Có thể nói, do sự đòi hỏi phải nắm bắt nhanh nhạy, kịp thời trước những biến đổi không ngừng của hiện thực cuộc sống và sự phát triển mạnh mẽ của báo chí cũng như nhu cầu thưởng thức của
Trang 1LUẬN VĂN NGHỆ THUẬT VIẾT TẠP
VĂN QUA MỘT SỐ CÂY BÚT
TIÊU BIỂU
Trang 2
MỤC LỤC
DẪN LUẬN 1
I LÝ DO CHỌN ĐỀ TÀI 1
II ĐỐI TƯỢNG, PHẠM VI NGHIÊN CỨU 2
III LỊCH SỬ VẤN ĐỀ 5
IV PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 7
V Ý NGHĨA KHOA HỌC VÀ THỰC TIỄN CỦA ĐỀ TÀI 8
VI KẾT CẤU LUẬN VĂN 8
CHƯƠNG 1 : TẠP VĂN – NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ THUYẾT VỀ THỂ LOẠI 10
1.1 Về khái niệm và vấn đề phân loại tạp văn trong hệ thống thể loại văn học Việt Nam hiện đại 10
1.1.1 Về khái niệm tạp văn 10
1.1.1.1 Tạp văn - theo cách hiểu thông thường 11
1.1.1.2 Quan niệm về tạp văn trong hệ thống lý luận văn học 12
1.1.2 Về vấn đề phân loại tạp văn trong hệ thống thể loại văn học Việt Nam hiện đại 23 1.2 Sơ lược về cơ sở xuất hiện và lịch sử phát triển của thể loại tạp văn 27
Trang 31.2.1 Trong văn học phương Tây 27
1.2.2 Trong văn học Trung Quốc 29
1.2.3 Trong văn học Việt Nam 32
Tiểu kết 42
CHƯƠNG 2: TẠP VĂN ĐƯƠNG ĐẠI VIỆT NAM: TỔNG QUAN 43
2.1 Những nhân tố tác động đến sự phát triển mạnh mẽ của tạp văn đương đại 43
2.1.1 Sự thức tỉnh của ý thức cá nhân trong văn học sau công cuộc Đổi mới 43
2.1.2 Những thay đổi về tư duy, thị hiếu tiếp nhận trong thời đại mới 46
2.2 Những đặc trưng cơ bản của tạp văn 48
2.2.1 Tính chất nhập cuộc và yếu tố nghị luận trong tạp văn 49
2.2.2 Linh hoạt trong kết cấu, cô đọng, súc tích trong diễn đạt 51
2.2.3 Cái “tôi” trong tạp văn 54
2.3 Những chủ đề chính của tạp văn đương đại 57
2.3.1 Tạp văn viết về những kỷ niệm đã qua (tạp văn hồi ức) 57
2.3.2 Tạp văn viết về những vấn đề xã hội 66
2.3.3 Tạp văn viết về vấn đề văn hóa – lịch sử 77
Trang 42.3.4 Tạp văn chân dung nhân vật và miêu tả thiên nhiên 82
Tiểu kết 95
HƯƠNG 3: NGHỆ THUẬT VIẾT TẠP VĂN QUA MỘT SỐ CÂY BÚT TIÊU BIỂU 97
3.1 Tạp văn Nguyên Ngọc – một giọng điệu thâm trầm, sâu sắc 98 3.2 Hoàng Phủ Ngọc Tường: cây bút tạp văn tài hoa, uyên bác 103
3.3 Cái nhìn sắc lẻm và sức mạnh biện giải trong tạp văn Nhân trường hợp chị thỏ bông của Phan
Trang 5Có thể nói, do sự đòi hỏi phải nắm bắt nhanh nhạy, kịp thời trước những biến đổi không ngừng của hiện thực cuộc sống và sự phát triển mạnh mẽ của báo chí cũng như nhu cầu thưởng thức của độc giả, cùng với thể loại ký nói chung, tạp văn ngày nay không chỉ là một thể loại phong phú về nội dung, chứa đựng nhiều thông tin, gắn liền với cuộc sống, mà còn hiện đại hơn về hình thức thể hiện Như đã đề cập đến trong chương 2, ngoài đặc trưng kết hợp chặt chẽ giữa tư duy logic với tư duy hình tượng, có một kết cấu linh hoạt
và cách diễn đạt cô đọng, súc tích, tạp văn còn đòi hỏi người viết phải thể hiện được phong cách, lối viết của mình qua từng trang viết Lối viết riêng ấy có thể được thể hiện qua cách nhìn mới mẻ về một vấn đề nào đó, qua cách nêu và dẫn dắt vấn đề, hoặc qua cách diễn đạt của từng tác giả Nhưng dù có là thế nào đi chăng nữa, tạp văn vẫn đòi hỏi ở người viết một tầm hiểu biết sâu rộng, một tư duy nhạy bén, và một nguồn cảm hứng dồi dào
Nhìn một cách khách quan và bao quát, chúng ta có thể dễ dàng nhận ra một điều: mỗi tác giả đến với tạp văn theo một cách riêng, và dấu ấn mỗi người
để lại trong lòng người đọc cũng đậm nhạt khác nhau, tùy thuộc vào vấn đề tác giả quan tâm, và cách họ thể hiện vấn đề ấy ra sao Vậy nên cũng thật khó
để nói về một nghệ thuật viết tạp văn chung chung, những kỹ thuật viết
chung chung, bởi sẽ dễ rơi vào lý thuyết suông và không đúng với bản chất linh hoạt trong lối viết của thể loại này Và chúng tôi cũng nhận ra một điều, dường như có tồn tại một sự thật rất khắt khe, rằng viết được tạp văn là điều
có thể gặp, nhưng thành công với tạp văn lại là điều chẳng thể cầu! Nói chẳng thể cầu là bởi một lẽ, đôi khi có đề tài hay rồi đấy, có ý kiến độc đáo, sâu sắc
