Tuồng – Hát Bội là một kiểu sân khấu tự sự, trình bày nỗi lòng của nhân vật, diễn biến tình cảm của nhân vật, chú ý đặc tả con người bằng hành động và điệu bộ sân khấu.. Đặc điểm chung c
Trang 1BỘ VĂN HOÁ THỂ THAO VÀ DU LỊCH
Trang 2MỤC LỤC
I SƠ LƯỢC VỀ NGUỒN GỐC VÀ LỊCH SỬ NGHỆ THUẬT TUỒNG – HÁT BỘI 3
1 Khái niệm 3
2 Tên gọi 3
3 Nguồn gốc – Quá trình hình thành và phát triển 4
a Thời kỳ phôi thai - thời Tiền Lê 4
b Thời kỳ phát triển - thời nhà Lý Trần 4
c Thời kỳ suy vi – thời nhà Hồ 4
d Thời kỳ từ thế kỷ XVII – XVIII 5
e Thời triều Nguyễn - thế kỷ XIX 5
f Giai đoạn đầu thế kỷ XX đến năm 1945 6
g Thời kỳ sau năm 1945 đến nay 6
II ĐẶC ĐIỂM SÂN KHẤU NGHỆ THUẬT 7
1 Kịch bản 7
2 Hệ thống nhân vật 7
a Mô hình Kép 7
b Mô hình Đào 8
c Mô hình Tướng 9
d Mô hình Yêu đạo 9
e Mô hình Nịnh 9
f Mô hình Lão 10
3 Sân khấu 10
4 Phục trang 11
5 Hoá trang 12
6 Đạo cụ 14
7 Điệu bộ - Động tác - Biểu cảm 15
a Đôi mắt: 16
Trang 3b Điệu bộ tay: 16
c Điệu bộ chân: 17
8 Vũ đạo 17
III ĐẶC ĐIỂM ÂM NHẠC TUỒNG – HÁT BỘI 19
1 Thang âm 19
2 Giai điệu 21
3 Ngữ khí – Kỹ thuật Thanh nhạc 22
4 Tiết tấu 23
5 Làn điệu 25
a Làn điệu Xướng 25
b Làn điệu Hát 28
c Bài lẻ 35
6 Dàn nhạc Hát Bội 35
a Bộ gõ 36
b Bộ hơi 37
c Bộ dây 37
IV NGHỆ THUẬT TUỒNG – HÁT BỘI NGÀY NAY 38
Trang 4I SƠ LƯỢC VỀ NGUỒN GỐC VÀ LỊCH SỬ NGHỆ THUẬT TUỒNG – HÁT BỘI
1 Khái niệm
Tuồng – Hát Bội là nghệ thuật sân khấu cổ truyền Việt Nam có lối kịch hát cách điệu cao, có nhạc đệm Tuồng – Hát Bội là một kiểu sân khấu tự sự, trình bày nỗi lòng của nhân vật, diễn biến tình cảm của nhân vật, chú ý đặc tả con người bằng hành động và điệu bộ sân khấu
Đặc điểm chung của Tuồng – Hát Bội là tính kịch, tính bi hùng, mang theo những tấm gương nhân vật tận trung báo quốc, xả thân vì đại nghĩa, những bài học về lẽ ứng xử của con người giữa cái chung và cái riêng, giữa gia đình và Tổ quốc, chất bi hùng là một đặc trưng thẩm mỹ của nghệ thuật Tuồng – Hát Bội Có thể nói đây là sân khấu của những người anh hùng Loại hình này khác biệt với cải lương xã hội, cải lương Hồ Quảng (cải lương tuồng cổ), thoại kịch, opera là những hình thức diễn xướng sân khấu mới ra đời trễ
và được chuộng hơn
2 Tên gọi
Tuồng còn được gọi là “Hát Bộ” hoặc “Hát Bội” Tên gọi “Tuồng” phổ biến ở miền Bắc và được giới nghiên cứu sân khấu gọi chung trong những tài liệu đã được xuất bản
- Theo Giáo sư Đoàn Nồng trong cuốn «Sự tích và Nghệ thuật Hát Bộ», “Bộ” nghĩa
là bước đi, đi bộ; “hát bộ” nghĩa là vừa hát vừa đi, và làm bộ tịch để biểu diễn cảm giác, cảm tình với câu hát Không một thể loại nào nhiều điệu bộ bằng hát tuồng Hát nói, hát xẩm, hát xoan, hát trống quân, ca Huế, hát giã gạo, hát chèo đò, chỉ dùng câu hát với giọng đàn, người hát không làm điệu bộ, cho đến cả nét mặt cũng thản nhiên, vì thế, người ta gọi là “tuồng hát bộ” để tôn cái đặc sắc ấy lên
- Theo tác giả Trần Văn Khải trong cuốn «Nghệ thuật sân khấu Việt Nam», ông nhận
định trong điệu hát này việc gì cũng “gia bội” - thêm lên Một người tướng có tính nóng thường vẽ mặt rằn rực quá dữ, bộ tịch hung hăng, nói năng nóng nảy Thật
ra, tướng hồi xưa đâu có những cử chỉ, ngôn ngữ và mệt mày quá hung tàn như thế Nhưng muốn cho khán giả dễ thấy tính cách bên trong của vai tuồng, nên diễn viên phải gia tăng điệu bộ và hóa trang cách hung bạo như vậy Tiếng “Hát Bội” do chữ
“Bội” trong gia bội, bội nhị mà ra, nghĩa là “thêm bằng hai, bằng ba”
Hai danh từ “Hát Bội” và “Hát Bộ” đã làm cho nhiều người phân vân vì không biết
Trang 5sử nghệ thuật dân tộc, đây vẫn là loại hình biểu diễn cổ truyền độc đáo được hình thành trên cơ sở ca, vũ, nhạc và các trò diễn xướng dân gian
Trong bài tiểu luận này, nhóm 6 xin được sử dụng tên gọi “Tuồng - Hát Bội” – bởi tên gọi này thân thuộc và được sử dụng phổ biến hơn trong thời nay
3 Nguồn gốc – Quá trình hình thành và phát triển
Hát Bội có nguồn gốc từ lối hát “Thần hí” trong tục cúng thần, cúng tổ tiên của người Việt từ thời xưa Lối hát này có dấu vết xuất xứ trong những hình thức diễn trò, hát nghi lễ trong dân gian như hát Xuân Phả (Thanh Hóa - mang mặt nạ múa hát), trò Trám, trò Cờ người (tích Thánh Gióng, thần Tản Viên), hát Xoan,…cho thấy nghệ thuật biểu diễn sân khấu của dân tộc của Việt Nam đã có từ rất sớm nhưng nằm trong dạng ca múa nhạc (thể hiện trên trống đồng)
a Thời kỳ phôi thai - thời Tiền Lê
