1. Trang chủ
  2. » Y Tế - Sức Khỏe

Tổn thương HIV/AIDS của lao động đi làm ăn xa và hậu quả đối với những người ở lại pptx

7 476 2
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 7
Dung lượng 385,69 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Thoát ly đi làm của quần thể lao động nông thôn và nguy cơ phơi nhiễm đối với các bệnh lây truyền qua đường tình dục, bao gồm cả HIV/AIDS khi xa nhà có thể tác động đến người thân và gia

Trang 1

Tổn thương HIV/AIDS của lao động đi làm ăn xa và hậu quả đối với những người ở lại

PGS TS Đặng Nguyên Anh(*)

Hầu hết các nghiên cứu trước đây về di dân và sức khoẻ tập trung xem xét người di cư và ít chú trọng đến những vấn đề liên quan đến sức khỏe và phúc lợi của những người ở lại Bài viết này nhằm tìm hiểu tác động về mặt sức khỏe của lao động đi làm ăn xa từ góc độ cộng đồng địa phương Thoát ly đi làm của quần thể lao động nông thôn và nguy cơ phơi nhiễm đối với các bệnh lây truyền qua đường tình dục, bao gồm cả HIV/AIDS khi xa nhà có thể tác động đến người thân và gia đình khi họ về thăm nhà hoặc quay về sống tại quê hương Vấn đề rất đáng quan tâm là sự lây nhiễm HIV và các bệnh lây truyền qua đường tình dục mà người đi làm ăn xa đem về cho vợ/chồng của mình ở quê nhà Người phụ nữ nông thôn và nhất là người vợ thường ở vị trí bị động, dễ tổn thương đối với HIV do từ người chồng đi làm ăn xa đem về Đối với nhiều gia đình, đó là những mối quan hệ giằng xé giữa nguy cơ lây nhiễm HIV/AIDS với tình yêu, tình cảm vợ chồng, thu nhập và nguồn sinh kế mà di cư đi làm ăn xa đem lại Bài viết kết luận bằng một số đề xuất khuyến nghị phù hợp đối với chính sách và chương trình nhằm đáp ứng nhu cầu cần được bảo vệ và các kỹ năng phòng chống HIV/AIDS trong cộng đồng di cư cũng như cộng đồng ở lại quê nhà, theo hướng xây dựng các mô hình di cư an toàn.

Từ khóa: Di cư, phơi nhiễm.

The HIV/AIDS Vulnerability of Labour

out-Migrants and its Consequences on

the Left-behind

Most previous studies on migration and health have focused on the migrants themselves Little is known about the health and well-being of those who remained in the source communities This paper

is aimed at exploring how labour migration and its health risk effects can be assessed at a local con-text The out-migration of the rural labours and their exposure to STDs, including HIV/AIDS, can put families at risk Of foremost concerns are the HIV/STD transmissions which the migrants pass

on to their left-behind spouses Women and wives are in a passive and vulnerable position of con-tracting HIV from migrant husbands For many families, there exist tensions between the HIV/AIDS risk, love, affection, income and secured livelihoods brought about by out-migration The paper con-cludes with relevant recommendations for policies and programs, aiming at building models of safe mobility.

Key words: Migration, exposure

Tác giả:

PGS.TS Đặng Nguyên Anh, Trưởng phòng Quan hệ Quốc tế Viện Khoa học Xã hội Việt Nam, số 1 Liễu Giai -Hà Nội Email: danganhphat@yahoo.com.

