1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Ý LUẬN CỦA KINH TẾ CHÍNH TRỊ MÁC – LÊNIN VỀ HÀNG HÓA SỨC LAO ĐỘNG, TIỀN CÔNG

17 38 0
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Ý luận của Kinh tế Chính trị Mác – Lênin về Hàng Hóa Sức Lao Động, Tiền Công
Trường học Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn, Đại học Quốc gia Hà Nội
Chuyên ngành Kinh tế chính trị
Thể loại Luận văn
Năm xuất bản 2023
Thành phố Hà Nội
Định dạng
Số trang 17
Dung lượng 30,56 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Mục lục PHẦN MỞ ĐẦU 1 PHẦN NỘI DUNG 2 CHƯƠNG 1 LÝ LUẬN CỦA KINH TẾ CHÍNH TRỊ MÁC – LÊNIN VỀ HÀNG HÓA SỨC LAO ĐỘNG, TIỀN CÔNG 2 1 1 Quan niệm về hàng hóa sức lao động của Chủ nghiã Mác Lênin 2 1 2 Tiền.

Trang 1

Mục lục

PHẦN MỞ ĐẦU 1 PHẦN NỘI DUNG 2 CHƯƠNG 1: LÝ LUẬN CỦA KINH TẾ CHÍNH TRỊ MÁC – LÊNIN

VỀ HÀNG HÓA SỨC LAO ĐỘNG, TIỀN CÔNG 2 1.1 Quan niệm về hàng hóa sức lao động của Chủ nghiã Mác-Lênin2 1.2 Tiền công 4 CHƯƠNG 2: THỊ TRƯỜNG HÀNG HÓA SỨC LAO ĐỘNG Ở VIỆT NAM 5

2.1 Vai trò, ý nghĩa “lý luận của Kinh tế chính trị Mác-Lênin về hàng hóa sức lao động, tiền công” trong phát triển kinh tế xã hội và thị

trường hàng hàng hóa sức lao động 5 2.2 Thực trạng thị trường sức lao động ở Việt Nam hiện nay 8 2.3 Một số phương hướng và giải pháp nhằm nâng cao giá trị sức lao động ở Việt Nam hiện nay 12 KẾT LUẬN 14 TÀI LIỆU THAM KHẢO 15

Trang 2

PHẦN MỞ ĐẦU

1 Lý do chọn đề tài

Nguồn lao động là tài sản quý giá và to lớn của quốc gia; là một trong những điều kiện tiên quyết thúc đẩy sự tăng trưởng kinh tế Ngày nay, sự thịnh vượng của các quốc gia không còn chỉ dựa vào sự giàu có của nguồn tài nguyên thiên nhiên mà được xây dựng chủ yếu trên nền tảng văn minh trí tuệ của con người Tuy nhiên, việc đào tạo, phát triển và những chính sách đãi ngộ người lao động trên thế giới vẫn còn nhiều bất cập Do đó, việc đề ra những chính sách và giải pháp nhằm bình ổn thị trường đặc biệt này luôn luôn có ý nghĩa thời sự cả về lý thuyết lẫn thực tiễn Ở Việt Nam trong bối cảnh đổi mới kinh tế dưới sự lãnh đạo của Đảng, vấn đề thị trường hàng hoá sức lao động không chỉ là tiêu thức kinh tế mà còn mang ý nghĩa chính trị Đặc biệt, đối với một đất nước đang trong thời kỳ công nghiệp hoá, hiện đại hoá và tiến tới hội nhập kinh tế quốc tế thì vấn đề này lại càng trở nên bức thiết hơn bao giờ hết Vì vậy, nhóm sinh viên chọn vấn

đề: Lý luận của Kinh tế chính trị Mác-Lênin về hàng hóa, sức lao động,

tiền công và ý nghĩa của chúng trong phát triển thị trường hàng hóa sức lao động ở Việt Nam hiện nay làm đề tài tiểu luận của mình

2 Mục tiêu và nhiệm vụ của đề tài

Mục tiêu của bài tiểu luận này là tìm hiểu lý luận của chủ nghĩa Mác – Lênin về hàng hóa sức lao động, tiền công và ý nghĩa của chúng trong phát triển thị trường hàng hóa sức lao động ở Việt Nam hiện nay

Để đạt được mục tiêu này, tiểu luận tập trung vào các nhiệm vụ sau:

- Phân tích quan điểm của chủ nghĩa Mác – Lênin về hàng hóa sức lao động, tiền công

Trang 3

-Trình bày khái quát thực trạng thị trường hàng hóa sức lao động; phân tích tầm quan trọng của lý luận hàng hóa sức lao động, ý nghĩa của chúng trong sự phát triển xã hội và đề xuất một số giải pháp phát triển thị trường hàng hóa sức lao động ở Việt Nam hiện nay

