Dàn ý 1 Mở bài Giới thiệu tác giả, tác phẩm 2 Thân bài * Hai câu đề + Câu thứ nhất Bước tới đèo Ngang bóng xế tà Thời điểm nữ sĩ đặt chân tới đèo Ngang là lúc hoàng hôn bắt đầu buông xuống Cảnh vật rấ[.]
Trang 1Dàn ý
1 Mở bài
Giới thiệu tác giả, tác phẩm
2 Thân bài
* Hai câu đề:
+ Câu thứ nhất: Bước tới đèo Ngang bóng xế tà
- Thời điểm nữ sĩ đặt chân tới đèo Ngang là lúc hoàng hôn bắt đầu buông xuống
- Cảnh vật rất dễ gợi buồn trong lòng người lữ thứ
+ Câu thứ hai: cỏ cây chen đá, lá chen hoa
- Miêu tả khung cảnh thiên nhiên hoang sơ, tràn đầy sức sống của đèo Ngang qua điệp từ chen và hai vế đối: cỏ cây chen đá lá chen hoa
- Cảnh đẹp nhưng vẫn nhuốm màu buồn tẻ, quạnh hiu của một miền sơn cước
* Hai câu thực:
+ Câu thứ ba: Lom khom dưới núi tiều vài chú
- Đảo ngữ trong câu đặc tả dáng vẻ mấy tiều phu kiếm củi sườn núi, nhấn mạnh sự nhỏ bé, ít ỏi của con người trước thiên nhiên hùng vĩ
+ Câu thứ tư: Lác đác bên sông chợ mấy nhà
- Hình ảnh ngôi chợ là bộ mặt của cuộc sống một vùng nhưng ở đây, chợ chỉ là vài túp lều tranh xiêu vẹo ven sông
- Không khí vắng vẻ, quạnh hiu bao trùm lên cảnh vật
Trang 2* Hai câu luận:
+ Câu thứ 5: Nhớ nước đau lòng con cuốc cuốc
- Tiếng cuốc kêu khắc khoải lúc chiều buông càng làm cho không gian thêm tĩnh lặng
- Có thể là tiếng cuốc kêu mà cũng có thể là tiếng vọng từ trong tâm tưởng hoài cổ của nữ sĩ đang nuối tiếc thời đại huy hoàng đã qua, thể hiện nỗi buồn trĩu nặng, khó nguôi ngoai
- Nghệ thuật đối câu (câu 5 >< câu 6) rất chỉnh, kết hợp với lối chơi chữ đồng âm khác nghĩa tài tình (cuốc cuốc = quốc quốc); gia gia = quốc gia (nước nhà), tô đậm
ý nghĩa tượng trưng của hai câu luận
- Điều băn khoăn lớn nhất của nữ sĩ không ngoài chuyện của quốc gia, của thời đại
* Hai câu kết:
+ Câu thứ 7: Dừng chân đứng lại, trời, non, nước
- Cảnh đẹp của đèo Ngang thật hùng vĩ, khiến nữ sĩ phải dừng chân để chiêm
ngưỡng, để thu nhận vẻ đẹp kì diệu ấy vào tâm hồn
- Giữa cảnh vật và lòng người có nét tương phản: thiên nhiên cao rộng >< con người nhỏ bé
+ Câu thứ 8: Một mảnh tình riêng ta với ta
- Nét tương phản càng tô đậm sự cô đơn, buồn bã trong lòng người
- Nỗi buồn không thể san sẻ nên kết tụ lại trong lòng thành mảnh tình riêng, chỉ có
ta với ta mà thôi
Trang 3- Âm hưởng, nhịp điệu câu thơ giống như một tiếng thở dài ngậm ngùi, nuối tiếc
3 Kết bài
- Qua đèo Ngang được đánh giá là một bài thơ xuất sắc, thể hiện tài năng và tấm lòng yêu mến non sông, đất nước của nữ sĩ
- Thể thơ Đường luật sang trọng đã trở nên gần gũi, dễ hiểu bởi ngôn ngữ trong sáng và những hình ảnh dân dã, quen thuộc
- Bài thơ có sức sống vĩnh cửu trước thời gian và trong lòng nhiều thế hệ yêu thơ
Cảm nhận về bài thơ Qua đèo ngang (mẫu 1)
“Qua đèo Ngang” là một tác phẩm nổi tiếng của bà Huyện Thanh Quan Bài thơ được viết khi bà lên đường đến huyện Phú Xuân đi qua đèo ngang là một địa danh phong cảnh hữu tình Bài thơ là bức tranh ngụ tình sâu sắc của nhà thơ qua đó hé lộ cho chúng ta thấy được nỗi nhớ mong tha thiết của tác giả hiện lên rõ nét
Mở đầu bài thơ là hai câu đề:
Bước tới đèo ngang bóng xế tà
Cỏ cây chen lá đá cheo hoa
Câu thơ gợi lên thời điểm mà tác giả tới đèo Ngang, khi đó thời gian đã vào xế tà tức là trời đã quá buổi chiều và đang chuyển sang tối Đối với một vùng hoang sơ hẻo lánh thì thời điểm chiều tà cũng là thời điểm mọi người đã quay trở về nhà Phải chăng chọn thời điểm như thế tác giả muốn nhấn mạnh cho người đọc cái xơ xác vắng vẻ nơi đây? Và từ đây tâm trạng tác giả bắt đầu hỗn loạn khi chứng kiến cảnh vật từ trên cao nhìn xuống
Khung cảnh ấy thật gợi lên trong lòng người đọc những nỗi nhớ vấn vương rồi lan tỏa ra từng câu thơ khiến cho người đọc thấm đượm được phần nào nỗi nhớ thương
Trang 4của tác giả đối với quê hương Trời đã chiều tối cảnh vật đã lụi tàn khiến cho tâm trạng của bà càng trở nên xốn xang vô cùng Cái thời điểm ấy rất phù hợp với tâm trạng hiện giờ của bà Đúng như trong những câu thơ cổ đã nói đến tâm trạng con người nhuốm màu sang cảnh vật
Ở đây tâm trạng cô đơn hiu vắng hiu quạnh của tác giả đã nhuốm màu sang cảnh vật khiến cho cảnh vật giờ đây dường như trở nên tang thương hơn bao giờ hết Ta phải công nhận là cảnh vật trong thơ được hiện lên khá là sinh động Có cỏ cây có hoa lá nhưng lại là một cảnh tượng chen chúc nhau để tìm sự sống Cảnh vật ấy hoang sơ hoang dại đến nao lòng Phải chăng sự chật chội của hoa lá phải chen chúc nhau để tồn tại cũng chính là tâm trạng của tác giả đang vô cùng hỗn loạn? Tác giả đã sử dụng phép đối và đảo ngữ trong miêu tả đầy ấn tượng Nó làm cho người đọc cảm thấy được sự hoang vắng của đèo ngang lúc chiều tà bóng xế mặc
dù nơi đây có cảnh đẹp cỏ cây hoa đá, lá Vì ở đây vắng vẻ quá nên thi sĩ đã phóng tầm mắt ra xa chút nữa như để tìm một hình ảnh nào đó để tâm trạng thi nhân phần nào bớt chút hiu quạnh Và phía dưới chân đèo xuất hiện một hình ảnh:
Lom khom dưới núi tiều vài chú Lác đác bên sông chợ mấy nhà
Điểm nhìn đã được nhà thơ thay đổi nhưng sao tác giả vẫn chỉ cảm thấy sự hiu quạnh càng lớn dần thêm Bởi thế giới con người nơi đây chỉ có vài chú tiểu đang gánh nước hay củi về chùa Đó là một hình ảnh bình thường thế nhưng chữ "lom khom" khiến hình ảnh thơ thêm phần nào đó vắng vẻ buồn tẻ thê lương Đây là một nét vẽ ước lệ mà ta thường thấy trong thơ cổ "vài" nhưng lại rất thần tình tinh
tế trong tả cảnh Mấy nhà chợ bên kia cũng thưa thớt tiêu điều Thường thì ta thấy nói đến chợ là nói đến một hình ảnh đông vui tấp nập nào người bán nào người mua rất náo nhiệt Thế nhưng chợ trong thơ bà huyện thanh quan thì lại hoàn toàn khác, chợ vô cùng vắng vẻ không có người bán cũng chẳng người mua chỉ có vài
Trang 5chiếc nhà lác đác bên sông Nhà thơ đang đi tìm một lối sống nhưng sự sống đó lại làm cảnh vật thêm éo le buồn bã hơn Sự đối lập của hai câu thơ khiến cho cảnh trên sông càng trở nên thưa thớt xa vắng hơn Các từ đếm càng thấy rõ sự vắng vẻ nơi đây Trong sự hiu quạnh đó bỗng vang lên tiếng kêu của loài chim quốc quốc, chim gia trong cảnh hoàng hôn đang buông xuống:
Nhớ nước đau lòng con quốc quốc Thương nhà mỏi miệng cái gia gia
Nghe tiếng chim rừng mà tác giả thấy nhớ nước, nghe tiếng chim gia gia tác giả thấy nhớ nhà Dường như nỗi lòng ấy đã thấm sâu vào nỗi lòng nhà thơ da diết không thôi Lữ khách là một nữ nhi nên nhớ nước nhớ nhà nhớ chồng nhớ con là một điều hiển nhiên không hề khó hiểu Từ nhớ nước, thương nhà là nỗi niềm của con chim quốc, chim gia gia do tác giả cảm nhận được hay chính là nghệ thuật ẩn
dụ để nói lên tâm sự từ trong sâu thẳm tâm hồn của nữ sĩ? Nghệ thuật chơi chữ quốc quốc gia gia phải chăng là Tổ quốc và gia đình của Bà Huyện Thanh Quan hồi đó? Từ thực tại của xã hội khiến cho nhà thơ suy nghĩ về nước non về gia đình
Dừng chân ngắm lại trời non nước Một mảnh tình riêng ta với ta
Câu kết bài thơ dường như cũng chính là sự u hoài về quá khứ của tác giả Bốn chữ
"dừng chân ngắm lại" thể hiện một nỗi niềm xúc động đến bồn chồn Một cái nhìn
xa xôi mênh mang, tác giả nhìn xa nhìn gần nhìn miên man nhìn trên xuống dưới nhưng nơi nào cũng cảm thấy sự hiu quạnh sự cô đơn và nỗi nhớ nhà càng dâng lên
da diết Cảm nhận đất trời cảnh vật để tâm trạng được giải tỏa nhưng cớ sao nhà thơ lại cảm thấy cô đơn thấy chỉ có một mình "một mảnh tình riêng ta với ta" Tác giả đã lấy cái bao la của đất trời để nhằm nói lên cái nhỏ bé "một mảnh tình riêng" của tác giả cho thấy nỗi cô đơn của người lữ khách trên đường đi qua đèo ngang
Trang 6Bài thơ là bức tranh tả cảnh ngụ tình thường thấy trong thơ ca cổ Qua đó tác phẩm cho chúng ta thấy được tâm trạng cô đơn hiu quạnh buồn tẻ của tác giả khi đi qua đèo ngang Đó là khúc tâm tình của triệu là bài thơ mãi mãi còn y nguyên trong tâm trí người đọc
Cảm nhận về bài thơ Qua đèo ngang (mẫu 2)
Tác phẩm "Qua đèo Ngang" là bài thơ đánh dấu tên tuổi của Bà Huyện Thanh Quan Bài thơ ra đời vào thời điểm bà trên đường vào Phú Xuân, đi qua đèo
Ngang, một con đèo nổi tiếng tiếng với phong cảnh hữu tình Bằng giọng thơ buồn man mác, hồn thơ tinh tế đi vào lòng người "Qua đèo Ngang" không còn là một bức tranh thiên niên đơn thuần mà còn bộc lộ tâm trạng cô đơn của nữ thi sĩ với sự tiếc nuối và buồn về thế sự đất nước lúc bấy giờ
Trang 7Sự sáng tạo nhưng vẫn có nét truyền thống, bài thơ được viết theo thể thất ngôn bát
cú Đường luật với kết cấu đề thực luận kết Mở đầu tứ thơ với hai câu đề:
Bước đến đèo Ngang bóng xế tà
Cỏ cây chen đá, lá chen hoa
Hai câu thơ đầu tiên thi sĩ đã khai mở toàn bộ không gian, thời gian khi sáng tác bài thơ Hai câu thơ đề với lối thơ rất tự nhiên, không bị gò ép trong khuôn khổ chung thời ấy Trong cảnh hoàng hôn "bóng xế tà", nữ thi sĩ bước đến mang trong mình những cảm xúc khó tả, say đắm trong không gian rộng lớn sâu thẳm của đèo cao, thời gian mênh mông của trời chiều Bao giờ cũng vậy, trong thi ca trung đại,
"bóng xế tà" luôn gợi cho con người một nỗi buồn man mác không tên, mênh mang hơn đất trời, có chút gì đó lưu luyến thời gian của một ngày đã qua Trong không gian chiều ấy, một nét chấm phá làm nổi bất thiên nhiên nơi đèo núi chập chùng: "Cỏ cây chen đá, lá chen hoa" Khi hoàng hôn buông dần phai, không gian ngày tàn mà tác giả còn bắt gặp được một sức sống tiềm tàng của thiên nhiên Sử dụng phép nhân hóa, kết hợp động từ "chen" nữ thi sĩ như thổi vào thiên nhiên một linh hồn với sự sống mãnh liệt, đang vươn lên Từ ngọn cỏ, từng nhành hoa nhỏ bé kia đang chen lên những tảng đá lớn, giữa một không gian ấy, cảnh vật mang một nét đẹp lạ lùng
Từ gần đến xa, tác giả đưa mắt ra phía dưới đèo, con người xuất hiện:
Lom khom dưới núi tiều vài chú Lác đác bên sông chợ mấy nhà
Bức tranh chỉ thêm đẹp khi có sự xuất hiện của con người Biện pháp đảo ngữ các
từ láy gợi tả như "lom khom" , "lác đác" và các chỉ từ "vài" , "mấy" làm không gian trở nên hiu hắt, con người thì quá đỗi nhỏ bé so với thiên nhiên hùng vĩ chiều
Trang 8hôm Dưới chân núi, vài chú tiều phu đốn củi, và mái nhà thưa thớt quanh quanh Không gian bao trùm lên toàn bộ cảnh vật là sự hiu quạnh và vắng vẻ
Hai câu luận là nỗi buồn của thi sĩ trước cảnh giang sơn đất nước đang ngày một lụi tàn:
Nhớ nước đau lòng con quốc quốc Thương nhà mỏi miệng cái gia gia
Tiếng kêu của con quốc hay chính là tiếng lòng tác giả "Nhớ nước đau lòng con quốc quốc" là câu thơ bắt nguồn từ điển tích xưa về vua Thục vì mất nước mà hóa thành con cuốc chỉ biết kêu những tiếng đau thường Tiếng cuốc kêu khắc khoải càng làm bóng chiều trở nên dịu vợi Còn tiếng "gia gia" là tiếng kêu tha thiết gợi nỗi "thương nhà" Thương nhà ở đây có lẽ là nỗi nhớ thương đất nước trong quá khứ hào hùng hay cũng là thương cho sự đổi thay, sự lụi tàn của quê hương
Những xúc cảm của thi sĩ được bộc lộ một cách trực tiếp bằng hai câu luận Nghệ thuật chơi chữ đồng âm độc đáo kết hợp với biện pháp nhân hóa " đau lòng" "mỏi miệng" cùng chuyển đổi cảm giác từ nỗi lòng thành tiếng thương tạo ấn tượng mạnh đã cho ta thấy bức tranh ấy không chỉ là cảnh vật mà còn là bức tranh tâm trạng của Bà Huyện Thanh Quan với tình yêu thương nước nhà
Với kết cấu đầu cuối tương ứng, hai câu kết khép lại những tâm trạng của thi nhân:
Dừng chân đứng lại: trời, non, nước Một mảnh tình riêng ta với ta
Cảnh vật khiến dừng bước chân trên con đường đến Phú Xuân Cái bao la của đất trời, cái hùng vĩ của núi non, cái mênh mông của sông nước như níu bước chân nữ thi sĩ Nhưng đứng trước không gian bao la của đèo Ngang , tác giả chợt nhận ra nỗi cô đơn trong lòng mình dần lấp đầy tâm hồn, bao trùm lên mọi cảnh vật"một mảnh tình riêng ta với ta" Khung cảnh thiên nhiên càng rộng lớn bao nhiêu thì nỗi
Trang 9cô đơn của người lữ khách càng vơi đầy Một mảnh tình riêng, một tâm tư sâu kín, những tâm trong lòng mà chẳng tìm nổi một người để sẻ chia Nỗi buồn cứ vậy lắng vào cảnh vật, tâm trạng kéo dài miên man Chỉ có "ta" và "ta" giữa mênh mông trời đất
Bài thơ khép lại, mở ra những suy tư cho người đọc Khiến người ta nhớ về một thời đại lụi tàn, một nữ thi sĩ bơ vơ Bức tranh cảnh vật và tâm trạng ấy để lại biết bao cảm xúc trong lòng người đọc
Cảm nhận về bài thơ Qua đèo ngang (mẫu 3)
Bài thơ “Qua đèo ngang” của Bà Huyện Thanh Quan đã khắc họa khung cảnh thiên nhiên thoáng đãng mà heo hút, thấp thoáng sự sống con người nhưng vẫn còn hoang sơ Đồng thời qua đó, tác giả cũng bộc lộ nỗi nhớ sâu sắc về quê hương, đất nước
Mở đầu là hai câu đề khắc họa cảnh vật thiên nhiên nơi đèo Ngang:
Bước đến đèo Ngang bóng xế tà
Cỏ cây chen đá lá chen hoa
Chỉ bằng hai câu thơ, Bà Huyện Thanh Quan đã khắc họa một cách khái quát nhất
về thời gian, không gian, cảnh vật nơi đèo Ngang Cách mở đầu vô cùng tự nhiên
“bước đến đèo Ngang” vào thời gian “bóng xế tà”, đây là thời điểm kết thúc của một ngày, khi con người thường trở về nhà sau một ngày lao động vất vả Vậy mà nhà thơ lại một mình tại nơi đèo Ngang càng khiến cho nỗi cô đơn trở nên tột cùng Lại đứng trước khung cảnh thiên nhiên Đèo Ngang rộng lớn mà hoang vu “Cỏ cây chen đá, lá chen hoa” là hình ảnh ước lệ mang tính biểu tượng Việc sử dụng điệp
từ “chen” kết hợp với hình ảnh “đá, lá, hoa” gợi ra một thiên nhiên tuy hoang sơ
Trang 10nhưng lại tràn đầy sức sống Có thể thấy khung cảnh thiên nhiên Đèo Ngang được nhà thơ khắc họa chỉ bằng vài nét nhưng lại hiện ra đầy chân thực và sinh động Hai câu thơ tiếp theo, giữa thiên nhiên hoang sơ và rộng lớn con người xuất hiện:
Lom khom dưới núi tiều vài chú Lác đác bên sông chợ mấy nhà