Trang 2

1 Đặt vấn đề

Tính đến ngày 30/10/2006, số bệnh nhân nhiễm

HIV tích luỹ đã được thông báo chính thức tại Việt

Nam là 112.444 trường hợp, trong đó số đã chuyển

sang giai đoạn AIDS là 19.152 ca và số đã tử vong

vì AIDS là 11.555 ca Tuy nhiên con số ước tính

trên thực tế cao gấp ba lần và theo dự báo, sẽ có tới

1 triệu ca nhiễm HIV vào năm 2010 Mặc dù tỷ lệ

nhiễm HIV/AIDS trên cả nước vẫn dừng lại ở mức

0,44% song tình trạng lây nhiễm HIV đã lan ra cộng

đồng và có xu hướng trẻ hoá Các trường hợp nhiễm

HIV đã được ghi nhận tại tất cả 64 tỉnh thành của

cả nước, trên địa bàn của 50% xã phường hiện nay

Đa số bệnh nhân nhiễm HIV trong nhóm tuổi 20-29

(chiếm 55,3%) trong đó nam giới chiếm 85% số

nhiễm phát hiện được Trong những năm gần đây,

lây truyền HIV diễn ra dễ dàng hơn và trở nên phức

tạp hơn [5] Bên cạnh con đường lây truyền chính

qua tiêm chích ma tuý (51,4 %), nam giới là khách

làng chơi còn quan hệ với gái mại dâm hoặc có tình

dục đồng giới và truyền virut cho vợ hay bạn tình

của mình, rồi đến lượt mình những bạn tình này lại

có thể có quan hệ tình dục với người đàn ông khác

Đó là chưa kể đến tình trạng để có tiền tiêm chích

hoặc được bao thuốc miễn phí, gái mại dâm sẵn

sàng đi khách và quan hệ với nhiều bạn tình, từ đó

HIV/AIDS lan rộng ra cộng đồng

Trong tất cả các nguy cơ lây nhiễm HIV/AIDS

nói trên thì di biến động dân số lại ít được xem xét

(UNAIDS và WHO) [7] Thực tế đã cho thấy tỷ lệ

mắc các bệnh lây truyền qua đường tình dục và

HIV/AIDS khá phổ biến trong nhóm người có tiền

sử đi lại và di biến động nhiều Hầu hết những người

đi làm ăn xa quê hương khi về thăm nhà, vợ chồng

đoàn tụ theo định kỳ Đối với nhóm lao động đi làm

ăn xa, sau những lần trở về và ra đi theo mùa vụ,

lao động di cư có thể để lại tổn thương HIV cho

những người thân ở lại quê hương Tuy nhiên, có rất

ít những nghiên cứu giám sát dịch tễ học ở châu Á

được tiến hành trong nhóm người lao động di cư

(UNAIDS[8] Tại Việt Nam, tình hình nhiễm HIV

trong nhóm dân số di cư và các yếu tố dẫn đến sự

tổn thương HIV còn ít được biết đến Lao động di cư

sống và làm việc ở những nơi có tỷ lệ nhiễm HIV

cao như trung tâm đô thị, khu công nghiệp, biên

giới, cảng biển, vùng mỏ, đào đãi vàng Trong

hoàn cảnh đi làm ăn có tiền, lại không có sự kiểm

soát của cộng đồng hay gia đình ở bên nên một số

người có điều kiện quan hệ với gái mại dâm, có bạn

tình, sử dụng và tiêm chích ma tuý Trong khi đó,

do vị thế pháp lý yếu thế tại nơi đến nên lao động

di cư thiếu những kiến thức phòng tránh các bệnh lây truyền qua đường tình dục, bao gồm cả HIV/AIDS và ít có điều kiện tiếp cận các dịch vụ y-tế công cộng Điều này càng làm trầm trọng thêm những rủi ro và nguy cơ tổn thương đối với HIV/AIDS trong nhóm dân di biến động

Cơ sở nghiên cứu

Nghiên cứu này nhằm mục đích tìm hiểu một số yếu tố gây nên tổn thương với HIV trong nhóm lao động di cư, kiếm sống ở nơi khác và tác động đến những người thân ở lại từ góc độ lây nhiễm HIV/AIDS Đây là chủ đề còn ít được biết đến, song có ý nghĩa lớn đối với việc xem xét các chính sách phát triển nông thôn cũng như tạo cơ sở khoa học cho những hỗ trợ can thiệp nhằm ngăn chặn tốc độ lây lan của đại dịch AIDS ra ngoài cộng đồng

2 Phương pháp nghiên cứu

Nghiên cứu đánh giá này sử dụng phương pháp định tính để thu thập số liệu với các kỹ thuật thảo luận nhóm tập trung (FGD), phỏng vấn sâu cá nhân (IDI) Các cuộc thảo luận nhóm tập trung được thực hiện với những người đã từng đi làm ăn xa và với những người di biến động đang trong thời gian thăm nhà Để có thể thu thập được những thông tin toàn cảnh về đời sống gia đình, người thân (vợ/chồng; mẹ đẻ) của họ cũng tham gia thảo luận Tất cả các đối tượng tham gia nghiên cứu đều được giải thích cụ thể về mục đích, nội dung nghiên cứu để đối tượng tham gia tự nguyện và cung cấp các thông tin chính xác Tính riêng tư trong việc thu thập thông tin đều được đặc biệt nhấn mạnh, và thực hiện nghiêm túc trong suốt quá trình nghiên cứu Các cuộc thảo luận nhóm tập trung và phỏng vấn sâu cá nhân chỉ được thực hiện sau khi có sự đồng ý tham gia của đối tượng Các thông tin được giữ kín, không gắn với tên của người được phỏng vấn