3.Phương pháp thực hiện đề tài

Tiểu luận được thực hiện dựa trên cơ sở phương pháp luận của chủ nghĩa duy vật biện chứng và chủ nghĩa duy vật lịch sử, kết hợp với một số phương pháp cụ thể như: lịch sử logic, phân tích tổng hợp, quy nạp -diễn dịch…

PHẦN NỘI DUNG

CHƯƠNG 1: LÝ LUẬN CỦA KINH TẾ CHÍNH TRỊ MÁC – LÊNIN VỀ HÀNG HÓA SỨC LAO ĐỘNG, TIỀN CÔNG

1.1 Quan niệm về hàng hóa sức lao động của Chủ nghiã Mác-Lênin

*Hàng hóa sức lao động

C.Mác viết : “Sức lao động hây năng lực lao động là toàn bộ những năng lực về thể chất và tinh thần tồn tại trong cơ thể, trong một con người đang sống, và được người đó đem ra vận dụng mỗi khi sản xuất ra một giá trị sử dụng nào đó”1

*Hai điều kiện để sức lao động trở thành hàng hóa 2

Trong bất cứ xã hội nào, sức lao động cũng là điều kiện cơ bản của sản xuất Nhưng không phải trong bất kỳ điều kiện nào, sức lao động cũng là hàng hoá Sức lao động chỉ có thể trở thành hàng hoá trong những điều kiện lịch sử nhất định sau:

Thứ nhất, người lao động là người tự do về thân thể của mình, có khả năng chi phối sức lao động ấy và có quyền bán sức lao động của mình như một hàng hóa

1 C.Mác-Ph.Ănghen, Toàn tập, tập 23, Nxb Chính trị quốc gia,Hà Nội,

1993, tr.251

2 Giáo trình Kinh tế chính trị Mác - Lênin, PGS TS Nguyễn Văn Hảo, Bộ Giáo dục và đào tạo, tr.56-57.

Trang 4

Thứ hai, người lao động bị tước đoạt hết mọi tư liệu sản xuất, họ trở thành người “vô sản” và để tồn tại buộc anh ta phải bán sức lao động của mình để sống

Sự tồn tại đồng thời hai điều kiện nói trên tất yếu biến sức lao động thành hàng hóa Sức lao động biến thành hàng hóa là điều kiện quyết định biên thành để tiền biến thành tư bản

Trong các hình thái xã hội trước chủ nghĩa tư bản chỉ có sản phẩm của lao động mới là hàng hóa Chỉ đên khi sản xuất hàng hóa phát triển đến mức độ nhất định nào đó, các hình thái sản xuất cũ bị phá vỡ thì mới xuất hiện những điều kiện để cho sức lao động trở thành hàng hóa

*Hai thuộc tính của hàng hóa sức lao động 3

Giống như hàng hóa khác, hàng hóa sức lao động có 2 thuộc tính: giá trị

và giá trị sử dụng

-Giá trị của hàng hóa sức lao động do thời gian lao động xã hội cần thiết

để sản xuất và tái sản xuất sức lao động quyết định Giá trị sức lao động quy về giá trị của toàn bộ tư liệu sinh hoạt cần thiết để sản xuất và sản xuất

ra sức lao động, để duy trì đời sống của công nhân và gia đình họ

Giá trị của hàng hóa sức lao động khác với hàng hóa thông thường ở chỗ

nó bao hàm cả yếu tố tinh thần và yếu tố lịch sử của từng nước, từng thời

kỳ, phụ thuộc vào trình độ văn minh, điều kiện lịch sử hình thành giai cấp công nhân và điều kiện địa lý, khí hậu

-Giá trị sử dụng cảu hàng hóa sức lao động cũng là để thảo mãn nhu

cầu của người mua.4

Giá trị sử dụng của hàng hóa sức lao động thể hiện ở quá trình tiêu dùng sức lao động, tức là quá trình lao động để sản xuất ra một hàng hóa, một dịch vụ nào đó

Trong quá trình lao động, sức lao động tạo ra một lượng giá trị mới lớn hơn lượng giá trị của bản thân nó, phần giá trị dư ra so với giá trị sức lao động là giá trị thặng dư.

Đó chính là đặc điểm riêng có của giá trị sử dụng của hàng hóa sức lao động

3Giáo trình Kinh tế chính trị Mác - Lênin, PGS TS Nguyễn Văn Hảo, Bộ Giáo dục và đào tạo, tr.57.