Tác giả đã khéo léo sử dụng nghệ thuật đảo ngữ: “Lom khom - tiều vài chú” gợi hình ảnh vài chú tiều với dáng đứng lom khom dưới chân núi Và “lác đác - chợ mấy nhà” gợi hình ảnh vài căn nhà nhỏ bé thưa thớt, lác đác bên sông Qua đó, nhà thơ muốn nhấn mạnh vào sự nhỏ bé của con người trước thiên nhiên rộng lớn Con người chỉ nằm là một chấm buồn lặng lẽ giữa một thiên nhiên rộng lớn Cảnh vật
và con người dường như có sự xa cách khiến cho không khí càng thêm hoang vu,
cô quạnh
Tiếp đến là hai câu luận đã khắc họa được tâm trạng của nhà thơ:
Nhớ nước đau lòng con quốc quốc Thương nhà mỏi miệng cái gia gia
Hình ảnh “con quốc quốc” và “cái gia gia” không chỉ là hình ảnh thực về hai loại chim (chim đỗ quyên, chim đa đa) Mà ở đây, nhà thơ đã sử dụng thủ pháp lấy động tả tĩnh: tiếng kêu “quốc quốc”, “đa đa” để qua đó bộc lộ nỗi lòng nhớ thương của mình với đất nước, quê hương Hai câu thơ diễn tả nhớ nhung sâu đậm của Bà Huyện Thanh Quan dành cho quê hương, cũng sự nỗi đau đớn trước tình cảnh của đất nước lúc bấy giờ Một mình lưu lạc giữa nơi đất khách quê người, đứng trước đèo Ngang rộng lớn mà lòng nhớ về quê hương da diết
Cuối cùng, bài thơ kết lại bằng hai câu thơ đã diễn tả nỗi cô đơn tột cùng của nhà thơ:
Trang 11Dừng chân đứng lại trời, non, nước Một mảnh tình riêng ta với ta
Câu thơ “Dừng chân đứng lại, trời, non, nước” khắc họa hình ảnh nhà thơ một mình đứng tại nơi Đèo Ngang, đưa mắt nhìn ra xa cũng chỉ thấy thiên nhiên rộng lớn phía trước (có bầu trời, có núi non, dòng sông) Câu thơ cuối thể hiện sự cô đơn của nhà thơ: “một mảnh tình riêng” - tình cảm riêng tư của nhà thơ không có
ai để chia sẻ Ở đây, “một mảnh tình riêng” đối lập với không gian thiên nhiên rộng lớn càng làm cho nỗi cô đơn trống trải thêm sâu đậm Khác với “ta với ta” trong bài thơ Bạn đến chơi nhà” - chỉ tác giả Nguyễn Khuyến và người bạn tri kỷ của mình Qua đó thể hiện tình cảm bạn bè gắn bó tri kỷ:
Đầu trò tiếp khách trầu không có Bác đến chơi đây ta với ta
“Ta với ta” ở đây đều chỉ nhà thơ Bà Huyện Thanh Quan, lúc này bà chỉ có một mình đối diện với chính mình, cô đơn và lẻ loi Như vậy, hai câu kết khẳng định lại nỗi cô đơn, trống trải của tác giả trước thiên nhiên rộng lớn
Tóm lại, bài thơ “Qua đèo ngang” đã khắc họa chân thực tâm trạng của Bà Huyện Thanh Quan trước khung cảnh thiên nhiên nơi đèo Ngang rộng lớn
Cảm nhận về bài thơ Qua đèo ngang (mẫu 4)
Việt Nam có rất nhiều con đèo nổi tiếng như Đèo Hải Vân, Đèo Cả, Đèo Phượng Hoàng nhưng nổi bật nhất vẫn là Đèo Ngang vì nó được đi vào thơ ca, được các thế hệ nhắc đến nhờ bài thơ “Qua Đèo Ngang”, một trong sáu bài thơ Đường luật còn lưu lại cho đến ngày nay của nữ thi sĩ tài danh Nguyễn Thị Hĩnh, còn được người đời biết đến qua tên gọi Bà Huyện Thanh Quan Với những vần thơ trữ tình,
in sâu vào lòng người đọc, người nghe nổi xúc động lẫn thán phục, bài thơ đã miêu