Hình thức ca – diễn đầu tiên được ghi chép trong sử là trò hề của Liễu Thủ Tâm Trò diễn này gồm các trò vui kể lại sự tích các nước và truyện Tam Quốc, có con hát vẽ mặt và những người làm trò vui cho các quan, khách trong triều xem
b Thời kỳ phát triển - thời nhà Lý Trần
Khi quân Nguyên sang xâm lược nước ta ở hậu bán thế kỷ XIII, vào năm 1285 Ất Dậu, quân ta đại phá quân Nguyên ở trận Tây Kết, bắt được một Kép hát tên là Lý Nguyên Cát vốn là diễn viên hí kịch Trung Quốc, giữ lại và lập một ban hát giúp vui cho vua quan nhà Trần Lý Nguyên Cát dựa theo các truyện cổ làm ra các tuồng tích hát theo điệu phương Bắc Thời kỳ này múa hát, diễn trò cũng đang được nhà Trần ưa chuộng, yêu thích nên ban hát của Lý Nguyên Cát gặp thời cơ thuận lợi, phát triển mạnh mẽ với nhiều lý do: lối đóng tuồng mới lạ, có các bài nam (kép) - nữ (đào) vừa hát vừa múa diễn các điệu bộ theo từng vai trò trong sự tích, cốt truyện cổ, hóa trang đẹp, y phục lộng lẫy, giọng hát hòa hợp với
âm nhạc, dễ gây cảm xúc lòng người
c Thời kỳ suy vi – thời nhà Hồ
Cuối thời nhà Trần, từ đời nhà Hồ (1400 – 1407), đầu thế kỷ XV trở về sau, không có
sử sách nào ghi lại những cuộc diễn trò Hát Bội cả Nhà Hồ cũng chỉ phiên chế ca nhạc, múa vũ điệu Nhà Lê (1428 – 1788) sau mười năm gian khổ, trường kỳ kháng chiến chống giặc Minh, các vua Lê chú trọng đến ổn định chính tình Vua giao cho quan Thái thuờng
Trang 6cai quản Triều nhạc (âm nhạc cung đình), còn Dân nhạc (âm nhạc dân gian) thì do Giáo phường trông coi, chú ý vào nghi lễ chứ không thấy trình diễn Hát Bội vui chơi
d Thời kỳ từ thế kỷ XVII – XVIII
Đến cuối thế kỷ XVII – đầu thế kỷ XVIII, Hát Bội mới trở thành một nghệ thuật sân khấu hoàn chỉnh với đầy đủ những luật lệ, quy tắc và bài bản
Ảnh hưởng bởi tình hình của đất nước thời bấy giờ, Hát Bội thời kỳ này bị phân tán khắp nơi, từ cung đình lan ra ngoài dân chúng, nhưng không tàn lụi Miền Bắc gọi là Hát Tuồng, từ Thanh Hoá trở vào miền Trung gọi là Hát Bộ, miền Nam lại gọi bằng Hát Bội Nghệ thuật Hát Bội phát triển ở Đàng Trong khá mạnh Vì vốn được nhân dân yêu mến, phổ biến rộng rãi trong nhân dân, lại được chính quyền chúa Nguyễn chủ trương phát triển để phục vụ cho nhiệm vụ chính trị của họ nên nghệ thuật Hát Bội đã tiến lên một bước mới rực rỡ Ở Đàng Ngoài thì nghệ thuật này vẫn được phát triển trong dân gian
Thời kỳ này, Đào Duy Từ (1571 – 1634) đã giúp chúa Nguyễn sửa sang các lễ nghi có
hát múa điệu múa cổ, phổ biến trong dân gian, đặt ra những điệu múa mới như Song Quang
nữ tướng xuất quân Do đó, Hát Bội phát sinh ở Bình Định, coi nơi đây là cái nôi Hát Bội
của miền Trung
e Thời triều Nguyễn - thế kỷ XIX
Đây là giai đoạn hưng thịnh của nghệ thuật Hát Bội vì được sự ưa chuộng của vua và giới quý tộc, dưới thời Lê Văn Duyệt, tổng trấn Gia Định thành Ngay cả ở các vùng hẻo lánh miền Tây Nam Bộ cũng có tuồng hát bội trình diễn ngoài trời hay trong đình làng Xuống các tỉnh miền Tây các đoàn hát bội di chuyển bằng ghe thuyền, gánh hát bội vì thế cũng được gọi là “ghe hát bội”
Năm Minh Mạng thứ 7 (1824 - 1826), trên nền cũ của nhà hát Thanh Phong đường, vua cho xây dựng nhà hát đầu tiên của Việt Nam gọi là Duyệt Thị Đường Từ 1847 đến
1880, vua Tự Đức cho lập ban Hát bội cung đình có đến 300 đào kép giỏi, chọn quan giỏi vào cung soạn tuồng Vua Thành Thái (1889 - 1909) rất mê hát bội, có lần vua cùng đóng tuồng ra diễn
Người có công nhiều nhất trong việc phát triển hát bội bấy giờ là cụ Đào Tấn (1844 - 1907) Ông làm quan dưới thời vua Tự Đức, Thành Thái, được giao phó soạn tuồng đến 20
vở và lập trường dạy hát có tên là Học Bộ Đình
Trang 7- Tuồng cung đình: Vạn Bửu trình tường (với 100 hồi, phải diễn 100 buổi), Quần phương hiến thụy (phải diễn đến 40 buổi), Quần phương học lâm, Bình Địch, Đãng Khấu Chí, Võ Nguyên Long,
- Tuồng dân gian: Cổ thành Diễn võ đình, Hộ sanh đàn, Hoàng Phi Hổ quá quan, Trầm hương các,,…
- Ngoài ra còn có nhiều vở đặc sắc khác như Tuồng được viết từ truyện Nôm (Kim Vân Kiều; Lục Vân Tiên; Nhị Độ Ma; Phạm Công - Cúc Hoa, ), Tuồng châm biếm
xã hội (Ngao, sò, ốc, hến; Trần Bồ; Trương Ngáo; Nghĩa Hổ; Trường Đồ Nhục;…), Tuồng tích sử Việt (Trưng Nữ Vương; Nga Mao Oán; Đông A song phụng;…),…