Trang 6rồi đấy nhưng cũng chưa chắc đã tạo ra được một bài viết hay, dù bài viết ấy người ta chỉ cần khoảng một hai ngàn chữ Dường như việc tạo được phong cách riêng với thể loại này không chỉ phụ thuộc vào “tay nghề” của nhà văn, cách quan sát của nhà văn, mà phần nhiều còn phụ thuộc vào tố chất thiên bẩm, vào cái “duyên” đưa đẩy, cái “tạng” của từng người – hay nói cách khác, tạp văn ra đời từ những khoảnh khắc thăng hoa của cảm xúc, là phút xuất thần và người ta đôi khi chỉ vô tình đạt được sự thăng hoa đó chứ không phải cứ có ý tưởng rồi buộc mình ngồi vào bàn là viết ra được Thế mới nói, cảm hứng là điều rất quan trọng trong những bài viết kiểu như thế này Đó cũng là lý do vì sao chúng tôi lại muốn chọn ra một số gương mặt tiêu biểu
để thông qua chính cách viết cụ thể của họ, phần nào sẽ giúp ta hiểu hơn về nghệ thuật viết tạp văn nói chung hiện nay Hơn nữa, mỗi tác giả ở đây đều đến với tạp văn và chiếm lĩnh nó theo một cách riêng, bằng một nét độc đáo riêng, tạo nên một lăng kính đa diện về tạp văn đương đại Đó là một Nguyên Ngọc với giọng điệu thâm trầm, sâu sắc; một Hoàng Phủ Ngọc Tường vừa tài hoa, vừa uyên bác; một Phan Thị Vàng Anh với cái nhìn sắc lẻm và khả năng biện giải tài tình; một Nguyễn Ngọc Tư với giọng văn mộc mạc, tự nhiên mà thấm đẫm cảm xúc
3.1 Tạp văn Nguyên Ngọc – một giọng điệu thâm trầm, sâu sắc
Nhắc đến Nguyên Ngọc, người ta thường nghĩ ngay đến những Đất nước
đứng lên, Rừng xà nu, Rẻo cao, Đất Quảng… những tác phẩm đã làm nên tên
tuổi ông một thời Thế nhưng, trong những năm gần đây, mặc dù đã về hưu, Nguyên Ngọc vẫn thường xuyên xuất hiện trên báo với những bài viết ngắn gọn, súc tích, đầy tâm huyết về những vấn đề nóng hổi đang diễn ra trong
Trang 7cuộc sống, mà đặc biệt nhất là các vấn đề về văn hóa, giáo dục và phát triển bền vững ở Tây Nguyên – những vấn đề bức xúc mà ông cho là không thể làm thinh được Và đấy cũng là lý do vì sao, thời gian qua, thỉnh thoảng ta lại thấy báo chí gọi ông là nhà văn hóa, nhà giáo dục
Trong số bốn tập sách đã được xuất bản gần đây, gồm: Tản mạn nhớ và
quên (2005), Nghĩ dọc đường (2006), Lắng nghe cuộc sống (2006), và Bằng đôi chân trần (2008), nhiều bài là những nghiên cứu công phu, đầy đặn,
nhiều bài là những bút ký tác giả ghi lại nhân dịp những chuyến đi, nhưng nhiều bài, theo chúng tôi có thể được xếp vào thể loại tạp văn, tập trung chủ yếu vào một khía cạnh nào đó và trình bày ý kiến cá nhân của tác giả, chứ không đơn thuần là nhằm ghi chép, thông tin sự kiện,…
Nhìn một cách tổng quát, có thể nhận thấy sức mạnh trong những bài báo của Nguyên Ngọc thể hiện ở nhiều điểm, trước hết là ở sự dũng cảm và tinh thần trách nhiệm của một người có tâm huyết, muốn cống hiến và góp phần làm cho đất nước giàu mạnh hơn, thông qua chính những đề tài cấp bách mà ông lựa chọn; kế đến là ở sự am hiểu tường tận, một trí tuệ mẫn tiệp, hiện đại trong lối nghĩ, và đặc biệt là hơi thở thâm trầm, sâu sắc mà ông đã phả vào từng trang viết của mình – đó là hơi thở của một con người giàu kinh nghiệm sống, dám nói lên tiếng nói của mình và cũng dám chịu trách nhiệm trước tiếng nói ấy Những bài viết của ông, dù ngắn hay dài, dù là về vấn đề gì đi chăng nữa, cũng luôn ấp ủ một nhiệt huyết tràn đầy, tha thiết dành cho cuộc sống những tiếng nói tích cực Tiếng nói ấy vừa toát lên sự gần gũi, hiền lành, mà cũng vừa nghiêm nghị, cương trực
Trang 8Trong bài viết “Công trình nghiên cứu khoa học… để làm gì?”, Nguyên Ngọc đã không ngần ngại chỉ ra cho người đọc thấy được hai nghịch lý đáng buồn trong việc thực hiện các công trình nghiên cứu khoa học Thứ nhất là việc lãng phí khi các cơ quan đoàn thể đua nhau làm công trình nghiên cứu khoa học, mà rồi những công trình ấy lại chẳng biết dùng vào việc gì, chẳng giúp ích được gì cho khoa học, cho xã hội Và nghịch lý thứ hai lại còn đáng buồn hơn nữa, đó là việc lãng phí chất xám khi những công trình khoa học thực sự có giá trị thì lại bị bỏ xó, chẳng người nào có trách nhiệm thèm quan tâm tới:
Tình hình đáng buồn, phổ biến và kéo dài đó, chắc ai ít nhiều có quan tâm đến lĩnh vực này đều biết, biết đã lâu rồi, đến mức… ngán ngẩm, gần như bất lực, “biết rồi, khổ lắm…”, chẳng buồn nói nữa
Tuy nhiên, cũng còn một tình hình khác, ngược lại, có lẽ cũng không ít người biết, nhưng hình như lại ít người nói đến: vẫn còn nhiều cơ quan nghiên cứu khoa học rất nghiêm túc, còn nhiều nhà khoa học có tài năng, có lương tâm, và có dũng khí, họ đã làm được những công trình nghiên cứu khoa học sâu sắc, hết sức thiết thực, thật sự có ích, mang tính phát hiện cao, không ít khi có thể có tác dụng vừa cơ bản vừa bức thiết… nhưng rồi chẳng
ai nghe họ cả Thậm chí có khi họ như người gào lên giữa sa mạc, mà chẳng
ai, chẳng người nào có trách nhiệm trong chính cái lĩnh vực liên quan đó thèm đoái hoài đến [53, 60-61]
Trang 9Tạp văn Nguyên Ngọc luôn hiển hiện một nỗi day dứt, trăn trở khôn nguôi, và như thế, những câu chữ ông viết ra cũng trở nên có hồn và sâu sắc
vô cùng:
Để rất hiện đại cùng lúc lại rất “nếp nhà” thì điều quan trọng nhất là
con người hãy đi đến với nhau trong tận cõi tâm linh “chỉ bằng đôi chân trần” Vì sao người đạp xích lô Hà Nội mấy năm trước kính cẩn bước xuống
xe, ngả mũ chào khi linh cữu một người không quen biết đi qua? Vì “bằng đôi chân trần” của tâm hồn một con người ông biết rằng một con người như ông đang đi vào cõi vĩnh hằng, đang đi qua cái bí ẩn và thiêng liêng nhất của cõi người, cái sống chết, sự tử sinh đang diễn qua đấy, trước mắt ông Trên đời này không còn gì bí ẩn hơn, thiêng liêng hơn, trọng đại hơn Con người hiểu được như vậy là con người rất hiện đại và rất “nếp nhà”
Anh bạn trẻ đang đi tung tăng trên phố kia, anh sẽ là người rất hiện đại nếu gặp một đám tang anh văn minh như người đạp xích lô nghèo nọ, dừng lại một chút và cúi đầu im lặng ngả mũ chào, lòng bỗng trầm lắng xốn xang
vì câu hỏi muôn đời của lẽ tử sinh Và đấy cũng là nếp nhà thanh khiết cố chớ để mất của người Tràng An (Bằng đôi chân trần) [54, 224-225]
Một trong những điều làm nên hơi thở riêng cho tạp văn Nguyên Ngọc là
ở việc ông dám dấn thân vào những đề tài mà nhiều người phải kiêng dè, bởi ngay từ đầu ông đã quan niệm, viết báo hay viết văn thì cần phải có sự mạnh
mẽ, đi sát cuộc sống, dám đối mặt với cuộc sống Tạp văn của ông là một cái nhìn thẳng thắn, nhưng không phải cái nhìn kiểu soi mói “vạch lá tìm sâu”, chỉ ra cái dở, cái chưa hay rồi để đấy, mà trên hết là tinh thần trách nhiệm của
Trang 10một công dân tích cực đã từng nhiều năm lăn lộn trên chiến trường ác liệt của
tổ quốc, đã thấu hiểu được những hy sinh mất mát, thấu hiểu được cả ranh giới mong manh giữa sự sống và cái chết, muốn đưa ra những giải pháp có khả năng thực thi để cải tạo hiện thực, cũng như để tránh những hậu quả đáng tiếc và khó lường trong tương lai Nhiều người đã gọi đó là tinh thần “canh tân” ở Nguyên Ngọc - cái tinh thần đã làm nên tên tuổi học giả Phan Châu Trinh trong lịch sử dân tộc trước đây Người đọc có thể lấy làm lạ lùng khi thấy một nhà văn đã về hưu như Nguyên Ngọc lại vẫn đang sở hữu một lối suy nghĩ trẻ trung và đầy sáng tạo đến như vậy Thậm chí, những suy nghĩ của ông cũng đã từng bước được hiện thực hóa, đơn cử như việc ông đứng ra vận động thành lập Trường Đại học Tư thục Phan Châu Trinh – ngôi trường
mà theo ông sẽ “rèn luyện cho giới trẻ sức phản kháng!” [55, 7], sẽ đào tạo ra những con người dám và biết độc lập suy nghĩ, giàu sáng tạo
Bên cạnh đó, sức thuyết phục trong những bài tạp văn của Nguyên Ngọc cũng tỏa ra từ chính những chuyến đi không biết mệt mỏi của ông Từ những hiện thực phả vào trang viết ấy, người ta có thể cảm nhận được sự trôi chảy của thời gian, cảm nhận được những bước chuyển của lịch sử, của đất nước Đấy là những ngày ông trở lại Tây Nguyên để sống lại những năm tháng oanh liệt xưa cũ của nơi này, và cũng để nhìn ra một sự thật về cuộc sống Tây Nguyên hôm nay sao còn quá ngổn ngang bề bộn; là những ngày ông về miền Tây để thăm cái không gian đã làm nên những sáng tác hồn hậu của nhà văn trẻ Nguyễn Ngọc Tư; hay những ngày lặn lội ở vùng rừng núi miền Trung để tìm hiểu về cái kho văn hóa vô tận của người dân nơi đây,… Chẳng thế mà ông đã từng bộc bạch trên báo chí rằng: “Con người mà không còn ham tìm
