TRƯỜNG ĐẠI HỌC TÂY ĐÔ KHOA DƯỢC – ĐIỀU DƯỠNG TIỂU LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC CHUYÊN NGÀNH ĐIỀU DƯỠNG MÃ SỐ 7720301 KHẢO SÁT KIẾN THỨC VÀ THỰC HÀNH VỀ BỆNH SUY DINH DƯỠNG CỦA BÀ MẸ CÓ CON TRONG ĐỘ TUỔI TỪ.
Trang 1TRƯỜNG ĐẠI HỌC TÂY ĐÔ KHOA DƯỢC – ĐIỀU DƯỠNG
TIỂU LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC CHUYÊN NGÀNH ĐIỀU DƯỠNG
MÃ SỐ: 7720301
KHẢO SÁT KIẾN THỨC VÀ THỰC HÀNH
VỀ BỆNH SUY DINH DƯỠNG CỦA BÀ MẸ
CÓ CON TRONG ĐỘ TUỔI TỪ 2 ĐẾN 5 TẠI PHƯỜNG 2 THỊ XÃ NGÃ NĂM TỈNH SÓC TRĂNG NĂM 2021
Cần Thơ, năm 2021
Sinh viên thực hiện NGUYỄN THỊ NGỌC MÃI MSSV: 1752140070
LỚP: ĐẠI HỌC ĐIỀU DƯỠNG 12 Cán bộ hướng dẫn
Ths NGUYỄN THỊ MAI DUYÊN
Trang 2TRƯỜNG ĐẠI HỌC TÂY ĐÔ KHOA DƯỢC – ĐIỀU DƯỠNG
TIỂU LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC CHUYÊN NGÀNH ĐIỀU DƯỠNG
MÃ SỐ: 7720301
KHẢO SÁT KIẾN THỨC VÀ THỰC HÀNH
VỀ BỆNH SUY DINH DƯỠNG CỦA BÀ MẸ
CÓ CON TRONG ĐỘ TUỔI TỪ 2 ĐẾN 5 TẠI PHƯỜNG 2 THỊ XÃ NGÃ NĂM
TỈNH SÓC TRĂNG NĂM 2021
Sinh viên thực hiện NGUYỄN THỊ NGỌC MÃI MSSV: 1752140070
LỚP: ĐẠI HỌC ĐIỀU DƯỠNG 12 Cán bộ hướng dẫn
Ths NGUYỄN THỊ MAI DUYÊN
Trang 3Cần Thơ, năm 2021
Trang 4LỜI CẢM ƠN
Để hoàn thành tiểu luận này, tôi chân thành cảm ơn quý Thầy Cô trong BanGiám hiệu, phòng Đào Tạo, khoa Khoa Dược - Điều Dưỡng, các phòng ban củatrường Đại học Tây Đô đã tận tình giúp đở và tạo điều kiện thuận lợi cho tôi thực hiệntiểu luận này
Xin chân thành cảm ơn Ths Nguyễn Thị Mai Duyên đã tận tình, chu đáo hướngdẫn tôi trong suốt quá trình thực hiện tiểu luận này
Xin gửi lời cảm ơn chân thành tới Trưởng trạm y tế, nhân viên đã tạo điều kiệnthuận lợi trong quá trình lấy mẫu nghiên cứu
Các bạn đồng nghiệp, gia đình và bạn bè đã động viên, ủng hộ tôi trong quá trìnhhọc cũng như thực hiện tiểu luận này
Cần Thơ, tháng 5 năm 2021
Ký tên
Nguyễn Thị Ngọc Mãi
Trang 5LỜI CAM KẾT
Tôi xin cam đoan đây là đề tài nghiên cứu của riêng tôi Các số liệu và kết quả
thu được trong tiểu luận là hoàn toàn trung thực và chưa từng được ai công bố trongbất kỳ đề tài nghiên cứu nào khác
Ký tên
Nguyễn Thị Ngọc Mãi
ii
Trang 6TÓM TẮT
Suy dinh dưỡng (SDD) trẻ em là tình trạng phổ biến ở các nước đang phát triển,trong đó có Việt Nam Ước tính của WHO năm 2015 cũng cho thấy, hiện nay trongtổng số khoảng 156 triệu trẻ em trên toàn cầu, có gần ¼ số trẻ em dưới 5 tuổi bị thấpcòi (chiếm khoảng 23%) Báo cáo của Viện Dinh dưỡng, Bộ Y tế năm 2015 cho biết ởViệt Nam cứ 7 trẻ dưới 5 tuổi thì có một trẻ bị SDD thể nhẹ cân và cứ 4 trẻ có một trẻ
bị thấp còi Nếu bệnh nhân có kiến thức và thực hành về phòng bệnh thì việc trẻ mắc
bệnh SDD sẽ giảm Đó là lý do để thực hiện đề tài:“Khảo sát kiến thức và thực hành
về bệnh suy dinh dưỡng của bà mẹ có con trong độ tuổi từ 2 đến 5 tại phường 2 Thị Xã Ngã Năm tỉnh Sóc Trăng năm 2021”.