Ở miền Nam, Tả quân Lê Văn Duyệt đã giao cho Nhứt Chiêu lập và chỉ huy mội ban hát gồm những nghệ sĩ tiền bối, lão luyện, nuôi gánh hát riêng trong trấn phủ, dân chúng ở xung quanh phiên trấn cùng hưởng thu vui nên dân chúng rất mến mộ ông
f Giai đoạn đầu thế kỷ XX đến năm 1945
Hình thành loại Tuồng lãng mạn, mang nội dung mới, có nhiều ảnh hưởng và mang nội dung thời đại, xã hội đương thời như Tuồng Xuân nữ, Tuồng Cải lương,…
Đến khoảng năm 1925 – 1945, Hát Bội bị phân hoá bởi những ảnh hưởng của Cải Lương của miền Nam và phong trào Kịch nói ở miền Bắc Ở miền Trung, Tuồng bỏ qua những bài múa, điệu hát nghệ thuật truyền thống để chỉ đặt phần ca – diễn trên bản Xuân
nữ Ở miền Nam, do ảnh hưởng của những gánh hát Tiều, Hồ Quảng, đã có những thay đổi
về nghệ thuật về cách hát, múa, nhạc điêm, trang phục, hoá trang Ở miền Bắc, Tuồng cổ cũng bị loại “Tuồng cải lương” lấn chiếm
g Thời kỳ sau năm 1945 đến nay
Với chủ trương bảo tồn và phát huy văn hóa dân tộc, Nhà nước đã có những đầu tư thích đáng cho Tuồng từ những năm chiến tranh
- Nhiều hội thảo, nghiên cứu về Tuồng được tổ chức, in ấn
- Nhiều vở Tuồng cổ được khôi phục
- Thành lập nhà hát tuồng trung ương,
- Tổ chức truyền dạy, nghệ thuật tuồng được giảng dạy trong các trường nghệ thuật
Trang 8II ĐẶC ĐIỂM SÂN KHẤU NGHỆ THUẬT
Hát Bội có rất nhiều quy tắc về mọi phương diện: hát, diễn xuất, vũ đạo, hoá trang, phục trang, sân khấu,…Để Hát Bội phát huy được hiệu quả, sân khấu Hát Bội phải có những nhân tố sau:
1 Kịch bản
Đề tài kịch bản Hát Bội thường lấy trong các truyện dã sử Trung Quốc nhưng chủ yếu
là những mẩu truyện thích hợp với đặc điểm, tính chất và tư tưởng đạo lý Việt Nam Trong lịch sử, tuồng có nhiều tên gọi khác nhau Nhưng theo quan điểm của nhà nghiên cứu Đinh
Bằng Phi trong cuốn Nhìn về sân khấu hát bội Nam Bộ (2005), Tuồng được chia làm hai
bộ phận chính là Tuồng đồ và Tuồng pho
- Tuồng đồ: nội dung cốt truyện dân gian, là những kịch bản khuyết danh, xuất hiện
khoảng cuối thế kỷ XX Cốt truyện Tuồng đồ mang tính châm biếm đả kích quan
lại và chế độ, xã hội, đạo đức suy đồi (Nghêu, Sò Ốc, Hến; Trương Đồ Nhục; Giáp Kén, Xã Nhộng )
- Tuồng pho: là những vở tuồng tuồng mang tính mẫu mực, dùng để dạy nghề, tích
truyện hoàn toàn Việt Nam (Sơn Hậu, Tam Nữ Đồ vương )
Ngoài ra còn có Tuồng truyện (những vở tuồng được sáng tác dựa theo các tích truyện của Trung Quốc), Tuồng Kinh (lưu hành ở miền Bắc), Tuồng Sài Gòn, Tuồng Xuân Nữ, Tuồng lãng mạn
Kịch bản bằng chữ viết ra đời muộn, sau khi nghệ thuật biểu diễn tướng đối hoàn chỉnh Phần lớn kịch bản giai đoạn đầu là khuyết danh, những kịch bản được sáng tác chỉ trong khoảng thế kỷ XIX – XX
Trang 9hoặc bình thường; thường là nhân vật tâm lý không dùng các điểm nhấn hóa trang để bộc
lộ tính cách Tương ứng với mô hình Kép là kiểu kỹ thuật hát – nói trong sáng, nho nhã
Mô hình Kép thường phân chia thành các nhân vật:
- Kép con: những người tuy tuổi nhỏ nhưng chí lớn và trở thành những bậc anh hùng hào kiệt, giúp ích cho đất nước khi tuổi đời còn rất trẻ
- Kép nịnh: với hình dung của một kẻ tiểu nhân, chuyên luồn cúi để thăng tiến
và dèm pha trung thần như Đổng Trác, Tào Tháo
- Kép núi: các nhân vật này thường là người của triều đình được cử đi lên núi học đạo và khi xuống núi thì đã thành tài Nhân vật đặc trưng của vai Kép núi
có thể kể đến như Giang Chấn Tử, Mạnh Lương, Vương Bá Đương
- Kép võ: là nhân vật đại diện cho sức mạnh và sự trung thành, thường bộc trực
và tính tình nóng nảy, như Nhạc Phi, Phan Định Công
- Kép văn: thường có màu mặt hồng, thể hiện tính tình điềm đạm hiền hòa, đối lập với sự nóng nảy bộc trực của Kép võ với khuôn mặt đỏ rực Đường nét trên gương mặt Kép văn cũng mềm mại, không cường điệu như Kép võ
b Mô hình Đào
Đào là thuật ngữ chỉ nhân vật thuộc giới tính nữ Ngoại hình Đào thông thường là thiếu
nữ hoặc trung niên, phần lớn hóa trang mặt sạch, tác phong đoan trang; hát – nói trong sáng
Trong mô hình Đào, chỉ có nhân vật Chung Vô Diệm, Đào Tam Xuân và Ngọc Kỳ Lân
là hóa trang kiểu mặt nạ, còn lại hầu như đều là hóa trang mặt sạch
Trong Hát Bội, các nhân vật nữ không được đa dạng như các nhân vật nam Nhưng chúng ta có thể kể tên được các vai diễn thường gặp như sau:
- Đào văn: tương tự như Kép văn, điềm đạm, hiền hòa và thùy mị, tác phong đoan trang, dịu dàng, hát - nói trong sáng Trong đó, “Đào trào” là kiểu nhân
vật nữ tham gia việc triều đình chính thống như Tạ Nguyệt Kiểu (San Hậu)