Trang 11hiểu thì sẽ chết về mặt trí tuệ, rồi tâm hồn cũng khô cằn đi” [123] Và chính
vì tâm hồn không bị khô cằn đi theo tuổi tác, nên những bài viết của ông vẫn luôn cháy bỏng những khát vọng được dấn thân và cả những niềm tin đặt lên vai thế hệ trẻ của đất nước:
Hàng vạn người trẻ đã kết nối với nhau bằng blog, trao đổi, thảo luận, tranh luận, hỗ trợ tư duy cho nhau bằng blog, tổ chức nhau lại bằng blog, liên kết hành động qua blog Và tôi đồng tình với một người bạn tôi là chuyên gia tin học đồng thời cũng là một nhà hoạt động xã hội lâu năm khi anh nói rằng, qua hiện tượng trên anh lạc quan về lớp trẻ hiện nay của đất nước: đấy
là một lớp trẻ trưởng thành về ý thức xã hội chính trị, giàu lòng yêu nước, rất dũng cảm, và đầy đủ cả sự khôn ngoan nữa Chẳng hề thua gì các thế hệ cha anh, nếu không hơn Chính sự phẳng ra của thế giới, ngay ở ta, đã tác động tích cực cho sự trưởng thành đó Và nó sẽ nhanh chóng lan rộng, bỏ qua tất
cả những cười giễu, chê bai, hoài nghi, cả lo lắng và bi quan, hoảng hốt, và
cả chống đối nữa, của nhiều người, nhiều thế lực Nó đang hướng tới tương lai Một tương lai mà ta có thể hoàn toàn tin (Thế giới đang phẳng ra, cả ở
nơi đây) [54, 284]
Nói như thế để thấy được rằng, cái thâm trầm, sâu sắc của một người từng trải quả thực có sức mạnh ghê gớm, nhất là khi sức mạnh ấy lại tác động trực tiếp đến những vấn đề sống còn của tương lai đất nước: vấn đề văn hóa
và giáo dục Chọn cho mình một con đường riêng đầy khó khăn, dù biết có thể sẽ vấp phải những “hàng rào” tư tưởng của những người có chức quyền, Nguyên Ngọc vẫn đang từng ngày cho ra đời những cách quan sát độc đáo và những kiến giải mới mẻ để chúng ta cùng suy ngẫm, cùng chung tay hành
Trang 12động Bằng một giọng văn thâm trầm, không lên gân, không phản ứng gay gắt, ông đã tìm được cách riêng để đi vào lòng người đọc bằng những bài báo rất “nóng” về tương lai đất nước, về số phận dân tộc, về hôm qua và hôm nay Cuộc chiến tranh giành lại độc lập dân tộc thống nhất đất nước quả thực
là một trang vàng chói lọi trong lịch sử Việt Nam, nhưng Nguyên Ngọc đã chỉ ra cho chúng ta thấy rằng, cuộc kháng chiến vĩ đại ấy cũng chỉ làm được một việc là giành lại non sông để bắt đầu làm lại Vấn đề “chiến thắng” cần phải được nhìn nhận trong cái thế vững vàng, kiên định của ý chí, trong cái thế bình tâm của lòng người, để đừng mãi nhìn về quá khứ và ngủ quên trên chiến thắng, để biết rằng, phía trước chúng ta còn biết bao khó khăn, thử thách cần phải vượt qua của giai đoạn “hậu chiến thắng”:
Hình như vừa qua chúng ta đã nhiều lúc không minh triết được đến như vậy Chúng ta không cao lớn được như Bác, chúng ta đã mất đến ba mươi năm để dần dần bình tâm lại, mà có lẽ cũng mới ở trong một số không nhiều người, bình tâm lại, và từ đó khiêm nhường, thật khiêm nhường, biết rằng mình thật sự đang ở đâu, mình đã nhích lên được bao nhiêu khỏi điểm xuất phát ban đầu của phát triển (…) Ba mươi năm Những ngày tháng Tư này Mừng vui và tự hào về chiến thắng vĩ đại, và biết bình tâm để suy nghĩ nhiều hơn, kỹ hơn, sâu hơn, về hậu chiến thắng (Chiến thắng và hậu chiến thắng)
Trang 13thời đại mà khoa học kỹ thuật đang phát triển nhanh đến chóng mặt, nền kinh
tế thị trường đang từng ngày cuốn con người ta vào một quỹ đạo khắc nghiệt,
và thật cần thiết làm sao những “cái phanh”, “cái thắng” để không làm cho con tàu đất nước đi chệch khỏi đường ray trên bước đường tiến về tương lai Trong hành trình còn nhiều gian khó ấy, một con người mẫn tiệp, với cái nhìn công tâm và suy nghĩ cẩn trọng như Nguyên Ngọc chính là một trong những cái phanh như thế
3.2 Hoàng Phủ Ngọc Tường: cây bút tạp văn tài hoa, uyên bác
Bên cạnh rất nhiều tập bút ký đặc sắc đã được xuất bản, bao gồm: Ngôi
sao trên đỉnh Phu Văn Lâu, Rất nhiều ánh lửa, Ai đã đặt tên cho dòng sông, Bản di chúc của cỏ lau, Hoa trái quanh tôi, Miền cỏ thơm,… và hai tập thơ: Những dấu chân qua thành phố, Người hái phù dung, Hoàng Phủ Ngọc
