Liên quan đến việc đầu tư, đối xử quốc gia hướng đến mục đích cả nhà đầu tư trong nước và nước ngoài đều là đối tượng của những điều kiện cạnh tranh giống nhau ở thị trường nước sở tại,
Trang 1Ngày 03/03/2009 Page 1
Tiểu luận
SƠ LƯỢC LÝ THUYẾT VỀ NGUYÊN TẮC KHÔNG ĐỐI XỬ PHÂN BIỆT VÀ TÙY TIỆN
Trang 2Ngày 03/03/2009 Page 2
Không đối xử phân biệt liên quan đến quan điểm về đối xử quốc gia Theo như chế độ này thì chính phủ đối xử với hoạt động kinh doanh của kiều bào hay người nước ngoài như đối xử với hoạt động kinh doanh của công dân mình trong các trường hợp tương tự nhau (national treatment) Chế độ đối xử quốc gia đòi hỏi việc đối xử thỏa đáng, không đồng nhất Không đối xử phân biệt trong đầu tư cũng có nghĩa là một nhà đầu tư hay đầu tư từ một nước được nước sở tại đối xử như với nhà đầu tư hay đầu tư từ bất cứ nước thứ 3 nào trong các trường hợp tương tự (MFN treatment) Một cách có đi có lại, đối xử không phân biệt không cần cung cấp những thuận lợi cho đầu tư nước ngoài
Liên quan đến việc đầu tư, đối xử quốc gia hướng đến mục đích cả nhà đầu tư trong nước và nước ngoài đều là đối tượng của những điều kiện cạnh tranh giống nhau ở thị trường nước sở tại, vì vậy không có biện pháp chính phủ nào ưu tiên quá
các nhà đầu tư trong nước (UNCTAD, 1999c, p 8)
Những hành động phân biệt đối xử đối với các nhà đầu tư nước ngoài trở thành một yêu cầu rõ ràng theo luật tập quán quốc tế Trong các hiệp định về đầu tư, yêu cầu này được thể hiện rõ ràng vừa là một sự ngăn cấm đối xử phân biệt đối với nhà đầu tư nước ngoài, vừa như sự đảm bảo tích cực để quy định chế độ đối xử quốc gia hoặc đối xử tối huệ quốc; đây là sự đối xử đảm bảo cho công dân của các quốc gia khác
Trong các Hiệp định về thương mại và đầu tư, nguyên tắc này được đề cập dưới nhiều hình thức khác nhau, phụ thuộc vào ý chí của các bên ký kết Dưới đây là một số điều khoản thể hiện nguyên tắc này
Điều 1105 NAFTA quy định những tiêu chuẩn tối thiểu trong đối xử, trong đó quy định rằng các bên ký kết NAFTA sẽ dành cho các nhà đầu tư và việc đầu tư của các nhà đầu tư bên ký kết khác một hình thức, đối xử không phân biệt về những biện pháp mà nước đó thông qua hoặc duy trì liên quan đến những tổn thất gây ra cho việc
Trang 3Ngày 03/03/2009 Page 3
đầu tư trên lãnh thổ nước đó do những xung đột vũ trang hoặc nhưng xung đột trong dân chúng
Article 1105: Minimum Standard of Treatment (NAFTA)
1 Each Party shall accord to investments of investors of another Party treatment in accordance with international law, including fair and equitable treatment and full protection and security
2 Without prejudice to paragraph 1 and notwithstanding Article 1108(7)(b), each Party shall accord to investors of another Party, and to investments of investors of another Party, non-discriminatory treatment with respect to measures it adopts or maintains relating to losses suffered by investments in its territory owing to armed conflict or civil strife
3 Paragraph 2 does not apply to existing measures relating to subsidies or grants that would be inconsistent with Article 1102 but for Article 1108 (7)(b)
Điều 5 của Hiệp định chung về thương mại dịch vụ (GATS) quy định về việc loại bỏ các biện pháp phân biệt đang tồn tại và nghiêm cấm các biện pháp phân biệt mới sao cho phù hợp với Điều 17 về đối xử quốc gia của Hiệp định này về đối xử quốc gia
Article V: Economic Integration
1 This Agreement shall not prevent any of its Members from being
a party to or entering into an agreement liberalizing trade in services between or among the parties to such an agreement, provided that such an agreement:
(a) has substantial sectoral coverage, and
Trang 4Ngày 03/03/2009 Page 4
(b) provides for the absence or elimination of substantially all discrimination, in the sense of Article XVII, between or among the parties, in the sectors covered under subparagraph (a), through:
(i) elimination of existing discriminatory measures, and/or (ii) prohibition of new or more discriminatory measures, either at the entry into force of that agreement or on the basis of a reasonable time-frame, except for measures permitted under Articles XI, XII, XIV and XIV bis
2 In evaluating whether the conditions under paragraph 1(b) are met, consideration may be given to the relationship of the agreement to a wider process of economic integration or trade liberalization among the countries concerned
3 (a) Where developing countries are parties to an agreement
of the type referred to in paragraph 1, flexibility shall be provided for regarding the conditions set out in paragraph 1, particularly with reference to subparagraph (b) thereof, in accordance with the level of development of the countries concerned, both overall and in individual sectors and subsectors
(b) Notwithstanding paragraph 6, in the case of an agreement of the type referred to in paragraph 1 involving only developing countries, more favourable treatment may be granted to juridical persons owned or controlled by natural persons of the parties to such an agreement
4 Any agreement referred to in paragraph 1 shall be designed to facilitate trade between the parties to the agreement and shall not in respect of any Member outside the agreement raise the overall level of barriers to trade in services within the respective sectors or subsectors compared to the level applicable prior to such an agreement
Trang 5Ngày 03/03/2009 Page 5
5 If, in the conclusion, enlargement or any significant modification
of any agreement under paragraph 1, a Member intends to withdraw or modify a specific commitment inconsistently with the terms and conditions set out in its Schedule, it shall provide at least 90 days advance notice of such modification or withdrawal and the procedure set forth in paragraphs 2, 3 and 4 of Article XXI shall apply
6 A service supplier of any other Member that is a juridical person constituted under the laws of a party to an agreement referred to in paragraph 1 shall be entitled to treatment granted under such agreement, provided that it engages
in substantive business operations in the territory of the parties to such agreement
7 (a) Members which are parties to any agreement referred to
in paragraph 1 shall promptly notify any such agreement and any enlargement or any significant modification of that agreement to the Council for Trade in Services They shall also make available to the Council such relevant information as may be requested by it The Council may establish a working party to examine such an agreement or enlargement or modification of that agreement and to report to the Council on its consistency with this Article
(b) Members which are parties to any agreement referred to in paragraph 1 which is implemented on the basis of a time-frame shall report periodically to the Council for Trade in Services on its implementation The Council may establish a working party to examine such reports if it deems such a working party necessary
(c) Based on the reports of the working parties referred to in subparagraphs (a) and (b), the Council may make recommendations to the parties as
it deems appropriate
8 A Member which is a party to any agreement referred to in paragraph 1 may not seek compensation for trade benefits that may accrue to any other Member from such agreement
Trang 6Ngày 03/03/2009 Page 6
Article XVII: National Treatment
1 In the sectors inscribed in its Schedule, and subject to any conditions and qualifications set out therein, each Member shall accord to services and service suppliers of any other Member, in respect of all measures affecting the supply of services, treatment no less favourable than that it accords to its own like services and service suppliers
2 A Member may meet the requirement of paragraph 1 by according to services and service suppliers of any other Member, either formally identical treatment or formally different treatment to that it accords to its own like services and service suppliers
3 Formally identical or formally different treatment shall be considered to be less favourable if it modifies the conditions of competition in favour
of services or service suppliers of the Member compared to like services or service suppliers of any other Member
Một vấn đề được đưa ra đó là việc áp dụng các biện pháp bảo vệ đầu tư khỏi đối xử phân biệt là trước hay sau đầu tư nước ngoài vào nước nhận đầu tư Một
số đồng ý rằng, những biện pháp này được áp dụng sau khi đầu tư đã vào nước sở tại
Ví dụ như điều 17 – 03 (12) (2) của Hiệp định tự do thương mại giữa Colombia,
Mexico và Venezuela quy định:
1 Each Party shall accord to investors of another Party, and to their investments, treatment not less favorable than that it accords, in like circumstances, to its own investors and investments
2 Each Party shall grant investors from another Party, and to their investments, treatment no less favorable to
Trang 7[e]ach Party shall admit and treat investments in a manner not less favourable than the treatment granted in similar situations to investments of its investors except for investments in areas identified in the Appendix to this Annex
=> Dù được áp dụng trước hay sau khi đầu tư vào thì đây cũng là
một nguyên tắc chung đối với những vấn đề bảo vệ đầu tư khỏi những lý do quốc tịch
Ở các nước khác nhau thì việc áp dụng những nguyên tắc này đối với đầu tư là không giống nhau Trong chừng mực nào đó, một quyền của các quốc gia đối với việc điều chỉnh thỉnh thoảng bao hàm cả việc phân biệt đối với đầu tư nước ngoài
Do đó vẫn có những ngoại lệ đối với việc không đối xử phân biệt:
Những ngoại lệ chung như để duy trì sức khỏe cộng đồng, bảo
vệ an ninh quốc gia
Những đối tượng ngoại lệ cụ thể như quyền sở hữu trí tuệ, hệ
thống thuế cung cấp trong hiệp định thuế song phương
Những ngoại lệ country-specific như những ngành công nghiệp
cụ thể như dịch vụ tài chính và giao thông vận tải
Vấn đề đối xử đầu tư và những tiêu chuẩn bảo vệ sau khi đầu tư là một trong những phần quan trọng mà EIIA (European Information Industry Association) quan tâm Liên quan đến vấn đề bảo vệ đầu tư, một trong những trở ngại tiềm tàng đối với
Trang 8Ngày 03/03/2009 Page 8
đầu tư nước ngoài sau khi đầu tư liên quan đến những nguy cơ phi thương mại đối
với các hãng nước ngoài ở nước sở tại, đặc biệt là nguy cơ đối xử tùy tiện Mặc dù
cụm từ tùy tiện – arbitrary – không được định nghĩa trong các hiệp định về đầu tư nhưng một tiêu chuẩn cao được ICJ tạo ra giúp cho việc nhận ra các biện pháp tùy tiện Tòa ICJ định nghĩa cụm từ tùy tiện – arbitrary – trong hiệp định về hữu nghị, thương mại và hàng hải (Treaty of Friendship, Commerce and Navigation) như một sự chủ tâm coi nhẹ một quy trình thích đáng “due process”, một hành động mà gây sốc và gây ngạc nhiên một ý nghĩa của việc thích đáng với pháp luật
Tuy nhiên, cũng có những trường hợp ngoại lệ đối với việc áp dụng nguyên tắc này Điều 135 Hiệp định tự do thương mại giữa EIIA và Chile quy định các trường hợp ngoại lệ khi áp dụng các hình thức phân biệt, đối xử và tùy tiện
Article 135
Subject to the requirement that such measures are not applied in a manner which would constitute a means of arbitrary or unjustifiable discrimination between the Parties where like conditions prevail, or a disguised restriction on trade in services, financial services or establishment, nothing in this Title shall be construed to prevent the adoption or enforcement
by either Party of measures:
(a) necessary to protect public morals or to maintain public order and public security;
(b) necessary to protect human, animal or plant life or health;
(c) relating to the conservation of exhaustible natural resources if such measures are applied in conjunction with restrictions on the domestic supply
or consumption of services or on domestic investments;
(d) necessary for the protection of national treasures of artistic, historic or
archaeological value;
Trang 9I TÓM TẮT VỤ GENIN – CỘNG HÒA ESTONIA
Alex Genin là chủ tịch hội đồng EIB , là chủ sở hữu, giám đốc quản lí và cổ đông duy nhất của công ty Eastern Credit, mang quốc tịch Mỹ, là người hưởng lợi
của hầu hết các cổ phiếu của Eurocapital
- Ngày 12 tháng 8 năm 1994, trong một cuộc bán đấu giá được điều khiển bởi ngân hàng Estonia, ngân hàng trung ương Cộng hoà Estonia, ngân hàng cải cách Estonia (EIB) đồng ý mua một chi nhánh địa phương thuộc ngân hàng xã hội Limited Estonia, một tổ chức tài chính bị vỡ nợ, với giá 3,000,000 đồng Estonia Chi nhánh đang được nói tới ở đây là Koidu
- Ngày 13/8, một thoả thuận mua bán hay còn có tên là thoả thuận mua bán chi nhánh Koidu được kí kết bởi chủ tịch ngân hàng EIB – Peep Sillandi, và phó
Trang 10Ngày 03/03/2009 Page 10
chủ tịch ngân hàng Estonia – Vahur Kraft, đại diện cho ngân hàng vỡ nợ xã hội Estonia
- Ngày 16 tháng 9, EIB thông báo cho ngân hàng Estonia bằng văn bản
về sự không nhất quán trong ‘balance sheet’ của chi nhánh Koidu mà NHTW Estonia cung cấp cho các khách hàng tiềm năng trong vụ đấu giá chi nhánh ngân hàng này EIB yêu cầu được bồi thương từ phía ngân hàng Estonia, được xem như người tin cậy chịu trách nhiệm cho ngân hàng xã hội, những mất mát mà EIB đã phải chịu do hậu quả của việc không nhất quán này
- 2/12/1994, ngân hàng Estonia từ chối bất cứ trách nhiệm pháp lí nào đối với sự không nhất quán này và đối với tất cả mọi thiệt hại mà phía EIB phải chịu
do nguyên nhân này
- 9/1/1995, EIB kiện ngân hàng xã hội và đòi phải được bồi thường trước khi toà án thánh phố Tallin ở Estonia tìm kiếm giải pháp nhằm đền bù lại những tổn thất gây ra bởi những trình bày sai trong ‘balance sheet’ của Koidu
- 3/5/95, toà án thành phố đưa ra quyết định chiểu theo bản thỏa thuận giữa các bên, xác định tổn thất mà EIB chịu lên tới 20,977,117 EEK, trong đó xấp xỉ khoảng 2,893,991 EEK cho những tài sản không tồn tại mà được đề cập trong bản cân đối ngân sách của Koidu và 18,083,126 EEK cho những khoản không được đề cập đến Ngân hàng xã hội đã trả cho EIB những khoản nhất định những vẫn còn nợ 19,491,947 EEK
- Tháng 3 năm 1996, ngân hàng Estonia và EIB thảo luận về khả năng trả dần những khoản đền bù cho EIB liên quan tới chi nhánh Koidu trong hơn 5 năm Mặc dù bên nguyên viện dẫn rằng thoả thuận ràng buộc đã được đạt tới, bên bị đơn cho rằng không có một bản thoả thuận nào được kí kết Tháng 10/1996, ngân hàng Estonia yêu cầu EIB xoá khoản nợ liên quan đến chi nhánh Koidu
- 12/4/1996, EIB và NHTW Estonia kí kết một thoả thuận thăm dò, theo
đó NHTW Estonia sẽ chuyển cho EIB những giấy ghi nợ trị giá 5,000,000 EEK đổi
Trang 11- Đầu năm 1997, ngân hàng Estonia điều khiển công việc kiểm tra sổ sách hàng năm của EIB Trong quá trình xem xét, các nhà điều tra của ngân hàng Estonia yêu cầu phía EIB cung cấp những thông tin khác nhau liên quan đến các cổ đông, trong đó bao gồm cả 2 trong số các nguyên đơn
- Ngày 18/3/1997, ngân hàng Estonia đã ban hành một quy định số hiệu 19-2-406, yêu cầu EIB, Eastern credit, Baltoil và Eurocapital Ltd phải nộp đơn xin giấy phép cho việc nắm giữ cổ phần, nhờ đó mà những thực thể này chính thức được trao quyền nắm cổ phần ở EIB phù hợp với pháp luật Estonia
- Mặc dù EIB khẳng định rằng ngân hàng này đã tuân theo quy đinh tháng 3/1997 bằng cách biện hộ đã áp dụng những gì được yêu cầu Tuy nhiên, ngày 24/3, EIB nghi ngờ giá trị pháp lí của bản quy định tại ban phụ trách hành chính của toà
- Ngày 21 tháng 5 năm 1997, ngân hàng Estonia gửi một lá thư tới EIB, yêu cầu thông tin chi tiết hơn về các cổ đông và các chi nhánh của ngân hàng này, và gửi kèm một danh sách (hướng dẫn tháng 5/1997) quy định những thông tin cần được cung cấp
- 19/6/1997, nhóm luật sư người Estonia làm việc cho EIB đã có buổi gặp gỡ với đại diện của ngân hàng Estonia bàn luận về các vấn đề trong bản quy định 3/1997 và bản yêu cầu cung cấp thông tin 21/5/1997 Bên nguyên đã viện dẫn rằng trong buổi họp đó, ngân hàng Estonia đã thừa nhận rằng cách chỉ đạo của họ bị
Trang 12- 11/9/1997, EIB bắt đầu khởi kiện trước Tòa hành chính, yêu cầu xem xét việc thu hồi giấy phép ở cả hai khía cạnh, một là, thẩm quyền của NHTW Estonia khi thu hồi giấy phép, hai là, quyết định thu hồi này có đúng hay không
- Trong khi vụ kiện về việc thu hồi giấy phép vẫn còn treo, một số ít các
cổ đông của EIB kiến nghị lên toà ngày 18/11/1998, đòi thanh toán nợ, do giấy phép kinh doanh của ngân hàng này đã bị huỷ bỏ vào 9/9/1997
- Ngày 2/2/1999, ông Genin (quốc tịch Hoa Kì), công ty Eastern Credit, A.S Baltoil (một công ty ở Estonia thuộc quyền sở hữu của Eastern Credit) gửỉ thư yêu cầu giải quyết tranh chấp thông qua hình thức trọng tài tới ICSID
- Ngày 11/3/1999, toà trọng tài ICSID chấp nhận thư yêu cầu giải quyết
vụ việc
* Theo đó, toà được yêu cầu giải quyết những vấn đề chính sau:
+ Bên bị, ngân hàng Estonia, có vi phạm B.I.T hay pháp luật Estonia trong việc mua bán chi nhánh Koidu hoặc trong việc giải quyết những thiệt hại trong việc EIB mua chi nhánh này không? (Nếu có thì việc này gây ra những tổn thất nào?)
+ Bên bị, ngân hàng Estonia, có vi phạm B.I.T hay luật pháp Estonia trong việc thu hồi giấy phép của EIB hay không? (Nếu có thì việc này gây ra những tổn thất nào?)
+ Bên bị, cụ thể là cảnh sát hay các cơ quan khác, có vi phạm B.I.T hay pháp luật Estonia trong việc gây phiền hà cho ông Genin và Dashkovsky hay không? (Nếu có, việc đó gây ra những tổn thất nào?)
Trang 13Ngày 03/03/2009 Page 13
+ Yêu sách chống lại bên bị có được bào chữa? (Nếu có, việc này gây ra những tổn thất nào?)
II TRANH TỤNG CỦA NGUYÊN ĐƠN ( CLAIMANT)
1 Lập trường của bên Nguyên- EIB
1.1 Ngân hàng TW Estonia phải chịu trách nhiệm cho những tổn thất mà EIB phải chịu liên quan tới thỏa thuận mua bán chi nhánh Koidu (Koidu Branch), trị giá 3 triệu EEK Những tổn thất đó (số tiền bồi thường mất mát và số tiền trong hợp đồng) là do những nhầm lẫn trong bản cân đối kế toán mà phía Estonia cung cấp và rằng Ngân hàng TW Estonia nhất định phải biết về vấn đề này nhưng vẫn để nó xảy
ra
1.2 Ngân hàng TW Estonia đã tự nguyện kí kết nhưng sau đó lại tự ý vi
phạm những nghĩa vụ qui định trong Koidu settlement Agreement
1.3 Ngân hàng TW đã cố tình gây ra sự thâm hụt về vốn làm cho vốn điều
lệ của EIB rơi xuống mức tối thiểu bằng việc không tuân thủ những nghĩa vụ qui
định trong Write-off Agreement.( 3/1996)
1.4 Sắc lệnh 13/08/1997 mà theo đó EIB cùng các cổ đông của nó (bao gồm Eastern Credit, Baltoil và Europcapital Ltd.) phải nắm giữ số phần trăm cổ phần vốn lớn hơn trước (Qualified holdings) chiểu theo luật Estonia do Ngân hàng TW ban
phía Estonia trong khả năng của mình
1.6 Việc Ngân hàng TW Estonia thu hồi giấy phép kinh doanh của EIB là
nhằm mục đích thoái thác trách nhiệm
Trang 14Ngày 03/03/2009 Page 14
1.7 Ngân hàng TW Estonia phải chịu trách nhiệm vê sự thiệt hại do trưng
thu tài sản và rút lại quyết định thu hồi giấy phép kinh doanh
1.8 Cộng hòa Estonia phải chịu trách nhiệm cho những hành động lăng mạ
một số lãnh đạo của EIB
Do mục đích bài thuyết trình nhằm nghiên cứu sâu vấn đề đối xử công bằng, nhóm thuyết trình xin được phép bàn về duy nhất 2 vấn đề đó là việc mua bán chi nhánh ngân hàng Koidu Branch và việc thu hồi giấy phép kinh doanh của EIB nhằm
làm sáng tỏ đối tượng cần nghiên cứu
2 Về vụ mua bán chi nhánh Koidu (Koidu Branch) và những thiệt hại liên quan
2.1 Về những sai lầm trong bản báo cáo tài chính do phía Ngân hàng
TW thực hiện
Ngân hàng TW Estonia phải nhận trách nhiệm và chịu bồi thường những thiệt hại của EIB do những sai lầm từ phía Estonia gây ra trong bản cân đối kế toán; và do đó, nó có quyền đòi bồi thường cho những tổn thất do vấn đề này gây ra Đồng thời khẳng định rằng những trách nhiệm đó sẽ do đích thân Ngân hàng TW Estonia thực hiện thay vì ngân hàng xã hội (Social Bank) Tổng thiệt hại bao gồm
Thiệt hại gây ra do những sai lầm này là 19,491,947 EEK
Tổng trị giá hợp đồng mua lại chi nhánh Koidu Branch 3 triệu EEK
EIB cáo buộc Ngân hàng trung ương Estonia rằng ngân hàng này đã không chấp nhận bồi thường và sửa chữa những sai lầm do mình gây ra, và với hành động này, Ngân hàng trung ương Estonia đã vi phạm điều 2 khoản 3a của BIT Cụ thể hơn, nó đã không cư xử, đối đãi công bằng và phù hợp, không thực hiện được những cam kết của mình về bảo đảm đầu tư cho EIB, và điều này đã vi phạm tập quán quốc tế về đối xử bình đẳng với các quốc gia khác, một nguyên tắc rất quan trọng đặc biệt là trong lĩnh vực đầu tư
Trang 15Ngày 03/03/2009 Page 15
2.2 Về sự không tuân thủ Koidu Settlement Agreement
Ngân hàng TW estonia, ban đầu đã từ chối mọi cáo buộc nhưng sau đó, mặc dù đã thừa nhận một phần trách nhiệm của mình trong đã không thực hiện đúng cam kết như đã thỏa thuận trong bản Koidu Settlement Agreement( 12/04/1996) mà theo đó, EIB đồng ý rằng những yêu cầu đền bù của EIB đối với ngân hàng xã hội sẽ
do ngân hàng TWestonia đảm nhận đổi lại ngân hàng EIB sẽ có được một số khoản
nợ khác mà Ngân hàng TWchuyển nhượng cho Hành động này đã vi phạm điều 2 khoản 3 a và c của BIT về đối xử công bằng với các nhà đầu tư nước ngoài
2.3 Về sự không tuân thủ thỏa thuận trước đó về thủ tục thanh toán
a) Ngân hàng Trung Ương đã tự mình đi ngược lại những thỏa thuận của
mình đã có trước đây với EIB rằng, số tiền mà EIB nợ sẽ được trả dần trong vòng 5 năm Nhưng sau đó ngân hàng TW lại ra quyết định bắt EIB phải trả ngay một lúc số tiền đó (Write-off) Điều này dẫn tới sự thâm hụt nghiêm trọng về vốn của EIB ( thậm chí dưới mức tối thiểu!!!) Sự việc này là quá bất ngờ đối với EIB và đẩy EIB vào tình trạng vô cùng khó khăn, và tất yếu dẫn tới giao dịch giữa EIB và Eastern Credit sau này về việc chuyển nhượng nghĩa vụ nợ nhằm tráng cho EIB nguy cơ bị
thu hồi giấy phép kinh doanh do có số vốn không đạt định mức tối thiểu
b) Việc Ngân hàng TWtừ bỏ những thỏa thuận trước đó đã đạt được đã
thể hiện sự vi phạm khá rõ ràng về việc bảo đảm sự không phân biệt đối xử trong đầu
tư
3 Về việc thu hồi giấy phép kinh doanh
kinh doanh do phía Estonia viện dẫn
Địa chỉ của EUCG trong giấy đăng kí của EIB là ở Houston, Texas trong khi đó, theo danh sách của các cổ đông lại là ở Isle of Man EIB cho rằng, sự nhầm lẫn về thông tin trong trường hợp này không thể là căn cứ dẫn tới việc thu hồi