Mục tiêu: Xác định tỉ lệ bà mẹ có con trong độ tuổi từ 2 đến 5 có kiến thức và thực
hành đúng về bệnh SDD
Phương pháp nghiên cứu: Đề tài được thực hiện theo phương pháp nghiên cứu mô tả
cắt ngang và chọn mẫu thuận tiện Đối tượng nghiên cứu là bà mẹ có con từ 2 đến 5 tạiphường 2 Thị Xã Ngã Năm tỉnh Sóc Trăng
Kết quả: Qua khảo sát thu được kết quả sau tỷ lệ bà mẹ có kiến thức đúng về định
nghĩa, nguyên nhân và biểu hiện lần lượt là 83,6%, 70,9% và 80%; kiến thức về thuốcđặc trị và nguy hiểm về bệnh SDD, bà mẹ có kiến thức đúng về thuốc đặc trị và nguyhiểm về bệnh SDD chiếm 89,1%; kiến thức về tình trạng dinh dưỡng, chỉ số BMI vàyếu tố nguy cơ của bệnh SDD, đa số bà mẹ có kiến thức đúng về yếu tố nguy cơ củabệnh SDD là 81,8%; bà mẹ có kiến thức đúng về tình trạng dinh dưỡng là 72,7% vàchỉ số BMI là 56,4%; kiến thức biện pháp tốt về bệnh SDD và cách phòng bệnh SDD,
bà mẹ có kiến thức về biện pháp và phòng chống về bệnh SDD lần lượt chiếm tỷ lệ69,1% và 98,2% Thực hành đúng của bà mẹ về bệnh SDD, bà mẹ có thực hành đúng
về bệnh theo dõi tình trạng sức khỏe là 85,5%; bà mẹ có sổ giun cho trẻ là 90,9%; đa
số các bà mẹ trong nghiên cứu có cho trẻ bú sữa mẹ mới sanh là 96,4%; bà mẹ thựchành đúng không cho trẻ ăn bổ sung trong 6 tháng đầu là 61,8%; bà mẹ thực hànhđúng khi cho trẻ uống sữa là 96,4%; đa số các bà mẹ trong nghiên cứu có cho trẻ tiêmngừa là 78,2%; bà mẹ thực hành đúng cho trẻ uống nước trái cây và không ăn thức ănđóng hộp lần lượt là 54,5% và 81,8%; bà mẹ thực hành đúng khi không cho trẻ uốngnhiều chất béo là 76,4%; bà mẹ thực hành đúng khi cho trẻ ăn đa dạng các loại thức ăn
là 96,4%
Kết luận: Các bà mẹ có kiến thức đúng về bệnh SDD với 85,5% và thực hành đúng về
bệnh là 83,6% Tuy nhiên, vẫn cần phải nâng cao trình độ truyền thông, tiếp tục đẩymạnh công tác tuyên truyền các biện pháp phòng chống SDD cho các bà mẹ và cộng
đồng.
Trang 7MỤC LỤC
LỜI CẢM ƠN i
LỜI CAM KẾT ii
TÓM TẮT iii
MỤC LỤC iv
DANH MỤC BẢNG v
DANH SÁCH HÌNH vi
DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT vii
MỞ ĐẦU 1
CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 3
1.1 TỔNG QUAN VỀ SUY DINH DƯỠNG 3
1.2 Phân loại suy dinh dưỡng 4
1.3 Triệu chứng lâm sàng 5
1.4 HẬU QUẢ CỦA SUY DINH DƯỠNG 6
1.5 CÁC BIỆN PHÁP PHÒNG CHỐNG SUY DINH DƯỠNG 6
1.6 TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU TRONG VÀ NGOÀI NƯỚC 7
CHƯƠNG 2 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 11
2.1 ĐỐI TƯỢNG NGHIÊN CỨU 11
2.2 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 11
2.3 ĐẠO ĐỨC TRONG NGHIÊN CỨU 16
CHƯƠNG 3 KẾT QUẢ VÀ THẢO LUẬN 17
3.1 KẾT QUẢ 17
3.2 THẢO LUẬN 23
CHƯƠNG 4 KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 27
4.1 KẾT LUẬN 27
4.2 KIẾN NGHỊ 28
TÀI LIỆU THAM KHẢO 29
PHỤ LỤC A 31
PHỤ LỤC B 35
iv
Trang 8DANH MỤC BẢNG
Bảng 2.1 Cân nặng so với chiều cao và chiều cao theo tuổi 4
Bảng 2.2 Đánh giá cân nặng theo tuổi phối hợp các triệu chứng phù 5
Bảng 3.1 Phân bố theo nơi ở, dân tộc của đối tượng nghiên cứu 17
Bảng 3.2 Phân bố theo tôn giáo, nghề nghiệp của đối tượng nghiên cứu 18
Bảng 3.3 Trình độ học vấn, nguồn cung cấp thông tin của đối tượng nghiên cứu 18
Bảng 3.4 Tình trạng sanh, số con trong gia đình của đối tượng nghiên cứu 19
Bảng 3.5 Kiến thức về định nghĩa, nguyên nhân và biểu hiện của bà mẹ về bệnh SDD .20
Bảng 3.6 Kiến thức về thuốc đặc trị và nguy hiểm về bệnh SDD 20
Bảng 3.7 Kiến thức về tình trạng dinh dưỡng, chỉ số BMI và yếu tố nguy cơ của bệnh SDD 20
Bảng 3.8 Kiến thức về biện pháp tốt về bệnh SDD và cách phòng bệnh SDD 21
Bảng 3.9 Thực hành đúng của bà mẹ về bệnh SDD 22
Bảng 3.10 Thực hành đúng của bà mẹ về bệnh SDD 22
Trang 9DANH SÁCH HÌNH
Hình 1.1 Tỷ lệ suy dinh dưỡng của trẻ ở các nước đang phát triển 8
Hình 3.1 Phân bố theo tuổi của đối tượng nghiên cứu 17
Hình 3.2 Kiến thức chung về bệnh suy dinh dưỡng 19
Hình 3.3 Thực hành đúng chung về bệnh suy dinh dưỡng 21
vi
Trang 10DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT
IFPRI International Food Policy Research InstituteKHQGDD Kế hoạch quốc gia dinh dưỡng
NCHS National Center of Heath Statistics
SDD Suy dinh dưỡng
TP HCM Thành phố Hồ Chí Minh
UNICEF United Nations Children's Fund
WHO World Health Organization
Trang 11MỞ ĐẦU
Suy dinh dưỡng (SDD) trẻ em là tình trạng phổ biến ở các nước đang phát triển,trong đó có Việt Nam Ước tính của WHO năm 2015 cũng cho thấy, hiện nay trongtổng số khoảng 156 triệu trẻ em trên toàn cầu, có gần ¼ số trẻ em dưới 5 tuổi bị thấpcòi (chiếm khoảng 23%) Báo cáo của Viện Dinh dưỡng, Bộ Y tế năm 2015 cho biết ởViệt Nam cứ 7 trẻ dưới 5 tuổi thì có một trẻ bị SDD thể nhẹ cân và cứ 4 trẻ có một trẻ
bị thấp còi (Nguyễn Anh Vũ, 2017)
Suy dinh dưỡng trong những năm đầu đời ảnh hưởng rất lớn đến sự phát triểnbình thường của trẻ Nhiều nghiên cứu đã xác định rõ mối liên quan giữa tình trạngdinh dưỡng khi còn nhỏ đến sự phát triển thể chất, tinh thần, khả năng lao động vànguy cơ mắc các bệnh không lây nhiễm như tim mạch, huyết áp, ung thư sau này TạiViệt Nam, tỷ lệ suy dinh dưỡng ở trẻ dưới 5 tuổi được đánh giá là đã giảm nhanh vàbền vững trong những năm qua, kiến thức thực hành dinh dưỡng của người dân ngàycàng được nâng lên, tình trạng thiếu vi chất dinh dưỡng ngày càng được cải thiện Kếtquả đó là sự đóng góp của các chương trình phòng chống suy dinh dưỡng (Dự án Cảithiện tình trạng dinh dưỡng trẻ em), chương trình bổ sung vitamin A, phòng chốngthiếu máu do thiếu sắt đã được triển khai trên toàn quốc Theo kết quả điều tra 30 cụmtrên toàn quốc năm 2016 cho thấy, tỷ lệ suy dinh dưỡng thể nhẹ cân ở trẻ dưới 5 tuổi là13,8%, suy dinh dưỡng thấp còi là 24,3%.Việt Nam phải trải qua thời kỳ vô cùng khókhăn do hậu quả của nhiều năm chiến tranh, tỷ lệ suy dinh dưỡng ở trẻ em đầu nhữngnăm 80 của thế kỷ trước rất cao (trên 50% trẻ dưới 5 tuổi bị suy dinh dưỡng) và hiệnnay tình trạng suy dinh dưỡng ở trẻ em vẫn còn ở ngưỡng có ý nghĩa sức khỏe cộngđồng đặc biệt là suy dinh dưỡng thể thấp còi (cứ 4 trẻ thì có 1 trẻ bị suy dinh dưỡngthấp còi) và có sự khác biệt giữa các vùng miền, một số tỉnh có tỷ lệ suy dinh dưỡngthấp còi ở mức rất cao (trên 35%) Tình trạng thừa cân, béo phì ở trẻ em hiện đang giatăng nhanh đặc biệt là ở một số tỉnh thành có sự chuyển đổi cơ cấu kinh tế và ở khuvực đô thị lớn (có tỉnh hiện nay đã trên 10%); tình trạng thiếu vi chất ở bà mẹ và trẻ
em có giảm so với những giai đoạn trước những vẫn ở mức cao, tình trạng thiếu nhiềuloại vi chất ở một cá thể vẫn còn phổ biến Tuy nhiên, các nguồn lực đầu tư ngày cànghạn hẹp so với những năm trước nên hiện tại, công tác phòng chống suy dinh dưỡngtrẻ em đang gặp nhiều thách thức (Vũ Văn Tán, 2018)
Thị xã Ngã Năm với điều kiện kinh tế xã hội còn nhiều khó khăn, tình trạng suydinh dưỡng trên địa bàn còn cao đặc biệt SDD do thực hành dinh dưỡng của bà mẹ vàngười chăm sóc trẻ còn hạn chế
Kiến thức và thực hành của bà mẹ góp phần quan trọng vào việc chăm sóc và
ngăn ngừa bệnh SDD Vì vậy đề tài “Khảo sát kiến thức và thực hành về bệnh suy
Trang 12dinh dưỡng của bà mẹ có con trong độ tuổi từ 2 đến 5 tại phường 2 Thị Xã Ngã Năm tỉnh Sóc Trăng năm 2021” được tiến hành với mục tiêu sau:
1 Xác định tỉ lệ bà mẹ có con trong độ tuổi từ 2 đến 5 có kiến thức đúng về bệnhSDD
2 Xác định tỉ lệ bà mẹ có con trong độ tuổi từ 2 đến 5 có thực hành đúng về bệnhSDD
Trang 13CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU
1.1 TỔNG QUAN VỀ SUY DINH DƯỠNG
1.1.1 Định nghĩa
Suy dinh dưỡng là tình trạng bệnh lý hay gặp ở trẻ em dưới 5 tuổi, đặc biệt là ởtrẻ dưới 3 tuổi làm ảnh hưởng đến quá trình phát triển và trưởng thành của trẻ Khi bịsuy dinh dưỡng cơ thể suy yếu làm trẻ dễ mắc các bệnh nhiễm khuẩn Trẻ bị nhiễmkhuẩn lại càng nặng thêm tình trạng suy dinh dưỡng Theo điều tra của Viện dinhdưỡng quốc gia năm 2003 thì tỷ lệ suy dinh dưỡng của trẻ em nước ta vẫn còn cao là28,4% Tuy nhiên tỷ lệ này không đồng đều giữa các vùng Tại các thành phố lớn tỷ lệnày thấp hơn Chẳng hạn như ở thành phố Hồ Chí Minh là 11,3%, Hà Nội 15,8% vàHải Phòng 21,2% Trong khi các tỉnh miền núi phía Bắc và Tây Nguyên có tỷ lệ caohơn như Hà Giang 35,5%, Cao Bằng 32,3%, Hòa Bình 34,5% và Đắc Lắc 38,7% (Bộ