Tường cũng đã xuất bản ba tập nhàn đàm: Nhàn đàm (1997), Người ham chơi (1998), Miền gái đẹp (2001), tập hợp những bài viết nhỏ trên chuyên mục
Nhàn đàm của báo Thanh niên do ông phụ trách, mà chúng tôi gọi đó là
những bài tạp văn Những bài viết trong ba tập tạp văn này đã được tuyển
chọn và tập hợp lại trong Hoàng Phủ Ngọc Tường tuyển tập 1, do nhà xuất
bản Trẻ xuất bản vào năm 2002
Cũng như trong hầu hết các bút ký của mình, nét đặc sắc trong tạp văn của Hoàng Phủ Ngọc Tường được thể hiện ở sự kết hợp nhuần nhuyễn giữa chất trí tuệ và chất trữ tình, giữa nghị luận sắc bén với tư duy tổng hợp Hơn nữa, vì là những bài tạp văn đăng báo nên những bài viết này lại hết sức cô đọng, có chiều sâu về nội dung tư tưởng Tất cả đã góp phần tạo nên một ngòi
Trang 14bút vừa tài hoa, vừa uyên bác, với một lối hành văn mượt mà làm mê đắm lòng người
Tạp văn của Hoàng Phủ Ngọc Tường là những cái nhìn xuyên thấu về cuộc sống thực tại, về những vấn đề xã hội và thế thái nhân tình, được chắt lọc qua lăng kính nhân văn sâu sắc của một con người từng trải, giàu chất suy tưởng và đầy tinh thần trách nhiệm Có thể bắt gặp trong tạp văn của ông những vấn đề thời sự thế giới nóng bỏng như chuyện về lòng nhân ái giữa
con người với con người trong “Bài học vỡ lòng của tôi”, vấn đề bảo vệ môi
trường, bảo vệ trái đất trong “Để bảo vệ trái đất”, hay chuyện về vấn đề giải trừ vũ khí hạt nhân được ông lồng kể qua bài “Có một con tàu nhỏ”, trong đó nổi bật lên là hình ảnh một nhà văn của nước Tân Tây Lan mang đến Cung Các Nhà Văn những quả chuông nhỏ kêu leng keng để phát cho các nhà văn tham dự cuộc Gặp gỡ các Nhà văn lần thứ V tại đất nước Bungari, và Hoàng Phủ đã có một câu bình luận vô cùng xúc động thế này: “Đúng như thế, những nhà nước siêu cường có vũ khí hạt nhân trong tay, và đối với họ, các nhà văn chỉ có quả chuông nhỏ của lương tâm để xin cho nhân loại mẩu bánh
mì của sự sống” [91, 73] Bên cạnh đó, ông cũng luôn trăn trở với vấn đề văn hóa dân tộc thời mở cửa, với nền giáo dục nước nhà, cũng như nhiều vấn
đề thời sự nóng hổi khác… Sự uyên bác trong các bài viết của Hoàng Phủ Ngọc Tường được thể hiện rất rõ ở vốn hiểu biết vô cùng phong phú về nhiều lĩnh vực như triết học, văn hóa, lịch sử, địa lí,… khiến cho các bài viết của ông luôn hàm chứa một lượng thông tin đầy đặn, những kiến giải sâu sắc, và thường toát lên những triết lý sâu xa về cuộc đời, về số phận con người Đơn
Trang 15giản như khi ông viết cảm nghĩ về một trận đá bóng, thì đằng sau đó cũng ẩn chứa những suy tư về cuộc đời, về cõi nhân sinh:
(…) nếu cuộc tiệc trên đời này có thể chơi thêm một lần theo kiểu “đá lại”, thì thế giới sẽ khác, lịch sử nhân loại sẽ khác, mà bạn trăm năm của đời người… cũng khác (…) Nhưng Euro 96 đã khép lại sau lưng đội Ý, và cuộc chơi không bao giờ tái diễn để cho phép anh làm lại từ đầu Chỉ một lần thôi
là bàn chân lơ đãng của con người dẫm lên những đổ vỡ của chính linh hồn mình Và chính vì thế, tôi cảm nhận Bóng Đá không chỉ như một môn thể thao hào hoa mã thượng, mà còn là một Trò Chơi Lớn của cuộc đời (Nước Ý
nếu được “đá lại”) [91, 128-129]
Hay câu chuyện thâm thúy qua bài học vỡ lòng của ông về lòng nhân ái cũng khiến người ta phải suy ngẫm về mối quan hệ giữa con người với con người ngày nay:
Bài học đầu tiên của chúng tôi không bắt đầu bằng mấy chữ cái abc như thường lệ, mà là một bài thơ thầy đã chép sẵn lên bảng, và bảo chúng tôi đọc theo thầy từng câu một (…) Cuối buổi học tôi đã thuộc làu, và cũng tạm gọi
là “thông suốt” nghĩa lý của bài thơ bằng trực giác mộc mạc của tuổi thơ Trong kỷ niệm ngày tựu trường, Thanh Tịnh có viết rằng: “Con đường này tôi đã quen đi lại lắm lần, nhưng lần này tôi bỗng nhiên thấy lạ Cảnh vật chung quanh tôi đều thay đổi, vì chính lòng tôi đang có sự thay đổi: hôm nay tôi đi học” Quả đúng với tâm trạng của tôi ngày hôm đó Tôi cảm thấy thằng
bé trong tôi đã khác ngày hôm qua, vì trên trang giấy trắng của tâm hồn tôi,
