1. Trang chủ
  2. » Tất cả

Hoàn thiện kế toán tập hợp chi phí sản xuất và tính giá thành sản phẩm xây lắp tại công ty cổ phần xây dựng số 2

114 6 0
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Hoàn thiện kế toán tập hợp chi phí sản xuất và tính giá thành sản phẩm xây lắp tại công ty cổ phần xây dựng số 2
Tác giả Group of Authors
Người hướng dẫn Thầy Phạm Thị Huế
Trường học Viện Kế Toán – Kiểm Toán, Đại Học Kinh Tế Quốc Dân
Chuyên ngành Kế Toán
Thể loại Đề tài
Năm xuất bản 2013
Thành phố Hà Nội
Định dạng
Số trang 114
Dung lượng 3,72 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Việc nâng cấp từ ISO 9001:2000 lên ISO 9001:2008 là việc cần thiết đối với Công ty vì không những điều đó phù hợp với tiến trình cải tiến và nâng cao yêu cầu đối với hệ thống quản lý chấ

Trang 1

- -Chuyên đề thực tập chuyên ngành

: ts phạm thị thủy

Hà NộI - 2013

Trang 2

LỜI MỞ ĐẦU 2

CHƯƠNG 1: ĐẶC ĐIỂM SẢN PHẨM , TỔ CHỨC SẢN XUẤT VÀ QUẢN LÝ CHI PHÍ SẢN XUẤT XÂY LẮP TẠI CÔNG TY CỔ PHẦN XÂY DỰNG SỐ 2 3

1.1 Đặc điểm sản phẩm xây lắp của Công ty 3

1.1.1 Danh mục sản phẩm 3

1.1.2 Tiêu chuẩn chất lượng 8

1.1.3 Tính chất của sản phẩm 11

1.1.4 Loại hình sản xuất 12

1.1.5.Thời gian sản xuất 13

1.1.6 Đặc điểm sản phẩm dở dang 14

1.2 Đặc điểm tổ chức sản xuất sản phẩm xây lắp của Công ty cổ phần xây dựng số 2 15

1.2.1 Quy trình công nghệ 15

1.2.1.1 Quy trình công nghệ 15

1.2.1.2 Về công tác lập hồ sơ thầu 18

1.2.2 Cơ cấu tổ chức sản xuất 25

1.3 Quản lý chi phí sản xuất của Công ty 26

CHƯƠNG 2: THỰC TRẠNG KẾ TOÁN CHI PHÍ SẢN XUẤT VÀ TÍNH GIÁ THÀNH SẢN PHẨM XÂY LẮP TẠI CÔNG TY CỔ PHẦN XÂY DỰNG SỐ 2 29

2.1 Kế toán chi phí sản xuất tại công ty cổ phần xây dựng số 2 30

2.1.1 Kế toán chi phí nguyên vật liệu trực tiếp 30

2.1.1.1- Nội dung 31

2.1.1.2- Tài khoản sử dụng 32

Trang 3

2.1.2 Kế toán chi phí nhân công trực tiếp 41

2.1.2.1- Nội dung 41

2.1.2.2- Tài khoản sử dụng 43

2.1.2.3- Quy trình ghi sổ kế toán chi tiết 43

2.1.2.4- Quy trình ghi sổ tổng hợp 52

2.1.3 Kế toán chi phí sử dụng máy thi công 54

2.1.3.1- Nội dung 54

2.1.3.2- Tài khoản sử dụng 57

2.1.3.3- Quy trình ghi sổ kế toán chi tiết 58

2.1.3.4- Quy trình ghi sổ tổng hợp 61

2.1.4 Kế toán chi phí sản xuất chung 63

2.1.4.1- Nội dung 63

2.1.4.2- Tài khoản sử dụng 64

2.1.4.3- Quy trình ghi sổ kế toán chi tiết 65

2.1.4.4- Quy trình ghi sổ tổng hợp 71

2.1.5 Kế toán tổng hợp chi phí sản xuất, kiểm kê và đánh giá sản phẩm dở dang 73

2.1.5.1 Kiểm kê tính giá sản phẩm dở dang 73

2.1.5.2 Tổng hợp chi phí sản xuất 75

2.2 Tính giá thành sản xuất của sản phẩm xây lắp tại công ty cổ phần xây dựng số 2 78

2.2.1- Đối tượng và phương pháp tính giá thành của công ty 78

2.2.2- Quy trình tính giá thành 79

Trang 4

DỰNG SỐ 2 81

3.1 Đánh giá chung về thực trạng kế toán CFSX và tính giá thành SP tại công ty và phương hướng hoàn thiện 81

3.1.1- Ưu điểm 81

3.1.2- Nhược điểm 86

3.2 Giải pháp hoàn thiện kế toán chi phí sản xuất và tính giá thành sản phẩm xây lắp tại công ty cổ phần xây dựng số 2 91

3.2.1 Về xác định đối tượng kế toán chi phí sản xuất và tính giá thành 91

3.2.2 Về phương pháp kế toán chi phí sản xuất và tính giá thành 92

3.2.3 Về chứng từ luân chuyển chứng từ 97

3.2.4 Về tài khoản và phương pháp kế toán 98

3.2.5 Về sổ kế toán chi tiết 99

3.2.6 Về sổ kế toán tổng hợp 99

3.2.7 Về thẻ tính giá thành 100

3.2.8 Về báo cáo chi phí sản xuất và giá thành sản phẩm 100

KẾT LUẬN 102

Trang 5

BCTC : Báo cáo tài chính

CPNCTT : Chi phí nhân công trực tiếp

CPSXC : Chi phí sản xuất chung

CT : Công ty

GTGT : Giá trị gia tăng

HANCORP : Ha Noi Construction Corporation

HĐQT : Hội đồng quản trị

MTC : Máy thi công

SXKD : Sản xuất kinh doanh

TGNH : Tiền gửi ngân hàng

TK : Tài khoản

TSCĐ : Tài sản cố định

Trang 6

Sơ đồ 1 – 1 Quy trình sản xuất sản phẩm xây lắp 16

Bảng 2 – 1 Danh sách thiết bị thi công của công ty cổ phần xây dựng số 2 55

Bảng 2 – 2 Bảng tính giá khối lượng xây lắp dở dang cuối kỳ 74

Biểu số 2 – 1 Biên bản giao hàng kiêm giấy nhận nợ 34

Biểu số 2 – 2 Hóa đơn GTGT mua nguyên vật liệu 35

Biểu số 2 – 3 Phiếu nhập kho 36

Biểu số 2 – 4 Phiếu xuất kho 37

Biểu số 2 – 5 Sổ chi tiết TK 621 38

Biểu số 2 – 6 Nhật ký chung 39

Biểu số 2 – 7 Sổ cái TK 621 40

Biểu số 2 – 8 Hợp đồng làm khoán……… 44

Biểu số 2 – 9 Bảng chấm công 44

Biểu số 2 – 10 Bảng thanh toán khối lượng 46

Biểu số 2 – 11 Bảng khối lượng hoàn thành 47

Biểu số 2 – 12 Bảng tính và chia lương kiêm bảng thanh toán lương 49

Biểu số 2 – 13 Bảng tổng hợp thanh toán lương 50

Biểu số 2 – 14 Sổ chi tiết TK 622 51

Biểu số 2 – 15 Nhật ký chung 52

Biểu số 2 – 16 Sổ cái TK 622 53

Biểu số 2 – 17 Hóa đơn GTGT thuê máy thi công 59

Biểu số 2 – 18 Sổ chi tiết TK 623 60

Biểu số 2 – 19 Nhật ký chung 61

Biểu số 2 – 20 Sổ cái TK 623 62

Biểu số 2 – 21 Bảng chấm công nhân viên gián tiếp 66

Biếu số 2 – 22 Bảng thanh toán lương nhân viên gián tiếp 66

Biểu số 2 – 23 Phiếu xuất kho dụng cụ sản xuất 68

Trang 7

Biểu số 2 – 26 Sổ nhật ký chung 71

Biểu số 2 – 27 Sổ cái TK 627 72

Biểu số 2 – 28 Bảng tổng hợp chi phí sản xuất công trình 76

Biểu số 2 – 29 Sổ chi tiết TK 154 77

Biểu số 2 – 30 Thẻ tính giá thành công trình 79

Biểu số 2 – 31 Sổ cái tài khoản 632 80

Trang 8

LỜI MỞ ĐẦU

Trong bối cảnh kinh tế thị trường và xu thế toàn cầu hóa, nền kinh tế phát

triển với tốc độ nhanh chóng và biến chuyển liên tục, các giao dịch ngày càng phức

tạp và diễn ra trong thời gian ngắn Điều đó đồng nghĩa với việc tổ chức công tác kế

toán cũng cần phải theo cùng đà phát triển để đáp ứng yêu cầu theo dõi, phản ánh

một cách kịp thời, chính xác các nghiệp vụ kinh tế phát sinh nói riêng và tình hình

tài chính cũng như tình hình sản xuất kinh doanh của đơn vị nói chung Nhiệm vụ

đặt ra cho các doanh nghiệp thuộc mọi loại hình kinh tế, mọi thành phần kinh tế là

phải không ngừng đổi mới, hoàn thiện công tác quản lý về mọi mặt để phù hợp với

tình hình thực tế Trong đó, hoàn thiện tổ chức công tác kế toán đóng vai trò quan

trọng, là công cụ hỗ trợ đắc lực cho quản lý

Khi nền kinh tế những năm gần đây đang gặp khó khăn thì các doanh nghiệp

trong lĩnh vực xây dựng là những đơn vị chịu ảnh hưởng khá nhiều do nhịp độ xây

dựng cơ bản bị chậm lại cùng với sự chững lại của tốc độ phát triển kinh tế Vì vậy,

duy trì một bộ máy kế toán hiệu quả với công tác kế toán được tổ chức khoa học

nhằm khắc phục tối đa những khó khăn về mặt tài chính, đóng góp tích cực vào

công tác quản trị sẽ giúp doanh nghiệp vượt qua được khó khăn chung và vươn lên

giành chỗ đứng mới trong ngành

Tiếp nối những hiểu biết đã đạt được trong giai đoạn thực tập tổng em đã đi

tìm hiểu sâu hơn về công tác kế toán tập hợp chi phí và tính giá thành sản phẩm xây

lắp, có thể nói đây là phần hành kế toán tổng hợp nhất và có vai trò rất quan trọng

với doanh nghiệp bởi kiểm soát chi phí là yếu tố quyết định đến lợi nhuận và thành

quả của doanh nghiệp Vì vậy, em chọn đề tài :”Hoàn thiện kế toán tập hợp chi phí

sản xuất và tính giá thành sản phẩm xây lắp tại Công ty Cổ phần Xây dựng số 2”.