Y Tế, 2006)
1.1.2 Nguyên nhân
Nguyên nhân trực tiếp phải kể đến là thiếu ăn về số lượng hoặc chấtlượng và mắc các bệnh nhiễm khuẩn Trẻ em trước tuổi học đường là đốitượng bị suy dinh dưỡng cao nhất, bởi vì cơ thể ở giai đoạn phát triển nhanh, nhu cầudinh dưỡng cao và do không ăn được đầy đủ các chất dinh dưỡng Người ta thườngcho rằng, những vùng ăn chủ yếu các loại ngũ cốc, củ thường hay dẫn đến suy dinhdưỡng, nhưng nhiều nghiên cứu sau đó, lại cho thấy khẩu phần ăn của trẻ thiếu nănglượng trầm trọng, ngay cả khi mức thiếu protein mới ở mức đe doạ Sữa mẹ và thức ăn
bổ sung đóng vai trò quan trọng đối với thời gian bị suy dinh dưỡng và thể loại suydinh dưỡng Khi cho ăn bổ sung muộn, như một số nước Châu Phi, các trường hợp suydinh dưỡng nặng xảy ra vào năm tuổi thứ hai, thứ ba hoặc thứ tư và thường là thểkwashiorkor Maramus lại hay xảy ra trước 06 tháng tuổi, đối với những trẻ khôngđược bú sữa mẹ, hoặc cho ăn bổ sung quá sớm Ở các vùng thành phố, Maramus lại cóliên quan đến bú chai, nhất là khi số lượng sữa không đủ, đôi khi do cả các nguyênnhân sử dụng núm vú cao su, các đầu mút không hợp vệ sinh Cho trẻ em thức ăn đặcquá, số lượng không đủ, năng lượng cùng protein trong khẩu phần thấp cũng dẫn tớithể suy dinh dưỡng này Nhiễm khuẩn dễ đưa đến suy dinh dưỡng do rối loạn tiêu hoá
và ngược lại suy dinh dưỡng dễ dẫn đến nhiễm khuẩn do đề kháng giảm Do đó tỷ lệsuy dinh dưỡng có thể dao động theo mùa và thường cao trong các mùa bệnh nhiễmkhuẩn lưu hành ở mức cao (tiêu chảy, viêm hô hấp, sốt rét )
Trong những năm tháng đầu tiên sau khi ra đời, những trẻ đã bị kém phát triểntrong thời kỳ bào thai (suy dinh dưỡng bào thai) có nguy cơ cao bị suy dinh dưỡngsớm Tình trạng kém phát triển của trẻ biểu hiện qua cân nặng theo tuổi và chiều caotheo tuổi thấp, xảy ra trong khoảng thời gian tương đối ngắn, từ mới sinh đến khi trẻ
Trang 14được 2 năm Một số nghiên cứu cho thấy, hiểu biết của phụ nữ và những người chămsóc trẻ cũng ảnh hưởng đến tình trạng suy dinh dưỡng Hội nghị thượng đỉnh về dinhdưỡng ở Rome 1992, đã khẳng định hai nguyên nhân gốc rễ dẫn đến nạn suy dinhdưỡng là đói ăn và đói kiến thức Một số nghiên cứu khác cho rằng, vào những năm
2000 yếu tố “thiếu ăn” dần trở nên ít quan trọng so với yếu tố “hiểu biết của phụ nữ vềchăm sóc trẻ”
Nguyên nhân sâu xa của suy dinh dưỡng là tình trạng nghèo đói, lạc hậu về cácmặt phát triển nói chung, bao gồm sự mất bình đẳng về kinh tế Các bệnh thường đikèm: Thông thường thiếu vitamin A hay đi kèm Bên cạnh đó, tình trạng thiếu các vichất dinh dưỡng khác, dù có hay không có biểu hiện lâm sàng như thiếu acid folic,sắt Với các mức độ thay đổi theo từng vùng địa phương khác nhau cũng thườngxuyên đi kèm với suy dinh dưỡng Một số vi chất dinh dưỡng cũng đang được xem xétgây ra quá trình chậm lớn, chậm phát triển của cơ thể như Iod, sắt và kẽm Như vậy,suy dinh dưỡng thực chất là tình trạng bệnh lý do thiếu nhiều chất dinh dưỡng hơn làthiếu protein - năng lượng đơn thuần (Phạm Duy Tường, 2013)
1.2 PHÂN LOẠI SUY DINH DƯỠNG
1.2.1 Phân loại theo mức độ suy dinh dưỡng
Theo Tổ chức y tế thế giới (1981) đánh giá suy dinh dưỡng dựa vào tiêu chuẩncân nặng theo tuổi, quần thể tham khảo là NCHS (National Center of Heath Statistics)
- Suy dinh dưỡng độ 1: Cân nặng dưới -2SD đến -3SD tương đương với cân nặng còn70-80% so với cân nặng của trẻ bình thường
- Suy dinh dưỡng độ 2: Cân nặng dưới -3SD đến -4SD tương đương với cân nặng còn60-70%
- Suy dinh dưỡng độ 3: Cân nặng dưới -4SD tương đương với cân nặng còn dưới 60%.(Bộ y tế, 2006)
1.2.2 Phân loại theo Waterlow (1976)
Tác giả phân loại ra làm 3 thể gầy mòn, còi cọc và kết hợp gầy mòn với còi cọcdựa vào so sánh cân nặng với chiều cao và chiều cao so với tuổi