Trang 16thầy tôi đã viết lên bài học về lòng Nhân Ái (Bài học vỡ lòng của tôi) [91,
86-87]
Bên cạnh đó, sự uyên thâm của Hoàng Phủ Ngọc Tường còn thể hiện trong việc ông hay dùng những chuyện cổ, tích cổ để nói về cái hôm nay, khiến cho các bài viết của ông có một sự cô đọng cần thiết và mang một không khí vừa trầm mặc vừa hiện đại Đó là việc ông mượn câu chuyện về
nhân vật Đường Tăng (trong Tây Du ký của Ngô Thừa Ân) đạo cao đức trọng
làm vậy mà cũng quên lời hứa với con rùa đã “lặn lội một kiếp trầm luân, đã
độ thầy trò ông tới bờ bến cuối cùng của cuộc hành trình thiên nan vạn khổ”
để nói về đạo lý đền ơn đáp nghĩa các Bà Mẹ Việt Nam anh hùng thời nay
Đó là việc ông mượn tích Trang Tử kể chuyện mổ rồng để nói về chuyện đào tạo đại học tràn lan ở ta: đào tạo ra rất nhiều cử nhân, bác sĩ, kỹ sư,… nhưng rốt cuộc lại không có việc làm để phân bổ, cũng như chuyện xưa kể về việc Chu Bình Man luyện được tuyệt kỹ mổ rồng vô cùng điêu luyện, nhưng khi trở về thì hỡi ơi, làm gì có rồng đâu mà mổ! Đó còn là việc Hoàng Phủ mượn những câu chuyện cổ về địa ngục qua chuyện Phạm Công Cúc Hoa, Bồ Tát Mục Kiền Liên, cảnh giới Thập Điện Diêm Vương, sự tích Thủ Huồng để răn mình và răn người sống sao cho phải đạo:
Tôi không biết mẹ tôi có tin như vậy không, nhưng chính bà đã xây dựng được cho tôi niềm tin rằng địa ngục có thật, và tôi rất sợ địa ngục Lớn lên, những ý tưởng về địa ngục dần dần chuyển biến trong tôi thành niềm tin vào thiên lý, giúp tôi tránh được những điều ác; mà nếu chỉ sợ tòa án hoặc công
an thì có thể tôi vẫn cứ làm, bởi chắc chắn rằng ngoài tôi ra không ai bắt quả tang được việc làm kín nhẹm của tôi (như ăn hối lộ chẳng hạn) Thế
Trang 17nghĩa là nỗi sợ địa ngục đã ẩn sâu vào bản ngã, sẽ tạo được điều kỳ diệu gọi
là “lương tâm” (Nỗi sợ địa ngục) [91, 44]
Có thể nói, những trang viết chiêm nghiệm về thế thái nhân tình của Hoàng Phủ Ngọc Tường chính là những trang viết lôi cuốn nhất, đọng lại trong lòng người đọc nhiều suy ngẫm nhất “Quẻ Vị Tế” là một trong số những bài viết như thế Từ việc cắt nghĩa quẻ cuối cùng trong 64 thời kỳ của Dịch trong Ngũ Hành, ông đã có một bài viết thật sâu sắc, như một thông điệp vĩnh hằng về số phận con người, gắn liền với hành trình vượt sông định mệnh của mỗi kiếp người Bài viết không rơi vào cái khuôn diễn giải chữ nghĩa sách vở, mà chỉ nhẹ nhàng như một lời bộc bạch, “một bài thơ cuộc đời” ông ngẫm cho riêng phận mình: “Hỡi người, người sinh ra không phải
để yên nghỉ mà lên đường, lên đường bằng tất cả lo âu của kẻ vượt sông” Đấy cũng là bài học lớn cho những ai đang sống và đang ngộ nhận về một cuộc dừng chân ngơi nghỉ giữa cuộc đời này:
Nên chi, trong cuộc dấn thân giữa cõi đời, dù đường dài chỉ còn một bước nữa thôi, con người không được quên lời dạy minh triết của quẻ Vị Tế, rằng đời người vẫn còn đầy những bất trắc khôn lường, phải biết nghiêm cẩn giữ mình, đừng bao giờ tự buông thả trong một ảo tưởng về một cuộc “hạ cánh an toàn” Sự thâm thúy của Kinh Dịch hàm chứa trong chính ký hiệu sau cùng của nó là trên lửa – dưới nước (quẻ Ly/quẻ Khảm) Hèn chi, đến bậc Thánh đã san định Kinh Dịch như Khổng Tử mà vẫn hằng run sợ: “Cho
ta sống thêm ít năm nữa, để học Kinh Dịch, hầu không mắc lầm lỗi lớn” [91,
141]
Trang 18Và tất cả những sự uyên thâm, minh triết ấy của Hoàng Phủ Ngọc Tường lại được thể hiện qua một lối hành văn đầy tài hoa, mê đắm – kết quả của một cái tôi trữ tình nồng nàn và đầy chất nghệ sĩ Lật giở từng trang sách, thấy Hoàng Phủ Ngọc Tường bao giờ cũng như trải hết lòng mình với câu chữ, cộng thêm chất Huế nên thơ, chất triết luận huyền hoặc, những câu chữ ấy của Hoàng Phủ Ngọc Tường bỗng trở nên quyến rũ lạ thường Hãy lắng nghe ông miêu tả những hạt bụi vũ trụ đã tạo nên cảnh sắc của cõi vô cùng – cõi Cát Bụi này, từ những kiến thức vật lý khô cứng, dưới bàn tay tài hoa, ông đã nhào nặn chúng thành một cảnh tượng quá đỗi diệu kỳ:
Có bao giờ bạn nghĩ rằng bầu trời thu xanh ngắt đến nao lòng của thi sĩ Yên Đổ kia lại được tạo nên bởi toàn là… bụi?
