Phần 1 43 Phần 1 MỞ ĐẦU 1 1 Lý do lựa chọn đề án Công nghiệp hóa, hiện đại hóa là mục tiêu đã được Đảng, Nhà nước xác định nhằm đưa nước ta trở thành một nước công nghiệp theo hướng hiệ[.]
Trang 1Phần 1 MỞ ĐẦU
1.1 Lý do lựa chọn đề án
Công nghiệp hóa, hiện đại hóa là mục tiêu đã được Đảng, Nhà nướcxác định nhằm đưa nước ta trở thành một nước công nghiệp theo hướng hiệnđại vào năm 2020 Để thực hiện mục tiêu trên thì việc phát triển các các cụmcông nghiệp nhằm tạo không gian, môi trường thuận lợi cho các ngành, cáclĩnh vực, các doanh nghiệp sản xuất công nghiệp phát triển có ý nghĩa rấtquan trọng và là yêu cầu mang tính khách quan
Phát triển các cụm công nghiệp tập trung là một quan điểm, chủ trươngđúng đắn và nhất quán của Đảng ta, thể hiện trong văn kiện và trong thực tiễnlãnh đạo phát triển kinh tế Trong nhiều năm qua, trên địa bàn cả nước nóichung tỉnh Bắc Giang nói riêng đã hình thành, phát triển nhiều cụm côngnghiệp tạo không gian, môi trường thuận lợi để thu hút các doanh nghiệp sảnxuất công nghiệp vào hoạt động sản xuất, kinh doanh góp phần giúp cho tốccông nghiệp phát triển tăng nhanh, thúc đẩy quá trình chuyển dịch cơ cấukinh tế theo hướng tăng tỷ trọng công nghiệp; giải quyết có hiệu quả công ănviệc làm cho người lao động ở khu vực nông thôn; phát huy lợi thế vùngnguyên liệu của từng địa phương; hạn chế lực lượng lao động ở khu vực nôngthôn tràn về thành thị; an ninh, trật tự ở khu vực nông thôn giữ vững; kinh tếkhu vực nông thôn ngày càng cải thiện là điều kiện thuận lợi xây dựng nôngthôn mới; thuận lợi hơn trong việc bảo vệ môi trường
Tuy nhiên, bên cạnh đó nhiều cụm công nghiệp đã được hình thànhnhưng do hạn chế về vốn để đầu tư xây dựng kết cấu hạ tầng, nhất là các hạngmục hạ tầng thiết yếu như đường giao thông nội bộ; hệ thống cấp nước sạch;hệ thống xử lý chất thải, nước thải tập trung, đã làm cho nhiều cụm côngnghiệp không phát huy được hiệu quả hoạt động, việc thu hút các doanhnghiệp vào hoạt động trong cụm công nghiệp gặp nhiều khó khăn; tỷ lệ lấpđầy đất công nghiệp trong cụm công nghiệp chưa cao; tình trạng xử lý chấtthải, nước thải còn hạn chế; tình trạng mất an toàn giao thông vào giờ tan tầmdiễn ra;
Làm thế nào để thu hút vốn đầu tư xây dựng kết cấu hạ tầng các cụmcông nghiệp trên địa bàn Tỉnh Bắc Giang trong thời gian tới, nhằm khaithác hiệu quả tiềm năng, thế mạnh của cụm công nghiệp trong sự nghiệpphát triển công nghiệp của địa phương đang là một nhiệm vụ cần thiết, cấp
Trang 2bách và đang là những trăn trở của Cấp ủy, Chính quyền, các ngành chứcnăng của tỉnh Bắc Giang
Từ tình hình nêu trên học viên chọn đề án “Giải pháp thu hút vốn đầu
tư xây dựng kết cấu hạ tầng các cụm công nghiệp trên địa bàn tỉnh Bắc Giang” làm đề án tốt nghiệp của mình.
1.2 Mục tiêu của đề án
Đề án góp phần làm rõ cơ sở lý luận, thực tiễn của việc thu hút vốn đầu
tư xây dựng kết cấu hạ tầng cụm công nghiệp; phân tích thực trạng, đề xuấtgiải pháp đẩy mạnh thu hút vốn đầu tư xây dựng kết cấu hạ tầng cụm côngnghiệp trên địa bàn tỉnh Bắc Giang
- Đề xuất những giải pháp chủ yếu thu hút vốn đầu tư xây dựng kết cấuhạ tầng cụm công nghiệp tỉnh Bắc Giang trong thời gian tới
1.4 Giới hạn của đề án
1.4.1 Đối tượng nghiên cứu: Hoạt động đầu tư xây dựng kết cấu hạ
tầng cụm công nghiệp của tỉnh Bắc Giang
1.4.2 Phạm vi nghiên cứu
- Về không gian: Hoạt động đầu tư xây dựng kết cấu hạ tầng các cụm
công nghiệp trên địa bàn tỉnh Bắc Giang
- Về thời gian: Đề án tập trung nghiên cứu giai đoạn từ năm 2011 đến
năm 2015
Trang 3Phần 2 NỘI DUNG ĐỀ ÁN
2.1 Một số vấn đề lý luận và thực tiễn về ccn và đầu tư xây dựng kết cấu
hạ tầng cụm công nghiệp
2.1.1 Một số khái niệm
2.1.1.1 Khái niệm cụm công nghiệp
Tại Việt Nam, trong quá trình phát triển của đất nước khái niệm CCNđược nói đến từ rất lâu, tuy nhiên khái niệm CCN chính thức được ra đời từkhi có Quyết định số 105/2009/QĐ-TTg ngày 19/8/2009 của Thủ tướngChính phủ ban hành Quy chế quản lý CCN CCN là khu vực tập trung cácdoanh nghiệp, cơ sở sản xuất công nghiệp - tiểu thủ công nghiệp, cơ sở dịchvụ phục vụ sản xuất công nghiệp - tiểu thủ công nghiệp; có ranh giới địa lýxác định, không có dân cư sinh sống; được đầu tư xây dựng chủ yếu nhằm didời, sắp xếp, thu hút các cơ sở sản xuất, các doanh nghiệp nhỏ và vừa, các cánhân, hộ gia đình ở địa phương vào đầu tư sản xuất, kinh doanh, do Ủy bannhân dân các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương (gọi chung là Ủy bannhân dân cấp tỉnh) quyết định thành lập
CCN có quy mô diện tích không quá 50 (năm mươi) ha Trường hợpcần thiết phải mở rộng CCN hiện có thì tổng diện tích sau khi mở rộng cũngkhông vượt quá 75 ha
2.1.1.2 Khái niệm kết cấu hạ tầng cụm công nghiệp
Kết cấu hạ tầng của cụm công nghiệp bao gồm hệ thống đường giaothông nội bộ, vỉa hè, cây xanh, hệ thống cấp nước, thoát nước, xử lý nướcthải, chất thải, cấp điện, chiếu sáng công cộng, thông tin liên lạc nội bộ, nhàđiều hành, bảo vệ và các công trình khác phục vụ hoạt động của cụm côngnghiệp
2.1.1.3 Khái niệm vốn đầu tư xây dựng kết cấu hạ tầng cụm công nghiệp
- Khái niệm: Là nguồn kinh phí hoặc các nguồn lực khác của tổ chức, cánhân trong nước hay nước ngoài bỏ ra để đầu tư xây kết cấu hạ tầng cụm côngnghiệp trong hiện tại, nhằm đem lại kết quả lớn hơn trong tương lai
- Vai trò của vốn đầu tư xây dựng kết cấu hạ tầng CCN:
Chuyển dịch cơ cấu kinh tế: Đầu tư tác động đến sự mất cân đối củangành, lãnh thổ, thành phần kinh tế Kinh nghiệm của nhiều nước trên thế giớicho thấy, con đường tất yếu để phát triển nhanh tốc độ mong muốn thì phảităng cường đầu tư tạo ra sự phát triển nhanh.Tác động đến sự tăng trưởng và
Trang 4phát triển kinh tế: Kết quả nghiên cứu của các nhà kinh tế cho thấy, muốn giữphát triển kinh tế ở mức trung bình thì tỷ lệ đầu tư phải đạt từ 15 % đến 20 %
so với GDP tuỳ thuộc vào hệ số ICOR của mỗi nước
Tạo ra cơ sở vật chất: Tác động trực tiếp này đã làm cho tổng tài sảncủa nền kinh tế quốc dân không ngừng được gia tăng trong lĩnh vực côngnghiệp nhờ vậy mà năng lực sản xuất của các đơn vị kinh tế không ngừngđược nâng cao, sự tác động này có tính dây chuyền của những hoạt động kinh
tế nhờ đầu tư Chẳng hạn như chúng ta đầu tư vào phát triển cơ sở hạ tầnggiao thông điện nước của một CCN nào đó, tạo điều kiện thuận lợi cho cácthành phần kinh tế , sẽ đầu tư mạnh hơn vì thế sẽ thúc đẩy quá trình phát triểnkinh tế nhanh hơn
Tác động đến sự phát triển khoa học công nghệ của đất nước, của mộtđịa phương: Có hai con đường để phát triển khoa học công nghệ, đó là tựnghiên cứu phát minh ra công nghệ, hoặc bằng việc chuyển giao công nghệ,muốn làm được điều này, chúng ta phải có một khối lượng vốn đầu tư mới cóthể phát triển khoa học công nghệ Với xu hướng quốc tế hoá đời sống nhưhiện nay, chúng ta nên tranh thủ hợp tác phát triển khoa học công nghệ vớinước ngoài để tăng tiềm lực khoa học công nghệ của đất nước thông quanhiều hình thức như hợp tác nghiên cứu , khuyến khích đầu tư chuyển giaocông nghệ Đồng thời tăng cường khả năng sáng tạo trong việc cải thiện côngnghệ hiện có phù hợp với điều kiện của tỉnh
Tạo công ăn việc làm cho người lao động: Như chúng ta đã biết, trongkhâu thực hiện đầu tư, thì số lao động phục vụ cần rất nhiều đối với những dựán sản xuất kinh doanh thì sau khi đầu tư dự án đưa vào vận hành phải cầnkhông ít công nhân, cán bộ cho vận hành khi đó tay nghề của người lao độngnâng cao, đồng thời những cán bộ học hỏi được những kinh nghiệm trongquản lý, đặc biệt khi có các dự án đầu tư nước ngoài
2.1.2 Thực tiễn đầu tư xây dựng kết cấu hạ tầng phát triển cụm công nghiệp trên thế giới và ở Việt Nam
2.1.2.1 Tình hình đầu tư xây dựng kết cấu hạ tầng phát triển cụm công nghiệp của một số nước trên thế giới
2.1.2.1.1 Chính sách phát triển khu, cụm, điểm công nghiệp ở Đài Loan
Nhằm thực hiện chính sách phát triển công nghiệp và quản lý môitrường, trong thời gian đầu, Đài Loan phát triển các KCX, tiếp theo là cácKCN, CCN Năm 1960, Chính phủ Đài Loan ban hành Bộ Luật khuyến khích
Trang 5đầu tư và tiếp sau đó là Bộ luật nâng cấp sản nghiệp Hơn 30 năm qua, ĐàiLoan đã có 95 KCN, cụm, điểm công nghiệp (CĐCN) được hoạch định vớitổng diện tích hơn 13000 ha đã được hoàn thành và 19 KCN, CCN với tổngdiện tích hơn 19800 ha đang trong quá trình xây dựng Riêng các KCN,CĐCN đã hoàn thành, thu hút được gần 9.400 nhà máy với hơn 35 vạn laođộng trực tiếp đã là nguồn động lực quan trọng cho sự tăng trưởng sản xuấtcông nghiệp ở Đài Loan Nói đến thành công về KCN, CĐCN, KCX ở ĐàiLoan phải kể đến sự thành công của các KCX Cao Hùng (60ha), Nam Tử(98ha), Đài Trung (25ha) Sau 27 năm hoạt động, 3 KCX này đã thu được 20tỷ USD lợi nhuận và tạo việc làm cho 96000 lao động.
Các doanh nghiệp đầu tư vào KCN, CĐCN, KCX được hưởng những
ưu đãi về tài chính và quản lý Cơ quan quản lý KCX ở Đài Loan thực hiệnviệc quản lý KCX theo cơ chế dịch vụ một cửa từ việc xét duyệt đầu tư, chothuê mặt bằng đến việc cung cấp các dịch vụ Tuy nhiên, do vấn đề laođộng, công nghệ và ô nhiễm môi trường hiện nay trong các KCN, CĐCN,KCX đã thúc đẩy các nhà đầu tư di chuyển các ngành đòi hỏi nhiều laođộng, công nghiệp thấp, dễ gây ô nhiễm sang các nước khác để phát triểnnhững ngành có hàm lượng chất xám cao, công nghiệp cao, sản xuất các sảnphẩm có giá trị kinh tế cao
2.1.2.1.2 Chính sách phát triển KCN, CĐCN ở Thái Lan
Thái Lan phát triển mô hình KCN, CĐCN, KCX từ năm 1970 Mô hìnhKCN, CĐCN, KCX của Thái Lan là mô hình KCN, CĐCN tập trung tổnghợp, bao gồm KCN, CĐCN, KCX và các khu dịch vụ Cho đến cuối năm
2000, Thái Lan có 55 KCN, CĐCN tập trung với tổng diện tích hơn 14000 ha.KCN của Thái Lan được phân bố theo ba vùng Vùng I, bao gồm Bangkok và
5 tỉnh lân cận, có 11 KCN, CĐCN được thành lập với tổng diện tích gần 2800
ha Vùng II, bao gồm 12 tỉnh tiếp theo có19 KCN, CĐCN được thành lập cótổng diện tích 5300ha Vùng III, bao gồm 58 tỉnh còn lại, có 25 KCN, CĐCNđược thành lập với tổng diện tích 5900ha Trong số KCN Maptaphut là KCNlớn nhất với diện tích 1180ha; bên cạnh đó cũng có KCN, CĐCN có quy môdiện tích nhỏ vài chục ha
Các KCN, CĐCN Thái Lan có thể do Nhà nước, tư nhân sở hữu hoặcthông qua một Tổng Công ty Nhà nước là Industrial Estates Authority ofThailand (IEAT) hoặc cơ quan đầu tư Thái Lan - Board of Investment (BOI);hoặc thuộc Bộ Công nghiệp Thái Lan hoặc liên doanh với IEAT Do vậy,
Trang 6phương thức đầu tư xây dựng kinh doanh cơ sở hạ tầng cũng đa dạng Nhàđầu tư thứ cấp mua đất có thời hạn hoặc thuê đất trong KCN, CĐCN đã pháttriển hạ tầng.
Đầu tư vào các KCN, CĐCN Thái Lan, các nhà đầu tư được hưởng ưuđãi về thuế, phí, giá và cơ chế quản lý một cửa Các ưu đãi về tài chính đượcxác định theo vùng ưu đãi đầu tư Vùng III là vùng ưu đãi nhất Đồng thời,Thái Lan cũng quy hoạch ngành theo vùng ưu đãi đầu tư Nhiều ngành côngnghiệp không được phép đầu tư vào Vùng I mà chỉ được phép đầu tư vàovùng II hoặc vùng III Ví dụ như ngành sản xuất các sản phẩm cao su,ceramic, sứ, kính và chế tạo dụng cụ phải đặt ở vùng II hoặc vùng III; ngànhsản xuất thức ăn gia súc, dầu thực vật, nước uống coca, đường ăn, sản phẩmmay mặc thông thường, lưới đánh cá phải đặt ở vùng III Nhìn chung cácngành cần nhiều lao động giản đơn, dễ gây ô nhiễm, cần sử dụng nguyên liệungành nông nghiệp được quy hoạch xa Băng Cốc và 5 tỉnh lân cận Đây cũnglà kinh nghiệm đối với Việt Nam trong việc thu hút đầu tư theo quy hoạch vàbố trí các cơ sở công nghiệp
Để tạo điều kiện cho các doanh nghiệp hoạt động, Thái Lan cũng ápdụng mô hình quản lý dịch vụ “một cửa” đối với KCN, CĐCN Các doanhnghiệp đầu tư vào KCN xin ưu đãi và các thủ tục liên quan tại EAIT, EAIT cóđại diện của các Bộ, Ngành tham gia và có cơ quan thường trú đóng tại cácvùng, các KCN EAIT như một doanh nghiệp Nhà nước có nhiệm vụ đầu tưxây dựng và kinh doanh đất đai, cơ sở hạ tầng, đồng thời có chức năng theoluật được cấp chứng nhận ưu đãi cho doanh nghiệp, hướng dẫn đầu tư, chịutrách nhiệm xúc tiến kêu gọi đầu tư vào KCN, CĐCN Hiện nay, cơ chế nàyhoạt động rất có hiệu quả
2.1.2.1.3 Chính sách phát triển KCN, CCN, khu thương mại tự do ở Malaysia
Thực hiện chính sách phát triển theo quy hoạch, Chính phủ Malaysiacũng phát triển mô hình KCN, CĐCN từ năm 1970 Tính đến năm 1997, đãcó 206 KCN, CĐCN và 14 khu tự do được thành lập với tổng diện tích hơn
30 nghìn ha Chính phủ Malaysia cũng khuyến khích khu vực tư nhân pháttriển các KCN, CĐCN (24 khu) Hầu hết các ngành sản xuất công nghiệp đềutập trung trong các KCN, CĐCN Việc quy hoạch phát triển KCN, CĐCN docác cơ quan Trung ương đảm nhận Cụ thể là Bộ Tài chính quyết định địađiểm xây dựng KCN, CĐCN
Về phát triển cơ sở hạ tầng, mỗi bang của Malaixia thành lập tổng
Trang 7Công ty phát triển (SEDC) có nhiệm vụ không chỉ mua đất xây dựng hạ tầngtrong các KCN, CĐCN để bán hoặc cho thuê lại mà còn có nhiệm vụ xâydựng cơ sở hạ tầng khu vực và kinh doanh các công trình khác như nhà ở, khuvui chơi giải trí, bến cảng, hệ thống cấp điện, cấp nước Với phương thức này,việc phát triển hạ tầng tuân thủ theo quy hoạch được thực hiện tốt và đồng bộ.
Về quản lý Nhà nước, để quản lý hoạt động của các KCN, CĐCN, Khuthương mại tự do, Chính quyền địa phương các Bang được giao nhiệm vụquản lý toàn diện các hoạt động của doanh nghiệp Chủ đầu tư đăng ký thànhlập doanh nghiệp tại Bộ Công Thương; xin giấy phép đầu tư tại Uỷ ban đầu tư(MIDA) và xin hưởng ưu đãi về thuế tại Bộ Tài chính, nhưng các cơ quan nàycó đại diện thường trú ở các Bang Sản phẩm sản xuất tại các khu thương mạitự do được phép bán vào nội địa một tỷ lệ nhất định (khoảng 20%) và phảinộp thuế như hàng hóa nhập khẩu
2.1.2.1.4 Chính sách phát triển đặc khu kinh tế ở Trung Quốc
Chính phủ Trung Quốc chủ trương phát triển kinh tế vùng ven biểnbằng việc xây dựng các đặc khu kinh tế Ngoài ra, Trung Quốc cũng chủtrương phát triển kinh tế biên mậu Từ năm 1997 đến nay, Trung Quốc đã xâydựng 5 đặc khu kinh tế là ở Thâm Quyến (327,5km2), Chu Hải (15,2km2), SánDầu (52,6km2), Hạ Môn (131km2) và sau đó cả Hải Nam (34500km2) nhằmthu hút đầu tư nước ngoài, tăng cường xuất khẩu Tính đến năm 1996, tổng vốnđầu tư vào đặc khu ở Trung Quốc là 60,5 tỷ USD, đạt kim ngạch xuất nhập khẩu59,14 tỷ USD chiếm 20,4% tổng kim ngạch xuất khẩu của Trung Quốc
Tại các đặc khu kinh tế, Chính phủ Trung Quốc đã áp dụng nhữngchính sách ưu đãi đặc biệt cho các nhà đầu tư nước ngoài về thuế, đất đai, thịtrường, quản lý hành chính, tiền tệ, tín dụng, ngân hàng, ngoại hối Ngoài raChính phủ Trung Quốc đã tập trung tối đa các nguồn lực để xây dựng các đặckhu kinh tế, đặc biệt là vốn để xây dựng cơ sở hạ tầng
Nhà đầu tư nước ngoài đầu tư vào đặc khu kinh tế được hưởng ưu đãivề thuế thu nhập, thuế chuyển lợi nhuận ra nước ngoài, thuế công thương,thuế thu nhập khác, thuế xuất, thuế nhập hơn hẳn so với đầu tư các nơi kháctrên lãnh thổ Trung Quốc Đối với đất đai, mặc dù theo luật của Trung Quốc,đất đai thuộc sở hữu của Nhà nước, nhưng nhà đầu tư có thể được chuyểnnhượng, bán cho thuê, thế chấp đất theo quy định Các chính sách về tiền tệ,ngân hàng, ngoại hối trong các đặc khu kinh tế cũng được nới lỏng, linh hoạt,thuận lợi hơn so với những quy định trong lãnh thổ nội địa Sản phẩm sản xuất
Trang 8trong đặc khu kinh tế ngoài việc xuất khẩu, tiêu thụ trong đặc khu không phải nộpthuế còn được bán vào thị trường nội địa nhưng phải chịu thuế nhập khẩu
Về quản lý Nhà nước, Trung Quốc đã thành lập các cơ quan quản lýđặc khu kinh tế từ Trung ương đến địa phương Ở Trung Quốc có Văn phòngvề đặc khu kinh tế thuộc Hội đồng Nhà nước, Chính quyền tỉnh có Uỷ banquản lý các đặc khu và từng đặc khu có Uỷ ban quản lý đặc khu Riêng ThâmQuyến, chính quyền nhân dân của đặc khu được thành lập
Tuy nhiên, trên thế giới, cũng không ít KCN, CĐCN, KCX thất bạihoặc chưa thành công hoặc thành công rất chậm như KCX Bataab(Philippines), khu thương mại tự do Kandia (Ấn Độ) và một số KCX ở châuPhi do những nguyên nhân như cơ sở hạ tầng yếu kém, lựa chọn sai địađiểm, chế độ quản lý tồi, thủ tục rườm rà, vận động đầu tư kém
Theo đánh giá chung của các nhà phân tích, sự thành công của cácKCN, CĐCN, KCX là kết quả tổng hợp của các yếu tố sau:
Tình hình chính trị, xã hội và kinh tế vĩ mô ổn định, chế độ thương mạithích hợp
Cơ chế quản lý linh hoạt, có hiệu quả cao, thủ tục hành chính đơn giản,
dễ hiểu, dễ thực hiện, tránh được mức thấp nhất tệ quan liêu, hành chính gâyphiền hà cho các nhà đầu tư
Biện pháp khuyến khích, ưu đãi cao, nhất là thuế
Lao động dồi dào, có kỹ năng, tiền lương thấp
Có địa điểm thuận lợi, quy mô phù hợp
Có hệ thống kết cấu hạ tầng kỹ thuật và hạ tầng xã hội tốt; gần trungtâm đô thị và công nghiệp có khả năng hậu thuẫn cho hoạt động kinh tế
Các ngành công nghiệp trong nước hỗ trợ
Để thu hút đầu tư trong nước và nước ngoài theo quy hoạch phát triểnkinh tế xã hội của đất nước, bảo đảm kiểm soát được môi trường, tiết kiệm đấtđai, phân bố lực lượng sản xuất hợp lý, các nước phát triển đã lựa chọn nhữngđịa điểm thuận lợi, thích hợp xây dựng các KCN, CĐCN, KCX Bên cạnh đó,các nước đang phát triển cũng áp dụng những chính sách phát triển KCN,CĐCN, KCX như các ưu đãi về tài chính, quản lý đối với KCN, CĐCN,KCX nhằm hấp dẫn các nhà đầu tư và cũng có những biện pháp để thực hiệncác chính sách đó Qua kinh nghiệm phát triển KCN, CĐCN, KCX và đặckhu kinh tế của một số nước, KCN, CĐCN, KCX hay đặc khu kinh tế thực sựlà công cụ tốt để thu hút vốn đầu tư phát triển kinh tế – xã hội đất nước
Trang 9Đồng thời kinh nghiệm của các nước trong phát triển KCN, CĐCN, KCXcũng đem lại cho Việt Nam những bài học bổ ích như việc xây dựng chiếnlược phát triển KCN, CĐCN, KCX phải phù hợp với điều kiện kinh tế xã hộicủa nước mình, phải có những bước đi thích hợp trong từng thời kỳ; các ưuđãi đối với KCN, CĐCN, KCX phải bảo đảm tính cạnh tranh cao; xây dựngmôi trường đầu tư phải hấp dẫn; quản lý gọn nhẹ có hiệu quả với mục tiêu tạothuận lợi tối đa cho nhà đầu tư nhưng vẫn bảo đảm quản lý tốt; hệ thống phápluật phải ổn định, dễ hiểu và thông thoáng
2.1.2.2 Đầu tư xây dựng kết cấu hạ tầng phát triển cụm công nghiệp ở Việt Nam
Trong thời gian qua, Đảng và Nhà nước ta đã ban hành nhiều chính sáchnhằm đẩy mạnh phát triển các CCN trên cả nước Ngoài các chính sách đãban hành về hỗ trợ lập quy hoạch chi tiết; đào tạo nghề; khoa học công nghệ;xúc tiến đầu tư; xúc tiến thương mại nhằm khuyến khích phát triển các CCN.Thủ tướng Chính phủ đã có Quyết định số 27/2008/TTg ngày 05 tháng 02năm 2008 về việc ban hành một số cơ chế, chính sách hỗ trợ phát triển kinh tế
- xã hội, đối với các tỉnh vùng trung du và miền núi Bắc bộ, trong đó có chínhsách hỗ trợ đầu tư hạ tầng các CCN; Quyết định số 105/2009/QĐ-TTg ngày19/8/2009 ban hành Quy chế quản lý CCN;
2.1.2.2.1 Công tác quy hoạch, thành lập phát triển cụm công nghiệp
Theo báo cáo của các tỉnh/thành phố trong cả nước, quy hoạch phát triểnCCN đến năm 2020 của cả nước có 1.616 CCN với tổng diện tích 51.707 ha.Diện tích trung bình mỗi CCN là 32 ha
Thời gian vừa qua, các địa phương đã tiến hành rà soát quy hoạch các CCNtheo Chỉ thị số 07/CT-TTg của Thủ tướng Chính phủ Sau rà soát, số lượng vàdiện tích CCN theo quy hoạch đến năm 2020 của các địa phương cả nước giảmđáng kể so với trước khi rà soát (trước rà soát: quy hoạch 1.752 CCN, tổng diệntích 81.800 ha; diện tích trung bình mỗi CCN là 46,7 ha)
Đến nay, cả nước có 603 CCN đã có quyết định thành lập với tổng diệntích 18.850 ha (trong đó, có 268 CCN thành lập từ CCN hình thành trướcQuyết định số 105/2009/QĐ-TTg) Hiện nay, các địa phương đang tiếp tục xử
lý thành lập CCN hình thành trước Quy chế nên trong thời gian tới tổng sốlượng CCN có quyết định thành lập sẽ tiếp tục tăng lên đáng kể
2.1.2.2.2 Tình hình đầu tư xây dựng kết cấu hạ tầng CCN
Cả nước có 673 CCN được phê duyệt quy hoạch chi tiết xây dựng vớitổng diện tích khoảng 23.300ha, chiếm khoảng 41% về số lượng và 45% về
Trang 10diện tích so với các CCN có trong quy hoạch CCN chủ yếu được quy hoạchchi tiết ở tỷ lệ 1/500; một số địa phương quy hoạch ở tỷ lệ 1/2000.
Về đầu tư hạ tầng, cả nước có 378 CCN (tổng diện tích khoảng12.200ha) đã được phê duyệt dự án đầu tư hạ tầng; tổng nhu cầu vốn đầu tưhạ tầng của các dự án khoảng 79.400 tỷ đồng, trung bình khoảng 6,5 tỷđồng/ha; tổng vốn đã đầu tư hạ tầng của cả nước khoảng 24.000 tỷ đồng, đạtkhoảng 30% so với kế hoạch Hình thức đầu tư hạ tầng chủ yếu đối với cácCCN thời gian qua là cuốn chiếu (vừa đầu tư hạ tầng vừa cho thuê đất) hoặclà giải quyết vấn đề liên quan đến việc cấp đất cho doanh nghiệp để cho cácdoanh nghiệp tự lo toàn bộ quá trình xây dựng cơ sở hạ tầng của đơn vị mình.Cả nước có 461 CCN đã và đang đầu tư xây dựng hạ tầng; trong đó có 119CCN đã cơ bản hoàn thành đầu tư, chiếm 26% so với tổng số cụm đã và đangđầu tư; đa số các CCN còn lại chưa hoàn thiện hạ tầng, đặc biệt là đầu tư xâydựng hệ thống xử lý nước thải chung của CCN chưa được quan tâm đúngmức, thậm chí cả đối với các địa phương có khả năng thu hút các nhà đầu tưnhư Long An, Bình Dương, Đồng Nai, Thành phố Hồ Chí Minh, Hiện nay,cả nước có 119 CCN đã và đang xây dựng hệ thống xử lý nước thải tập trung(trong đó 68 CCN đã xây dựng xong và 51 CCN đang xây dựng), chiếmkhoảng 26% so với các CCN đã và đang đầu tư xây dựng hạ tầng
Về chủ đầu tư và kinh doanh hạ tầng CCN: Cả nước có 198 CCN dodoanh nghiệp làm chủ đầu tư; 139 CCN do Trung tâm phát triển CCN làmchủ đầu tư, số CCN còn lại (350 CCN) do UBND cấp huyện, Ban quản lý dựán của huyện hoặc đơn vị sự nghiệp khác làm chủ đầu tư Vùng có tỷ lệ CCN
do doanh nghiệp làm chủ đầu tư hạ tầng cao là Đông Nam Bộ (69%), Tây Nam
Bộ (51%); trong khi đó, vùng có tỷ lệ doanh nghiệp làm chủ đầu tư thấp làDuyên hải miền Trung (14%), Tây Nguyên (15%) Điều này cho thấy, việc thuhút doanh nghiệp đầu tư kinh doanh hạ tầng CCN gặp khó khăn, đặc biệt là cáctỉnh Duyên hải miền Trung, Tây Nguyên
Nhìn chung, tiến độ triển khai đầu tư xây dựng hạ tầng CCN tại các địaphương chậm, nhiều CCN chưa đầy đủ thủ tục đầu tư hoặc chưa thực hiệnđầu tư xây dựng hạ tầng Nguyên nhân chủ yếu do nhu cầu vốn đầu tư lớntrong khi nguồn vốn ngân sách địa phương, vốn của chủ đầu tư hạ tầng hạnhẹp, việc huy động vốn từ doanh nghiệp đầu tư sản xuất kinh doanh trongcụm gặp rất nhiều khó khăn
Trang 112.1.2.2.3 Tình hình đầu tư sản xuất kinh doanh và dịch vụ trong CCN
Cả nước có 626 CCN đã thu hút được các dự án đầu tư sản xuất vàoCCN (CCN đã hoạt động) Tổng diện tích đất công nghiệp (theo quy hoạch)của các CCN đã hoạt động xấp xỉ 19.800 ha Diện tích đất công nghiệp có thểcho thuê của các CCN này là 11.300 ha; trong đó, diện tích đã cho thuê 7.600
ha, tỷ lệ lấp đầy bình quân của CCN trên cả nước là 58%
Vùng có CCN đạt tỷ lệ lấp đầy bình quân khá so với các vùng khác làĐồng bằng sông Hồng và Bắc Trung Bộ (69%), Đồng bằng sông Cửu Long(67%) Trong khi đó, các vùng có CCN đạt tỷ lệ lấp đầy bình quân thấp làTrung du miền núi Bắc Bộ (46%), Tây Nguyên (49%)
Các CCN đi vào hoạt động đã thu hút được khoảng 10.800 dự án, doanhnghiệp đầu tư sản xuất kinh doanh trong CCN Tổng vốn đầu tư đăng ký củacác dự án khoảng 132.800 tỷ đồng, trong đó tổng vốn đã thực hiện đầu tưkhoảng 85.000 tỷ đồng Tổng giá trị sản xuất công nghiệp (GTSXCN) của cácdự án trong CCN năm 2014 đạt xấp xỉ 103.400 tỷ đồng, tăng 7,6 lần so vớinăm 2009 Tổng nộp ngân sách nhà nước của các dự án trong CCN đạt trên4.700 tỷ đồng/năm 2014, gấp 11,5 lần so với năm 2009 Các doanh nghiệphoạt động trong các CCN chủ yếu là các doanh nghiệp vừa và nhỏ, hợp tác xã,
cơ sở sản xuất kinh doanh, hộ kinh doanh cá thể Các dự án hoạt động đã thu hútkhoảng 550.500 lao động, chủ yếu là lao động tại địa phương, tổng số lao độngtăng 3,4 lần so với năm 2009 Cả nước có 66 CCN có hệ thống xử lý nước thảichung đi vào hoạt động, chiếm 10,5% so với các CCN đã hoạt động
Vì đa số CCN tại các địa phương chưa hoàn thiện hạ tầng, nhiều CCNthủ tục đầu tư chưa hoàn chỉnh, nên chủ đầu tư gặp khó khăn trong việcquản lý trước và sau đầu tư, trong đó có việc tính toán phí hạ tầng, phí duy tubảo dưỡng các công trình hạ tầng; các vấn đề về an ninh trật tự, vệ sinh môitrường, phòng chống cháy nổ, chưa được quan tâm đúng mức
2.2 Thực trạng đầu tư xây dựng kết cấu hạ tầng cụm công nghiệp ở Bắc Giang
2.2.1 Khái quát điều kiện tự nhiên, kinh tế - xã hội tỉnh Bắc Giang
2.2.1.1 Điều kiện tự nhiên
- Vị trí địa lý
Tỉnh Bắc Giang thuộc khu vực Đông Bắc Việt Nam, nằm ở tọa độ địa
lý từ 21 07' đến 21 37' vĩ độ bắc; từ 105 53' đến 107 02' kinh độ đông, nằm
Trang 12chuyển tiếp giữa các tỉnh phía Đông Bắc với các tỉnh Đồng bằng sông Hồngvà Thủ đô Hà Nội Phía Nam giáp các tỉnh Bắc Ninh, Hải Dương; phía Bắcgiáp tỉnh Lạng Sơn; phía Đông giáp tỉnh Quảng Ninh; phía Tây giáp Thủ đôHà Nội và tỉnh Thái Nguyên.
Trung tâm hành chính, chính trị của tỉnh là thành phố Bắc Giang cáchThủ đô Hà Nội 50 km; cách cửa khẩu Hữu Nghị Quan 110 km (cửa khẩu lớnnhất thông thương giữa Việt Nam với Trung Quốc); cách sân bay quốc tế NộiBài 50 km; cách cảng biển Hải Phòng và cảng biển nước sâu Cái Lân - QuảngNinh 130 km
- Địa hình, địa chất, khí hậu, thủy văn
Địa hình gồm 2 tiểu vùng trung du và miền núi có đồng bằng xen kẽ, cónền địa chất tốt Nằm trong vùng khí hậu nhiệt đới gió mùa, nhiệt độ trungbình hàng năm khoảng 23 - 24 C, nhiệt độ thấp nhất: 4 C, nhiệt độ cao nhất
39 C Độ ẩm không khí trung bình 83% Lượng mưa trung bình hàng nămkhoảng 1.400-1500 mm/năm
- Tài nguyên thiên nhiên: Toàn tỉnh có 384.971,40 ha đất tự nhiên, bao
gồm 275.942,11 ha đất nông nghiệp chiếm 71,68%; 93.160,08 ha đất phinông nghiệp chiếm 24,2%; còn lại là 15.869,21 ha đất chưa sử dụng chiếm4,12% Quỹ đất đai tương đối rộng; có cấu tạo địa chất tốt; cùng với việc cóQuốc lộ 1A mới và nhiều tuyến đường được nâng cấp tạo ra quỹ đất lớn cónhiều lợi thế cho hình thành các KCN, CCN tập trung
2.2.1.2 Các điều kiện về kết cấu hạ tầng
- Hệ thống giao thông: Tỉnh có trên 4.000 km đường bộ bao gồm: 292 km
đường quốc lộ, 340 km tỉnh lộ, 529 km huyện lộ, 2.875 km đường xã, 31 km ờng nội thị, gần 3.500 km đường nông thôn và nội đồng Đường sắt có 87 km,trong đó tuyến Hà Nội- Lạng Sơn dài 36 km, Kép- Lưu Xá 23 km, Kép- Bãi Cháy
đư-28 km Đường thuỷ có ba con sông lớn là: sông Lục Nam, sông Thương, sôngCầu với tổng chiều dài 347 km Hệ thống giao thông được phân bố tương đối hợp
lý giữa các địa phương, có đường nhựa đến tất cả các huyện lỵ, đường ô tô đếntrung tâm các xã trong toàn tỉnh
- Hạ tầng điện (nguồn và lưới điện): Nguồn cung cấp điện cho Bắc
Giang chủ yếu từ lưới điện quốc gia thông qua trạm 220/110/22kV Bắc Giangcông suất 1x125 MVA đặt tại Đồi Cốc, xã Dĩnh Trì, thành phố Bắc Giang vànguồn cấp điện 110kV từ Nhà máy nhiệt điện Phả Lại qua đường dây 110kVPhả Lại- Bắc Giang (lộ 176) Ngoài ra, còn có nguồn điện tại chỗ trên địa bàn
Trang 13tỉnh, gồm 4 tổ máy nhiệt điện chạy than phục vụ chuyên dùng của Công tyPhân đạm và Hoá chất Hà Bắc, công suất 33MW
- Hệ thống cấp nước: Tổng công suất cung cấp nước sạch của toàn tỉnh
hiện nay là hơn 26.500 m3/ngày đêm, phục vụ cho khoảng 17 vạn dân, các cơ
sở sản xuất trong Thành phố, Khu công nghiệp Đình Trám, Cụm công nghiệpSong Khê- Nội Hoàng Các công trình nước sạch nằm rải rác ở 9 huyện phụcvụ cho 7 vạn dân Các công trình cấp nước như hồ, đập, trạm bơm đảm bảođược nhu cầu cho sản xuất
- Hệ thống thông tin liên lạc và ứng dụng công nghệ thông tin: Toàn
tỉnh có 100% xã, phường, thị trấn có máy điện thoại, có điểm bưu điện vănhoá xã và có báo đọc trong ngày; tổng số thuê bao điện thoại toàn tỉnh đạt1.830.393 thuê bao (cố định 81.993 thuê bao; di động 1.740.400 thuê bao);khoảng 49.700 thuê bao internet 10/10 huyện, thành phố đã được phủ sóngđiện thoại di động, hạ tầng viễn thông, internet đáp ứng đủ nhu cầu hiện tạivà đang tiếp tục phát triển.Việc ứng dụng công nghệ thông tin trong hoạtđộng quản lý nhà nước tiếp tục được đẩy mạnh Đến nay có 100% huyện,thành phố và 6 sở, ngành triển khai “một cửa điện tử”; thành phố BắcGiang và huyện Lạng Giang triển khai một cửa “điện tử liên thông” đếncác xã, phường, thị trấn
- Đô thị: Đến nay hệ thống đô thị tỉnh Bắc Giang đã và đang phát triển theo định hướng: Chùm đô thị trung tâm dọc theo Quốc lộ 1A cũ từ thị trấn
Nếnh (Việt Yên) đến thị trấn Kép (Lạng Giang) Đây là vùng kinh tế trọngđiểm của tỉnh gồm thành phố Bắc Giang với vị trí là trung tâm kinh tế, chínhtrị, văn hóa, y tế, giáo dục; các đô thị công nghiệp dịch vụ vệ tinh như ĐìnhTrám (Việt Yên), Song Khê- Nội Hoàng (Yên Dũng), Kép, Vôi (Lạng Giang),
Bích Động, Nếnh (Việt Yên), Quế Nham (Tân Yên) Chùm đô thị phía Đông
dọc theo Quốc lộ 31 từ thị trấn Đồi Ngô (Lục Nam) đến thi trấn An Châu(Sơn Động), gồm các đô thị gồm thị trấn Chũ, Biển Động, Kép II, Phố Lim,Tân Sơn (Lục Ngạn), An Châu, Long Sơn, Vân Sơn và Thanh Sơn (SơnĐộng); trung tâm của khu vực này là thị trấn Chũ (Lục Ngạn), dự kiến sẽ trở
thành đô thị loại IV (thị xã) Hệ thống đô thị dọc trục Quốc lộ 37, tỉnh lộ 398
và 292 gồm các thị trấn Thắng (Hiệp Hòa), Cầu Gồ, Bố hạ (Yên Thế), NhãNam, Cao Thượng (Tân Yên) và các thị tứ khác trong vùng; với thị trấnThắng là trung tâm của vùng, sẽ trở thành đô thị loại IV (thị xã)
Trang 142.2.1.3 Điều kiện kinh tế - xã hội
- Về kinh tế:
Tốc độ tăng trưởng tổng sản phẩm của tỉnh (GRDP) bình quân giaiđoạn 2011-2015 ước đạt 9,4%/năm, trong đó, công nghiệp - xây dựng đạt16,4% (công nghiệp tăng 19,8%, xây dựng tăng 7,7%), dịch vụ đạt 6,7%,nông, lâm nghiệp, thủy sản đạt 3,6% GRDP bình quân/người tiếp tục đượcrút ngắn so với bình quân cả nước, năm 2015 ước đạt 1.530USD, tăng820USD so với năm 2010
Cơ cấu kinh tế tiếp tục chuyển dịch theo hướng tích cực, ước năm 2015,lĩnh vực công nghiệp - xây dựng chiếm 39,5%, dịch vụ chiếm 36,5%, nông,lâm nghiệp và thủy sản chiếm 24% trong cơ cấu kinh tế
Thu chi ngân sách
Tổng thu ngân sách Nhà nước của tỉnh Bắc Giang năm 2015 đạt 3.485 tỷđồng Nguồn thu chủ yếu từ từ tiền sử dụng đất, khu vực sản xuất kinh doanh,dịch vụ,thuế xuất nhập khẩu, phí và các khoản lệ phí khác Trong khi đó tổngchi ngân sách Nhà nước năm 2015 là 7.536 tỷ đồng, như vậy thu ngân sáchtrên địa bàn mới đáp ứng được 46% chi
Trong tổng vốn đầu tư phát triển trên địa bàn tỉnh, vốn cho đầu tư xâydựng cơ bản hàng năm chiếm tỷ trọng lớn khoảng 80- 85%, còn lại là vốn đầu
tư phát triển khác Vốn đầu tư cho phát triển công nghiệp và xây dựng khôngngừng tăng, đặc biệt là những năm gần đây, tỷ trọng vốn đầu tư cho côngnghiệp- xây dựng đạt khoảng 43% tổng vốn đầu tư
- Về xã hội:
Giáo dục:
Đến nay, toàn tỉnh đã đạt chuẩn quốc gia về phổ cập giáo dục tiểu họcđúng độ tuổi và đạt chuẩn phổ cập trung học cơ sở Chất lượng giáo dục đượcnâng khá toàn diện, tỷ lệ giáo viên đạt chuẩn vượt chỉ tiêu đề ra, công tác xãhội hoá giáo dục được tăng cường
Quy mô mạng lưới trường, lớp học tiếp tục phát triển hợp lý; cơ sở vậtchất, thiết bị dạy học được quan tâm đầu tư theo hướng kiên cố hoá, chuẩnhoá Toàn tỉnh hiện có 838 cơ sở giáo dục và đào tạo (tăng 13 cơ sở giáo dục
so năm 2011) với trên 384 nghìn học sinh, sinh viên theo học Tỷ lệ kiên cốhoá trường lớp học năm 2014 đạt 83,5%; tỷ lệ trường học đạt chuẩn quốc gia đạt76,1% (tăng 14,6% trường so với năm 2010) Ước đến năm 2015 tỷ lệ kiên cố hoátrường lớp học toàn tỉnh đạt 85%; tỷ lệ trường đạt chuẩn quốc gia đạt 80%
Trang 15Phổ cập giáo dục giáo dục tiểu học đúng độ tuổi mức độ 1 và phổ cậpTHCS được duy trì vững chắc; tỷ lệ xã đạt chuẩn phổ cập tiểu học đúng độtuổi mức độ 2 đạt 70,8%, tăng 56,5% so với năm 2010; tỉnh đã được côngnhận đạt chuẩn phổ cập giáo dục mầm non cho trẻ 5 tuổi năm 2013 Công tácbồi dưỡng học sinh giỏi, học sinh năng khiếu được quan tâm, đạt được kếtquả đáng khích lệ; tỷ lệ học sinh phổ thông tốt nghiệp xếp loại học lực khá,
giỏi, hạnh kiểm tốt tăng; chất lượng học sinh giỏi tiếp tục được nâng cao; tỷ lệ
đỗ tốt nghiệp bậc THPT hàng năm đều đạt trên 90%; mỗi năm có trên 10.000học sinh thi đỗ vào các trường đại học, cao đẳng
Đội ngũ cán bộ quản lý, giáo viên được tăng cường về cả số lượng vàchất lượng, cơ bản đảm bảo tỷ lệ theo quy định ở các bậc học Đến nay, 100%cán bộ quản lý các trường học có trình độ đạt chuẩn và trên chuẩn
Công tác xã hội hóa đạt được kết quả tích cực Hệ thống các trườngngoài công lập góp phần không nhỏ vào việc giảm tải cho các trường cônglập, nhất là bậc mầm non Công tác xây dựng xã hội học tập trở thành phongtrào sâu rộng; phong trào khuyến học, khuyến tài, gia đình hiếu học, dòng họhiếu học phát triển rộng khắp Các quỹ khuyến học được các cấp hội tích cựcvận động và thu được sự ủng hộ của các tổ chức, cá nhân, kịp thời động viêncho giáo viên, học sinh có thành tích xuất sắc hoặc có hoàn cảnh khó khănvươn lên trong dạy và học
Đào đào tạo nghề:
Các loại hình, các cấp đào tạo trên địa bàn tiếp tục được nâng lên Hiệnnay, trên địa bàn đã có 01 trường Đại học, tăng 01 trường, 04 trường Cao đẳng,tăng 02 trường, 13 trường Trung cấp, tăng 6 trường so với năm 2010 và 93 cơ
sở dạy nghề, trong đó có Trường Cao đẳng Công nghệ nghề Việt Hàn đượcTrung ương lựa chọn đầu tư thành một trong những trường nghề chất lượngcao của cả nước
Ước số tuyển sinh và đào tạo nghề của cả giai đoạn 2011 - 2015 đạt trên140,6 nghìn người, góp phần nâng tỷ lệ lao động qua đào tạo tăng từ 33,5%năm 2010 lên 47% năm 2014, ước đến hết năm 2015 đạt 50,5% Nội dung,chương trình dạy nghề được đổi mới theo hướng tiếp cận với nhu cầu của thịtrường lao động; từng bước gắn kết giữa các cơ sở dạy nghề với doanh nghiệptrong quá trình đào tạo nghề, gắn đào tạo nghề với giải quyết việc làm
Công tác đào tạo nghề cho lao động nông thôn đạt được một số kết quảtích cực, góp phần giúp lao động nông thôn tạo việc làm mới, chuyển đổi việc
Trang 16làm hoặc tự phát triển sản xuất hàng hóa trong lĩnh vực nông nghiệp, tạo việclàm trong lúc nông nhàn tăng thu nhập.
Đời sống nhân dân: Cùng với tăng trưởng kinh tế và phát triển các lĩnh
vực văn hóa, xã hội; đời sống nhân dân trên địa bàn thời gian qua đã có nhiềucải thiện cả về vật chất, tinh thần Công tác giảm nghèo bền vững được tậptrung chỉ đạo, bố trí nguồn lực để triển khai thực hiện, Đã tiến hành lồng ghépcác chương trình, dự án, như: Đề án giảm nghèo nhanh, bền vững trên địa bànhuyện Sơn Động, Đề án hỗ trợ giảm nghèo cho 13 xã nghèo của huyện LụcNgạn, hỗ trợ hộ nghèo về nhà, hỗ trợ hộ nghèo vay vốn phục vụ phát triển sảnxuất, chương trình 30a, chương trình 135, ATK II, Tỷ lệ hộ nghèo giảm từ19,6% năm 2010 xuống còn khoảng 9% năm 2014, năm 2015 ước còn khoảng8% Công tác giải quyết việc làm đạt được kết quả tích cực Trong giai đoạn2011-2015, toàn tỉnh ước giải quyết việc làm cho trên 136,6 nghìn lao động(bình quân mỗi năm giải quyết việc làm cho trên 27 nghìn lao động), trong đóxuất khẩu lao động trên 19,8 nghìn người
Về an ninh, trật tự an toàn xã hội: Tình hình an ninh, trật tự trên địa bàn
thời gian quan tương đối ổn định; không có diễn biến phức tạp không có điểm
"nóng" về an ninh trật tự Các mâu thuẫn, khiếu kiện đông người, phức tạp diễn
ra trước đây mà phần lớn liên quan đến đất đai, bồi thường giải phóng mặt bằng,trong thời gian qua đã từng bước được giải quyết cơ bản ổn thỏa; chỉ còn một vàiđiểm đang trong quá trình giải quyết Tình hình tai nạn, tệ nạn xã hội đượckhống chế Môi trường xã hội thuận lợi cho việc đầu tư của các doanh nghiệp
- nguồn lực lao động
Đến hết năm 2014, dân số toàn tỉnh khoảng 1.620.085 người, dân sốthành thị chiếm 11,3%; tốc độ tăng dân số tự nhiên giai đoạn 2011-2015 ước0,18%/năm Trên địa bàn tỉnh có 26 dân tộc sinh sống, trong đó dân tộc Kinhchiếm gần 87,6%, dân tộc Nùng 4,8%, dân tộc Tày gần 2,5%, còn lại là cácdân tộc khác như Hoa, Sán Chay, Sán dìu, Dao, Mường… Mật độ dân số là
407 người/km2 nhưng phân bố không đều, tập trung chủ yếu tại các thành phố,thị trấn, còn ở các huyện miền núi thưa thớt
Về lao động, tính đến năm 2014, có khoảng 1 triệu người trong độ tuổilao động, chiếm 64,15% tổng dân số của tỉnh Tổng số lao động đang làmviệc ổn định trong các ngành kinh tế năm 2014 là 1.058.000 người, chiếmkhoảng 65,3% dân số, trong đó tập trung chủ yếu ở lĩnh vực nông nghiệp
Trang 17chiếm 57,8%, lao động trong ngành công nghiệp -xây dựng chiếm 22,9% vàdịch vụ chiếm 19,3%; tỷ lệ lao động qua đào tạo so với tổng số lao động chiếm
47 Độ tuổi của lao động đang tham gia vào nền kinh tế tương đối trẻ, độ tuổitừ 25 đến 39 chiếm 34,2%
Nhìn chung, nguồn nhân lực của tỉnh Bắc Giang trẻ, dồi dào, lực lượnglao động ở khu vực thành thị các ngành công nghiệp, dịch vụ ngày càng tănglên cùng với quá trình phát triển đô thị, hàng năm tạo được một số lớn laođộng có việc làm, là động lực lớn giúp Bắc Giang phát triển KT-XH, thựchiện tái cấu trúc kinh tế và thay đổi mô hình tăng trưởng thời kỳ đẩy mạnhcông nghiệp hóa
2.2.1 Thực trạng đầu tư xây dựng kết cấu hạ tầng CCN
2.2.1.1 Số lượng CCN
Cùng với việc phát triển các KCN tập trung, thực hiện chủ trương pháttriển các CCN để thu hút các doanh nghiệp vừa và nhỏ, các cá nhân, hộ giađình vào đầu tư sản xuất kinh doanh Trong thời gian qua, các địa phương đãdành những vị trí đất thuận lợi quy hoạch phát triển các CCN, tăng cường thuhút doanh nghiệp vào đầu tư sản xuất kinh doanh, tạo diện mạo mới cho bứctranh công nghiệp nông thôn Ngoài các vùng có lợi thế phát triển CCN nhưthành phố Bắc Giang, các huyện Việt Yên, Yên Dũng, Lạng Giang, một sốđịa phương khác trước đây gặp nhiều khó khăn trong phát triển CCN thì nayđã triển khai thành công như Hiệp Hòa, Lục Nam, Tân Yên
Đến 30/10/2015 trên địa bàn các huyện, thành phố đã hình thành 26 CCNđang xây dựng hạ tầng và hoạt động với diện tích 546,19 ha
Bảng 1 Các CCN hiện có trên địa bàn tỉnh (đến 30/10/2015)
TT Tên huyện, thành phố
Số lượng CCN
Diện tích Quy hoạch
(ha)
Trang 186 Huyện Hiệp Hoà 3 122,73
- Về sự phân bố: CCN chủ yếu tập trung tại thành phố Bắc Giang và cáchuyện lân cận Cụ thể trong tổng số 26 cụm thì thành phố Bắc Giang có 6cụm; Lạng Giang 4; Việt Yên, Yên Dũng, Hiệp Hoà 3; Lục Nam, Yên Thế,Lục Ngạn 2, Tân Yên 1; Sơn Động chưa thành lập cụm công nghiệp nào
2.2.1.2 Mô hình chủ đầu tư xây dựng kinh doanh hạ tầng cụm công nghiệp
Chủ đầu tư kinh doanh hạ tầng là tổ chức, cá nhân bỏ vốn để đầu tư kếtcấu hạ tầng CCN, kết cấu hạ tầng CCN được đầu tư như thế nào phụ thuộc vàonăng lực của chủ đầu tư kinh doanh hạ tầng Hiện nay, trên địa bàn cả nước đangtồn tại nhiều mô hình chủ đầu tư kinh doanh hạ tầng, đối với tỉnh Bắc Giangđang tồn tại các mô hình chủ đầu tư và kinh doanh hạ tầng CCN gồm:
(1) Mô hình doanh nghiệp
- Có 2 CCN do doanh nghiệp làm chủ đầu tư: CCN Hợp Thịnh huyệnHiệp Hòa do Công ty TNHH Epark là chủ đầu tư và CCN Hoàng Mai huyệnViệt Yên do Công ty TNHH Nam Á làm chủ đầu tư
- Mặt tích cực: Giảm được gánh nặng ngân sách và trách nhiệm của Nhànước trong việc đầu tư hạ tầng kỹ thuật và thu hút các dự án đầu tư vào CCN;tiến độ xây dựng và chất lượng các hạng mục công trình hạ tầng tương đốiđảm bảo; các dịch vụ công cộng như bảo vệ, vệ sinh môi trường, xử lý nướcthải, chất thải,… được thực hiện khá tốt; đồng thời việc khắc phục các hưhỏng được doanh nghiệp triển khai kịp thời, tạo thuận lợi cho các đơn vị hoạtđộng sản xuất kinh doanh
- Mặt hạn chế: Phù hợp với các doanh nghiệp thứ cấp có năng lực tàichính vì giá thuê hạ tầng và các mức phí sử dụng các dịch vụ công cộng cao
Trang 19(2) Mô hình Trung tâm phát triển CCN cấp huyện
- Có 19 CCN do Trung tâm Phát triển quỹ đất và CCN làm chủ đầu xâydựng kinh doanh hạ tầng
- Mặt tích cực: Vì là đơn vị sự nghiệp nên thuận lợi trong chỉ đạo, điềuhành của UBND cấp huyện đối với quản lý CCN
- Hạn chế: Nhà nước phải bỏ tiền đầu tư kết cấu hạ tầng CCN, bố trí kinhphí, biên chế sự nghiệp cho hoạt động của Trung tâm phát triển CCN Môhình này phù hợp với các địa phương có điều kiện KT-XH khó khăn nhà nướccần tập trung đầu tư hoàn thiện đồng bộ ngay hạ tầng CCN để di dời cácdoanh nghiệp, cơ sở sản xuất đang ô nhiễm môi trường và thu hút các dự ánphát triển công nghiệp vào địa bàn nông thôn
(3) Mô hình Công ty Đầu tư phát triển hạ tầng kỹ thuật KCN (Doanh nghiệp nhà nước)
- Có 1 CCN Nội Hoàng do Công ty Đầu tư phát triển hạ tầng kỹ thuậtKCN (Doanh nghiệp nhà nước)
- Mặt tích cực: Phù hợp với CCN có quy mô lớn, tính chất hoạt độngcông nghệ cao, công nghiệp phụ trợ
- Hạn chế: Không phù hợp với CCN quy mô nhỏ, hoạt động sản xuất tiểuthủ công nghiệp
2.2.1.3 Kết cấu hạ tầng trong CCN
Qua khảo sát, điều tra của Sở Công Thương tỉnh Bắc Giang cho thấy việcđầu tư xây dựng kết cấu hạ tầng các CCN trên địa bàn còn nhiều yếu kém, cả
26 CCN chưa có cụm nào hoàn chỉnh đồng bộ hạ tầng trong hàng rào
- Về hệ thống giao thông nội bộ:
Các CCN đã hình thành chủ yếu bám sát các tuyến quốc lộ, tỉnh lộ,huyện lộ đang tận dụng hệ thống giao thông sẵn
Các CCN đã hoàn thành hoặc không phải đầu tư xây dựng đường giaothông nội bộ, gồm có 3 CCN: Xương Giang II, Thọ Xương của thành phố BắcGiang, Bố Hạ huyện Yên Thế đã đầu tư xong; làng nghề Đông Thượnghuyện Yên Dũng và Già Khê huyện Lục Nam có quy mô nhỏ lại bám sát mặtđường sẵn có nên không phải đầu tư
Các CCN có đầu tư nhưng chưa hoàn thành, gồm có 6 CCN : Việt Tiếnhuyện Việt Yên; Nghĩa Hòa huyện Lạng Giang; Đồng Đình huyện Tân Yên;
Trang 20Hợp Thịnh huyện Hiệp Hòa; Đồi Ngô huyện Lục Nam; Trại Ba Quý Sơnhuyện Lục Ngạn.
Còn lại 17 CCN chưa có đầu tư xây dựng đường giao thông nội bộ, cácdoanh nghiệp vào hoạt động trong CCN đang bám vào đường giao thông sẵn cóngoài CCN, phần diện tích đất CCN phía trong do không có đường giao thông đivào dẫn đến rất khó thu hút các doanh nghiệp vào sản xuất kinh doanh
- Hệ thống cấp nước sạch:
Các CCN trên địa bàn thành phố Bắc Giang đang được cấp nước sạch từnhà máy nước của thành phố; các cụm còn lại trên địa bàn các huyện, vấn đềcung cấp nước sạch chưa được cung cấp, chủ yếu các doanh nghiệp tự lo bằnghình thức sử dụng nước giếng khoan tại chỗ
- Hệ thống xử lý nước thải tập trung:
Chỉ có CCN Xương Giang II, CCN Thọ Xương của thành phố Bắc Giangvà CCN Đồng Đình huyện Tân Yên được quan tâm xây dựng, tuy nhiên hệthống xử lý nước thải các CCN này chưa đầy đủ, đồng bộ đáp ứng nhu cầu xử
lý nước thải của CCN Các CCN còn lại đều chưa được đầu tư xây dựng hệthống xử lý nước thải tập trung
- Hệ thống cung cấp điện:
Việc cung cấp điện cho việc hoạt động sản xuất trong các CCN do ngànhđiện lực thực hiện đầu tư xây dựng, trong quá trình xây dựng quy hoạch pháttriển CCN được gắn liền với việc quy hoạch phát triển mạng lưới điện, do đóngành điện lực đã có sự bố trí, đầu tư xây dựng hệ thống truyền tải đến cácCCN đảm bảo yêu cầu sử dụng điện của các doanh nghiệp đang hoạt độngtrong các CCN
- Thông tin liên lạc:
Tất cả các CCN đều nằm trong vùng phủ sóng và có mạng lưới thông tinliên lạc thuận lợi Ngành bưu chính viễn thông bảo đảm yêu cầu sử dụng củacác nhà đầu tư
- Hệ thống chiếu sáng, cây xanh:
Các doanh nghiệp hoạt động trong CCN có trách nhiệm và đang chủđộng trong việc đầu tư xây dựng
2.2.1.4 Vốn huy động đầu tư xây dựng kết cấu hạ tầng
- Nguồn vốn Trung ương: Để hỗ trợ cho tỉnh Bắc Giang còn khó khăntrong việc đầu tư xây dựng kết cấu hạ tầng cụm công nghiệp, trong 5 năm
Trang 21Trung ương đã hỗ trợ tỉnh Bắc Giang 30,9 tỷ đồng (8 tỷ đồng năm 2011; 13 tỷđồng năm 2012 và 3,5 tỷ đồng năm 2013; năm 2014 là 3 tỷ đồng và năm 2015là 3,4 tỷ đồng) để xây dựng hạ tầng cho 8 CCN gồm: Hợp Thịnh (huyện HiệpHoà); Việt Tiến (huyện Việt Yên); Bố Hạ (huyện Yên Thế); Trại Ba Quý Sơn(huyện Lục Ngạn); Đồi Ngô (huyện Lục Nam); Đồng Đình (huyện Tân Yên);Thị trấn Tân Dân (huyện yên Dũng) và Nghĩa Hòa (huyện Lạng Giang)
- Nguồn vốn ngân sách tỉnh: Là một tỉnh còn nhiều khó khăn, thukhông đủ bù chi, trong 5 năm qua bằng nguồn ngân sách hạn hẹp của mìnhtỉnh Bắc Giang dành hơn 3 tỷ đồng để chuẩn bị và đầu tư xây dựng kết cấu hạtầng CCN Trong đó, UBND tỉnh hỗ trợ 1,1 tỷ đồng cho các huyện lập quyhoạch chi tiết và dự án đầu tư, UBND các huyện bố trí 1,8 tỷ đồng đối ứng vớinguồn ngân sách trung ương đầu tư xây dựng kết cấu hạ tầng CCN
- Nguồn vốn cuả doanh nghiệp: Tuy 2 CCN do doanh nghiệp mới đượcgiao làm chủ đầu tư kinh doanh hạ tầng CCN chưa đầu tư xây dựng hạ tầng,nhưng có CCN Thọ Xương và Xương Giang II của thành phố Bắc Giang đã huyđộng được các doanh nghiệp vào sản xuất trong cùng đóng góp 5 tỷ đồng để xâydựng đường giao thông nội bộ, hệ thống xử lý nước thải CCN
Bảng 2 Vốn đầu tư xây dựng kết cấu hạ tầng CCN
TT Tên CCN Nội dung đầu tư kết cấu hạ
tầng
Vốn đầu
NS địa phương
Doanhnghiệp
I Thành phố Bắc
Giang
1 Cụm CN Thọ Xương Đường giao thông nội bộ, hệ
thống xử lý nước thải tập trung 2 100
2 Cụm CN Xương
Giang II
Hệ thống xử lý nước thải, giao
II Huyện Việt Yên
3 Cụm CN Việt Tiến Đường giao thông nội bộ 4 100
III Huyện Lạng Giang