Bảng 2.1 Cân nặng so với chiều cao và chiều cao theo tuổi
Cân nặng so với chiều cao
- Gầy mòn (Wasting): Biểu hiện tình trạng suy dinh dưỡng cấp tính
- Còi cọc (Sturning): Biểu hiện tình trạng suy dinh dưỡng trong quá khứ
- Gầy mòn + Còi cọc: Suy dinh dưỡng mạn tính (Bộ Y Tế, 2006)
Trang 151.2.3 Phân loại theo các thể Wellcome (1970)
Tác giả phân loại dựa vào tỷ lệ phần trăm cân nặng so với tuổi phối hợp với triệuchứng phù theo bảng 2.2 (Bộ Y Tế, 2006)
Bảng 2.2: Đánh giá cân nặng theo tuổi phối hợp các triệu chứng phù
Tỷ lệ % cân nặng theo tuổi Phù
60-80% Kwashiorkor Suy dinh dưỡng I,II
60% Marasmus – kwashiorkor Marasmus
1.3 TRIỆU CHỨNG LÂM SÀNG
1.3.1 Suy dinh dưỡng nhẹ
Cân nặng còn 70-80% hay giảm từ -2SD đến -3SD so với cân nặng bình thườngtheo tuổi, lớp mỡ dưới da bụng mỏng, trẻ còn thèm ăn và chưa có biểu hiện rối loạntiêu hóa (Bộ Y Tế, 2006)
1.3.2 Suy dinh dưỡng vừa
Cân nặng còn 60-70% hay giảm từ -3SD đến -4SD so với cân nặng bình thườngtheo tuổi, mất lớp mỡ dưới da bụng, mông, chi, rối loạn tiêu hóa từng đợt, trẻ có thểbiếng ăn (Bộ Y Tế, 2006)
1.3.3 Suy dinh dưỡng nặng
1.3.3.1 Thể teo đét (Marasmus)
Cân nặng còn dưới 60% hay giảm tới -4SD so với cân nặng bình thường theotuổi Trẻ gầy đét, da bọc xương, vẻ mặt như cụ già do mất toàn bộ lớp mỡ dưới dabụng, mông, chi và má Cơ nhẽo, làm ảnh hưởng tới sự phát triển vận động của trẻ.Tinh thần mệt mỏi, ít phản ứng với ngoại cảnh, trẻ hay quấy khóc, không chịu chơi.Trẻ có thể thèm ăn hoặc kém ăn, thường xuyên rối loạn tiêu hóa, ỉa lỏng, phân sống.Gan hơi to hoặc bình thường (Bộ Y Tế, 2006)
1.3.3.2 Thể phù (Kawashiorkor)
Cân nặng còn 60-80% hay giảm từ -2SD đến -4SD so với cân nặng bình thườngtheo tuổi Trẻ phù từ chân đến mặt rồi phù toàn thân, phù trắng, mềm ấn lõm Cơ nhẽođôi khi bị che lấp do phù Da khô, trên da có thể xuất hiện những mảng sắc tố ở bẹn,đùi, tay, lúc đầu là những chấm đỏ rải rác lan dần rồi tụ lại thành những đám màu sẫm,vài ngày sau bong da để lại lớp da non, rỉ nước và dễ bị nhiễm khuẩn Tóc thưa, dễrụng có màu hung đỏ, móng tay mềm, dễ gãy Trẻ kém ăn, nôn trớ, ỉa phân lỏng đôikhi có nhầy mỡ Trẻ hay quấy khóc, kém vận động Gan thường to do thoái hóa mỡ.(Bộ Y Tế, 2006)
1.3.3.3 Thể phối hợp (Marasmus – Kawashiorkor)
Trẻ có cả các triệu chứng của hai thể trên (Bộ Y Tế, 2006)
Trang 161.3.4 Các triệu chứng kèm theo
Trong suy dinh dưỡng nặng ở cả ba thể bệnh nhân thường có các biểu hiện thiếumáu, thiếu các loại vitamin, trong đó đặc biệt là thiếu vitamin A có thể dẫn đến khômắt gây mù lòa vĩnh viễn (Bộ Y Tế, 2006)
1.4 HẬU QUẢ CỦA SUY DINH DƯỠNG
Trẻ có cân nặng theo tuổi thấp, thường hay bị bệnh như tiêu chảy và viêm phổi.Suy dinh dưỡng làm tăng tỷ lệ tử vong Ước tính riêng trong năm 1995 có 11,6 triệutrường hợp trẻ em dưới 5 tuổi ở các nước đang phát triển bị tử vong vì tất cả cácnguyên nhân khác nhau thì có 6,3 triệu trường hợp (chiếm 54%) bị suy dinh dưỡng.Suy dinh dưỡng ảnh hưởng rõ rệt đến phát triển trí tuệ, hành vi, khả năng học hành củatrẻ, khả năng lao động đến tuổi trưởng thành Suy dinh dưỡng trẻ em thường để lại hậuquả nặng nề Gần đây, nhiều bằng chứng cho thấy suy dinh dưỡng ở giai đoạn sớm,nhất là trong thời kỳ bào thai có mối liên hệ với mọi thời kỳ của đời người Hậu quảcủa suy dinh dưỡng có thể kéo dài qua nhiều thế hệ, phụ nữ đã từng bị suy dinh dưỡngtrong thời kỳ còn trẻ là trẻ nhỏ hoặc trong độ tuổi vị thành niên đến khi lớn lên trởthành bà mẹ bị suy dinh dưỡng Bà mẹ bị suy dinh dưỡng thường dễ đẻ con nhỏ yếu,cân nặng sơ sinh thấp Hầu hết những trẻ có cân nặng sơ sinh thấp bị suy dinh dưỡng(nhẹ cân hoặc thấp còi) ngay trong năm đầu sau sinh Những trẻ này có nguy cơ tửvong cao hơn so với trẻ bình thường và khó có khả năng phát triển bình thường Tácgiả Barker, nêu ra một giả thuyết mới về nguồn gốc bào thai của một số bệnh mãntính Theo ông các bệnh tim mạch, đái tháo đường, rối loạn chuyển hoá ở ngườitrưởng thành có thể có nguồn gốc từ suy dinh dưỡng bào thai Chính vì thế, phòngchống suy dinh dưỡng bào thai hoặc trong những năm đầu tiên sau khi ra đời, có ýnghĩa quan trọng trong dinh dưỡng theo chu kỳ vòng đời (Phạm Duy Tường, 2013)