Sự thực lại đúng như vậy Vâng, chỉ toàn là bụi thôi; thậm chí nếu không
có bụi thì bầu trời trên đầu ta chỉ còn là một khoảng trống đen ngòm Không phải là những nguyên tử và phân tử khí, bụi vũ trụ là những hạt “rắn” nhìn thấy được bằng kính hiển vi, tràn ngập không gian do từ trăm nghìn dạng ô nhiễm trên trái đất hoặc giữa các ngôi sao Tùy theo đặc tính của từng loại,
và tùy theo độ nghiêng của từng hạt bụi so với phương chiếu của tia sáng mặt trời, bụi vũ trụ sẽ dâng tặng cho chúng ta những màu sắc đẹp mê hồn của bầu trời Từ cổ sơ của nền văn minh, sự minh triết của người Ấn Độ đã gọi tên toàn bộ cảnh sắc huyền ảo ấy của thế giới là Trò Chơi Maya, tức là
Ảo Hóa (Cát bụi lộng lẫy) [91, 32]
Cái chất nghệ sĩ tài hoa trong con người Hoàng Phủ Ngọc Tường có lẽ cũng giống như chất “ngẫu hứng” ông nhìn thấy trong con người nhà văn
Trang 19Phùng Quán – một người bạn vong niên của ông Nó khiến cho những bước chân của ông trên cõi đời này trở thành một cuộc ngao du bất tận, nhưng lại tiềm ẩn trong đó những ý tưởng, những sáng tạo bất ngờ Trên trang giấy, những phút ngẫu hứng, những phút thăng hoa của cảm xúc như thế sẽ cho ra đời những trang viết đầy ma lực, bởi: “đó là khả năng phát kiến thế giới bằng
sự trinh bạch của ý thức, giống như hoa perce-neige chọc thủng giá lạnh để
nở trong màu trắng của tuyết” (Ngẫu hứng) [91, 58] Những bài viết của ông
về những người bạn, về tình bạn và tình người cũng là những trang viết để lại những dấu ấn đậm nét trong lòng người đọc Đấy là những cảm xúc chân thành, không cần điểm xuyết, tô vẽ, chỉ mộc mạc, “trinh bạch” thôi mà sâu sắc biết nhường nào:
Năm ngoái tôi trải qua một mùa đông xứ Huế rất dài, suốt ngày lặng lẽ trước bàn viết, với vầng sáng đèn vàng trên trang giấy, bên ngoài triền miên mưa dầm gió bấc Mùa đông ở Huế, tôi thấy dường như mình không còn tương quan gì với thế giới
Tám giờ tối… bỗng nhiên chuông điện thoại reo, và tôi nhận được thông báo của đại ca Phan Đắc Lập: - Tất cả nhóm Lồ Ồ mười lăm người đang có mặt sẽ lần lượt nói chuyện với Hoàng Phủ
(…) Bạn bè lần lượt nói với tôi, mỗi người một chuyện (…) Toàn những chuyện trên đời này chẳng ai thèm quan tâm, nhưng giữa chúng tôi, lại chính
là chất liệu cố kết con người trong nỗi buồn vui cuộc sống Riêng với tôi, buổi tối ấm áp ấy của tình bạn đã tạo ra cho tôi nội lực đủ sống ung dung cả một năm (Điện thoại) [91, 165-166]
Trang 20Thậm chí, tình bạn chân thành giữa những người bạn còn được ông đúc kết trong một câu nói hệt như một châm ngôn: “Bạn của ta! Ta cần ngươi như Giêsu cần thập tự Nếu Giêsu vứt bỏ cây thập tự thì nhẹ nhàng biết bao, nhưng nhân loại sẽ không nhận ra Người được nữa” (Cám ơn tình bạn) [91, 52] Tạp văn của ông, như một nét đặc trưng riêng, đều ít nhiều hàm chứa những ý hướng triết luận sâu sắc như thế
Có thể nói, những bài tạp văn của Hoàng Phủ Ngọc Tường quả thực là những bài “bút ký cực ngắn” như có lần ông bộc bạch Với ông, bút ký là một thể loại vừa để viết về những điều mắt thấy tai nghe, về những sự thực, nhưng không chỉ đơn giản là biên chép lại mà ông muốn viết cho thật sâu, thật kỹ càng qua những trải nghiệm mình có được Tạp văn của ông, nhờ chứa đựng chất trí tuệ uyên bác và một giọng văn tài hoa đã chuyển tải đến người đọc những bài học nhân sinh sâu sắc, những chiêm nghiệm về cuộc đời qua những câu chuyện ngụ ý thâm thúy Đó là những bài viết đã góp phần
làm nên phong cách của tờ Thanh niên có uy tín trong lòng bạn đọc
3.3 Cái nhìn sắc lẻm và sức mạnh biện giải trong tạp văn Nhân trường hợp chị thỏ bông của Phan Thị Vàng Anh
Không chỉ được biết đến như một cây bút truyện ngắn đặc sắc, với các
tập Khi người ta trẻ (1993) và Hội chợ (1995), Phan Thị Vàng Anh còn là tác giả gây được tiếng vang ở nhiều lĩnh vực khác như thơ (Gửi VB, 2006), tạp văn (Nhân trường hợp chị thỏ bông), và thậm chí còn “lấn sân” sang cả lĩnh vực phim tài liệu (với bộ phim Trong phường Thành Công, có làng Thành
Công)
Trang 21Nhân trường hợp chị thỏ bông là cuốn tạp văn nhỏ tập hợp 34 bài viết
chọn lọc trong số những bài viết của Phan Thị Vàng Anh, dưới bút danh
Thảo Hảo, trong khoảng thời gian tác giả phụ trách mục Tôi nghe đọc thấy
xem trên báo Thể thao - Văn hóa (từ năm 2002 đến 2004), do nhà xuất bản
Hội nhà văn xuất bản vào năm 2004 Và dù chỉ là tập hợp một số bài viết đã
đăng trên báo trước đó, song Nhân trường hợp chị thỏ bông ra đời vẫn thu
hút được sự chú ý của bạn đọc và trở thành cuốn sách rất “đắt hàng” lúc bấy giờ
Cũng như trong truyện ngắn, tạp văn của Phan Thị Vàng Anh luôn thể hiện một cái nhìn sắc sảo, mới lạ, với giọng văn ngắn gọn, súc tích mà mạnh