Những người đồng ý tham gia phỏng vấn có nam, có nữ, đã xây dựng gia đình và chưa kết hôn, người đi làm ăn xa cũng như người ở lại Độ tuổi của người trả lời từ 18-54, nhưng số đông chủ yếu trong nhóm tuổi dưới 35 tuổi Nhiều người đã có một quá trình đi làm ăn xa nhà, đến nhiều tỉnh thành và vùng miền khác nhau Thành phần tham gia phỏng vấn đảm bảo sự đa dạng về giới tính, tuổi và đôi khi trong điều kiện cho phép cả về nghề nghiệp Kiến

Trang 3

thức, thái độ, quan niệm về việc nhiễm và lây

truyền HIV được tìm hiểu kỹ trong quá trình thu

thập thông tin

Bảng 1 tóm tắt thông tin về đối tượng tham gia

phỏng vấn Tổng số, có 5 cuộc thảo luận nhóm và

15 cuộc phỏng vấn sâu cá nhân được thực hiện, với

tổng số 48 đối tượng có đặc trưng nhân khẩu xã hội

khác nhau Một số đã từng đi làm ăn xa trước đây,

nay quay về quê nhà sinh sống Một số khác đang

về thăm nhà, và tất nhiên không thể thiếu được

những người vợ/chồng của đối tượng hiện đang đi

làm ăn xa

3 Kết quả nghiên cứu

3.1 Lao động đi làm ăn xa

Điều kiện sống, nơi ăn chốn ở của lao động đi

làm ăn xa là nhân tố gây tổn thương đối với sức

khoẻ Đại đa số sống tại nhà trọ hoặc lều quán dựng

ngay tại nơi làm việc Trong nhiều trường hợp,

10-15 nam giới có thể ở chung một diện tích 20m2và

ăn ngủ luôn trên sàn nhà Thường thì nơi ở không

có nhà vệ sinh Giếng khoan là nguồn nước sinh

hoạt chủ yếu khi làm ở thành thị hoặc sông suối ở

nông thôn Do công việc khá nặng nhọc và điều

kiện sống thiếu thốn tại nơi đến, một số người bị sốt

rét hay sốt cao Đối với lao động nữ ở trọ thì các

điều kiện sinh hoạt cũng không khá hơn là bao

Công trình phụ ở những điểm ngụ cư này thường là

nơi tắm chung và sẽ không còn chỗ nếu đi tắm

muộn Đối với một số nghề lao động phổ thông như

chị em bán chuối rong hay nam giới đạp xích-lô chở

hàng thì người lao động phải thức giấc từ sớm để có

thể kịp đến các chợ đầu mối họp vào ban đêm hoặc

rạng sáng Không phân biệt nam nữ, tất cả đều sẵn

sàng chấp nhận những điều kiện sinh hoạt thiếu

thốn để giữ nghề và có đủ tiền cho gia đình

Người lao động không chỉ trải nghiệm những gì

xảy ra trong cuộc sống khi xa nhà mà còn thay đổi

cả những hành vi của mình Kết quả từ nhiều cuộc

thảo luận với người lao động đi làm ăn xa cho thấy

họ có những thay đổi hành vi cùng với di cư như

uống rượu, hút thuốc, một số thử hít heroin, ma tuý,

đánh bài: "Vào những ngày mưa to, khi không đi

làm được cả nhóm chơi bài, góp một ít tiền Những

người trẻ chưa có gia đình thì đi vui vẻ Bọn trẻ

không tiết kiệm được nhiều tiền như chúng tôi, vì

chúng nó đi uống, hát karaoke, và chơi gái” (Nam,

công nhân xây dựng, 39 tuổi, 2 con).

Nam thanh niên đã có gia đình cũng gặp hoàn cảnh như vậy khi họ sống xa vợ con Với các trường hợp này, sống xa nhà cũng là cơ hội tránh được sự kiểm soát của cha mẹ, gia đình, láng giềng, trong khi đó, trong túi lại có tiền mặt Việc bạn bè mời mọc rủ nhau ra quán ăn uống và sau đó chơi bời là khó có thể tránh khỏi Đặc biệt, những người ở thuê nhà riêng thường cho biết họ có quan hệ tình dục với gái mại dâm hoặc bạn tình dễ dàng hơn do không phải lo lắng e ngại bạn bè cùng quê biết

Còn với lao động nữ khi xa nhà, tuy nguy cơ dính dáng đến ma tuý, cờ bạc hay tệ nạn xã hội là rất thấp, song chị em làm các nghề như bán hàng rong, gánh thuê, lau chùi nhà cửa, giúp việc quán xá lại gặp phải những rủi ro khác Nguy cơ mà chị

em thường đề cập là sự quấy rối và lạm dụng tình dục của những ông chủ thuê mướn lao động và những kẻ xấu Bản thân lao động nam cùng khu trọ cũng lợi dụng những phụ nữ xa nhà Qua trao đổi thảo luận, kết quả còn cho thấy một số nữ thanh niên trẻ bị rơi vào cạm bẫy và trở thành người phục vụ tại các quán cà phê mà nhiều khi không hay biết rằng nguy cơ tổn thương HIV là rất lớn:

"Cô em sống ở thành phố Hồ Chí Minh, cô ấy gọi em vào bán càfê cho cô ấy Em sống cùng gia đình cô nhưng buổi tối thì phục vụ khách khi quán bắt đầu mở Cũng đã xảy ra chuyện ấy với khách đến quán Cô ấy trả em rất cao và em quyết định bỏ nghề thêu trong xí nghiệp” (Nữ, 26 tuổi, độc thân)

3.2 Trải nghiệm của những người đi làm ăn xa về vấn đề sử dụng ma tuý

Nhiều lao động khi đi làm ăn xa đã thử sử dụng

ma tuý cùng với nhóm bạn, mà đa số là do bị rủ rê, lôi kéo, tò mò, do áp lực của công việc và đặc biệt là do sống xa gia đình Lúc đầu là thử hút, và sau khi đã quen rồi chuyển sang tiêm chích Một trường hợp người được hỏi đã cho biết hành vi của mình thay đổi chỉ sau 1 năm làm việc: Đầu tiên là hút thử với bè bạn, hút 3 lần một ngày, sau đó chuyển sang chích heroin 1-2 lần/ngày giá cao khoảng 300.000 đồng/ngày Sau đó gia tăng cường độ, chích 5-6 lần/ngày sử dụng loại thuốc đen rẻ tiền chỉ mất 20.000 đồng/ngày Đối với người nghiện chích, lần đầu tiên là chích cocain/heroin, sau khi đã làm quen với hút thuốc phiện Song do hút thì cần phải có chỗ để hút, nên dễ bị công an phát hiện, do đó họ đều có xu hướng chuyển sang tiêm chích:

"Năm 1996, khi mà ma tuý bị cả xã hội lên án,

Trang 4

việc hút trở nên không thuận tiện nữa vì chẳng có

nơi nào bán cả, nên chúng em đã chuyển sang

chích” (Nam, tiêm chích, HIV+, 28 tuổi, 1 con).

Thông thường, những người tiêm chích dùng

chung bơm kim tiêm lần đầu phải giúp nhau tìm

tĩnh mạch (ven) mới Điều này dẫn đến nguy cơ sử

dụng chung bơm kim tiêm ngay từ trong lần đầu

tiêm chích Tuy nhiên lý do cho thấy thật đa dạng,

và trong hoàn cảnh rất khác nhau:

"Vì mắt cháu kém nên không thể tự tìm tĩnh

mạch cho mình được Cháu phải nhờ bạn giúp,

chẳng biết chúng nó dùng xi lanh mới hay cũ nữa”

(Nam, tiêm chích, 23 tuổi, độc thân).

"Khi 5 đứa bọn em cùng chờ để chích thì chỉ có

3 xi lanh thôi, nên một người phải rửa bơm kim tiêm

bằng nước trước khi chích Về sau cứ hai người

chung một bơm kim tiêm” (Nam, tiêm chích, 42

tuổi, đã kết hôn)

3.3 Sử dụng bao cao su và nhận thức về HIV

Ở Việt Nam, trải qua một thời gian dài, bao cao

su được sử dụng chủ yếu như là biện pháp tránh thai

và ít được tuyên truyền như một phương tiện để

ngăn ngừa các bệnh lây qua đường tình dục Trong

nhiều giai đoạn thăng trầm của chương trình Dân số

- Kế hoạch hoá gia đình, vòng tránh thai vẫn là biện

pháp tránh thai phổ biến được tuyên truyền sử dụng

ở nông thôn Có nhiều bằng chứng cho thấy từ các

nghiên cứu khác là bao cao su ít khi được sử dụng

trong nhóm khách làng chơi [6] Nam giới mua dâm

sẵn sàng trả thêm tiền cho gái để không phải sử

dụng bao cao su hoặc bản thân gái mại dâm cũng

tuỳ khách quen hay sơ mà sử dụng [1,2] Tỷ lệ sử

dụng bao cao su và sử dụng thường xuyên của gái

mại dâm được báo cáo là không quá 20% ở một số

tỉnh được tiến hành khảo sát như Đồng Tháp, An

Giang, Kiên Giang[4]

Kết quả phỏng vấn tiến hành tại Vũ Tây, Thái

Bình cho thấy tỷ lệ sử dụng bao cao su thấp trong

nhóm lao động nam đi làm ăn xa mặc dù hầu hết ý

thức được rằng bao cao su có thể giúp ngăn ngừa

được HIV và các bệnh xã hội Nam giới phản ứng

khá gay gắt với việc dùng bao cao su để phòng lây

truyền HIV và các bệnh lây truyền qua đường tình

dục bởi vì trong ý kiến của họ “bao cao su không

thích hợp với những người chung thuỷ như chúng tôi"