1.5 CÁC BIỆN PHÁP PHÒNG CHỐNG SUY DINH DƯỠNG
Cuối thế kỷ XX, Tổ chức y tế thế giới đã coi 4 vấn đề thiếu dinh dưỡng quantrọng nhất ở các nước đang phát triển là thiếu dinh dưỡng protein năng lượng, thiếuvitamin A, thiếu máu thiếu sắt, thiếu iod, trong đó thiếu dinh dưỡng protein là quantrọng nhất
Hiện nay, công tác phòng chống suy dinh dưỡng trẻ em đã trở thành một hoạtđộng dinh dưỡng quan trọng ở nước ta trong đó mục tiêu hạ thấp tỷ lệ suy dinh dưỡngđược đưa vào chỉ tiêu phát triển kinh tế - xã hội của các cấp chính quyền, các địaphương Hiện nay, nhiệm vụ này được giao cho ngành y tế (Viện dinh dưỡng là cơquan thường trực triển khai) Phương châm dự phòng là chủ đạo tức là thực hiện chămsóc sớm, chăm sóc mọi đứa trẻ và tập trung ưu tiên vào giai đoạn 2 năm đầu tiên Cácbiện pháp phòng chống suy dinh dưỡng bao gồm:
- Chăm sóc dinh dưỡng và sức khỏe cho bà mẹ có thai và cho con bú
Trang 17- Nuôi con bằng sữa mẹ
- Thực hiện ăn bổ sung hợp lý
+ Thức ăn bổ cần có đậm độ năng lượng thích hợp
+ Thức ăn bổ sung phải có độ keo đặc thích hợp
+ Tăng độ hòa tan của các loại thức ăn bổ sung
+ Thức ăn bổ sung cần có đủ và cân đối về các chất dinh dưỡng
+ Cung cấp đầy đủ chất khoáng
- Đảm bảo bổ sung đầy đủ vitamin A cho trẻ em và bà mẹ sau đẻ
- Thực hiện nuôi dưỡng tốt khi trẻ bị bệnh
- Chăm sóc vệ sinh, phòng chống nhiễm giun
- Tư vấn dinh dưỡng tại cộng đồng và tại các gia đình (Hà Huy Khôi, 2004)
Phòng chống suy dinh dưỡng trẻ em không chỉ là để các cháu phát triển hài hòa,khỏe mạnh về thể chất và tinh thần, xóa bỏ tình trạng chậm phát triển trước mắt màcòn là đảm bảo sức đề kháng cao, độ bền của cơ thể phòng chống các bệnh mạn tính,nâng cao tuổi thọ hữu ích và chất lượng cuộc sống sau này (Hà Huy Khôi, 2006)
1.6 TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU TRONG VÀ NGOÀI NƯỚC
1.6.1 Trên thế giới
Mặc dù tình trạng suy dinh dưỡng trẻ em dưới 5 tuổi trên toàn thế giới đã đượccải thiện khá nhiều trong những năm qua, tuy nhiên tỷ lệ suy dinh dưỡng của trẻ vẫncòn khá cao, đặc biệt ở những nước đang phát triển Theo báo cáo mới đây củaUNICEF năm 2013 cũng cho thấy, có khoảng 165 triệu trẻ em trên toàn cầu, chiếmtrên ¼ trẻ em dưới 5 tuổi bị SDD trong năm 2011 khoảng 26% (Unicef, 2013)
Trên toàn cầu 162 triệu trẻ em dưới 5 tuổi bị SDD trong năm 2012 Từ năm 2000đến năm 2012 trẻ SDD đã giảm từ 33% xuống 25% giảm từ 197 triệu xuống 162 triệu.Trong năm 2012 tỷ lệ 56% trẻ em SDD sống ở châu á và 36% trẻ SDD sống ở châuphi (Unicef – Who, 2013)
Báo cáo của WHO cũng cho thấy, đến năm 2015 trên toàn cầu có 156 triệu trẻ
em bị SDD, chiếm khoảng 23% tổng số trẻ dưới 5 tuổi Nhiều bằng chứng cho thấymặc dù số trẻ dưới 5 tuổi bị SDD còn cao, nhưng tỷ lệ phân bố không đều ở các khuvực trên thế giới (Unicef, 2013)
Theo ước tính của Tổ chức Y tế Thế giới có khoảng 500 triệu trẻ em bị thiếu dinhdưỡng ở các nước đang phát triển gây nên 10 triệu ca tử vong mỗi năm Và bệnh suydinh dưỡng góp phần vào 55% tỷ lệ tử vong của trẻ em toàn cầu (Bộ Y tế, 2019)
Sự phân tích dựa trên các dữ liệu khẳng định rằng thấp còi vẫn là một vấn đề y tếcông cộng quan trọng của nhiều nước và tiếp tục cản trở sự phát triển thể chất và tinhthần của trẻ Thêm vào đó, nó cũng ảnh hưởng lớn đến sự sống còn của trẻ Các báocáo của UNICEF và WHO đều cho biết, số trẻ em dưới 5 tuổi bị SDD còn rất cao trên
Trang 18thế giới, nhưng gánh nặng này phân bố không đồng đều, đặc biệt con số này còn đặcbiệt cao ở 2 châu lục là châu Phi và châu Á Báo cáo của UNICEF năm 2013 cho biết,khu vực Sub-Saharan của châu Phi và Nam Á chiếm khoảng ¾ tổng số trẻ em thấp còitrên toàn thế giới (Hình 1.1) Riêng khu vực cận Sahara của châu Phi có khoảng 40%phần trăm trẻ em dưới 5 tuổi bị SDD và ở Nam Á, con số này là 39%.