Trang 9

Chuyên đề thực tập chuyên ngành gồm 3 nội dung chính:

Chương 1: Đặc điểm sản phẩm, tổ chức sản xuất và quản lý chi phí xây

lắp tại công ty cổ phần xây dựng số 2 Chương 2: Thực trạng kế toán chi phí sản xuất và tính giá thành sản

phẩm xây lắp tại công ty cổ phần xây dựng số 2 Chương 3: Hoàn thiện kế toán chi phí sản xuất và tính giá thành sản

phẩm xây lắp tại công ty cổ phần xây dựng số 2

Em xin chân thành cảm ơn Kế toán trưởng, các anh chị trong phòng Kế toán

tài vụ tại công ty cổ phần xây dựng số 2 và cô giáo Phạm Thị Thủy đã nhiệt tình

giúp đỡ em hoàn thành báo cáo thực tập tổng hợp này

Sinh viên

Phạm Thị Huế

Trang 10

CHƯƠNG 1 ĐẶC ĐIỂM SẢN PHẨM , TỔ CHỨC SẢN XUẤT VÀ QUẢN

LÝ CHI PHÍ SẢN XUẤT XÂY LẮP TẠI CÔNG TY CỔ PHẦN

XÂY DỰNG SỐ 2

1.1 Đặc điểm sản phẩm xây lắp của Công ty

1.1.1 Danh mục sản phẩm

Thực hiện chức năng, nhiệm vụ của mình trên các lĩnh vực sản xuất, kinh

doanh đã đăng ký, hoạt động của Công ty rất đa dạng, tuy chỉ là trong lĩnh vực xây

dựng cơ bản nhưng các sản phẩm rất phong phú, từ loại hình sản phẩm đến địa bàn

sản xuất, kết cấu và giá trị công trình Tuy nhiên, chúng có thể được chia thành các

nhóm sản phẩm xây dựng chính như sau:

- Trụ sở hoạt động của các cơ quan Nhà nước, các tổ chức kinh tế xã hội: là

một đơn vị lâu năm và có uy tín nên Công ty luôn được các cơ quan Nhà nước, các

doanh nghiệp tín nhiệm chọn làm nhà thầu thi công các công trình quan trọng, có ý

nghĩa lớn, ảnh hưởng đến hoạt động của tổ chức, có thể kể đến các công trình tiêu

biểu như Cơ sở làm việc khối cảnh sát Công an tỉnh Hải Dương (15.000 tỷ đồng,

2005 – 2007), Trụ sở làm việc Tổng cục kỹ thuật – Bộ Công an (22.300 tỷ đồng,

2006 – 2007), Trụ sở làm việc Tổng cục Thống kê (11.693 tỷ đồng, 2006 – 2008),

Doanh trại cảnh sát cơ động C22 – Bộ Công an xây dựng ở Hưng Yên (14.140 tỷ

đồng, 2005 – 2007), Trụ sở Bảo hiểm tiền gửi Việt Nam khu vực Bắc trung bộ

(7.475 tỷ đồng, 2004 – 2005),…

Theo thống kê từ hồ sơ kinh nghiệm của Công ty, 38 công trình tiêu biểu từ

năm 2001 đến năm 2012 đem lại doanh thu 946,133 tỷ đồng với giá trị công trình

dao động từ 2,999 tỷ đồng (Nhà điều hành, cổng, tường rào, hệ thống thoát nước bãi

CT vận tải dầu khí Việt Nam) đến 180 tỷ (Nhà ở chung cư cao tầng và văn phòng

N03 – T8 khu Ngoại giao Đoàn) Tất cả các công trình này đều do Công ty làm thầu

chính, chủ yếu thuộc miền Bắc, phân bố trên địa bàn thành phố Hà Nội và các tỉnh

Trang 11

Hưng Yên, Hải Dương, Quảng Ninh, Sơn La, Vĩnh Phúc, Lạng Sơn, Lào Cai và

một vài công trình ở Nghệ An, Hà Tĩnh

- Công trình nhà ở: bắt đầu hoạt động trong lĩnh vực này từ năm 1984, ngay

sau khi thành lập nhưng mãi đến năm 2000 trở đi thì Công ty mới có bước phát triển

mạnh mẽ Sản phẩm nổi bật trong lĩnh vực này là các khu chung cư cao tầng, biệt

thự, nhà vườn, khu đô thị Các công trình tiêu biểu như Nhà ở 11 tầng CT5 Dự án

Khu đô thị mới Định Công (đã được cấp Huy chương vàng chất lượng cao ngành

Xây dựng), Nhà ở 21 tầng CT3A1 và CT3A2 Khu đô thị mới Văn Quán (mỗi công

trình trị giá 68 tỷ đồng, 2004 – 2006), Biệt thự BT4 Khu đô thị Pháp Vân (12,35 tỷ

đồng, 2007), Chung cư CT10 Khu đô thị mới Việt Hưng (88 tỷ, 2008 – 2010), …

Công ty đã thi công 35 công trình lớn từ năm 2001 – 2012 trị giá 1.283,548

tỷ đồng, không kể hàng trăm công trình khác Trong đó, đa phần là Công ty làm

thầu chính, có một vài dự án liên danh như Gói thầu số 1 – Dự án khu nhà ở để bán

cho CBCNV liên cơ quan huyện Thanh Trì với giá trị nhà thầu thực hiện là 230 tỷ

đồng (trên tổng giá trị dự án 440 tỷ), liên danh với Công ty cổ phần kinh doanh phát

triển Nhà và Đô thị Hà Nội Riêng các sản phẩm là các công trình nhà ở thì thị

trường chủ yếu của Công ty là Hà Nội và Hà Tây trước đây

- Công trình trường học: đây là lĩnh vực truyền thống và lâu đời nhất của

Công ty, đã tạo được uy tín ngay từ những ngày đầu Sau khi thành lập, Công ty

được Tổng công ty xây dựng Hà Nội giao thi công những công trình quan trọng như

Trường Đại học Sư phạm I Hà Nội(1984 – 1992), Cụm khoa học xã hội – ĐH Quốc

Gia (1997 – 1998) Tiếp nối truyền thống, đây vẫn là một sản phẩm nổi trội của

Công ty và liên tục được phát huy, thể hiện ở việc xây dựng các khu chức năng, các

trường học trọng điểm của Bộ Giáo Dục như Nhà Đa năng – Học viện An ninh

nhân dân (16,054 tỷ đồng, 2007 – 2008), thi công xây lắp nhà hiệu bộ, lớp học, ký

túc xá, nội thất hội trường và hạ tầng ngoài nhà của công trình Nhà hiệu bộ - Ký túc

xá trung tâm đào tạo Bưu chính viễn thông 1 – Học viện công nghệ Bưu chính viễn

thông (132,68 tỷ đồng, 2011 – 2013), liên danh thi công gói thầu số 13: Xây lắp,

Trang 12

phòng chống mối và cung ứng lắp đặt thiết bị nhà hội trường – Hiệu bộ cao 5 tầng –

Dự án đầu tư xây dựng trường THPT chuyên Hà Nội – Amsterdam với giá trị nhà

thầu thực hiện 37,699 tỷ đồng trên tổng giá trị công trình 42,134 tỷ đồng

Theo thống kê từ hồ sơ kinh nghiệm của công ty, 23 công trình trường học

tiêu biểu từ khi thành lập đến nay đem lại doanh thu 602,277 tỷ đồng Thị trường

của loại sản phẩm này khá đa dạng, từ các tỉnh miền Bắc như thành phố Hà Nội, Hà

Tây trước đây, Hòa Bình, Thái Nguyên, Vĩnh Phúc đến các tỉnh miền Nam như

Vũng Tàu, Bình Thuận

- Công trình công cộng, khách sạn: sản phẩm này khá đa dạng về loại hình,

từ khách sạn, sân vận động, khu vui chơi giải trí, khu vệ sinh công cộng, hội trường

đến cả các trại giam Một số công trình nổi tiếng như Khách sạn DAEHA (15 tỷ

đồng, 1993 – 1994), Hội trường Đài tiếng nói Việt Nam (1,2 tỷ đồng, 1998), phần

thân trung tâm thương mại thị xã Móng Cái (45,8 tỷ đồng, 2003 – 2004), thi công

xây lắp số 6A nhà thi đấu đa năng (16,4 tỷ đồng, 2011), phân trại K5 – Trại giam

Tân Lập, Phú Thọ (12 tỷ đồng, 2005 – 2006), gần đây nhất là trung tâm huấn luyện

và bồi dưỡng nghiệp vụ thuộc Công an tỉnh Lạng Sơn (18,551 tỷ đồng, 2011 –

2012)…

16 công trình trọng điểm thuộc loại sản phẩm này mang lại giá trị 176,982 tỷ

đồng cho Công ty Trong đó chỉ có 2 công trình gần đây (thuộc giai đoạn 2010 –

2012), và đối với các công trình khách sạn Công ty đều là thầu phụ, điều đó cho

thấy dòng sản phẩm này không phải là sản phẩm chính của Công ty và đã hoạt động

chững lại

- Công trình Quốc phòng – Y tế: sản phẩm chủ yếu là xây dựng và cải tạo các

khu chức năng thuộc các bệnh viện Các công trình lớn bao gồm Khu liên kiểm cửa

khẩu Paháng (13 tỷ đồng, 1998 – 2000), Khu nhà điều trị kỹ thuật cao Bệnh viện

19/8 – Bộ công an (5,98 tỷ đồng, 2003), Nhà điều trị ngoại tổng hợp – Bệnh viện đa

khoa tỉnh Quảng Ngãi (27,4 tỷ đồng, 2004 – 2005)…

Trang 13

Thị trường tập trung của Công ty cho loại sản phẩm này là các tỉnh miền Bắc quen

thuộc như Hà Nội, Hưng Yên, Hải Dương, Quảng Ninh

- Công trình công nghiệp:sản phẩm nổi bật là các nhà máy, cùng với các

công trình trường học thì các công trình công nghiệp là lĩnh vực truyền thống nhất

của Công ty Giá trị công trình dao động đa dạng từ trên 1 tỷ đồng đến gần 30 tỷ

đồng, tùy thuộc đó là cả nhà máy hay chỉ một bộ phận, phân xưởng Các công trình

tiêu biểu có thể kế đến như Nhà máy in Ngân hàng K84 (14 tỷ đồng, 1986 – 1990,

đã được cấp Huy chương vàng chất lượng cao ngành xây dựng năm 1992), Nhà

máy Hanel (12 tỷ đồng, 1994 – 1995), Nhà sản xuất thiết bị vệ sinh INAX (8 tỷ

đồng, 1996 – 1997), Nhà máy bia 100 triệu lít/năm ở Vĩnh phúc do Nhà máy bia Hà

Nội làm chủ đầu tư (33.1 tỷ đồng, 2007 – 2008), …

Thị trường chủ yếu vẫn là các tỉnh miền Bắc như Hà Nội, Hưng Yên, Thái

Bình, Vĩnh Phúc, Phú Thọ, Bắc Giang Tổng cộng 19 công trình tiêu biểu từ năm

1986 đến nay có giá trị 333,172 tỷ đồng

- Cải tạo công trình: đặc trưng của sản phẩm này là ngoài cải tạo các công

trình dân dụng Công ty còn được các cơ quan Nhà nước, các Bộ và các đơn vị uy tín

tin tưởng chọn làm nhà thầu để tiến hành cải tạo, nâng cấp các trụ sở làm việc cũng

như các hạng mục công trình Tiêu biểu như cải tạo nhà làm việc Bộ nội vụ, cải tạo

nhà ở và làm việc Văn phòng chính phủ, cải tạo nhà làm việc Bộ năng lượng, nhà

thi đấu công an nhân dân, tu bổ bảo quản các công trình kiến trúc tại Phủ chủ tịch…

Tổng giá trị 21 công trình tiêu biểu đem lại 62,229 tỷ đồng doanh thu cho Công ty

Phần lớn các công trình Công ty nhận thi công đều ở Hà Nội, ngoài ra có một

số công trình ở các tỉnh lần cận như Hải Dương và Quảng Ninh

- Công trình đường xá – hạ tầng cơ sở: giao thông và hạ tầng cơ sở luôn luôn

là một lĩnh vực quan trọng, đóng góp không nhỏ vào sự phát triển kinh tế và cảnh

quan Đô thị, làm tiền đề cho sự phát triển này Nắm được quy luật đó, Công ty đã

chú trọng đầu tư vào lĩnh vực này từ rất lâu và hoạt động liên tục với nhiều công

trình được thi công trong năm Biểu hiện rất rõ là trong số 233 công trình tiêu biểu

Trang 14

của Công ty từ khi thành lập đến nay có đến 48 công trình thuộc loại sản phẩm này,

chiếm tới gần 22% với tổng giá trị lên tới 291,752 tỷ đồng, nhìn chung giá trị của

các công trình này có biên độ dao động rất lớn, từ 417 triệu đồng (bãi đỗ xe Định

Công) đến hơn 41 tỷ Một số công trình trọng điểm là đường liên tỉnh Sơn La (13 tỷ

đồng, 1998 – 2000), cái tạo hệ thống thoát nước Hà Nội (71 tỷ đồng, 2000 – 2001),

cống hóa thượng lưu song Sét, sông Lừ (41,2 tỷ đồng, 2005 – 2006)

- Lắp đặt đường dây điện và trạm biến áp: sản phẩm chủ yếu của Công ty là

cải tạo nâng cấp lưới điện các xã thuộc các huyện ngoại thành Hà Nội như Gia Lâm,

Thanh Trì, Từ Liêm với giá trị từ 315 triệu đồng đến hơn 3 tỷ đồng, công trình nổi

bật nhất là gói thầu số 7 – Hạ ngầm các tuyến cáp và đường dây điện lực thuộc dự

án Hạ ngầm các tuyến cáp và đường dây điện thông tin hiện đang đi nổi trên tuyến

đường Phạm Văn Đồng với trị giá 15,3 tỷ đồng, khởi công năm 2009 và hoàn thành

năm 2010

Qua trình bày trên, ta thấy được sự đa dạng về các loại sản phẩm xây lắp của

Công ty cổ phần xây dựng số 2, từ các sản phẩm truyền thống như các công trình

công nghiệp, trường học đến các sản phẩm đã được mở rộng như các khu chung cư,

nhà ở, khu đô thị, trang trí nội thất,… Sản phẩm xây lắp là những công trình, vật

kiến trúc,… có quy mô lớn, kết cấu phức tạp mang tính đơn chiếc, thời gian sản

xuất sản phẩm xây lắp kéo dài Sản phẩm xây lắp cố định tại nơi sản xuất còn các

điều kiện sản xuất (thiết bị thi công, người lao động,…) phải di chuyển theo địa

điểm đặt sản phẩm Chính vì những đặc trưng này nên địa bàn hoạt động và sự di

chuyển của các bộ phận trong Công ty không được linh hoạt như một số ngành nghề

khác Do đó, thị trường chủ yếu của Công ty là các tỉnh trung tâm của miền Bắc như

Hà Nội, Hải Dương, Quảng Ninh và một số tỉnh lân cận như Hưng Yên, Vĩnh Phúc,

Thái Nguyên, Bắc Giang, Phú Thọ,… Dự kiến, trong thời gian tới, Công ty vẫn sẽ

duy trì lợi thế kinh nghiệm, uy tín để tập trung khai thác và phát triển thị trường này

hơn nữa

1.1.2 Tiêu chuẩn chất lượng

Trang 15

Hiện nay, công ty cổ phần xây dựng số 2 đang áp dụng hệ thống quản lý chất

lượng ISO 9001:2008 Công ty được chứng nhận áp dụng hệ thống quản lý phù hợp

với tiêu chuẩn nói trên lần đầu theo số chứng nhận đăng ký 44100102383 ngày

28/12/ 2010 của TUV NORD CERT GmbH ISO 9001 là tiêu chuẩn quốc tế về hệ

thống quản lý chất lượng do Tổ chức tiêu chuẩn hóa quốc tế (ISO) phát triển và ban

hành ISO 9001:2008 là tiêu chuẩn ISO 9001 được ban hành lần thứ 4 vào

15/11/2008và cũng là phiên bản mới nhất của tiêu chuẩn ISO 9001 ISO 9001:2008

không đưa ra các yêu cầu mới so với phiên bản năm 2000 đã bị thay thế, mà chỉ làm

sáng tỏ những yêu cầu hiện có của ISO 9001:2000 dựa vào kinh nghiệm áp dụng

trong 8 năm qua và đưa ra những thay đổi hướng vào việc cải thiện nhằm tăng

cường tính nhất quán với tiêu chuẩn ISO 14001: 2004 về hệ thống quản lý môi

trường

Việc nâng cấp từ ISO 9001:2000 lên ISO 9001:2008 là việc cần thiết đối với

Công ty vì không những điều đó phù hợp với tiến trình cải tiến và nâng cao yêu cầu

đối với hệ thống quản lý chất lượng mà còn nhằm hướng tới các mục đích:

 Chứng tỏ khả năng đáp ứng yêu cầu cung cấp một cách ổn định sản

phẩm đáp ứng các yêu cầu của khách hàng cũng như các yêu cầu củaluật định liên quan đến sản phẩm

 Muốn nâng cao sự thỏa mãn của khách hàng thông qua việc áp dụng

và duy trì hệ thống quản lý chất lượng theo tiêu chuẩn ISO 9001:2008

Việc duy trì bao gồm việc cải tiến liên tục hệ thống nhằm dảm bảo sựphù hợp với các yêu cầu của khách hàng và yêu cầu luật định liênquan đến sản phẩm

 Tăng lợi nhuận, tăng sản phẩm, giảm sản phẩm hư hỏng, giảm lãng

phí

ISO 9001 đưa ra các chuẩn mực cho hệ thống quản lý chất lượng, không

phải là tiêu chuẩn cho sản phẩm Hiện nay, nó được xem là một trong những giải

pháp căn bản nhất, là nền tản đầu tiên để nâng cao năng lực của bộ máy quản lý

Trang 16

doanh nghiệp Việc áp dụng ISO 9001 vào doanh nghiệp đã tạo được cách làm việc

khoa học, tạo ra sự nhất quán trong công việc, chuẩn hóa các quy trình hoạt động,

loại bỏ được nhiều thủ tục không cần thiết, rút ngắn thời gian và giảm chi phí phát

sinh do xảy ra những sai lỗi hoặc sai sót trong công việc, đồng thời làm cho năng

lực trách nhiệm cũng như ý thức của cán bộ công nhân viên nâng lên rõ rệt, qua các

lợi ích cụ thể như sau:

 Lợi ích đầu tiên và rõ ràng nhất là nâng cao được hình ảnh và uy tín

của doanh nghiệp với khách hàng và đối tác Trong tiềm thức củanhiều người, một công ty đã áp dụng ISO 9001 là một công ty cóphong cách làm việc chuyên nghiệp và kết quả luôn tốt hơn nhữngcông ty chưa có ISO 9001

 Thúc đẩy hiệu quả làm việc của từng phòng ban, bộ phận trong Công

ty Khi áp dụng ISO 9001:2008, mọi phòng ban, bộ phận buộc phảithiết lập mục tiêu theo định hướng của Ban giám đốc Công ty, mụctiêu năm sau cao hơn năm trước, điều này buộc mỗi phòng ban, bộphận phải luôn nỗ lực làm việc hiệu quả mỗi ngày để đạt được mụctiêu

 Nâng cao sự tin tưởng nội bộ, thúc đẩy sự cố gắng trong công việc của

mỗi nhân viên Khi Công ty áp dụng ISO 9001:2008,việc đánh giánhân viên để xem xét khen thưởng, nâng lương, bổ nhiệm đều dễ dàng

và có tính thuyết phục hơn vì Công ty luôn có dữ liệu về kết quả thựchiện công việc thực tế và sự đóng góp của mỗi nhân viên trong việchoàn thành mục tiêu của Công ty và khi một quyết định công bố khenthưởng, xử phạt hoặc bổ nhiệm chức vụ mới được đưa ra luôn cónhững dữ liệu rõ ràng để chứng minh cá nhân được khen thưởng hoặc

xử phạt xứng đáng với điều đó

 Nâng cao tinh thần trách nhiệm của mỗi nhân viên: trách nhiệm và

quyền hạn cho mỗi nhân viên được xác định rõ ràng và công bố trong

Trang 17

toàn Công ty vì vậy sẽ giảm đi rất nhiều tình trạng đùn đẩy công việc

và trách nhiệm lẫn nhau

 Kế thừa tri thức của mọi nhân viên trong Công ty, phát huy thế mạnh

của một công ty có nhiều kinh nghiệm: khi áp dụng ISO 9001:2008,tất cả các vấn đề phát sinh đều phải được ghi nhận lại, sau đó Công typhân tích, tìm kiếm nguyên nhân để đề ra biện pháp khắc phục để vấn

đề không lặp lại một lần nữa với cùng nguyên nhân cũ Các kinhnghiệm và cách xử lý phải được chuyển hóa thành quy trình hướngdẫn công việc, những vấn đề phát sinh sẽ được đào tạo lại cho tất cảcác bộ phận liên quan từ đó sẽ hạn chế được tình trạng nói trên

 Năng lực của nhân viên Công ty ngày càng nâng cao hơn: mỗi nhân

viên đều được xác định những kỹ năng, kinh nghiệm, trình độ tối thiểucần phải có để đảm nhận công việc, những nhân viên chưa đạt yêu cầu

sẽ được Công ty lên kế hoạch đào tạo, huấn luyện để có đủ năng lựcthực hiện tốt công việc

 Giảm thiểu tối đa các sai sót trong công việc: những công việc phức

tạp đều có hướng dẫn công việc, những công việc cần có sự phối hợpgiữa các phòng ban với nhau sẽ có quy trình hướng dẫn cụ thể,… tất

cả các nhân viên tham gia công việc đều phải đọc và làm theo nhữngquy trình/hướng dẫn công việc đó nhờ vậy mà các công việc có tínhchuẩn hóa cao, trường hợp quên, bỏ sót, không biết nên làm sai, chưa

có ai hướng dẫn sẽ ít đi

 Nhân viên mới dễ dàng tiếp nhận công việc nhờ vào các hướng dẫn

sẵn có

 Chất lượng sản phẩm,dịch vụ ổn định: tất cả các công việc đều được

kiểm soát và quản lý chặt chẽ, năng lực của nhân viên đồng đều vàngày càng nâng cao, kết quả là chất lượng sản phẩm và dịch vụ sẽngày càng ổn định

Trang 18

 Giảm rủi ro đối với nguyên vật liệu mua vào: Công ty áp dụng ISO

9001:2008 buộc phải đánh giá kỹ lưỡng nhà cung cấp trước khi muahàng lần đầu tiên và phải liên tục theo dõi các đơn hàng tiếp theo

 Cải thiện uy tín của Công ty thông qua việc ngày càng nâng cao khả

năng thỏa mãn nhu cầu khách hàng

 Có nhiều cơ hội hơn trong việc tìm kiếm những chiến lược kinh doanh

lớn và ký hợp đồng lớn: hệ thống ISO 9001:2008 giúp Công ty hoạtđộng hiệu quả hơn, tạo điều kiện để Ban giám đốc có điều kiện kết nốicác mối quan hệ quan trọng, cũng có nhiều hợp đồng lớn đến từ cácmối quan hệ của Tổng giám đốc

1.1.3 Tính chất của sản phẩm

Sản phẩm xây lắp là sản phẩm được tạo thành từ sức lao động của con người,

vật liệu xây dựng, thiết bị lắp đặt vào công trình, được liên kết định vị với đất, có

thể bao gồm phần dưới mặt đất, phần trên mặt đất, phần dưới mặt nước và trên mặt

nước, được xây dựng theo thiết kế

Sản phẩm xây lắp là những công trình xây dựng, vật kiến trúc,… có quy mô

lớn, kết cấu phức tạp mang tính đơn chiếc Mỗi sản phẩm xây lắp được sản xuất

theo một thiết kế riêng, tùy từng loại sản phẩm, có thể trong mỗi nhóm sản phẩm

đều có những đặc trưng cơ bản giống nhau ví dụ như các công trình nhà ở, khu dân

cư bao gồm phần móng, phần nền, phần thân, phần mái và đều được thi công bởi

các loại vật liệu cơ bản như cát đen, cát vàng, sắt, thép các loại, vôi, vữa, xi măng,

… nhưng mỗi công trình lại khác nhau về kích cỡ, kết cấu, thiết kế, yêu cầu kỹ

thuật,… một khu biệt thự nhà vườn đương nhiên sẽ khác hẳn với một khu chung cư,

một công trình đường hạ tầng trong khu công nghiệp nhất định sẽ khác với một

công trình đường giao thông liên tỉnh,… nhất là trong điều kiện hiện nay khi mà

tính thẩm mỹ và các công nghệ được áp dụng trong ngành xây dựng ngày càng đa

dạng và đòi hỏi của khách hàng ngày càng cao Trong ngành xây dựng, mỗi công

trình là một sản phẩm độc nhất

Trang 19

1.1.4 Loại hình sản xuất

Một đặc điểm cơ bản chi phối nhiều đến việc tổ chức sản xuất của ngành xây

dựng là thuộc loại hình sản xuất đơn chiếc, nghĩa là khả năng chuyên môn hóa sản

xuất không cao, việc tổ chức sản xuất theo phương pháp dây chuyền không thuận

lợi, ảnh hưởng rất lớn đến việc nâng cao năng suất lao động trong xây dựng Vì vậy,

khi thiết kế tổ chức thi công cần chủ động tạo điều kiện phân chia những công việc

gần giống nhau về cấu tạo sản phẩm, về phương pháp sản xuất vào từng nhóm như

nhóm công việc cốt thép, nhóm công việc bê tông, …để tiện cho việc sản xuất

chuyên môn hóa sản phẩm hay chi tiết sản phẩm

Lượng sản phẩm trong dây chuyền sản xuất công nghiệp, do không phải sản

xuất theo đặt hàng, nên luôn đạt được số lượng nhiều và không bị hạn chế, mà chủ

yếu phụ thuộc vào năng lực sản xuất của lực lượng sản xuất Còn trong xây lắp,

ngoại trừ những sản phẩm được chủ định sản xuất để kinh doanh như khu nhà ở,

chung cư cao tầng để bán, cho thuê còn lại hầu hết các sản phẩm đều là sản xuất

theo hợp đồng (cũng là theo đơn đặt hàng), số lượng hợp đồng nhận được trong

năm phụ thuộc vào sự linh hoạt của phòng Kinh tế thị trường cũng như khả năng

sản xuất của cán bộ công nhân viên và sự phối hợp giữa các phòng ban

Trong dây chuyền sản xuất công nghiệp, lực lượng sản xuất (nhân lực và vật

lực (máy móc) được bố trí đứng tại chỗ trong các phân xưởng ở nhà máy, mỗi phân

xưởng thực hiện một công đoạn sản xuất, còn sản phẩm thì được di chuyển không

ngừng trên các băng chuyền từ phân xưởng này sang phân xưởng khác, từ nguyên

vật liệu đầu vào qua phân xưởng đầu tiên đến phân xưởng cuối cùng sản phẩm dần

được hình thành, thành phầm của phân xưởng sản xuất trước là đầu vào của phân

xưởng sản xuất sau Cuối phân đoạn cuối cùng, hàng loạt sản phẩm cùng loại xuất

xưởng Ngược lại với dây chuyền sản xuất công nghiệp, trong dây chuyền xây dựng

sản phẩm là các phân đoạn nằm cố định tại một vị trí xác định, tổ lao động chuyên

nghiệp và máy móc sản xuất của từng công tác chuyên môn lần lượt di chuyển từ

phân đoạn này sang phân đoạn khác để thực hiện công tác Đặc điểm này làm cho

Trang 20

công tác quản lý, sử dụng, hạch toán tài sản, vật tư rất phức tạp do chịu ảnh hưởng

của điều kiện thiên nhiên, thời tiết và dễ mất mát, hư hỏng,… Không những vậy,

trong quy trình công nghệ sản xuất xây không dựng không liên tục như dây chuyền

công nghiệp mà thường chứa các gián đoạn công nghệ (còn gọi là các gián đoạn kỹ

thuật) mang tính bắt buộc và khách quan nên quá trình thi công trên từng phân đoạn

(sản phẩm) đều chứa các gián đoạn này Những gián đoạn này chỉ tiêu tốn một

nguồn tài nguyên đặc biệt không tái tạo đó là thời gian ngoài ra không sử dụng bất

kỳ một nguồn tài nguyên thông thường nào khác

1.1.5.Thời gian sản xuất

Sản phẩm xây lắp từ khi khởi công cho đến khi hoàn thành công trình bàn giao

đưa vào sử dụng thường kéo dài, có thể từ vài tháng đến vài năm, nó phụ thuộc vào

tính chất, quy mô, tính phức tạp về kỹ thuật của từng công trình Quá trình thi công

chia thành nhiều giai đoạn, mỗi giai đoạn lại chia thành nhiều công việc khác nhau,

các công việc thường diễn ra ngoài trời và chịu tác động rất nhiều của các yếu tố

thiên nhiên, môi trường như nắng mưa, lũ lụt, lở dốc, … Đặc điểm này đòi hỏi việc

tổ chức, quản lý, giám sát chặt chẽ sao cho đảm bảo chất lượng công trình đúng như

thiết kế, dự toán, Công ty phải có trách nhiệm trích từ 3 – 5 % giá trị công trình (tùy

vào từng công trình) để bảo hành

Trong ngành xây dựng, việc đảm bảo tiến độ thi công, thời gian sản xuất đúng

như kế hoạch và hoàn thành công trình đúng như dự kiến là rất quán trọng vì nó

không chỉ thể hiện năng lực sản xuất của Công ty mà còn là uy tín của Công ty với

khách hàng, tất cả các mốc thời gian đều đã nằm trong kế hoạch, việc chậm tiến độ

không chỉ ảnh hưởng đến bản thân Công ty, kéo dài thời gian sản xuất và dễ dẫn

đến phát sinh nhiều chi phí không đáng có làm tăng giá thành công trình, giảm lợi

nhuận mà còn ảnh hưởng đến kế hoạch sản xuất, kinh doanh của khách hàng Chính

vì vậy, trong những hợp đồng xây dựng thường có điều khoản phạt về kéo dài thời

gian sản xuất Công ty luôn coi trọng mục tiêu đảm bảo tiến độ thi công và có biện

pháp rút ngắn tiến độ thi công bằng cách tăng cường cơ giới hóa đồng bộ, sử dụng

triệt để công suất của các thiết bị hiện đại, áp dụng các biện pháp thi công tiên tiến

Trang 21

để đảm bảo thời gian sản xuất đúng như kế hoạch và hoàn thành công trình đúng

hạn bàn giao cho chủ đầu tư

1.1.6 Đặc điểm sản phẩm dở dang

Sản phẩm dở dang trong xây lắp là những công trình, hạng mục công trình,

khối lượng công việc… chưa hoàn thành hoặc chưa đạt điểm dừng kỹ thuật hợp lý

Những sản phẩm dở dang này cần trải qua một hoặc vài bước công việc nữa thì mới

hoàn thiện và được tiêu thụ Việc theo dõi và hạch toán sản phẩm dở dang

Căn cứ vào thiết kế công trình, tiến độ thi công kế hoạch Công ty và chủ đầu

tư cùng các đơn vị có liên quan tiến hành thanh toán khối lượng sau mỗi 3 tháng,

cuối mỗi chu kỳ như vậy đều có kiểm kê sản phẩm dở dang Một công trình có thể

gồm nhiều hạng mục như phá dỡ, xây dựng (phần móng, phần thân, phần mái),

phần điện, hệ thống nước,… Trong mỗi hạng mục lại bao gồm nhiều công việc khác

nhau, ví dụ như hạng mục phá dỡ bao gồm tháo dỡ mái tôn cao, tháo dỡ kết cấu

thép cao, tháo dỡ trần nhựa, cửa đi, cửa sổ, phá dỡ kết cấu gạch đá, tường gạch, phá

dỡ kết cấu bê tong cốt thép, phá dỡ nền, phá dỡ móng,… khi hạng mục phá dỡ hoàn

thành sẽ thi công tiếp phần xây dựng Phần xây dựng được chia thành rất nhiều

công việc khác nhau: đào đất móng, bê tông lót móng, bê tông móng, bê tông cột,

bê tông giằng móng, ván khuôn,… khối lượng công việc đã được tính toán và phân

chia một cách hợp lý dựa trên các nguồn lực có sẵn căn cứ vào điều kiện thi công

nhưng trong quá trình thi công có thể phát sinh những vấn đề do yếu tố chủ quan và

khách quan khiến việc sản xuất chưa đạt đến điểm dừng kỹ thuật hợp lý như dự

kiến, ví dụ như kế hoạch sản xuất Trung tâm thí nghiệm sinh hóa – Viện Bảo hộ lao

động giai đoạn 1 sẽ hoàn thành việc đổ cột tầng 1 và dầm tầng 2 nhưng cuối kỳ

phần việc này vẫn chưa được hoàn thiện do đó sẽ có sản phẩm dở dang là một phần

công việc lắp ván khuôn dầm tầng 2

Sản phẩm dở dang trong xây lắp không giống sản phẩm dở dang trong công

nghiệp Sản phẩm dở dang trong các doanh nghiệp sản xuất thông thường có thể là

chi tiết sản phẩm hay bán thành phẩm có thể tiêu thụ, là đầu vào cho một quá trình

sản xuất khác còn sản phẩm dở dang trong xây lắp không thể tiêu thụ mà chỉ có thể

Trang 22

chờ hoàn thành toàn bộ khối lượng công việc, hạng mục công trình, công trình thì

mới có thể tiêu thụ được

Việc xác định sản phẩm dở dang đóng vai trò rất quan trọng trong công tác tập

hợp chi phí sản xuất, xác định chi phí dở dang và tính giá thành sản phẩm Để tính

giá thành chính xác đòi hỏi việc hạch toán chi phí sản phẩm dở dang đầu kỳ được

theo dõi và hạch toán đúng

1.2 Đặc điểm tổ chức sản xuất sản phẩm xây lắp của Công ty cổ phần xây

dựng số 2

1.2.1 Quy trình công nghệ

1.2.1.1 Quy trình công nghệ

Các sản phẩm xây dựng của Công ty rất đa dạng từ địa điểm tổ chức thi công

quy mô dự án, thiết kế, yêu cầu kỹ thuật, tính chất công trình,… mỗi công trình,

hạng mục công trình đều có những đặc điểm khác nhau song tất cả đều phải tuân

theo một quy trình chung được cụ thể hóa bằng sơ đồ sau:

Trang 23

Sơ đồ 1 – 1 Quy trình sản xuất sản phẩm xây lắp

Phòng Kinh tế thị trường tìm hiểu thị trường, tìm kiếm và tiếp cận nhu cầu

khách hàng sau đó sẽ kết hợp với phòng Kế hoạch kỹ thuật xem xét yêu cầu của

khách hàng, khả năng đáp ứng yêu cầu dựa trên năng lực của Công ty Qua quá

trình xem xét, đánh giá, nếu thấy có thể đáp ứng yê cầu của khách hàng thì phòng

Kinh tế thị trường sẽ tiến hành chào hàng cạnh tranh đồng thời lập hồ sơ thầu Đối

với những công trình, dự án nhận được trực tiếp do mối quan hệ đối ngoại của Tổng

giám đốc hoặc những công trình được chỉ định thi công thì không có khâu tham gia

đấu thầu

Lập kế hoạch đấu thầu: phòng Kế hoạch kỹ thuật, phòng Kế toán tài vụ và

phòng Tổng hợp cùng phối hợp để lập hồ sơ trình bày khả năng của Công ty trong

Yêu cầu khách hàng Giao khoán

Lập hồ sơ đấu thầu Thi công theo thiết kế

Dự thầu Nghiệm thu, chạy thử

Thành lập Ban dự án

Thanh lý hợp đồng

Lập dự toán Thu hồi vốn

Kế hoạch sản xuất Lưu hồ sơ

Trang 24

việc thực hiện yêu cầu của khách hàng cùng với đó phương án thi công và dự án

cho quá trình thi công cũng được lập để chuẩn bị tham gia dự thầu Hồ sơ năng lực,

phương án thi công, dự toán đã lập sẽ được gửi kèm cùng hồ sơ thầu để tham gia

quá trình đấu thầu

Các chủ đầu tư mở thầu, công ty với tư cách là nhà thầu tham gia đấu thầu

trên cơ sở thiết kế công trình, thời gian thi công, giá giao khoán công trình của bên

chủ thầu, Công ty sẽ đưa ra giá thầu của mình Yêu cầu giá thầu phải vừa đủ thấp để

trúng thầu công trình và vừa đủ cao để vẫn mang lại lợi nhuận cho Công ty

Nếu không giành được ưu thế trong quá trình dự thầu thì các bước công việc

kết thúc còn nếu thắng thầu thì Tổng giá đốc cùng phòng Kinh tế thị trường tiến

hành ký kết hợp đồng kinh tế với chủ đầu tư

Sau khi trúngh thầu, Công ty thành lập Ban dự án gồm Chủ nhiệm dự án và

các chuyên viên kỹ thuật Ban dự án dựa vào thiết kế công trình tính kết cấu, làm dự

toán và trình Ban giám đốc duyệt Các chuyên viên kỹ thuật tiến hành bóc tách định

mức vật tư, nhân công và các chi phí khác gửi về phòng kế toán Kế toán trưởng sẽ

phân công nhiệm vụ cho các kế toán phần hành tương ứng với chức năng của mỗi

người để theo dõi định mức đó nhằm đảm bảo không vượt chi Tuy nhiên, do nhiều

nhân tố khách quan như biến động giá cả, tình hình thị trường,… mà tình trạng vượt

chi có thể xảy ra, khi đó Ban dự án phải giải trình với Ban giám đốc và Kế toán

trưởng

Dựa trên thiết kế công trình, khối lượng công việc cần phải làm và tiến độ thi

công dự kiến, Các chuyên viên kỹ thuật lập kế hoạch sản xuất cụ thể trong đó có

phân chia rõ khối lượng công việc cần hoàn thành trong từng tháng để làm căn cứ

phân công công việc cụ thể cho các tổ, đội dưới hình thức khoán Theo đó, Công ty

tiến hành khoán toàn bộ giá trị công trình cho các tổ, đội mà đứng đầu là đội trưởng

đồng thời cử cán bộ kỹ thuật giám sát tiến độ thi công và chất lượng công trình

Tùy vào hợp đồng mà Công ty nhận là công trình, hạng mục công trình hay

chỉ là một vài giai đoạn công việc của hạng mục công trình mà quá trình thi công có

Trang 25

thể bao gồm các bước phá dỡ, thi công phần móng, thi công phần thân, thi công

phần mái, hoàn thiện Quá trình lao động sản xuất của công nhân phải được giám

sát và luôn có những biện pháp bảo đảm an toàn lao động

Khi công trình, hạng mục công trình hoàn thành, Công ty cùng chủ đầu tư

tiến hành nghiệm thu khối lượng, chất lượng công trình, vận hành thử và lập biên

bản nghiệm thu Nếu có vấn đề phát sinh hoặc chi tiết kỹ thuật nào đó chưa đúng

với yêu cầu hợp đồng, hai bên tiến hành thảo luận và sửa chữa nếu cần thiết Nếu

công trình đã đắp ứng được những tiêu chuẩn đề ra thì Công ty bàn giao công trình

hoàn thành và quyết toán với chủ đầu tư

Tất cả các chứng từ liên quan từ hợp đồng kinh tế đến các chứng từ phát sinh

sau đó đều phải được tập hợp thành bộ hồ sơ công trình để lưu trữ và sử dụng sau

này khi cần

1.2.1.2 Về công tác lập hồ sơ thầu

Vai trò của các phòng ban trong quá trình lập hồ sơ thầu

Để có được bộ hồ sơ dự thầu đầy đủ nội dung, đúng với quy định của pháp

luật và phù hợp với yêu cầu của bên mở thầu đòi hỏi không chỉ là công việc độc lập

của bất kì một phòng ban nào mà còn là sự phối hợp giữa nhiều bộ phận trong Công

ty, bao gồm phòng Kinh tế thị trường, phòng Kế hoạch kỹ thuật và phòng Tổng

hợp, nhiệm vụ cụ thể của mỗi bộ phận được mô tả như sau:

Phòng Kinh tế thị trường

- Nghiên cứu đối thủ cạnh tranh: đối thủ cạnh tranh của Công ty là tất cả

các doanh nghiệp nhà nước hay tư nhân, trong nước hay ngoài nước có

cùng ngành nghề kinh doanh chủ yếu là xây dựng dân dụng công nghiệp,

giao thông hạ tầng cơ sở các khu công nghiệp, khu dân cư và trong cùng

địa bàn thi công Việc nghiên cứu đối thủ cạnh tranh sẽ giúp Công ty

vạch ra những kế hoạch, chiến lược từ đó cơ hội thắng thầu sẽ nhiều hơn

Trang 26

- Điều tra môi trường đấu thầu: mỗi gói thầu có một môi trường đấu thầu

khác nhau, có gói thầu diễn ra rất công bằng cho tất cả các nhà thầu, có

những gói thầu đưa ra chỉ mang tính hình thức, có gói thầu quy mô nhỏ

hay lớn,… Việc điều tra môi trường đấu thầu sẽ giúp Công ty quyết định

có nên tham dự thầu hay không, từ đó Công ty sẽ tập trung vào những

công trình có khả năng thắng thầu cao hơn

Phòng Kế hoạch kỹ thuật

Sau cuộc kiểm tra tư cách đấu thầu, Công ty cần mua được hồ sơ gọi

thầu trong kỳ hạn quy định, nghiên cứu kỹ hồ sơ mời thầu và hiểu rõ

những nội dung trong đó

- Nghiên cứu thuyết minh tổng hợp về xây dựng và dự án công trình đưa

ra đấu thầu: tính chất, quy mô, phạm vị giao thầu, hình thức giao thầu

của công trình, yêu cầu kỳ hạn chung của công trình, kỳ hạn hoàn thành

từng hạng mục công trình cũng như điều kiện ràng buộc để thực hiện gói

thầu

- Nghiên cứu những điều khoản chủ yếu trong hợp đồng, tìm các tài liệu

để phục vụ cho công tác lập hồ sơ thầu như tài liệu về khí tượng, thủy

văn nơi thưc hiện dự án…

- Nghiên cứu kỹ bản vẽ thiết kế công trình từ đó rút ra những đặc điểm cần

chú ý để đưa ra những biện pháp kỹ thuật và phương pháp tổ chức thi

công hợp lý

- Kiểm tra lại việc tính toán khối lượng của chủ đầu tư dựa trên bản tiên

lượng

- Nếu cần thiết cần điều tra khảo sát hiện trường, việc này có vai trò quan

trọng ảnh hưởng đếng giá thành công trình cũng như giá thầu mà Công

ty bỏ ra:

 Nghiên cứu điều kiện địa lý của hiện trường thi công: vị trí địa lý, chất lượng

đất nền, giao thông vận tải, cung cấp điện nươc, công trình thông tin, sức

Trang 27

chứa của hiện trường, đây là những yếu tố ảnh hưởng trực tiếp đến quá trình

và tiến độ thi công

 Điều kiện tự nhiên: sức gió, lượng mưa, nhiệt độ,… các yếu tố môi trường

tác động đến việc sản xuất

 Điều kiện cung ứng vật tư: năng lực điều phối cung ứng các loại vật tư, giá

cả và điều kiện vận chuyển

 Điều kiện cung cấp thầu phụ (nếu cần) và khả năng cung cấp lao động

- Lập tài liệu giới thiệu nhà thầu, bao gồm những nội dung trong hồ sơ dự

thầu sẽ được trình bày cụ thể ở phần sau

- Lập biện pháp thi công (bao gồm biện pháp tổ chức thi công, biện pháp

bảo đảm chất lượng, biện pháp bảo đảm an toàn lao động, biện pháp bảo

đảm tiến độ)

- Lập giá dự thầu:

 Giá dự thầu là giá Công ty ghi trong hồ sơ dự thầu để tranh thầu, thông

thường trong tổng số điểm cho toàn bộ hồ sơ dự thầu thì điểm cho giá dự

thầu chiếm khoảng 30% nhưng lại là yếu tố cơ bản quan trọng, quyết định

đến khả năng thắng thầu Chưa tính đến các tiêu chuẩn khác thì nhà thầu

nào bỏ giá thấp hơn sẽ có khả năng cạnh tranh và thắng thầu cao hơn vì

trong đấu thầu xây lắp, hầu hết các nhà thầu đều đáp ứng được phần lớn yêu

cầu về kỹ thuật mà chủ đầu tư đưa ra nhưng phần lập giá lại khác nhau tùy

thuộc vào quy trình và phương pháp xác định giá, năng lực và kinh nghiệm

của nhà thầu

 Trên cơ sở nghiên cứu, đánh giá trên, phòng Kế hoạch kỹ thuật phối hợp

với các phòng ban liên quan dưới sự chỉ đạo của lãnh đạo Công ty phân

công những cán bộ kỹ thuật có năng lực chuyên môn cao và kinh nghiệm

lập giá dự thầu

 Cơ sở lập giá dự thầu:

 Nghiên cứu cặn kẽ hồ sơ mời thầu, phải hiểu rõ toàn diện các quy

định cụ thể của các điều khoản trong hồ sơ dự thầu cũng như việc

Trang 28

đấu thầu, mở thầu, bình xét thầu, quyết định thầu, tiền đặt cọc đấuthầu, khoản tiền phạt vì kéo dài thời hạn xây dựng công trình, môitrường và điều kiện thi công hiện trường.

 Xác định chính xác khối lượng công việc phải thực hiện (bóc tách

khối lượng), thiết bị và chi phí khác

 Định mức dự toán xây dựng cơ bản, các văn bản của nhà nước quy

định về hướng dẫn lập và quản lý xây dựng

 Đơn giá xây dựng cơ bản của từng địa phương do ủy ban nhân dân

tỉnh ban hành gồm chi phí nguyên vật liệu, nhân công, máy mócđược xác định dựa trên dự toán xây dựng cơ bản

 Kết quả khảo sát hiện trường tại nơi thi công, lắp đặt thiết bị, cung

cấp các yếu tố đầu vào

 Chiến lược đấu thầu của Công ty

Phương pháp tính giá dự thầu

Dựa vào bảng tiên lượng trong hồ sơ mời thầu, lập đơn giá chi tiết cho từng

hạng mục công việc, tương ứng với các hạng mục của hồ sơ mời thầu Căn cứ vào

các định mức xây dựng cơ bản hiện hành và lập bảng tổng hợp phân tích đơn giá chi

tiết cho các hạng mục công việc

Công thức xác định:

GXL = GXL1 + GXL2 + GXL3 + … + GXli

Trong đó: GXL là tổng giá trị dự toán xây lắp

GXli là giá trị dự toán hạng mục công trình, loại công tác xây lắp

GXli = khối lượng công việc * đơn giá

Phòng Tổng hợp

- Chuẩn bị các tài liệu liên quan để lập hồ sơ dự thầu như hồ sơ pháp lý,

giới thiệu công ty, năng lực tài chính, máy móc thiết bị,…

- Hỗ trợ phòng Kế hoạch kỹ thuật khảo sát hiện trường thi công

Trang 29

- Xem xét khả năng đáp ứng nhu cầu của dự án về mặt nhân sự và máy

móc, nếu trúng thầu có cần điều chuyển nhân sự, bổ sung, mua mới loại

thiết bị nào không,…

Nội dung hồ sơ dự thầu

 Hồ sơ pháp lý

- Giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh số 0103003547: cho biết những

thông tin cơ bản về Công ty như tên giao dịch, địa chỉ, thông tin liên lạc,

ngành nghề kinh doanh, thông tin về vốn, danh sách cổ đông sáng lập,

người đại diện theo pháp luật của Công ty

- Quyết định số 1640/QĐ – BXD của Bộ trưởng Bộ Xây dựng về việc

chuyển công ty cổ phần xây dựng số 2 (ban đầu là doanh nghiệp nhà

nước) thành công ty cổ phần

- Quyết định số 120/QĐ – BXD của Bộ trưởng Bộ Xây dựng về việc xếp

hạng I đối với công ty cổ phần xây dựng số 2

- Chứng nhận hệ thống quản lý chất lượng ISO 9001:2008 theo số chứng

nhận đăng ký 44100102383

Những nội dung trên cho biết các thông tin cơ bản về Công ty cổ phần xây

dựng số 2 và đảm bảo với các chủ đầu tư về năng lực pháp lý của Công ty, là minh

chứng rõ ràng cho việc Công ty là tổ chức kinh tế có đủ tư cách pháp nhân để tham

gia đấu thầu và ký kết hợp động kinh tế đồng thời luôn hoạt động sản xuất kinh

doanh tuân thủ những quy định của môi trường luật pháp Việt Nam

 Thông tin chung

- Thông tin chung: cho biết các thông tin cơ bản về Công ty, các hoạt động

sản xuất kinh doanh chính, số năm kinh nghiệm làm tổng thầu hoặc thầu

chính nội địa và quốc tế

- Sơ đồ tổ chức Công ty

- Cơ cấu nhân lực Công ty (cấp bậc, số lượng, trình độ)

Trang 30

Những nội dung trên cho biết các thông tin tổng quát về phương thức tổ chức

bộ máy, vếu tố “con người” của công ty cổ phần xây dựng số 2 và thời gian kinh

nghiệm trong thi công công trình từ đó giúp bên mở thầu có những cái nhìn sơ lược

về năng lực của Công ty Là một nhà thầu chính và thầu phụ với kinh nghiệm 29

năm trong lĩnh vực xây dựng và có cơ cấu nhân lực không những đủ cả về mặt số

lượng, chất lượng mà còn cơ cấu hợp lý giữa lực lượng lao động trực tiếp và gián

tiếp là một yếu tố giúp Công ty được đánh giá cao trong quá trình dự thầu

 Năng lực tài chính, máy thiết bị của nhà thầu

- Năng lực tài chính: tóm tắt các số liệu tài chính (thông tin về tài sản, nợ

phải trả, tài sản ngắn hạn, nợ ngắn hạn doanh thu, lợi nhuận trước thuế,

lợi nhuận sau thuế) trong 3 năm gần nhất, cam kết về lưu lượng tiền mặt

(đính kèm phụ lục là báo cáo tài chính đã đuợc kiểm toán trong 3 năm

gần nhất)

- Nguồn tín dụng: năng lực tài chính được đảm bảo bằng nguồn tiền mặt

cũng như các tài sản khác của Công ty và hợp đồng tín dụng hạn mức với

ngân hàng cung cấp tín dụng là Ngân hàng Đầu tư và phát triển Việt

Nam chi nhánh Cầu Giấy Hợp đồng hạn mức với ngân hàng luôn được

đính kèm trong hồ sơ dự thầu

- Danh sách thiết bị thi công: thông tin về tên thiết bị, số lượng, nước sản

xuất, năm sản xuất, đặc tính kỹ thuật

Những nội dung trên cho biết chỉ các thông tin về tình hình hoạt động sản xuất

kinh doanh gần nhất của Công ty thông qua các chỉ tiêu tài chính cơ bản Một Công

ty làm ăn có lãi chứng tỏ khả năng quản lý của ban lãnh đạo, khả năng sản xuất của

cán bộ công nhân và chỉ những công ty có tình hình tài chính tốt mới có khả năng

đảm nhận các gói thầu, đặc biệt là những gói thầu quan trọng Một trong những yếu

tố quan trọng chính là khả năng lưu chuyển tiền mặt và nguồn tín dụng vì quá trình

thi công cần nguồn vốn luân chuyển rất lớn để tài trợ cho tài sản lưu động như

nguyên vật liệu và các khoản phát sinh bằng tiền khác Việc đảm bảo về lưu lượng

Trang 31

tiền mặt vừa đảm bảo khả năng thực hiện dự án của Công ty, tạo niềm tin với chủ

đầu tư vừa giúp Công ty có khả năng trúng thầu cao hơn

 Hồ sơ kinh nghiệm

- Danh sách các hợp đồng xây lắp tiêu biểu do nhà thầu thực hiện: thông tin về

tên dự án, địa điểm xây dựng, tổng giá trị, giá trị nhà thầu thực hiện, thời hạn

hợp đồng (ngày khởi công, hoàn thành), cơ quan chủ đầu tư Trong đó, giá

trị nhà thầu thực hiện có thể nhỏ hơn hoặc bằng tổng giá trị công trình tùy

thuộc vào việc Công ty là thầu chính hay liên danh Đối với một số dự án, do

tính chất đặc thù về mặt chuyên môn hoặc việc giành được quyền thi công là

quan trọng, để tăng khả năng thắng thầu Công ty cùng một hoặc một số nhà

thầu khác liên danh cùng tham gia đấu thầu trong một đơn dự thầu Tuy là

nhà thầu liên danh nhưng đối với những dự án đó, giá trị nhà thầu thực hiện

hầu hết đều chiếm 50% tổng giá trị dự án trở lên

- Danh sách các hợp đồng đang tiến hành: thông tin về tên công trình, giá tri

hợp đồng, tên cơ quan ký hợp đồng, giá trị công trình còn phải làm và ngày

hoàn thành theo kế hoạch

- Danh sách các công trình đạt huy chương vàng chất lượng cao ngành xây

dựng kèm theo giấy chứng nhận cho các công trình đó

Những nội dung này giúp chủ đầu tư có những đánh giá quan trọng về năng

lực chuyên môn của Công ty thông qua quy mô, tính chất, đặc điểm và số vốn của

những dự án, những sản phẩm xây dựng mà Công ty đã thực hiện đồng thời xem xét

điều kiện hiện tại để đánh giá khả năng giao thầu cho Công ty do những công trình