(Nam giới, 39 tuổi, 2 con) Đây là một nghịch lý phản

ánh nhận thức và kiến thức phòng chống HIV/AIDS

của lao động đi làm ăn xa còn thiếu và yếu

Kết quả nghiên cứu cũng cho thấy nhiều nam giới trong nhóm lao động đi làm ăn xa cho biết họ đã có quan hệ với gái mại dâm và bạn tình Rất ít đối tượng sử dụng bao cao su và không ai thừa nhận đã sử bao cao su thường xuyên khi có quan hệ tình

dục với gái mại dâm: "Gái bán dâm không dám yêu cầu khách hàng sử dụng bao cao su bởi vì họ được trả tiền Khi chúng tôi uống rượu say, chúng tôi không sử dụng bao cao su Nhiều khi đã ở trong rồi thì rút ra để đi bao cũng không có tác dụng gì” (Nam giới, buôn bán nhỏ, 28 tuổi)

Tuy có những hành vi nguy cơ cao như vậy song tất cả đều mong muốn mình không bị dính vào bệnh tật và lại càng không muốn để vợ con biết chuyện vui vẻ khi xa nhà Vấn đề là ở chỗ không một ai trong mẫu khảo sát cho biết có sử dụng bao cao su khi về thăm nhà Điều khá ngạc nhiên là đối với người vợ ở lại quê hương, hầu hết các chị đều biết rằng đàn ông không chung thuỷ khi làm ăn xa nhà Không một trường hợp được phỏng vấn nào cho rằng chồng mình có sử dụng bao cao su khi có quan

hệ tình dục với gái mại dâm: "Tôi xin đánh cuộc rằng họ không bao giờ sử dụng vì ngay cả với vợ họ còn không dùng nữa là với người phụ nữ mới gặp thì họ càng không sử dụng bao cao su” (Nữ nông dân,

26 tuổi, 2 con) Nhận định này phản ánh sự hiểu

biết của chị em đối với hoàn cảnh và cuộc sống của người chồng khi làm ăn xa nhà Dường như trong suy nghĩ của chị em, việc đàn ông tìm đến gái mại

dâm khi cô đơn là có thể chấp nhận được: "Tôi để cho anh ấy đi, điều quan trọng nhất là anh ấy mang tiền về nhà Xa nhà, xa vợ con, tôi không ngăn anh ấy đến với các thú tiêu khiển được, ngay cả chuyện quan hệ nam nữ” (Nữ nông dân, 32 tuổi, 2 con)

Tuy nhiên, chị em lại luôn tự nhủ và tin rằng nếu người vợ chung thuỷ với chồng thì bản thân họ sẽ không bị nhiễm HIV Một số hiểu rằng họ có thể

bị nhiễm các bệnh lây truyền qua đường tình dục từ người chồng nhưng không ai nghĩ đến việc lây nhiễm HIV Điều này cho thấy kiến thức và hiểu biết của chị em về căn bệnh này còn rất hạn chế Công tác tuyên truyền và thông điệp truyền thông HIV/AIDS chưa thực sự sâu rộng đối với chị em phụ nữ nông thôn cũng như đối với cộng đồng ở lại Hạn chế này còn được thể hiện qua tâm sự của một số chị em về những khó khăn trở ngại về mặt xã hội

và chương trình khi tiếp cận với bao cao su: "Em đã đặt vòng, vì vậy mà không được nhận bao cao su từ chương trình cộng đồng Ngoài ra, em không dám

Trang 5

mua bao cao su khi chồng đi vắng, mẹ chồng em sẽ

căn vặn ngay, và thậm chí anh ấy cũng nghi ngờ

lòng chung thuỷ của em” (Nữ nông dân, 26 tuổi, 2

con) Rõ ràng là trong bối cảnh ở một số làng quê

hiện nay, việc tiếp cận và sử dụng bao cao su có

những khó khăn nhất định Chị em phụ nữ khó có

thể chủ động sử dụng bao cao su nếu như thiếu sự

hợp tác của nam giới: "Chồng em thường về nhà

ban đêm, vì vậy em không có cách nào để chuẩn bị

trước được Anh ấy cũng phản đối rằng tại sao lại

phải dùng bao cao su nếu như anh ấy chung thuỷ với

em” (Nữ nông dân, 25 tuổi, 1 con)

Tương tự như vậy, một đối tượng khác nói đến

trở ngại trong việc sử dụng bao cao su mỗi khi người

chồng về thăm nhà: "Anh ấy thường về muộn mà

không thông báo trước gì cả Mà không dễ dàng gì

cho em lấy được bao cao su khi quan hệ, cho nên bọn

em không sử dụng nó trong tất cả các lần” (Nữ

nông dân, 31 tuổi, 2 con)