Còn “Đào trần/Đào trâm cơ” là kiểu nhân vật thiếu nữ bình dân, hoặc xuất thân
trâm anh nhưng lưu lạc dân dã, không đội mũ/ngạch, chỉ cài trâm như Điều Huê Nữ (Điều Huê Nữ hạ san)
- Đào võ: tương tự như Kép võ, rất oai vệ, trang nghiêm, thường mặc áo giáp võ,
hát - nói có lực, như vai Thần Nữ (Thần Nữ dâng Ngũ linh kỳ), Đoàn Hồng Ngọc (Đãi yến Đoàn Hồng Ngọc)
Trang 10- Các nhân vật hoàng gia: thường sẽ là các vai như hoàng hậu, phi tần, vợ các quan
- Mụ: kiểu nhân vật đào cao tuổi, hóa trang phần lớn là mặt sạch, chân mày kẻ bạc trắng, tóc bạc, tác phong chậm chạp, hát - nói khàn Đa số nhân vật thuộc
mô hình mụ đều là mụ văn, tác phong nho nhã, khoan thai, từ tốn Ví dụ: Đổng mẫu (San Hậu), Dương lịnh bà (Mộc Quế anh dâng cây)
c Mô hình Tướng
Mô hình Tướng là mô hình nhân vật có phong thái, hành động và vũ đạo của Kép mang thuộc tính võ: oai vệ, nhanh nhẹn, hát - nói có lực mạnh Tướng thường hóa trang kiểu “mặt nạ” theo hình thức tượng trưng, cách điệu Tùy vào vai trò trong vở diễn
chúng ta có Tướng chính diện (tướng thuộc phe lương thiện, trung nghĩa) như Trịnh Ân (Trảm Trịnh Ân), Hoàng Phi Hổ (Bá Ấp Khảo),… và tướng phản diện như Tạ Ôn Đình (San Hậu), Từ Hải Thọ (Gia hình loạn tướng), Ô Lợi Hắc (Thần Nữ dâng Ngũ linh kỳ),…
d Mô hình Yêu đạo
Mô hình Yêu đạo là kiểu nhân vật phản diện, thường có gốc gác là các loài cầm thú tu luyện thành người nên hành động, phong thái cũng mô phỏng sâu sắc các loài vật Hóa trang nhân vật vì lẽ đó cũng là một bản gợi ý những cách điệu, tượng trưng cho lai lịch của
nhân vật Ví dụ như Dư Hồng (Lưu Kim Đính giải giá Thọ Châu) nguyên là chim hồng
nhạn tu luyện thành người nên họa tiết tròng mắt cũng mô phỏng hình chim, màu nền mặt
là màu đỏ Tạo hình nhân vật Thầy rùa thường dùng mắt thau để diễn tả mắt lộ kỳ quái, bụng to để chứa đựng phép mầu (nên con gọi là bụng phép), và phục trang mô phỏng cách
ăn mặc của đạo sĩ Đạo giáo
e Mô hình Nịnh
Mô hình Nịnh là nhân vật nam thuộc phe phản diện; thường mặt trắng mốc, râu rìa Mô
hình nịnh gồm:
- Nịnh gốc: đã có phe cánh vững mạnh Ví dụ: Tạ Thiên Lăng (San Hậu)
- Nịnh mụt: chưa có phe cánh vững mạnh Ví dụ: Vưu Hồn, Bí Trọng (Bá Ấp
Khảo)
Tuy có sự phân hóa, nhưng hai nhánh mô hình nịnh này có kỹ thuật biểu hiện không khác nhau mấy về tạo hình, chỉ phân biệt rõ ràng theo phong thái Nếu như nịnh gốc thường
Trang 11có thái độ ngông nghênh, xem thường tất cả thì nịnh mụt chỉ bộc lộ phong thái hèn hạ, a
dua, bợ đỡ
f Mô hình Lão
Lão là kiểu nhân vật kép cao tuổi, hóa trang phần lớn là mặt sạch, chân mày kẻ bạc
trắng, ngoại hình râu tóc bạc, tác phong chậm chạp, hát - nói khàn Mô hình Lão phân hoá như sau:
- Lão văn: mặt trắng, râu bạc, ba hoặc năm chòm dài, suôn mượt, có học thức,
tác phong nho nhã Ví dụ: Vương Doãn (Phụng Nghi đình), Kiều Quốc cựu (Người đẹp đất Giang Đông)
- Lão võ: màu nền gương mặt thường sẽ là đỏ, tác phong oai vệ, nhanh nhẹn, nghiêm nghị, hát - nói có lực hơn
- Lão loã: mặt đỏ, có mảng trắng quanh mắt lan ra gò má, râu liên tu bạc, tác
phong nóng nảy, quyết đoán Ví dụ: Phàn Địch Công (San Hậu); Trình Giảo Kim (Phàn Lê Huê phá Hồng thủy trận)
Ngoài ra còn có mô hình Lão văn pha, Lão tiều phu, Lão ngư phủ, Lão nhút, Lão rụi,…song thường ít thấy
3 Sân khấu
Sân khấu phải được bày biện hợp theo từng cảnh diễn, trang trí đơn giản, theo nguyên tắc tượng trưng, không có màn che, không thay đổi theo tình huống sân khấu, không thay đổi theo cảnh dù thay đổi hồi, lớp sân khấu Phông sân khấu phủ một tấm lụa thêu rồng phụng màu sắc sặc sỡ, có thể vén ra hai bên Trong tấm màn để một cái rương lớn, trên rương để lên một cái ghế cao dùng cho vua hoặc tướng soái ngồi khi có thiết đại triều hay
có hội nghị nơi soái đường
Phông có hai cửa ăn thông với bên trong Cửa bên phải từ sân khấu nhìn xuống khán giả là cửa sinh ghi chữ “Xuất” đặt trống chiến và dàn nhạc, cửa bên trái là cửa tử ghi chữ
“Nhập” đặt trống chầu Cạnh hai cửa có hai lọng lợp lụa đỏ viền kim tuyến lóng lánh được treo hay dựng đứng Có hai tấm lụa thêu chữ “Soái” được để cạnh hai lọng Nhờ lối dàn cảnh đơn giản ấy nên rất thuận tiện cho soạn giả sắp đặt lớp lang Sân khấu hát bội chẳng khác nào một trang giấy trắng, trên đó soạn giả vẽ vời thế nào tùy ý, chẳng cần đổi cảnh
Trang 124 Phục trang
Nghệ thuật phục trang trong Hát Bội cũng đóng vai trò quan trọng góp phần cho Hát Bội trở thành một nghệ thuật tổng hợp Phục trang thường được thiết kế theo đúng trang phục của từng thời kỳ lịch sử
- Vua đội mão Cửu Long, mặc áo Long bào hay Long cổn có thêu rồng
- Các quan tứ trụ triều đình thì mặc “mãng” Mãng màu đỏ nếu là quan võ già, trung chính Mãng màu tía nếu là Thái sư Riêng mãng màu vàng vua cũng thường mặc
• Quan văn đội mão Văn công có chóp tròn (quân sư, hoạn quan) hoặc đội mão Bình thiên có chóp bằng, màu đen (thái sư, hoàng đệ) Khi thiết Thường triều, mặc áo bào tay rộng, còn khi thiết Đại triều phải mặc Mãng có gai và thêu rồng
• Quan võ đội Ngạch, mặc Long chấn màu xanh hay đỏ, hai ống tay áo nịt chặt ở cổ tay, có đai, thường có áo giáp bên ngoài Ở trong triều đình chầu vua mặc Mãng, khi ra chiến trận mặc Giáp Quần dài, hai ống cuốn gọn bỏ vào hia
- Tướng ra trận đội mão Kim khôi ba tầng, bằng đồng hay sắt có chóp nhọn Nữ tướng Phiên đội mũ có hai lông chim trĩ dài cong vút lên cao Sau lưng tướng
có hai chùm cờ “lịnh tiễn” nhỏ, hình vuông, dắt chéo nhau
- Kép núi đầu chít khăn đen, dưới vành khăn xoè ra hai, ba vành nhỏ vải trắng
và đỏ để đỡ khăn Vai Kép mặc áo dài đen thường, lưng có thắt Xiêm trường
và Quân giáp từ thắt lưng trở xuống, đi chân không hoặc mang giày đen
- Thầy rùa đội mão Hiệp chưởng, mặc áo pháp sư, chân mang giày tàu đen
- Lão tu tiên mặc quần áo rộng (áo thụng) màu vàng, ra ngoài mặc áo Bá Nạp
- Đạo sĩ mặc áo thụng trắng có gạch đen ngắn, cách khoảng giữa ngực, sau lưng
có hình bát quái màu đen, trung tâm điểm hình nhật nguyệt
- Lão Tiều chít khăn đầu rìu màu nâu, áo nâu rách vá, ống tay áo dài rộng quá khuỷu tay, quần nâu rách vá ngắn quá đầu gối
- Quân canh đội nón dấu nhỏ, sơn đỏ, có quai, áo ngắn hai màu đỏ viền vàng, quần trắng dài quá đầu gối, đi chân đất
Trang 13- Hoà thượng mặc áo cà sa màu vàng, đầu trọc Các sư tăng mặc giống hoà thượng, tiểu tăng mặc áo màu nâu Thánh Tăng (Đường Tam Tạng) mặc áo cà
sa đỏ có thêu kim tuyến vàng, đầu đội nón hoa sen Tất cả tu sĩ Phật đều mặc quần dài trắng thường, chân đi giày Tàu
- Đào thường có vai Hoàng Hậu đội mão Cửu Phụng, vợ quan thì cài trâm, mặc
áo rộng thêu, dưới mặc xiêm trường, mang vớ trắng hay mang giày thêu Đào chiến đeo đai, trên đầu gắn lông trĩ, thường cầm song kiếm, trừ Lưu Kim Đính cần siêu
- Thị nữ, thị tỳ, nữ nhân hầu hạ trong cung hoặc vương phủ đầu cài trâm (không đội khăn, mão), đồ trang sức thường, áo dài thường màu lục, thắt lưng lụa, quần dài chấm gót, đi giày Tàu đen
Ngoài ra, một nét đặc biệt trong phục trang nghệ thuật tuồng đó là đôi Hia Hia là một loại giày dùng cho các nhân vật nam của nghệ thuật Tuồng Hia cổ đứng có đế cong hình bán nguyệt Phần chạm đất của hia nhiều khi chỉ vài phân Đi hia cong như đi trên quả cầu tròn, khó đi, phải luyện tập nhiều mới thoải mái được Nhưng khi đã dùng thành thạo đôi hia rồi thì nó lại giúp diễn viên biểu diễn rất linh hoạt Trong tuồng nhân vật rơi vào tình huống bi kịch thì thường dùng chân hia để bê, xiết thể hiện nội tâm như trường hợp Hoàng Phi Hổ lăn trướng, Đổng Kim Lân biệt mẹ, Kim Lân thượng thành, Triệu Đình Long thả con xuống sông
Trang 14Trong nghệ thuật Hát Bội, các nghệ nhân thường dùng màu sắc để biểu hiện cho nhân cách, tính tình nhân vật Thủ pháp cách thức hoá, cường điệu hoá lối dặm, vẽ mặt nhiều đường nét, nhiều màu sắc khiến cho sự tượng trưng tạo ra một sức tưởng tượng hết sức phong phú Các màu sắc được sử dụng là đỏ tươi, đỏ bầm, hồng, vàng, vàng kim, tím, xanh
da trời, xanh lá cây, xám tro, bạc, đen và trắng Mỗi màu tượng trưng cho nhân cách của nhân vật
- Quan văn trung: mặt thật, trang điểm phấn hồng nhạt, nếu là Lão thì vẽ lông
mày trắng
- Quan võ trung: mặt màu đỏ, tượng trưng cho người anh hùng, nghĩa khí, trung
liệt (Quan Công, Cao Hoài Đức, Địch Thanh,…) Đôi khi để mặt thiệt có dặm phấn (Tiết Nhơn Quý, Dương Lục Sứ, Tiết Đinh San, Triệu Tử Long,…)
- Nịnh thần: mặt màu trắng, màu xám, hồng nhạt, giữa hai mắt có một đốm
trắng (Tào Tháo, Bàng Hồng, Tư Mã Ý,…)
- Tướng võ: vẽ mặt vằn đen trắng, thường xen ít chấm đỏ, trông bộ dữ tợn (Tạ
Ôn Đình, Từ Hải Thọ, Đỗ Kiến,…)
- Tướng Phiên: vẽ mặt rằn rện, xen lẫn nhiều màu
- Kép núi: mặt màu xanh xám, mắt tròng xéo, má đỏ, đen hay xanh
- Thần tiên: mặt thật, trang điểm phấn hồng nhạt với hai điểm son trên gò má