mẽ, thâm thúy Lê Thiếu Nhơn, nhà thơ, đồng thời cũng là người viết nhiều
tạp văn đã từng nhận xét về Nhân trường hợp chị thỏ bông của Phan Thị
Vàng Anh như sau: “Đến hôm nay tôi vẫn thấy tiếc là lĩnh vực báo chí - xuất bản nước ta chưa có một giải thưởng nào cho thể loại tạp văn, để trao tặng
“Nhân trường hợp chị Thỏ Bông” Tôi phục Phan Thị Vàng Anh viết tạp văn rất khéo, biết cách đưa đẩy tình huống và biết chọn văn cảnh thích hợp để tung ra những bình luận xác đáng” [116]
Khác với các tác giả tạp văn khác, tạp văn Phan Thị Vàng Anh không có những bài nhớ cảnh cũ người xưa, những tâm tình lan man, hay những ưu tư nặng trĩu chất trữ tình Đúng như tên gọi chuyên mục mình phụ trách, 34 bài viết của Phan Thị Vàng Anh là 34 cách quan sát, 34 câu chuyện nhỏ về những vấn đề thời sự đang diễn ra trong cuộc sống quanh mình, nhưng lại ẩn chứa một sức nặng ghê gớm Và theo chúng tôi, điểm thành công lớn nhất
của Nhân trường hợp chị thỏ bông nằm ở sức mạnh biện giải vấn đề một cách
Trang 22sắc bén của tác giả Sức mạnh biện giải này được thể hiện qua hai yếu tố: thứ nhất là con mắt quan sát tinh tường, khả năng lật lại vấn đề, thứ hai là khả năng liên tưởng và dẫn dắt vấn đề của tác giả Tất cả đã tạo nên sự logic thuyết phục cho các bài viết Mạch ngầm của những bài viết ấy thường cho người đọc cảm giác như người viết đang chơi trò tung hứng, đưa đẩy câu chữ, với một nụ cười hóm hỉnh luôn thấp thoáng đằng sau trang giấy
Là một thể loại nằm giữa văn học vào báo chí, tạp văn nói chung và
Nhân trường hợp chị thỏ bông của Phan Thị Vàng Anh nói riêng đã góp phần
lia ống kính quan sát của mình tới những ngõ ngách, những mặt trái đang tồn tại trong xã hội, mà nhiều khi những người bình thường chúng ta, với tâm lý
“sống chung với lũ”, đã cố tình lờ đi và buông xuôi Trong hầu hết các câu chuyện, Phan Thị Vàng Anh luôn cố soi rọi vấn đề từ nhiều góc độ, mà mục đích sau nhất là đi đến tận cùng bản chất sự việc
Trong bài viết “Tôi cũng muốn ăn cắp”, sau khi kể lại chuyện một nhân viên thư viện tuồn sách quý bán ra cho các hiệu sách cũ, tác giả kết luận rằng:
“tôi thấy thế… cũng được” Có lẽ đọc đến đây, ai cũng cảm thấy bất ngờ với tuyên bố ấy, nhưng ngay lập tức vấn đề được tác giả lật qua: “ăn cắp đành rằng là xấu, tôi biết chứ”, rồi lật lại: “Nhưng dẹp cái chuyện anh nhân viên bỏ tiền bán sách vào túi riêng kia qua một bên, thì cái hành động của anh này tôi lại nghĩ có thể là đáng khích lệ, nếu chỉ xét trên phương diện chuyển một vật từ-vô-dụng-sang-hữu-dụng” Là bởi vì theo tác giả, khi sách được sống trong môi trường mới là các hiệu sách cũ, chúng sẽ có cơ hội được hít thở khí trời, được tiếp xúc với nhiều người hơn, và do vậy sẽ giúp ích cho đời hơn; còn sách để trong thư viện thì chẳng khác nào những mụ “gái già trong nhà
Trang 23đá”, chẳng ai buồn xớ rớ đến Không ai xớ rớ đến không phải là do họ không muốn, mà là vì để cầm được một trong số những quyển sách ấy trên tay, người đọc sẽ phải đi qua ba cửa ải vô cùng khó khăn Ba cửa ải ấy được Phan Thị Vàng Anh hình tượng hóa rất thú vị thế này: “Hệt như những truyện thần thoại luôn luôn có ba cửa ải ngăn hiệp sĩ đi tìm công chúa, gần như thư viện nào cũng có sự bất hợp lý của nội quy là con rồng phun lửa thứ nhất, thủ thư khó tính là bầy rồng khạc lửa thứ hai, sự lề mề của thủ thư khi đi tìm sách là
cú quật đuôi của con rồng thứ ba” [108] Từ một câu chuyện mà ai cũng biết
mười mươi là tay nhân viên kia đã sai, đã phạm pháp, Phan Thị Vàng Anh lại lựa chọn một cách nhìn mới để chỉ ra những bất cập, những tồn tại cần phải thay đổi trong cách làm việc của hầu hết các thư viện Với cách nhìn ấy, quả thực tác giả đã khiến người đọc phải thốt lên thán phục
Rồi đến bài viết “Giao trứng cho ác” hay “Sự nan giải của Tí”, “Cuối cùng là
lè lưỡi”, thoạt tiên, khi đọc qua những cái tựa, người đọc có thể không mấy hứng thú, bởi tưởng rằng đó là chuyện con trẻ, nhưng ẩn sâu phía sau đó lại
là những vấn đề nhức nhối của cả hệ thống giáo dục nước nhà
Trong “Giao trứng cho ác”, từ thông tin trên báo Tuổi trẻ cho biết Sở Giáo
dục Đào tạo Cần Thơ ngày 21/05/2002 đã ra đề thi tốt nghiệp Tiểu học, trong
đó có một câu yêu cầu học sinh tìm từ trái nghĩa với từ “bà ngoại” Từ câu chuyện “lẩn thẩn” ấy, Phan Thị Vàng Anh đã có những phân tích rất sát sao,
để cuối cùng chỉ ra một thực tế vô cùng phũ phàng rằng:
Cứ tưởng tượng chừng đó con người, hàng ngày sẽ là người đưa con cái chúng ta vào khu vườn tri thức mênh mông và mới lạ, một hôm có thể tụ tập