Nhìn chung, những người vợ ở lại đều nghe đến

tên căn bệnh HIV/AIDS và đa số đều biết AIDS là

không thể chữa trị được Một số có thể kể tên được

một số cách phòng chống lây nhiễm cơ bản song

không ít người vẫn tin rằng, HIV có thể lây qua

đường ăn uống cùng nhau, cắt tóc, bắt tay với người

nhiễm HIV, v.v Nếu so với phụ nữ thì nam giới có

kiến thức về HIV/AIDS tốt hơn, do được đi lại và

giao tiếp nhiều hơn, trình độ học vấn cao hơn và

được tiếp cận với nhiều thông tin hơn Tuy chị em

thừa nhận họ không biết rõ hoặc hiểu rõ về

HIV/AIDS, song tất cả đều mong muốn có được cơ

hội tìm hiểu kiến thức về đại dịch này

Tâm thế của những người ở lại về người

thân đi làm ăn xa

Chị em phụ nữ ở lại quê hương cho biết rằng

chồng con của họ khi xa nhà có thể vui vẻ ăn nhậu

với bạn bè, kể cả đi hát karaoke Nhiều người vợ

còn tin rằng chồng họ có quan hệ tình dục với gái

mại dâm khi xa nhà Một người phụ nữ biểu lộ quan

điểm của mình về nhóm này: "Ham muốn của cánh

nam giới [những người chồng] tăng lên khi họ xa vợ

con, cho nên họ tìm đến các thú tiêu khiển" (Nữ

nông dân, 31 tuổi, 2 con, chồng đi làm ăn xa) Tuy

nhiên, chị em dường như chấp nhận việc chồng làm

điều đó bởi vì theo chị em, nam giới đã phải lao

động vất vả để nuôi gia đình, vợ con

Đối với những người vợ sống ở nhà, vấn đề là

sự thiếu vắng người chồng, người đàn ông Trong

suy nghĩ của họ, họ không muốn chồng mình đi xa song vì sự tồn tại của gia đình và đời sống kinh tế nên họ hiểu rằng chồng họ phải đi làm ăn, xa vợ xa con Điều khiến họ lo lắng nhất là tình trạng sức khoẻ của chồng, luôn lo rằng người thân có thể bị tai nạn hay bị đau ốm khi "trái gió, trở giời" mà không có người thân chăm sóc ở bên Một người vợ

tâm sự: “Anh ấy có thể gặp tai nạn trên đường, như ngã xe máy trong tình trạng quá say rượu."

Sự giằng xé giữa sinh kế cho gia đình, giữa tình yêu, tình cảm vợ chồng và rủi ro mà người ra đi gặp phải được thể hiện qua khái niệm: tình cảm trực tiếp và "tình cảm gián tiếp thuật ngữ thường được chị em sử dụng khi nói về người chồng xa nhà của mình Tình cảm trực tiếp được được áp dụng khi người chồng ở nhà không đi làm ăn xa, được gần gũi với gia đình vợ con Còn tình cảm gián tiếp có nghĩa là người chồng phải lo toan kiếm sống để nuôi gia đình, và vì vậy mà phải chấp nhận đi xa, thiếu thốn tình cảm Đối với người ở lại, cả hai loại tình cảm đều được chị em trân trọng vì đều là công sức mà người chồng mình làm ra

Là lao động chính nên khi nam giới xa nhà, người phụ nữ phải làm việc vất vả hơn Họ vừa phải chăm lo kinh tế gia đình hàng ngày, trông nom ruộng đồng, chăm sóc bố mẹ chồng, lại vừa phải kiếm sống và nuôi dạy con cái Sẽ là ngạc nhiên nếu như chị

em không coi đó là một gánh nặng đè sâu trong lòng Tuy nhiên, tất cả đều cố gạt đi những vất vả khó khăn, quên đi nhu cầu hạnh phúc nghỉ ngơi của bản thân, cố gắng và chịu đựng nhiều hơn khi chồng vắng nhà Họ sẵn lòng hy sinh cho gia đình, cho bố mẹ chồng và cho con cái mà không một chút kêu ca phàn nàn về hoàn cảnh đang phải chịu đựng

4 Bàn luận

Vấn đề quan tâm nhất của nghiên cứu này là nguy cơ phơi nhiễm HIV (cùng với các bệnh lây truyền qua đường tình dục khác) trong nhóm người

di biến động mà trước hết là trong lao động đi làm ăn xa do thiếu các kiến thức cơ bản về HIV để có thể hạn chế được những nguy cơ lây nhiễm HIV Cộng đồng xã Vũ Tây chỉ là một ví dụ điển hình về sự lây lan nhanh chóng của HIV từ bên ngoài khi mà các biện pháp bảo vệ không được chuẩn bị và phòng ngừa hiệu quả đối với từng gia đình trong xã Như đã đề cập qua kết quả nghiên cứu, vợ và con của người chồng đi làm ăn xa và nhiễm HIV đều đã bị lây nhiễm vào thời điểm khảo sát ở Vũ Tây