(Trần Đoàn lão tổ, Nam Cực tiên ông, Thái Ất chơn nhơn, Liễu Nhất chơn nhơn,…)
- Yêu ma: vẽ mặt nhiều màu rằn rện xen đỏ (Hồ Ly, Mật Đà Tăng,…)
- Thầy rùa: mặt vằn vện, đeo mắt thau, bụng to chướng lên (Dư Hồng, Dư Triệt,
Hồ Ngươn )
Ngoại trừ trường hợp các vai đóng giả thú như Tôn Ngộ Không, Trư Bát Giới, Ngưu Thần, Hạc Đồng, Lý Nguyên Bá Tiết Quỳ thì phải vẽ theo nét các loại thú đó còn lại thường dùng duy nhất mặt nạ thổ địa
Ngoài việc áp dụng màu sắc để thể hiện bản tính trung, nịnh, hiền,…của vai tuồng, Hát Bội còn chủ tâm đến việc vẽ các loại mày, khoen mắt, miệng và trán
- Mắt: mắt tròng xéo vẽ cho Kép võ còn trẻ; mắt tròng trứng là võ tướng; mắt
tròng táo là tướng đứng tuổi; tròng loã là lão tướng
Trang 15- Lông mày: lông mày được vẽ hiền từ là người lành; vẽ thô và lớn là kẻ ác; vẽ
lông mày như uốn lượn là kẻ đắc ý; lông mày dựng đứng là người nóng tính; lông mày cau có là người sầu muộn
- Miệng: miệng nén bạc, miệng cọp, miệng lôi công, miệng vịm lửa, miệng củ
ấu, miệng quai xách
- Râu: thuờng có ba màu trắng, đen, hung (đỏ) Râu ba chòm, năm chòm dài
tượng trưng cho người đôn hậu, trầm tĩnh; râu đen xoắn là người nóng tính dữ dằn; râu cắt màu đen hoặc hung là người khôi hài, dễ dãi, hay đùa cợt; râu liên
tu đen dành cho vai kẻ gian nịnh; râu liên tu bạc là lão tướng anh hùng; râu liên
tu đỏ là tướng phản phúc, yêu đạo; râu ngắn ba chòm là người dân thường;…
- Trán: có trán thái cực, trán bắc đẩu, trán quải tượng, tráng não vàng, trán núi
lửa, trán chữ hổ, trán chữ thọ, tráng trái bầu, trán trái chuỳ, trán mặt trăng, trán trái đào, trán hình vật, trán thường,…
Đồ tuỳ thân của một nghệ sĩ Hát Bội không thể thiếu đồ nghề hoá trang Phẩm liệu hoá trang gồm có: son, phấn, lọ, kim nhũ, bột màu cùng với các dụng cụ như tăm, móng, một
số cọ hoặc bút lông Mỗi nghệ sĩ đều phải tự vẽ mặt cho mình (hoặc hai người tự trao đổi
vẽ mặt cho nhau), vì vậy, người nghệ sĩ nào cũng biết sử dụng cả hai tay và biết tất cả các sắc mặt tướng Diễn viên không những phải diễn giỏi, hát hay, múa đẹp, thuộc lòng vai diễn, mà còn phải khéo léo trong việc hoá trang
6 Đạo cụ
Đạo cụ có của sân khấu Hát Bội có tính ước lệ cao, có tính tượng trưng và luôn hài hòa với trang phục, giúp cho động tác của diễn viên thêm phần thẩm mỹ Trên sân khấu hát bội, đạo cụ gồm những dụng cụ lao động (cái búa, cái thúng, mái chèo, cần câu…), tư liệu sinh hoạt (quạt, chén, rượu), vật trang trí (hoa), vật biểu tượng (cờ các loại), binh khí (Chùy, côn, cung, kiếm giáo, kích, mã tấu, đại đao, xà mâu, trường thương…)
Các loại vũ khí dùng tùy tính cách nhân vật và phải hài hòa với trang phục, giúp cho động tác mua thêm phần thẩm mỹ Vai nữ tướng thường dùng Song kiếm Vai kép thì dùng Trường thương Kép núi dùng Độc phủ, Kép con dùng Song chày Vai tướng Phiên hay dùng Đại đao còn các tướng khác hay dùng Kích Kim giản vua ban thì cho Thái sư, đại thần mới có Ngoài ra còn theo gợi ý của các pho sử chuyện
Trang 16Một đạo cụ vô cùng độc đáo, được coi là hình thức ước lệ đặc sắc, tạo nên một nét văn hóa rất đặc sắc trong tuồng đó là roi ngựa Đây là đạo cụ mà diễn viên dùng để biểu diễn các động tác thể hiện lúc dắt ngựa, lên yên, phóng ngựa, ngựa đi nước kiệu, ngựa phóng, ngựa phi, ngựa dụm vó, ngã ngựa,…Roi ngựa làm bằng một ngọn roi mây dài độ 0.7m, quấn suốt bằng một lớp vải mỏng, thường được chẻ làm ba rồi tết lại để cho mềm dịu, khi huơ lên có thế tạo hình đẹp Trừ 0.20m cán, cứ mỗi 10 phân, người ta buộc một túm chỉ màu (tượng trưng sắc lông con ngựa) cho đến đầu ngọn roi Phần còn lại là tay cầm, có buộc một vòng nhỏ ở đầu để khi biểu diễn, người diễn viên đeo vào ngón tay út bên phải Khi người diễn viên biểu diễn trên sân khấu với chiếc roi ngựa, nếu có cảnh dùng ngựa thì chỉ có chiếc roi ngựa diễn viên cầm trong tay, vừa biểu trưng cho con ngựa, vừa thể hiện cho chiếc đuôi ngựa Diễn viên thực hiện động tác đưa roi ngựa lên cao, quay tròn cùng với động tác chân đi gập ghềnh một vòng trên sân khấu, vậy là đủ để khán giả hiểu là nhân vật đang phi ngựa trên đoạn đường dài đầy gian nan, vất vả Nếu roi ngựa đưa lên cao, rung nhẹ, kết hợp với bước đi khoan thai, ấy là thể hiện trạng thái ung dung của người cưỡi Còn nếu trên đường đi, ánh sáng có sự thay đổi một lần sáng một lần tối, ấy là thể hiện cảnh nhân vật ấy đã đi ngựa liên tục trọn một ngày đêm
7 Điệu bộ - Động tác - Biểu cảm
Động tác, điệu bộ của các nhân vật trong Hát Bội mang tính ước lệ rất lớn Mỗi động tác của tay, chân, mắt, mũi,… đều được diễn xuất với tính cách điệu, ước lệ theo một nguyên tắc nhất định Điệu bộ cơ bản trong Hát Bội được chia ra thành nhiều bộ, nhằm hình dung biểu hiện tính cách nhân vật
- Bộ bê, bộ sảng: dành cho nhân vật sảng sốt
- Bộ nhảy lót: dành cho Kép võ
- Bộ đá giáp (che vết thương): dành cho tướng bị thương
- Bộ phát mảng: dành cho các quan ra chầu vua
- Bộ siếng lỉa - lăn: diễn tả hoàn cảnh bi đát
- Bộ nhảy ngựa: với cái roi, diễn viên dùng động tác điệu bộ thể hiện cho lên ngựa xuống ngựa, ngựa chạy sải, chạy té, ngã ngựa, dắt ngựa đi vòng qua núi, qua sối, cứu ngựa bị nạn cột ngựa gốc cây
- Bộ vuốt râu: diễn tả tâm tư trạng thái nhân vật, tuỳ vào tính cách nhân vật
Trang 17Điệu bộ cơ bản trong Hát Bội được chia ra thành nhiều bộ, gồm bộ chỉ, bộ khoát tay,
bộ vuốt râu, bộ cười,…
a Đôi mắt:
Đôi mắt là nguyên tắc diễn xuất hàng đầu Mỗi cách nhìn, cách ngó đều thể hiện một thái độ, một trạng thái tình cảm cụ thể Đôi mắt có nhiều cử động: trợn, trừng, liếc, đảo, ngó, mỗi cử động đều có ý nghĩa tượng trưng:
- Trợn to: tượng trưng cho sự giận dữ
- Trừng: tượng trưng nghiêm huấn, nghiêm trị
- Trợn sững: tượng trưng sự kinh khủng
- Liếc qua liếc lại: tượng trưng sự oai vệ, hùng dũng của các vai Kép võ và các vai Đào võ
- Ngó đằm, liếc chậm: tượng trưng sự hiền từ
- Ngó đằm, chăm chỉ: tượng trưng sự thương hại, thông cảm với nỗi khổ của người đối thoại
- Ngó nghiêng: tượng trưng sự khinh người
- Liếc qua láy lại: tượng trưng sự trêu ghẹo người
- Đảo lộn không ngừng: tượng trưng bị ma nhập, loạn trí
b Điệu bộ tay:
Ngón tay chỉ luôn có nghĩa Khi thì chỉ một ngón, khi thì chỉ hai ngón Ngón tay chỉ khi thì nghiêng, khi lại úp Các chỉ ngón tay, tuỳ vai tuồng, khi thì dịu dàng, ngộ nghĩnh, khi thì thô kệch, cộc cằn, khi thì hùng hồn, phẫn nộ,…Đặc biệt khi đối thoại, kẻ dưới không bao giờ được chỉ vào người trên, bầy tôi không chỉ vào quân thượng, con cái không chỉ vào cha mẹ
Khi đào kép chỉ chỗ nào thì mắt phải ngó theo chỗ ấy, không được phép tay chỉ một nơi mà mắt ngó một ngả Chỉ riêng phép chỉ như trên, chúng ta đã thấy được sự tinh tế của nghệ thuật Hát Bội Nó chẳng khác nào một bản nhạc, có nhịp nhàng, có tiết tấu, nếu biết trình diễn cho đúng điệu, thêm sự diễn xuất sắc sảo của người nghệ sĩ sẽ thực sự đem lại thích thú cho khán giả
Điệu bộ vuốt râu cũng có nhiều cách thể hiện được tính cách bên trong của vai tuồng Quan văn trung vuốt râu nhẹ nhàng kéo qua bên mặt hay bên trái Quan võ trung cầm ngọn râu phía dưới rồi hất qua một bên Vai nịnh hai tay ôm bộ râu, vuốt xuôi xuống, cười hơi
Trang 18nịnh bợ Quan công nghĩa khí kẹp ngón tay trỏ vào ngón giữa, vuốt râu mép tai, đưa thẳng
ra phía trước
Mỗi tuyến nhân vật cũng có những cách hoá trang râu đặc trưng Tướng dữ như Trương Phi, Võ Tam Tư, Võ Văn Thành Đô, Tạ Ôn Đình,…thì mang râu quắn Bọn gian hùng, nịnh thần như Đổng Trác, Tào Tháo, Bàng Hồng, Tần Cối,…mang râu liên tu Những tướng canh thường mang râu cắt, còn phường nịnh hạ cấp và hề như Lôi Nhược trong tuồng San
Hậu thì mang râu chuột
Nguyên tắc chung của điệu bộ vuốt râu được tóm gọn như sau:
- Vuốt nửa chừng rồi ngưng ngụ ý đang có điều thắc mắc cần phải suy nghĩ
- Vuốt luôn ngụ ý mình đã suy nghĩ và đã tìm được biện pháp giải quyết
Kẻ trung lương thì mặt trắng, mặt đỏ râu dài đen ba chòm hoặc năm chòm suôn đuột, phường sủng nịnh gian tà thì mặt mốc râu rìa, võ tướng dữ dằn thì mặt đen râu quắn, hành tướng cạnh thì chỉ mang râu cắt, hề thì râu chuột Các kiểu râu trong tuồng có giá trị như một ngôn ngữ, một ký hiệu Chỉ cần nhìn vào cách vẽ mặt, màu sắc của các bộ phận trên khuôn mặt và cách sử dụng râu của diễn viên, người xem có thể biết ngay tính cách và vị trí xã hội của nhân vật trong tuồng
c Điệu bộ chân:
Hai chân có những bộ: Niêm, Thinh, Ký, Cầu Niêm là đặt chân hơi nghiêng, gót chân hơi dỏng đất Thinh thì làm bộ chân cong hơi đưa cao lên ngang gối Ký là đặt gót chân xuống đất, ngón chân hơi đưa lên Cầu là chân hơi cong đưa lên cao
Khi vai võ bước ra sân khấu, phải dùng hai tay múa bộ Khai , chân phải đi bộ Niêm sau bàn chân trái rồi Thinh lên, Ký xuống trước bàn chân trái, rồi lại Cầu tròn lên cao, thân xoay tròn 3 vòng, chân trái để xuống đúng hình chữ Đinh