Hình 1.1 Tỷ lệ suy dinh dưỡng của trẻ ở các nước đang phát triển
(Nguồn: UNICEF, 2013)Hình 1.1 trên đây trình bày sự phân bố về tỷ lệ thấp còi ở các nước đang pháttriển theo số liệu ở các mức độ thấp, trung bình, cao và rất cao: <20%, 20–29%, 30–39%, 40% Hình trên cũng cho thấy tỷ lệ thấp còi rất cao ở nhiều nước thuộc tiểuvùng Sahara, Trung Nam Á và Đông Nam Á Hầu hết các nước thuộc Châu Mỹ Latinh và Carribe có tỷ lệ thấp hoặc ở mức trung bình Báo cáo của WHO mới đây nhấtcũng công bố, trong số 156 triệu trẻ bị SDD trên toàn cầu (chiếm 23% tổng số trẻ dưới
5 tuổi), thì riêng châu Phi chiếm khoảng 60 triệu và khu vực Đông Nam Á chiếmkhoảng 59 triệu (tương đương 38% và 33% số trẻ ở khu vực đó) (Nguyễn Anh Vũ,2017)
Trên thế giới, cứ 3 trẻ dưới năm tuổi thì có một trẻ không nhận được dinhdưỡng cần thiết để phát triển khỏe mạnh Tuy có xu hướng giảm nhưng vẫn còn 149triệu trẻ em dưới 5 tuổi bị thấp còi và gần 50 triệu trẻ em bị gầy còm; 340 triệu trẻ em
bị đói tiềm ẩn do thiếu vitamin và khoáng chất SDD tác động sâu sắc đến sự phát triểncủa trẻ em Nếu vấn đề này không được giải quyết, trẻ em và xã hội sẽ gặp phải nhiềukhó khăn để phát triển hết tiềm năng Thách thức này chỉ có thể được tháo gỡ bằngcách giải quyết vấn đề SDD trong mỗi giai đoạn phát triển của trẻ em và đặt nhu cầudinh dưỡng đặc biệt của trẻ em vào trọng tâm của hệ thống thực phẩm và những hệthống hỗ trợ khác như y tế, nước sạch và vệ sinh, giáo dục và an sinh xã hội (Unicef,2019)
Trang 191.6.2 Tại Việt Nam
Tỷ lệ trẻ SDD đã giảm nhiều nếu tính từ 1985 (51,5%) đến 1995 (44,9%) mỗinăm giảm trung bình 0,66% Từ năm bắt đầu KHQGDD (1995), chỉ sau 4 năm tỷ lệSDD đã giảm xuống còn 36,7% (1999), trung bình mỗi năm giảm 2%, là tốc độ đượcquốc tế công nhận là giảm nhanh Như vậy, mỗi năm đã đưa khoảng gần 200 ngàn trẻdưới 5 tuổi thoát khỏi suy dinh dưỡng Năm 2000, theo số liệu điều tra MICS của
Tổng cục thống kê, tỷ lệ trên còn 33,1% Có thể nói thành tựu giảm nhanh tỷ lệ suy
dinh dưỡng trẻ em trong 5 năm qua rất đáng ghi nhận Suy dinh dưỡng nặng đã giảmhẳn (0,8%) và SDD ở nước ta hiện nay chủ yếu là thể nhẹ và thể vừa Tuy nhiên, tỷ lệsuy dinh dưỡng ở nước ta vẫn ở mức rất cao so với quy định của Tổ chức Y tế thế giới.Mặt khác, mặc dù tỷ lệ trẻ em bị thấp còi đã giảm nhanh trong những năm qua songvẫn còn ở mức khá cao (38,6%), những vùng có tỷ lệ trẻ nhẹ cân cao cũng là nhữngvùng có tỷ lệ thấp còi cao Tỷ lệ SDD có sự khác biệt giữa các vùng sinh thái, giữa cáctỉnh Tỷ lệ SDD cân nặng theo tuổi thấp nhất là ở thành phố Hồ Chí Minh (18,1%) và
Hà nội (21%), trong khi đó có tỉnh, tỷ lệ SDD còn trên 50% Cụ thể, vùng có tỷ lệSDD thấp nhất là vùng Đông Nam bộ - trong đó có TP HCM - (29,6%); sau đó là vùngĐồng bằng Sông Cửu long (32,3%); vùng Đồng bằng Sông Hồng (33,8%); vùngDuyên Hải Nam Trung bộ (39,2%); vùng Đông bắc (40,9%); vùng Tây bắc (41,6%);vùng Bắc Trung bộ (39,2%) và cao nhất là vùng Tây nguyên (49,1%) Ở Việt namkhông có sự khác biệt rõ ràng về giới đối với mức độ SDD Nhóm tuổi bị ảnh hưởngnhiều nhất là 6-24 tháng tuổi, đây là nhóm tuổi bắt đầu chuyển từ chế độ bú sữa mẹsang chế độ ăn sam, nếu chế độ ăn sam không đúng sẽ tác động rất lớn đến tình trạng
dinh dưỡng ở nhóm tuổi này Các nguyên nhân của SDD là phức hợp từ nguyên nhân
trực tiếp là ăn uống, bệnh tật đến các yếu tố về chăm sóc và nguyên nhân gốc rễ là sựnghèo đói Tuy vậy, mức độ tác động của các yếu tố khác nhau theo vùng Vùng Trung
bộ, Tây nguyên và miền núi phía Bắc: vấn đề an ninh lương thực nổi lên hàng đầu;Vùng đồng bằng nông thôn khác: vấn đề chăm sóc (trong đó có cách nuôi dưỡng trẻ)nổi lên hàng đầu; Vùng đô thị lớn: vấn đề bệnh tật từ nhỏ dẫn tới SDD nổi lên hàngđầu Sở dĩ như vậy là vì ở thành thị vấn đề thiếu ăn không còn phổ biến và chất lượngchăm sóc trẻ tốt hơn, trong khi nhiều địa phương ở khu vực nông thôn thì vấn đề chămsóc, nuôi dưỡng trẻ còn nhiều hạn chế Điều này đòi hỏi các chiến lược tác động khácnhau theo từng khu vực và từng giai đoạn Gần đây, tổng kết của Viện Nghiên cứuChiến lược và Chính sách Dinh dưỡng quốc tế (IFPRI) cho thấy học vấn của ngườiphụ nữ đóng góp 43% đối với SDD, trong khi an ninh thực phẩm đóng góp 26,1% đốivới SDD Điều này cho thấy yếu tố về cách nuôi dưỡng, cách chăm sóc (thể hiện quatrình độ học vấn của người phụ nữ) có vai trò quan trọng đối với SDD
Trang 20Thiếu năng lượng trường diễn ở phụ nữ, thể hiện bằng chỉ số khối cơ thể (BMI) thấp(<18,5), năm 1977 là 38% và gần đây là 32% Tình trạng thiếu năng lượng trường diễn
ở phụ nữ phản ánh những vấn đề tồn tại trong chăm sóc phụ nữ, đồng thời có liên quantới tỷ lệ suy dinh dưỡng bào thai (Viện Dinh Dưỡng, 2001)
Theo điều tra về tình hình suy dinh dưỡng ở trẻ em các tỉnh phía nam của Bộmôn Nhi – Đại học Y Dược TPHCM năm 1998, phân loại dựa vào cân nặng và chiềucao cho thấy: 24% tỷ lệ suy dinh dưỡng ở trẻ dưới 6 tháng, 47% ở trẻ dưới 5 tuổi và70% ở trẻ dưới 15 tuổi (Bộ Y tế, 2019)
Năm 2010, tỷ lệ SDD trẻ em nước ta là 17,5% (chỉ tiêu cân nặng/tuổi), trong đóSDD vừa (độ I) là 15,4%, SDD nặng (độ II) là 1,8% và SDD dưỡng nặng (độ III) là0,3% 20/63 tỉnh, thành có mức SDD trẻ em trên 20% (xếp ở mức cao theo phân loạicủa Tổ chức Y tế thế giới)
Tỷ lệ trẻ em SDD theo chỉ tiêu chiều cao/tuổi (SDD thể thấp còi) năm 2010toàn quốc là 29,3%, trong đó xét theo phân loại của Tổ chức Y tế thế giới có đến 31tỉnh tỷ lệ trên 30% (mức cao), 2 tỉnh trên 40% (mức rất cao) Mức giảm trung bìnhSDD thấp còi trong 15 năm qua (1995-2010) là 1,3%/năm Tỷ lệ SDD thể gầy còm(cân/cao) là 7,1%
Ước tính đến năm 2010, nước ta còn gần 1,3 triệu trẻ em dưới 5 tuổi suy dinh dưỡngnhẹ cân, khoảng 2,1 triệu trẻ em SDD thấp còi và khoảng 520.000 trẻ em SDD gầycòm Phân bố SDD không đồng đều ở các vùng sinh thái khác nhau (Viện dinh dưỡng– Unicef, 2011)
Trang 21CHƯƠNG 2 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
2.1 ĐỐI TƯỢNG NGHIÊN CỨU
2.1.1 Đối tượng nghiên cứu.