Trang 6

Lao động đi làm ăn xa ở vùng nông thôn di

chuyển đến nhiều vùng khác nhau Tại những nơi

đến, do các ràng buộc và kiểm soát xã hội không

còn nên việc quan hệ tình dục ngoài hôn nhân hay

sử dụng ma tuý là những hành vi được dễ dàng chấp

nhận Lao động đi làm ăn xa thường chịu sức ép của

bè bạn cùng nhóm có hoàn cảnh xa nhà giống mình

Quan hệ với gái mại dâm, với bạn tình hay sử dụng

rượu bia, ma túy giúp làm giảm đi nỗi cô đơn khi xa

nhà, khi không có điều kiện hòa nhập vào cộng

đồng xã hội nơi đến Song, các hành vi đó lại làm

tăng nguy lây nhiễm HIV đối với bản thân và cho

cộng đồng người thân ở quê nhà

Nội dung phỏng vấn thu được ở Vũ Tây cho thấy

người vợ không thể từ chối người chồng, cũng như

không thể yêu cầu chồng mình phải chung thủy hay

sử dụng bao cao su khi đi làm ăn xa Quyết định

quan hệ tình dục và sử dụng bao cao su cho đến nay

là do nam giới chủ động Điều này khiến cho phụ

nữ nông thôn trở nên thụ động trong quan hệ tình

dục an toàn, trong khi đó lại đem đến cho nam giới

những hành vi nguy cơ cao Chung thủy là một sự

lựa chọn đúng đắn song định kiến giới và khoảng

cách chênh lệch về kiến thức giữa nam giới và phụ

nữ đang là những hạn chế trở ngại cho công tác

phòng chống HIV/AIDS Trong nhiều năm, các

chương trình phòng chống AIDS tại cộng đồng chủ

yếu tuyên truyền kêu gọi sự chung thủy trong cuộc

sống vợ chồng, tránh xa các tệ nạn xã hội Cách tiếp

cận này vô hình chung đã đặt phụ nữ vào vị thế thụ

động, không an toàn trong quan hệ với nam giới Tỷ

lệ nhiễm khuẩn đường sinh sản của phụ nữ nông

thôn cao còn làm cho nguy cơ lây nhiễm HIV cao

hơn từ người chồng Bên cạnh đó, yếu tố tâm lý xã

hội như niềm tin và tình yêu, sự hy sinh cũng là cấu

phần quan trọng trong cuộc sống gia đình và quan

hệ vợ chồng mà không dễ dàng lay chuyển được,

ngay cả khi người chồng thiếu sự chung thủy

Nghiên cứu tính tổn thương HIV/AIDS trong

nhóm dân di biến động không phải là để quy trách

nhiệm cho lao động đi làm ăn xa về sự lây truyền của

đại dịch AIDS trong cộng đồng Cần thấy được rằng

lao động nông thôn đi làm ăn xa đang là nhóm bị tổn

thương trước nguy cơ phơi nhiễm đối với HIV/AIDS

và việc giảm thiểu các yếu tố và nguy cơ dẫn đến

tổn thương này là hết sức cần thiết mà các chương

trình, chính sách can thiệp cần lưu ý Sau đây là một

số khuyến nghị từ kết quả nghiên cứu:

● Việc phổ cập và phân phát bao cao su tại nơi

công cộng, nhà hàng, karaoke, quán cà phê, nhà trọ, nơi cư trú của lao động di cư là rất quan trọng như một phương thức giảm thiểu tác hại Tuy nhiên, để giảm thiểu nguy cơ lây nhiễm HIV, cần phải làm nhiều hơn việc phân phát bao cao su đến tay người sử dụng Cần tập trung nguồn lực làm sao cho hoạt động truyền thông thay đổi hành vi tiếp cận được đến người lao động đi làm ăn xa tại nơi đến cũng như tại quê nhà Những tác động can thiệp về nâng cao kiến thức, nhận thức, và truyền thông đến từng hộ gia đình ngay từ trước khi các thành viên đi làm ăn xa, tại địa bàn nơi họ đến cũng như trong suốt quá trình lao động làm ăn xa là rất cần thiết nhằm trang bị và tăng khả năng phòng vệ cho người di cư

đi làm ăn xa trước nguy cơ tổn thương đối với HIV/AIDS

HIV/AIDS hiện rất thấp, trong khi những biện pháp phòng tránh của chị em lại mơ hồ Cần hỗ trợ cho những người vợ sống ở quê nhà bằng việc cung cấp các dịch vụ tư vấn và xét nghiệm tự nguyện, tình dục an toàn, đảm bảo sự tham gia của phụ nữ và nâng cao năng lực ra quyết định của họ trong quan hệ vợ chồng Để làm được như vậy cộng đồng ở lại cần có những hoạt động tuyên truyền sâu rộng nhằm hỗ trợ cho những thay đổi trong nhận thức, thái độ và hành vi sao cho toàn thể cộng đồng hiểu được rằng việc phòng chống HIV/AIDS là trách nhiệm của người đi làm ăn xa cũng như người ở lại quê hương, đòi hỏi sự tham gia của chính quyền địa phương cũng như của gia đình, gia tộc

● Có thể nhận ra lỗ hổng trong chương trình phòng chống AIDS ở Việt Nam hiện nay HIV/AIDS được hiểu là vấn đề liên quan đến sức khoẻ, tính mạng và có thể xử lý thông qua dịch vụ

y tế Ở nhiều cấp, nhiều ngành công tác phòng chống HIV/AIDS được coi như là trách nhiệm của ngành y tế Các can thiệp liên ngành, đa ngành, đa lĩnh vực đối với HIV/AIDS còn rất thiếu và yếu, đặc biệt cho nhóm người di biến động và lao động đi làm ăn xa Điều đó dẫn đến thực tế là các chính sách phòng chống HIV/AIDS chưa thực sự mang tính đa ngành và liên ngành Để phòng chống AIDS, không thể chỉ dựa vào những phân tích dịch tễ học mà cần chú trọng những yếu tố hành vi, yếu tố tâm lý xã hội

vì HIV/AIDS về bản chất là căn bệnh xã hội, không phải là bệnh dịch thông thương khác như viêm đường hô hấp cấp tính, cúm gia cầm, viêm gan B, lao phổi

Trang 7

Tài liệu tham khảo

1 Đặng Nguyên Anh và Lê Bạch Dương (2002) -"Issues of

Sexuality and Gender in Vietnam: Myths and realities of

penile implants and sexual stimulants Research Report”

Canberra: The Australian National University.

2 Khuất Thu Hồng và cộng sự (1998)- "Mại dâm và các hệ

lụy kinh tế - xã hội Báo cáo nghiên cứu Hà Nội: Viện Xã

hội học.

3 Trung tâm Y tế dự phòng tỉnh Thái Bình (PPMC)

(2001)-Báo cáo tổng kết thực trạng lây nhiễm HIV/AIDS tỉnh Thái

Bình Sở Y tế Thái Bình

4 Uỷ ban Dân số Gia đình Trẻ em Việt Nam (NCPFC)

(2002) - Báo cáo khảo sát hành động cộng đồng phòng

chống HIV/AIDS tại 5 tỉnh Lai Châu, Quảng Trị, Đồng

Tháp, An Giang, Kiên Giang Dự án phòng chống HIV/AIDS

trong cộng đồng

5 National Committee for AIDS, Drugs and Prostitution Control (NCADPC) 2005 Second country report on fol-lowing up to the declaration of commitment on - Declaration commitment on HIV/AIDS adopted at the 26th United Nations General Assembly Reporting period: Jan 2003 -Dec 2005.

6 National Committee for Population and Family Planning (NCPFP) (1997) - Workshop Report on Reproductive Health and Reproductive Tract Infections Hanoi: Population Council.

7 United Nations Agency for AIDS and World Health Organization (UNAIDS and WHO) (2004) - AIDS Epidemic Update UNAIDS/04.45E English original, December 2004 Geneva: UNAIDS and WHO.

8 United Nations Joint Program on AIDS (UNAIDS) (2004) -The 2004 Report on the global AIDS epidemic: The 4th global report UNAIDS/04.16E English original, June

2004 Geneva: UNAIDS.

● Để làm được như vậy, những người lập chính

sách và chương trình y tế công cộng hiện nay cần

đổi mới nhận thức, quan tâm đến đối tượng đi làm

ăn xa, phòng chống HIV/AIDS với sự tham gia tích

cực của người sử dụng lao động, của chủ doanh

nghiệp, của chính quyền các cấp, của người dân sở

tại nơi có nhiều lao động đến làm ăn Tất cả nhằm cung cấp các thông tin và dịch vụ phòng chống HIV/AIDS thuận tiện và dễ dàng hơn, xây dựng mô hình di cư an toàn cho người lao động di cư - những người đã và đang đóng góp tích cực cho sự tăng trưởng và phát triển của đất nước

Ngày đăng: 25/03/2014, 21:20

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w