đang được thi công có ảnh hưởng trực tiếp đến tiêu hao và phân bổ nguồn lực hiện

tại của Công ty Hơn nữa, chủ đầu tư cũng có thể có một cái nhìn tương đối về khả

năng đảm bảo tiến độ thi công và hoàn thành công trình đúng hạn của Công ty qua

những thông tin được cung cấp Tất cả những chứng nhận về các công trình tiêu

Trang 32

biểu xuất sắc là sự đảm bảo cũng như cam kết của Công ty với chủ đầu tư về chất

lượng công trình không những về mặt kỹ thuật, tuân thủ những quy định chặt chẽ

của cơ quan chuyên ngành trong xây dựng mà còn về mặt thẩm mỹ và công nghệ

Những nội dung trong hồ sơ kinh nghiệm đóng vai trò quan trọng trong việc tạo ưu

thế cho công ty cổ phần xây dựng số 2 vì việc lựa chọn nhà thầu không chỉ căn cứ

vào giá dự thầu mà còn kết hợp với nhiều yếu tố khác, tùy vào yêu cầu của dự án,

nhất là đối với những dự án phức tạp, quan trọng, một đơn vị non trẻ không thể đảm

đương được mà cần tới một tập thể giàu kinh nghiệm và có truyền thống trong

ngành xây dựng

1.2.2 Cơ cấu tổ chức sản xuất

Tại Công ty cổ phần xây dựng số 2 không tổ chức thành các tổ thợ chuyên

môn như tổ phá dỡ, tổ nề, tổ nước, tổ điện,… như một số công ty xây dựng khác mà

chỉ bao gồm các xí nghiệp, các đội xây dựng Tại các đơn vị này đều có những bộ

phận lao động có thể thực hiện được các công việc trên Hiện nay, ngoài các phòng

ban, bộ phận lao động gián tiếp, bộ phận sản xuất của Công ty bao gồm các đơn vị

Trang 33

 Đội thi công cơ giới

 Các đội công trình

Cơ cấu trên rất linh hoạt, giúp Công ty có thể cùng lúc thực hiện nhiều dự án

trên cơ sở giao cho các xí nghiệp và các đội dưới hình thức khoán Đây là hình thức

sản xuất được áp dụng không chỉ tại công ty cổ phần xây dựng số 2 mà còn phổ

biến trong các doanh nghiệp xây lắp hiện nay Thực chất của công tác khoán là xác

định mức độ tự chịu trách nhiệm, tính chủ động trong sản xuất kinh doanh, khuyến

khích tính năng động sáng tạo của các tổ, đội sản xuất Hình thức này đã hỗ trợ rất

tốt cho sản xuất xây lắp và đem lại cho Công ty nhiều lợi ích:

 Do đặc thù của ngành xây dựng, tính chất của sản phẩm khác hẳn với các

ngành khác, các điều kiện sản xuất đặt tại nơi thi công chứ không tập

trung ở Công ty, các sản phẩm không tập trung tại một nơi mà nằm rải

rác ở các địa bàn khác nhau nên việc quản lý, cung ứng các điều kiện cho

thi công từ Công ty tới hiện trường gặp khó khăn do đó việc khoán cho

các tổ, đội đặt tại công trường tự đảm nhận thực hiện thi công dưới sự

giám sát của Công ty là rất phù hợp

 Gắn người lao động với nhau, gắn sản phẩm làm ra với thu nhập của họ,

tiết kiệm tận dụng các nguồn lực phù hợp với điều kiện hiện nay

 Các sản phẩm là công trình, hạng mục công trình rất khó đánh giá tách

bạch sự đóng góp của mỗi cá nhân mà thực tế tách bạch như vậy cũng

không có ý nghĩa gì trong việc phản ánh chất lượng công trình mà chất

lượng công trình được thể hiện ở sản phẩm hoàn thành do đó việc thực

hiện khoán và đánh giá kết quả cuối cùng qua thanh quyết toán và trả

lương cho người lao động sẽ có căn cứ hơn

 Góp phần cắt giảm các chi phí không cần thiết ví dụ như chi phí lưu kho

nhờ tận dụng các lợi thế ở địa bàn thi công có công trường trong việc

cung ứng các điều kiện phục vụ thi công mặt khác tạo được sự chủ động

cho các đội, chủ công trình, tránh tình trạng chờ đợi Công ty

Trang 34

 Góp phần tinh giảm bộ máy quản lý cồng kềnh, kém hiệu quả, chức năng

nhiệm vụ từng người được quy định rõ ràng qua đó nâng cao hiệu quả và

chất lượng công tác

1.3 Quản lý chi phí sản xuất của Công ty

Chi phí sản xuất là yếu tố ảnh hưởng trực tiếp tới lợi nhuận của Công ty do đó

cũng ảnh hưởng trực tiếp tới lợi ích của tất cả các cá nhân từ người lãnh đạo ở chức

vụ cao nhất là Chủ tịch Hội đồng quản trị đến nhân viên ở cấp thấp nhất là người

lao động giản đơn với mức độ ảnh hưởng khác nhau Tất cả mọi thành viên Công ty

đều có trách nhiệm thực hiện và hoàn thành nhiệm vụ của mình trong điều kiện chi

phí phát sinh là thấp nhất tuy nhiên một số bộ phận có nhiệm vụ được quy định cụ

thể trong việc quản lý và kiểm soát chi phí:

Hội đồng quản trị: không có nhiều tác động trực tiếp lên những chi phí sản

xuất phát sinh tại Công ty nhưng là bộ phận quyết định chiến lược đầu tư, phát triển

của Công ty trên cơ sở các mục đích chiến lược do Đại hội đồng cổ đông thông qua,

đưa ra phương hướng phát triển, kế hoạch phát triển sản xuất kinh doanh của Công

ty Mọi đơn vị cấp dưới khi đưa ra bất kỳ một mục tiêu, quyết định nào liên quan

đến vấn đề phát sinh chi phí đều phải dựa theo những phương hướng này và đảm

bảo thực hiện được những mục tiêu đã đề ra

Ban Giám đốc: tổ chức điều hành, quản lý mọi hoạt động sản xuất kinh doanh

theo nghị quyết, quyết định của HĐQT và ĐHĐCĐ, xây dựng và trình HĐQT các

quy chế quản lý điều hành nội bộ trong đó có những quy định về chi phí và quản lý

chi phí Phê duyệt các kế hoạch sản xuất, kế hoạch chi phí và các định mức do cấp

dưới trình lên đồng thời từ các kết quả sản xuất kinh doanh của các kỳ trước đó,

lãnh đạo phòng Kế toán tài vụ và các bộ phận có liên quan, tiến hành phân tich chi

phí (có bị vượt chi so với kế hoạch), cơ cấu chi phí phát sinh, xem xét xem vấn đề

phát sinh ở đâu, nguyên nhân là gì và đưa ra biện pháp nhằm giải quyết triệt để vấn

đề, hạn chế tối thiểu mức chi phí phát sinh nhằm đạt kết quả kinh doanh tốt nhất

Trang 35

Phòng Kế toán tài vụ: có trách nhiệm theo dõi, hạch toán và tổng hợp các chi

phí phát sinh Khi phòng kế hoạch kỹ thuật đưa ra các định mức kỹ thuật thì phòng

Kế toán tài vụ phải theo dõi các định mức về chi phí, đến khi đội xây dựng tập hợp

chứng từ và gửi lên, các nhân viên kế toán có trách nhiệm kiểm tra sự hợp pháp,

hợp lý, hợp lệ của chứng từ, xem xét xem chi phí đó phát sinh có đúng không và so

sánh chi phí thực tế phát sinh với định mức và dự toán, sau đó báo cáo với Tổng

giám đốc Bộ phận này là đơn vị đảm nhiệm việc phân tích chi phí, về từng khoản

mục chi phí (CPNVLTT, CPNCTT, CPMTC, CPSXC) và cơ cấu các khoản mục

trong tổng chi phí, tìm ra điều bất thường, chưa hợp lý trình lên TGĐ để cùng các

bộ phận khác đưa ra giải pháp

Phòng kế hoạch kỹ thuật: đây là bộ phận ảnh hưởng trực tiếp tới vấn đề chi

phí phát sinh Phòng Kế hoạch kỹ thuật là đơn vị chuyên môn, bao gồm các cán bộ

kỹ thuật có nhiệm vụ trực tiếp xây dựng các định mức, lập dự toán, theo dõi, quản

lý và giám sát quá trình thi công tại các đội xây dựng từ đó trực tiếp quản lý chi phí

phát sinh Khi đưa ra các định mức và lập dự toán, bộ phận này không đưa ra một

mức cứng nhắc mà luôn cho phép một mức chênh lệch nhất định vì các chi phí phát

sinh có thể sai khác với dự toán và định mức do nhiều yếu tố khác nhau trong đó có

giá cả thị trường Các định mức này là một “mốc”, làm căn cứ để bộ phận trực tiếp

sản xuất căn cứ vào đó cố gắng hạn chế chi phí phát sinh do nếu chi phí thực tế phát

sinh vượt quá định mức sẽ ảnh hưởng đến thi đua của các cán bộ công nhân viên

Để kiểm soát chi phí thật tốt và đạt kế hoạch đề ra, các cán bộ kỹ thuật cần phải độc

lập, giám sát chặt chẽ, nghiêm túc quá trình thi công và có những điều chỉnh kịp

thời đối với các vấn đề chi phí phát sinh Riêng đối với chi phí nhân công trực tiếp,

phòng Kế hoạch kỹ thuật là bộ phận quyết định chi phí này do thực hiện giao khoán

cho đội theo khối lượng công việc hàng tháng

Đội xây dựng: đội xây dựng là đối tượng trực tiếp sản xuất, là nơi phát sinh

chi phí Tại bộ phận này không ảnh hưởng nhiều đến chi phí nhân công trực tiếp mà

chỉ quyết định việc phân chia lương tuy nhiên do được chủ động về vật tư nên có

Trang 36

ảnh hưởng quan trọng đến chi phí nguyên vật liệu trực tiếp và các chi phí khác phát

sinh Đội có trách nhiệm tìm kiếm và ký hợp đồng với những nhà cung ứng phù hợp

nhất với mục tiêu cung cấp đầy đủ các yêu cầu vật tư cần thiết đảm bảo chất lượng

với mức giá cả phải chăng trên thị trường Đây là một công việc rất quan trọng vì

trong sản xuất xây lắp, nguyên vật liệu là yếu tố sản xuất không thể thiếu, trong một

số giai đoạn nếu không cung ứng vật tư kịp thời thì mọi yếu tố sản xuất khác phải

ngưng lại và đợi vật tư do đó sẽ gây lãng phí và đội chi phí lên, biết tính toán, sử

dụng vật tư một cách hợp lý, tiết kiệm, hiệu quả thì sẽ góp phần rất tích cực trong

việc hạn chế chi phí phát sinh và hạ giá thành sản phẩm Ngoài ra, tại đội xây dựng

phát sinh các khoản chi phí khó kiểm soát khách như chi phí tiếp khách, chi phí

dịch vụ mua ngoài,… tất cả các cá nhân có liên quan, nhất là bộ phận quản lý đội

đều phải có trách nhiệm tiến hành hoạt động sản xuất đúng nội quy, quy định của

Công ty và không được lợi dụng để làm lợi cho cá nhân, một vấn đề rất thường xảy

ra ở các công ty xây dựng nói chung

Các bộ phận khác trong Công ty cũng có những ảnh hưởng nhất định đến vấn

đề phát sinh chi phí và quản lý chi phí, ví dụ như phòng Tổng hợp chịu trách nhiệm

mua bán TSCĐ nên sẽ ảnh hưởng tới chi phí khấu hao, hoặc tuyển dụng và sử dụng

nhân viên nếu không đúng quy trình, tuyển không đúng người, không đảm bảo yêu

cầu về năng lực chuyên môn sẽ gây lãng phí nguồn nhân lực và không đáp ứng

được yêu cầu sản xuất, làm tăng chi phí… Tuy nhiên những bộ phận đã nêu trên

mới là những bộ phận ảnh hưởng quan trọng nhất đến vấn đề quản lý chi phí tại

công ty cổ phần xây dựng số 2 Toàn thể nhân viên trong Công ty đều cần phải nỗ

lực sản xuất, sử dụng các nguồn lực một cách hiệu quả với mục đích hạn chế phát

sinh các chi phí không cần thiết nhằm hạ giá thành sản phẩm và đem lại lợi nhuận

cao nhất từ đó tạo điều kiện nâng cao đời sống nhân viên Công ty

Trang 37

CHƯƠNG 2 THỰC TRẠNG KẾ TOÁN CHI PHÍ SẢN XUẤT VÀ TÍNH

GIÁ THÀNH SẢN PHẨM XÂY LẮP TẠI CÔNG TY CỔ

PHẦN XÂY DỰNG SỐ 2

2.1 Kế toán chi phí sản xuất tại công ty cổ phần xây dựng số 2

Chi phí sản xuất tại Công ty là toàn bộ chi phí về lao động sống và lao động

vật hóa phát sinh trong quá trình sản xuất và cấu thành nên giá thành sản phẩm xây

lắp Theo khoản mục chi phí thì chi phí sản xuất tại công ty cổ phần xây dựng số 2

được chia thành 4 loại:

 Chi phí nguyên vật liệu trực tiếp

 Chi phí nhân công trực tiếp

 Chi phí máy thi công

 Chi phí sản xuất chung

Tại Công ty, khi tập hợp chi phí, những chi phí liên quan trực tiếp đến công

trình, hạng mục công trình thì tập hợp trực tiếp cho từng công trình, hạng mục công

trình đó (chi phí nguyên vật liệu trực tiếp, chi phí nhân công trực tiếp), những chi

phí liên quan đến nhiều công trình không hạch toán trực tiếp được thì tổng hợp rồi

phân bổ sau

Đối tượng tập hợp chi phí và tính giá thành là từng công trình, hạng mục công

trình, khối lượng xây lắp hoàn thành với kỳ tính giá thành là quý

Sau đây là công tác kế toán tập hợp chi phí sản xuất và tính giá thành công

trình Trung tâm thí nghiệm sinh hóa – Viện Bảo hộ, đặt tại số 216 Nguyễn Trãi,

Thanh Xuân, Hà Nội theo hợp đồng số 01/2012/BQL – CT2 ngày 1/8/2012 với chủ

Trang 38

đầu tư là Viện Bảo hộ lao động, đơn vị tư vấn thiết kế là Tổng công ty tư vấn xây

dựng Việt Nam VNCC và đơn vị tư vấn giám sát là Công ty cổ phần tư vấn xây

dựng VCC Hà Nội Dự án có số vốn hơn 7 tỷ đồng, dự kiến hoàn thành vào tháng 6

năm 2013

2.1.1 Kế toán chi phí nguyên vật liệu trực tiếp

2.1.1.1- Nội dung

Trong xây lắp, nguyên vật liệu chính là yếu tố đầu vào quan trọng nhất, chi

phí nguyên vật liệu là loại chi phí chiếm tỷ trọng cao nhất, khoảng 70% tổng giá

thành sản phẩm Do đó, việc hạch toán đầy đủ và chính xác chi phí này có tầm quan

trọng đặc biệt không những trong việc xác định lượng hao phí vật chất đã tiêu hao

cho quá trình sản xuất thi công và đảm bảo tính chính xác của giá thành công trình

xây dựng mà còn nhằm mục đích kiểm soát chi phí

Chi phí nguyên vật liệu tại Công ty bao gồm chi phí nguyên vật liệu chính và

vật liệu phụ được dùng để trực tiếp sản xuất ra sản phẩm Nguyên vật liệu chính bao

gồm vật liệu,vật kết cấu hình thành nên phần thô của công trình, giá trị thiết bị kèm

theo vật kiến trúc, … cần thiết để tham gia cấu thành thực thể sản phẩm còn vật liệu

phụ bao gồm những vật liệu tham gia vào sản xuất, cùng với vật liệu chính làm thay

đổi màu sắc, hình dáng bề ngoài của sản phẩm góp phần làm tăng tính thẩm mỹ và

chất lượng công trình

Để thuận lợi cho thi công, Công ty thường ký hợp đồng với nhà cung cấp, khi

có nhu cầu về nguyên vật liệu thì tiến hành mua ngoài và vận chuyển thẳng đến

chân công trình Do vậy, Công ty hạch toán nguyên vật liệu theo phương pháp kê

khai thường xuyên, hạch toán và tính giá xuất kho để ghi chi phí nguyên vật liệu

trực tiếp theo phương pháp giá thực tế đích danh

Công ty cổ phần xây dựng số 2 là công ty lớn trong ngành, cùng một thời gian

thi công nhiều công trình mà mỗi công trình lại sử dụng những loại vật liệu khác

nhau với số lượng lớn do đó trên quy mô toàn công ty thì vật liệu được sử dụng rất

Trang 39

đa dạng, phong phú, được nhập từ nhiều nguồn khác nhau do đó việc hạch toán chi

phí nguyên vật liệu đòi hỏi phải được tiến hành thường xuyên, chi phí phát sinh

tháng nào sẽ được tập hợp ngay cho tháng đó Phòng kế toán không tổ chức kế toán

chi tiết nguyên vật liệu mà chỉ theo dõi về mặt giá trị, kế toán đội xây dựng theo dõi

về mặt số lượng, giá trị, tập hợp chứng từ và phản ánh biến động trên các tài khoản

qua việc nhập chứng từ vào phần mềm kế toán NEWACC 6.0 dành cho đội xây

dựng Điều này giúp cho việc theo dõi, hạch toán không bị trùng lắp giữa kế toán

công ty và kế toán đội

2.1.1.2- Tài khoản sử dụng

Chứng từ sử dụng:

Một số công ty xây dựng tiến hành giao khoán nội bộ chi phí nguyên vật liệu

cho đơn vị cấp dưới, chỉ huy trưởng công trình nhận tạm ứng từ công ty và tiến

hành tìm mua nguyên vật liệu nhưng tại công ty cổ phần xây dựng số 2, tuy nhà

cung cấp vật liệu cho từng công trình cũng do đội xây dựng chủ động tìm kiếm

nhưng hầu như không thanh toán ngay mà dưới hình thức là ký hợp đồng cung ứng

lâu dài với nhà cung cấp đó dưới sự phê duyệt của Tổng giám đốc, thường thì đội sẽ

ứng trước cho nhà cung cấp số tiền khoảng 30% giá trị tạm tính căn cứ vào hợp

đồng giao khoán, công nợ được theo dõi trên tài khoản 3311 đến cuối tháng mới tập

hợp chứng từ gửi lên công ty để tiến hành thanh toán

Các chứng từ sử dụng trong theo dõi và hạch toán chi phí nguyên vật liệu trực

tiếp bao gồm:

- Hợp đồng kinh tế cung cấp nguyên vật liệu

- Hóa đơn giá trị gia tăng

- Bảng kê mua hàng kiêm phiếu nhận nợ

- Phiếu yêu cầu vật tư

Trang 40

- Biên bản đối chiếu công nợ

Tài khoản sử dụng:

Để hạch toán chi phí nguyên vật liệu trực tiếp Công ty sử dụng tài khoản 621

Chi phí nguyên vật liệu trực tiếp Tài khoản 621 được mở chi tiết cho từng công

trình Ngoài ra còn sử dụng các tài khoản liên quan:

- TK 152 Nguyên, vật liệu được chi tiết thành 6 tài khoản cấp 2

TK 1521: Nguyên, vật liệu chính với danh mục vật tư, hàng hóa được

cài đặt trên phần mềm chi tiết cho từng loại với mã riêng (cát đenCatĐ, cát vàng, gạch xây, thép xây dựng D10, thép xây dựng D12,D14, D16, D20, D22, D25, D6, D8, xi măng PCB30…)

Ngày đăng: 07/02/2023, 15:15

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w