Đào võ khi bước ra cũng làm y như vậy, tuy nhiên phải múa kín đáo hơn, chân không không lên cao, không mở rộng như Kép Chính vì thế bộ múa của Đào võ xem vừa đẹp mắt
mà vừa thanh nhã, không lố lăng
8 Vũ đạo
Vũ đạo Tuồng là những động tác hình thể, được biểu diễn một cách nhịp nhàng cân đối với sự kích thích giàu tính tiết tấu và giai điệu theo nguyên tắc của vũ thuật Việt Nam, theo quan niệm về cái đẹp và phong cách của loại hình nghệ thuật Hát Bội
Trang 19Múa Tuồng được chắt lọc và hình thành từ cuộc sống hiện thực, từ những động tác sinh hoạt và hành động tâm lý trong cuộc sống xã hội của con người Các thế hệ diễn viên
đã tiếp thu tinh hoa của những hình thái múa dân gian, múa tín ngưỡng, tôn giáo, trong tế
lễ, hội hè, trong múa cung đình và trong võ thuật dân tộc để xây dựng vũ đạo Cũng vì yếu
tố này mà những diễn viên thường phải được yêu cầu biết về các động tác võ thuật và cách
sử dụng binh khí sao cho thật mềm mại, trơn tru và phù hợp với bối cảnh, vở diễn
Múa Tuồng có chức năng minh hoạ, bài cảnh, có khả năng dùng điệu hát để diễn đạt tâm trạng, tính cách của nhân vật Để dựng được cảnh sắc trong trí tưởng tượng của người xem, người diễn viên phải dùng những động tác tượng trưng với giả định có cảnh thật trước mắt
Múa Tuồng có những nguyên tắc nghiêm ngặt “nội ngoại tương quan, tả hữu tương ứng, thượng hạ tương phù” Nhân vật nào ra sân khấu từ cánh gà tay mặt đều sống tới cuối Tuồng, dẫu có bị kẻ gian hãm hại cũng không chết Ngược lại, nhân vật nào ra sân khấu từ cánh gà bên trái đều phải chết, dẫu làm tới Hoàng đế
Múa Tuồng hoàn toàn khác múa Chèo và múa Cải lương hay các loại hình nghệ thuật
khác Xét về động tác múa như khai, khán, chỉ, khoát, long tranh hay bộ hổ, nhảy thành
ta đều thấy hai tay xoan, xỏ, bọc úp, chân co, dàn, ký, trả Hoặc cao hơn là những động tác
được kết thành một tổ hợp múa Ví dụ như bắt ngựa: xắn tay áo, khán, bắt dây cương giằng ngựa, lên ngựa, quất ngựa, phi ngựa hay lia xốc, lia vòng, lia êm Như vậy những động tác
và tổ hợp múa ở trên là tín hiệu thông báo đặc trưng của sân khấu Tuồng và cũng vì thế mà múa Tuồng không thể lẫn lộn được
Ngoài ra, người diễn viên khi thực hiện các động tác của vũ đạo Tuồng, luôn tuân thủ:
“phải có âm có dương, có vay có trả, chân nọ tay kia”
Khi múa, muốn chỉ qua bên phải, trước hết chân trái phải co, dằn (tức là vay), chân phải ký (tức là trả), đồng thời phải kết hợp hai tay xoan xỏ, bọc, úp Ngược lại muốn chỉ qua bên trái thì ta phải vay bên phải và trả bên trái Chân lập trụ làm gốc thì chân bước ra làm ngọn Hoặc động tác cầu bán, long tranh chẳng hạn: chân đứng là gốc, chân cầu là ngọn Nếu chân trụ (gốc) vững thì chân cầu (ngọn) mới nhẹ lướt khi xoay phải xoay trái hay xoay lật nghịch mới tròn, không
bị chao đảo và nghiêng ngửa
Trang 20Người diễn viên phải biết cách sử dụng toàn bộ các yếu tố thân thể như đầu, cổ, vai,
vế, tay, chân, đầu gối, cùi chỏ, mặt, mày để múa Khi nhân vật múa thì những điều múa thường có những nét đặc trưng của thế võ Bình Định
Múa Tuồng lấy “múa Bông” làm bài múa cơ huấn, một số dòng Tuồng lấy bài điệu múa “Trình Tuồng” Nếu người diễn viên có thể múa thuần thục các bài múa này thì tự
nhiên biết được các vũ đạo trong Tuồng đúng lúc, đúng chỗ và vào các vai linh hoạt, cử
động đúng Trở, Trục, Bộ, Cầu, Kỳ, Tiến, Thoái, Khởi, Quy,… với một số động tác cơ bản như Ký, Cầu, Niệm, Chỉ,… Một số điệu cơ bản gồm khai diện, khai chiến, lên ngựa, chèo
thuyền, mở cửa dương oai,…và một số bài hoàn chỉnh như đề cờ, dâng rượu,…
III ĐẶC ĐIỂM ÂM NHẠC TUỒNG – HÁT BỘI
So với nhạc kịch phương Tây (Opéra), âm nhạc Hát Bội ít mang chất ca hát mà là xướng (nói có giọng điệu), thực chất là giai điệu hoá, nhạc điệu hoá lời Chính đặc điểm này mà Hát Bội mang tính sáng tạo nhiều hơn Trong Hát Bội, âm nhạc chỉ mang tính đệm, người xướng tự do bẻ chữ, ngữ điệu, âm điệu của câu hát, lời hát Do đó, không có bài hát khách, lối xướng nào giống nhau, chỉ giống về hơi nhạc và nhịp
1 Thang âm
Trong âm nhạc Tuồng, việc sử dụng thang 5 âm để hình thành và phát triển cấu trúc giai điệu được xem là rất phổ biến Các làn điệu chính của Tuồng nói đều được xây dựng trên thang năm âm: hò – xừ – xang - xê - cống (tức là Đồ - Rê - Pha – Son - La) Các âm
đó được sử dụng để sáng tạo thành giai điệu của làn điệu