Các bà mẹ có con trong độ tuổi từ 2 đến 5 tại Phường 2 Thị xã Ngã Năm Tỉnh Sóc Trăng
2.1.2 Tiêu chuẩn chọn mẫu
Các bà mẹ có con trong độ tuổi từ 2 đến 5 tại Phường 2 Thị xã Ngã Năm TỉnhSóc Trăng trong thời điểm tiến hành nghiên cứu
2.1.3 Tiêu chuẩn loại trừ
- Các bà mẹ câm, điếc, rối loạn tâm thần,…
- Các bà mẹ không đồng ý tham gia nghiên cứu
2.1.4 Địa điểm và thời gian nghiên cứu
- Địa điểm: Trạm y tế Phường 2 Thị Xã Ngã Năm Tỉnh Sóc Trăng
- Thời gian: Từ ngày 01 tháng 03 đến ngày 01 tháng 05 năm 2021
2.2 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
2.2.1 Thiết kế nghiên cứu:
Nghiên cứu mô tả cắt ngang.
2.2.2 Cỡ mẫu
Lấy mẫu 55 bà mẹ có con trong độ tuổi từ 2 đến 5
2.2.3 Phương pháp chọn mẫu
Chọn mẫu thuận tiện 55 bà mẹ có con trong độ tuổi từ 2 đến 5
2.2.4 Nội dung nghiên cứu
2.2.4.1 Thông tin chung của đối tượng nghiên cứu
Trang 22- Chị hiểu về phòng bệnh suy dinh dưỡng qua cách nào:
+ Tivi, đài phát thanh, internet
+ Tờ rơi, báo, tranh ảnh, áp phích
2.2.4.2 Các kiến thức về bệnh suy dinh dưỡng:
Nội dung câu hỏi gồm 10 câu, mỗi câu trả lời đúng đạt 1 điểm
Đánh giá kiến thức chung, có hai giá trị:
+ Kiến thức đúng: khi đạt từ 80-100% của 10 điểm, tức đạt: ≥8 điểm.+ Kiến thức chưa đúng: khi đạt <80% của 10 điểm, tức đạt: <8 điểm
- Định nghĩa suy dinh dưỡng là:
Trang 23+ Trẻ không đủ cân nặng so với chiều cao
+ Thiếu ăn và nhiễm khuẩn
+ Chế độ ăn vừa thiếu đạm vừa thiêu năng lượng
+Chưa có thuốc điều trị
Bà mẹ có kiến thức đúng khi chọn đáp án “ Chưa có thuốc điều trị”.-Nguy hiểm của SDD:
+ Có nguy hiểm
+ Không nguy hiểm
Bà mẹ có kiến thức đúng khi chọn đáp án “ Có nguy hiểm”
- Những thông tin về tình trạng dinh dưỡng hiện tại của trẻ là:+ Cân nặng hiện tại
+ Chiều cao hiện tại
+ Chiều cao và giới tính
+ Tuổi hiện tại
Bà mẹ có kiến thức đúng khi chọn ≥3 đáp án
- Thông tin về chỉ số BMI là :
+ Cân nặng và chiều cao
+ Cân nặng
+ Chiều cao
+ Giới tính
Bà mẹ có kiến thức đúng khi chọn ≥3 đáp án
Trang 24- Yếu tố nguy cơ suy dinh dưỡng ở trẻ em là:
- Biện pháp tốt nhất để phát hiện sớm bệnh suy dinh dưỡng là:
+ Theo dõi cân nặng của trẻ hàng tháng
+ Theo dõi chiều cao hàng tháng
+ Khám sức khỏe định kì 3 tháng 1 lần
+ Sổ giun định kì 6 tháng 1 lần
Bà mẹ có kiến thức đúng khi chọn ≥3 đáp án
- Cách phòng bệnh suy dinh dưỡng là:
+ Bổ sung giàu protein (thịt, cá, trứng, sữa,…)
+ Cho trẻ ăn nhiều chất chứa vitamin và muối khoáng (rau, củ, quả,…)+ Thức ăn giàu glucid (ngũ cốc, khoai, )
+ Thức ăn giàu lipid (dầu, mỡ, bơ,…)
Bà mẹ có kiến thức đúng khi chọn ≥3 đáp án
2.2.4.3 Thực hành về bệnh suy dinh dưỡng:
Nội dung câu hỏi gồm 10 câu mỗi câu trả lời đúng đạt 1 điểm
Đánh giá thực hành chung, có hai giá trị:
+ Thực hành đúng: khi đạt từ 80-100% của 10 điểm, tức đạt: ≥8 điểm.+ Thực hành chưa đúng: khi đạt <80% của 10 điểm, tức đạt: <8 điểm
- Theo dõi tình trạng sức khỏe của trẻ: