:
Người lớn truyền nhanh 1-2 lít, có thể nhắc lại nếu cần thiết
Trẻ em: truyền nhanh 10-20ml/kg trong 10-20 phút đầu, nhắc lại nếu HA chưa lên
Diphenhydramin tiêm bắp/tĩnh mạch, liều người lớn 25-50mg, trẻ em 25mg Methylprednisolon tiêm tĩnh mạch, liều người lớn 1-2mg/kg, trẻ em ≥50mg Salbutamol xịt Chuyển đơn vị cấp cứu hồi sức nếu huyết động và hô hấp không ổn định
10-Theo dõi: Mạch, HA 5-10 phút/lần – SpO2 Khi tình trạng ổn định tiếp tục theo dõi 1-2 giờ/lần trong ít nhất 24 giờ tiếp theo (đề phòng phản vệ 2 pha)
1.6.1 Những biện pháp giúp hạn chế xảy ra phản vệ:
Tuyên truyền việc sử dụng thuốc an toàn và hợp lý
Hỏi kỹ tiến sử dị ứng thuốc, đặc biệt là các loại thuốc và thức ăn
Trước khi tiêm kháng sinh phải thử test da, âm tính mới tiếp tục tiêm
Dừng tiêm nếu có dấu hiệu bất thường, sau tiêm giữ NB 10-15 phút lại để theo dõi (đề phòng trường hợp phản vệ muộn)
Luôn có sẵn xe tiêm và hộp thuốc cấp cứu phản vệ khi chăm sóc và thực hiện thuốc cho NB
Nhân viên y tế cần cập nhật thường xuyên về phác đồ cấp cứu phản vệ
Trang 171.6.2 Quy trình kỹ thuật test da
Một cách dự phòng phản vệ hiệu quả và đơn giản chính là tiến hành kỹ thuật test
da trước khi dùng thuốc cho NB Có 2 kỹ thuật test da cơ bản: test lẩy da và test nội
bì
Bảng 1 3: Quy trình kỹ thuật test da
- Nhỏ các giọt dd cách nhau 3-5cm, đánh dấu tránh nhầm lẫn
- Dùng bơm tiêm 1ml tiêm trong da các điểm cách nhau 3-5cm; mỗi điểm 0,02-0,05ml tạo một nốt phồng đường kính 3mm theo thứ tự
Điểm 1: dd natriclorid 0,9% (chứng âm)
Trang 18 1 giọt dd histamin 1mg/ml (chứng dương)
- Kim lẩy da cắm vào giữa giọt dd trên mặt da tạo một góc 45o rồi lẩy nhẹ (không chảy máu), dùng giấy hoặc bông thấm giọt dd sau khi thực hiện kỹ thuật
Điểm 2: dd thuốc hoặc dị nguyên đã chuẩn hóa
Đọc kết quả Sau 20 phút, kết quả dương tính khi xuất hiện sẩn ở vị trí
dị nguyên ≥ 3mm hoặc trên 75% so với chứng âm
Trang 195 Adrenalin 1mg/1ml ống 05
1.6.4 Trang thiết bị y tế và thuốc tối thiểu cấp cứu phản vệ tại các cơ sở y tế [2]
Oxy, dịch truyền: natriclorid 0,9%
Bóng AMBU và mặt nạ người lớn và trẻ nhỏ
Bơm xịt salbutamol
Bộ đặt nội khí quản và/hoặc bộ mở khí quản và/hoặc mask thanh quản Nhũ dịch Lipid 20% lọ 100ml (02 lọ) đặt trong tủ thuốc cấp cứu tại nơi sử dụng thuốc gây tê, gây mê
Các thuốc chống dị ứng đường uống
2 Cơ sở thực tiễn
2.1 Tình hình nghiên cứu ngoài nước liên quan tới đề tài
Trong năm 2014, một thông cáo từ các chuyên gia thuộc 4 hiệp hội dị ứng/ miễn dịch học đã đưa ra 1 bản đồng thuận bao gồm các nội dung trong cập nhật về cách phòng, chẩn đoán và xử trí phản vệ cho các cơ sở khám chữa bệnh, bác sĩ và nhân viên y tế Những nội dung cập nhật này có thể chỉ ra các điểm nổi bật như sau: Thứ nhất: phân độ phản vệ thành 4 cấp độ (nhẹ, nặng nguy kịch và ngừng tuần hoàn) Thứ 2: Adrenalin là thuốc thiết yếu, quan trọng hàng đầu, sẵn có để sử dụng cấp cứu phản vệ Thứ 3: Phản vệ từ độ nặng trở lên phải thực hiện tiêm bắp Adrenalin [12] Năm 2014, nghiên cứu của Ibrahim và cộng sự tại Singapore chỉ ra rằng hầu hết nhân viên y tế (89,4%) cho biết đã chứng kiến ít nhất một trường hợp phản vệ trong thực tế lâm sàng của họ Các biểu hiện phản vệ ghi nhận đầu tiên là trên da và nhịp thở Tuy nhiên, một tỷ lệ thấp hơn (74,3%) nhận thức được các hướng dẫn liên quan đến phòng và xử trí phản vệ [13]
Trang 20Theo nghiên cứu của Hamid Ahanchian và cộng sự (2018) tại phòng khám Dị ứng ở Mashhad Iran trên 70 bệnh nhi đã ghi nhận Nguyên nhân gây phản vệ có nhiều nguyên nhân khác nhau bao gồm: Thực phẩm 61,4%, nọc độc côn trùng 8,6% Sữa
bò và trứng gà là các tác nhân chính gây phản vệ ở trẻ em dưới 2 tuổi Các triệu chứng phổ biến nhất trên da và tim mạch Các triệu chứng và yếu tố khởi phát phụ thuộc và độ tuổi và các yếu tố nguy cơ [11]
2.2 Tình hình nghiên cứu trong nước liên quan tới đề tài
Năm 2013, nghiên cứu của Nguyễn Thanh Vân trên 137 ĐD viên tại bệnh viện Bắc Thăng Long cho thấy 100% ĐD biết thuốc là một trong các nguyên nhân gây phản vệ, tuy nhiên vẫn còn 56,2% ĐD chon thời điểm triệu chứng đầu tiên của sốc phản vệ, còn 38% ĐD vẫn còn hiểu sai về liều Adrenalin ở trẻ em (các điều dưỡng này chủ yếu công tác ở khoa Đông y và khoa Liên chuyên ngành) Tại nghiên cứu cũng chỉ ra rằng có mối liên quan giữa trình độ và kiến thức gây phản vệ [10] Tại nghiên cứu của Hoàng Văn Sáng về kiến thức ĐD tại Bệnh viện 354 về phòng và cấp cứu sốc phản vệ (2012) đã ghi nhận: 100% ĐD đã nhận biết được các triệu chứng sốc phản vệ (có cảm giác khác thường, mach nhanh nhỏ, khó bắt, huyết
áp tụt), hơn 90% ĐD đã biết được cách xử trí khi bị sốc phản vệ là ngừng ngay đường tiếp xúc với dị nguyên và ủ ấm cho NB, 78% ĐD cho rằng cần lập tức tiêm Adrenalin
để cấp cứu cho người bệnh ngay lúc có những biểu hiện nghi sốc phản vệ Tuy nhiên cũng còn 68% ĐD chưa nắm được đường tiêm Adrenalin để cấp cứu cho NB, 65%
ĐD không nhớ được thời gian tiêm Adrenalin và hơn 60% ĐD không nhớ thời gian theo dõi huyết áp cho NB [8]
Nguyễn Văn Đoàn và Nguyễn Thị Thùy Ninh thực hiện đánh giá tình hình sốc phản vệ ở Bệnh viện Bạch Mai từ năm 2009 đến 2013 Nghiên cứu hồi cứu trên 275
NB ghi nhận tỷ lệ sốc phản vệ có xu hướng gia tăng theo từng năm Tỷ lệ sốc phản
vệ trong 5 năm lần lượt là 0,056%; 0,06%; 0,061%; 0,069%; 0,07% Các biểu hiện
ở da và niêm mạc là hay gặp nhất chiếm 96,1% [4]
Trang 21Với mục đích cập nhật những kiến thức mới nhất về cách phòng, chẩn đoán
và xử trí phản vệ cho các cơ sở khám chữa bệnh, bác sĩ và nhân viên y tế Ngày 29/12/2017 Bộ Y tế đã ban hành thông tư số 51/2017/TT-BYT thay thế cho thông tư 08/1999/TT – BYT Thông tư 51/2017/TT-BYT đã có hiệu lực áp dụng từ ngày 15/02/2018 Tại thông tư 51/2017/TT-BYT đã khẳng định và có bổ sung một cách chi tiết hơn về vai trò của của Adrenalin và cách sử dụng Adrenalin trong xử trí phản
vệ Điều đầu tiên khẳng định: Adrenalin là thuốc thiết yếu, quan trọng hàng đầu, sẵn
có để sử dụng cấp cứu phản vệ Và sốc phản vệ là mức độ nặng nhất của phản vệ do đột ngột giãn toàn bộ hệ thống mạch và co thắt phế quản có thể gây tử vong trong vòng một vài phút [2] Cần đảm bảo một số nguyên tắc trong công tác dự phòng phản vệ:
Cấp cứu phản vệ cần đưa thuốc vào bằng đường phù hợp nhất, chỉ tiêm khi không sử dụng được đường dùng khác
Chỉ thử phản ứng thuốc trong trường hợp có chỉ định của bác sĩ
Không được kê đơn thuốc, chỉ định dùng thuốc hoặc dị nguyên khi biết rõ sẽ gây phản vệ cho NB
Trường hợp không có thuốc thay thế phù hợp mà cần dùng thuốc hoặc dị nguyên
đã gây phản vệ cho NB phải hội chẩn chuyên khoa Dị ứng – Miễn dịch lâm sàng hoặc do bác sĩ đã được tập huấn về phòng, chẩn đoán và xử trí phản vệ để thống nhất chỉ định và phải được sự đồng ý bằng văn bản của NB hoặc đại diện hợp pháp của
NB
Việc thử phản ứng trên NB với thuốc hoặc dị nguyên đã từng gây dị ứng cho
NB phải được tiến hành tại chuyên khoa Dị ứng – Miễn dịch lâm sàng hoặc do các bác sĩ đã được tập huấn về phòng, chẩn đoán và xử trí phản vệ thực hiện
Tất cả các trường hợp phản vệ phải được báo cáo và theo dõi phản ứng có hại của thuốc theo quy định hiện hành…
Vai trò của người điều dưỡng trong cấp cứu phản vệ
Trang 22Phản vệ là một cấp cứu nguy kịch, diễn biến nhanh, việc cấp cứu cần có sự phối hợp của đồng nghiệp, vì vậy khi phát hiện NB có biểu hiện phản vệ, người ĐD vừa phải khẩn trương thực hiện các bước cấp cứu, vừa phải hô/gọi mọi người tới để cùng phối hợp cấp cứu Thông tin cho mọi người bằng thực hiện cảnh báo theo quy định chung hoặc tuỳ theo quy định của từng bệnh viện
Trong cấp cứu người bệnh phản vệ, ngoài bác sỹ là người điều hành suốt quá trình cấp cứu thì người ĐD đóng vai trò quan trọng góp phần không nhỏ vào sự thành công của thủ thuật
+ Sự nhạy bén trong việc đánh giá người bệnh: Nếu người ĐD có kinh nghiệm
và nhận định tốt thì ngay khi quan sát NB đã đánh giá được tình trạng của họ và dừng ngay dị nguyên vào cơ thể NB, báo ngay cho bác sỹ hoặc thực hiện tiêm Adrenalin
để cấp cứu cho NB rồi gọi người hỗ trợ mà không chờ đợi chuyển vào phòng lấy sinh hiệu rồi mới thực hiện thủ thuật
+ Tác phong nhanh nhẹn: Vận chuyển bệnh nhân nhanh và thực hiện y lệnh nhanh
+ Thực hiện thủ thuật chính xác, đúng nguyên tắc và có hệ thống: Phần lớn người bệnh khi gặp tình trạng phản vệ sẽ diễn biến rất nhanh thậm chí ngừng tuần hoàn thì việc lấy đường truyền rất khó khăn hoặc bị phù toàn thân nên việc xác định được tĩnh mạch không phải là dễ Hoặc khi bóp bóng qua mặt nạ nhưng không theo nguyên tắc chữ E, chữ C thì khí sẽ không vào được phổi Do đó đòi hỏi người ĐD phải thường xuyên thực hành để làm thành thạo các thủ thuật này khi cấp cứu
+ Theo dõi sát các dấu hiệu sinh tồn: NB ngừng tuần hoàn hô hấp sau khi cấp cứu đã có mạch, HA trở lại nhưng việc tái ngưng tim là rất dễ xảy ra Do đó người
ĐD phải theo dõi sát để báo cáo kịp thời cho bác sỹ
+ Cuối cùng là tinh thần, thái độ đối với người bệnh: Phải kiên trì, tận tụy, cấp cứu NB bằng cả tấm lòng và trí tuệ của mình, phải xem họ như người thân ruột thịt của mình, đôi khi chỉ cần mình chịu khó thêm vài phút thì cứu được cả cuộc đời của
Trang 23một người và ngược lại Do đó phải chống thái độ thờ ơ, vô trách nhiệm, làm chỉ mục đích để đối phó mà không đem lại hiệu quả gì
Tóm lại, cấp cứu phản vệ là tình trạng bệnh lý nguy hiểm Bác sỹ phải ra y lệnh chính xác, kịp thời còn ĐD phải rèn luyện để thành thạo các kỹ năng trên để mang lại hiệu quả tốt nhất, mang niềm vui và hạnh phúc đến cho mỗi gia đình NB
Trang 24Chương 2
MÔ TẢ VẤN ĐỀ CẦN GIẢI QUYẾT
2.1 Giới thiệu khái quát về bệnh viện Da liễu Trung Ương
Bệnh viện Da liễu Trung Ương là một bệnh viện chuyên khoa Đơn vị y tế này mang chức năng khám và điều trị các bệnh về da liễu, đào tạo cán bộ y tế.Tiền thân của bệnh viện là khoa Bệnh lý Nội thương – Da liễu của bệnh viện Bạch Mai Năm
1954, giáo sư Đặng Vũ Hỷ tiếp quản khoa Bệnh lý Nội thương – Da liễu của bệnh viện Bạch Mai Ông cũng là trưởng bộ môn Da liễu tại trường Đại học Y Hà Nội Lúc này, giáo sư Đặng Vũ Hỷ đã có những đường hướng phát triển bộ môn da liễu
và đề cao các thực hành tại bệnh viện Bạch Mai Năm 1982, Bộ Y tế ra quyết định thành lập Viện Da liễu Việt Nam nằm trong hệ thống phòng ban của bệnh viện Bạch Mai Năm 2006, Thủ tướng Chính phủ đã ra quyết định thành lập Viện Da liễu Quốc gia trực thuộc Bộ Y tế Lúc này, Viện Da liễu Quốc gia đã trở thành một đơn vị hoạt động độc lập Năm 2009, Viện Da liễu Quốc gia được đổi tên thành Bệnh viện Da liễu Trung ương, do Bộ Y tế quản lý
Hình 1.2.Hình ảnh tổng thể Bệnh viện