4 Giáo trình Kinh tế chính trị Mác- Lê nin, Bộ Giáo dục và Đào tạo, Hà Nội-2019, tr.55

Trang 5

1.2 Tiền công

*Bản chất của tiền công

Tiền công là biểu hiện bằng tiền của giá trị hàng hóa sức lao động, là giá cả của hàng hóa sức lao động

Tuy vậy, dễ có sự lầm tưởng, trong xã hội tư bản, tiền công là giá cả của lao động Bởi vì: thứ nhất, nhà tư bản trả tiền công cho công nhân sau khi công nhân đã lao động để sản xuất ra hàng hóa; thứ hai, tiền công được trả theo thời gian lao động (giờ, ngày, tuần, tháng), hoặc theo số lượng hàng hóa đã sản xuất được

Cái mà nhà tư bản mua của công nhân không phải là lao động, mà là sức lao động Tiền công không phải là giá trị hay giá cả của lao động, mà chỉ là giá trị hay giá cả của hàng hóa sức lao động

*Các hình thức tiền công cơ bản

Tiền công tính theo thời gian là hình thức tiền công tính theo thời gian lao động của công nhân dài hay ngắn (giờ, ngày, tuần, tháng)

Tiền công tính theo sản phẩm là hình thức tiền công tính theo số lượng

sản phẩm đã làm ra, hoặc số lượng công việc đã hoàn thành trong một thời gian nhất định

Mỗi một sản phẩm được trả công theo một đơn giá nhất định, gọi là đơn giá tiền công Để quy định đơn giá tiền công, người ta lấy tiền công trung bình một ngày của một công nhân chia cho số lượng sản phẩm của một công nhân sản xuất ra trong một ngày lao động bình thường

Tiền công tính theo sản phẩm, một mặt, giúp cho nhà tư bản trong việc quản lý, giám sát quá trình lao động của công nhân dễ dàng hơn; mặt khác,

kích thích công nhân lao động tích cực, khẩn trương tạo ra nhiều sản phẩm

để thu được lượng tiền công cao hơn

*Tiền công danh nghĩa và tiền công thực tế

Tiền công danh nghĩa là số tiền mà người công nhân nhận được do bán sức lao động của mình cho nhà tư bản.Tiền công thực tế là tiền công được

Trang 6

biểu hiện bằng số lượng hàng hóa tư liệu tiêu dùng và dịch vụ mà người công nhân mua được bằng tiền công danh nghĩa của mình

Tiền công danh nghĩa là giá cả hàng hóa sức lao động; nó có thể tăng lên hay giảm xuống tuỳ theo sự biến động trong quan hệ cung - cầu về hàng hóa sức lao động trên thị trường Trong một thời gian nào đó, nếu tiền công danh nghĩa vẫn giữ nguyên, nhưng giá cả tư liệu tiêu dùng và dịch vụ tăng lên hay giảm xuống thì tiền công thực tế giảm xuống hay tăng lên.5

CHƯƠNG 2: THỊ TRƯỜNG HÀNG HÓA SỨC LAO ĐỘNG Ở VIỆT NAM

2.1 Vai trò, ý nghĩa “lý luận của Kinh tế chính trị Mác-Lênin về hàng

hóa sức lao động, tiền công” trong phát triển kinh tế xã hội và thị

trường hàng hàng hóa sức lao động

Thị trường theo nghĩa hẹp là nơi diễn ra sự trao đổi, mua bán hàng hóa Còn theo nghĩa rộng, thị trường là tổng thể tất cả các mối quan hệ cạnh tranh, cung – cầu, giá cả, mà trong đó giá cả và lượng hàng hóa tiêu thụ được xác định

*Khái niệm thị trường sức lao động

Hiện nay, có rất nhiều quan điểm của các nhà khoa học xung quanh vấn

đề khái niệm thị trường lao động

Theo Adam Smith thị trường lao động là không gian trao đổi dịch vụ lao động ( hàng hóa sức lao động ) giữa một bên là người mua sức lao động ( chủ sử dụng lao động và người bán sức lao động ( người lao động) Với định nghĩa về thị trường lao động này, chúng ta có thể thấy rằng, Adam Smith chủ trọng đến đối tượng trao đổi trên thị trường là dịch vụ lao động

mà không hề đề cập đến người lao động

Theo Từ điển kinh tế MIT, thị trường lao động là nơi cung và cầu lao động tác động qua lại với nhau Từ định nghĩa này chúng ta thấy rằng quan

hệ cung - cầu của thị trường được nhấn mạnh như ở bất kỳ một thị trường nào khác của nền kinh tế

5 Giáo trình Kinh tế chính trị Mác - Lênin, PGS TS Nguyễn Văn Hảo, Bộ Giáo dục và đào tạo, tr.62-63

Trang 7

Theo tài liệu tại văn kiện Đại hội IX của Đảng, thị trường lao động là:

"Thị trường mua bán các dịch vụ của người lao động về thực chất là mua bán sức lao động, trong một phạm vi nhất định Ở nước ta, hàng hóa sức lao động được sử dụng trong các doanh nghiệp tư ban tư nhân, các doanh nghiệp tư bản nhà nước, các doanh nghiệp tiểu chủ, và trong các hộ gia đình neo đơn thuê mướn người làm dịch vụ trong nhà Trong các trường hợp đó có người đi thuê có người làm thuê, có giá cả sức lao động dưới hình thức tiền lương, tiến công với cách định nghĩa này, thì thị trường lao động đã bị bó hẹp lại trong một vài thành phần kinh tế mà thôi Và điều này

đã đẩy những quan hệ lao động trong khu vực kinh tế nhà nước, khu vực kinh tế tập thể và quan hệ lao động trong khu vực hành chính sự nghiệp đã

bị đặt ra ngoài các quy luật của thị trường Điều này đã khiến những lao động trong các thành phần kinh tẻ này bị đặt ngoài những quy luật của thị trường điều đó đã tạo ra rất nhiều khó khăn trong quá trình quản lý và sử dụng lao động

Mặc dù còn rất nhiều tranh cãi về khái niệm thị trường lao động công trong phạm vi bài tiểu luận này, chúng ta sẽ sử dụng khái niệm thì trong lao động sau: “Thị trường sức lao động (Thị trường lao động) là một bộ phận của hệ thống thị trường, trong đó diễn ra quá trình trao đổi giữa một bên là người lao động tự do và một bên là người có nhu cầu sử dụng lao động Sự trao đổi này được thoả thuận trên cơ sở mối quan hệ lao động như tiền lương, tiền công, điều kiện làm việc thông qua một hợp đồng làm việc bằng văn bản hay bằng miệng.”

*Vai trò, ý nghĩa của lý luận

Việc nghiên cứu hàng hóa sức lao động có ý nghĩa quan trọng trong việc xây dựng thị trường lao động ở Việt Nam Đảng và Nhà nước ta đã thừa nhận sức lao động khi có đủ điều kiện là hàng hóa Cho nên việc xây dựng thị trường sức lao đọng là tất yếu

Thực hiện đường lối đổi mới , Đảng và Nhà nước đã ban hành hệ thống các chính sách và cơ chế quản lý cho sự phát triển kinh tế hàng hoá nhiều thành phần tạo ra nhiều điều kiện thuận lợi để các ngành , cách hình thức kinh tế ,

Trang 8

các vùng phát triển , tạo nhiều việc làm đáp ứng một bước yêu cầu việc làm

và đời sống của người lao động , do đó cơ hội lựa chọn việc làm của người lao động ngày càng được mở rộng Đại hội VIII của Đảng nêu rõ : “ Khuyến khích mọi thành phần kinh tế , mọi công dân , mọi nhà đầu tư mở mang ngành nghề , tạo nhiều việc cho người lao động Mọi công dân đều được tự do hành nghề , thuê mướn nhân công theo pháp luật Phát triển dịch vụ việc làm Tiếp tục phân bố lại dân cư và lao động trên địa bàn cả nước tăng dân cư trên các địa bàn có tính chiến lược về kinh tế , an ninh quốc phòng Mở rộng kinh tế đối ngoại , đẩy mạnh xuất khẩu Giảm đáng

kể tỷ lệ thất nghiệp ở thành thị và thiếu việc làm ở nông thôn "6

Vì vậy người lao động từ chỗ thụ động , trông chờ vào sự bố trí công việc của Nhà nước ( trong thời kỳ bao cấp ), người lao động đã trở nên năng động hơn , chủ động tự tìm việc làm trong các thành phần kinh tế Các quan hệ lao động - việc làm thay đổi theo hưởng các cá nhân được tự do phát huy năng lực của mình và tự chủ hơn trong việc tìm kiếm việc làm phù hợp với quan hệ cung cầu lao động trên thị trường Người sử dụng lao động được khuyến khích làm giàu hợp pháp , nên đẩy mạnh đầu tư tạo việc làm Khu vực kinh tế tư nhân được thừa nhận và khuyến khích phát triển ,

mở ra khả năng to lớn giải quyết việc làm tạo ra nhiều cơ hội cho người lao động bán sức lao động của mình Ngày nay vai trò của Nhà nước trong giải quyết việc làm đã thay đổi cơ bản Thay vì bao cấp trong giải quyết việc làm Nhà nước tập trung vào việc tạo ra cơ chế chính sách thông thoảng xoá bỏ hàng rào về hành chính và tạo điều kiện vật chất đảm bảo cho mọi người được tự do đâu tư phát triển sản xuất tạo thiệu việc làm , tự do hành nghề hợp tác và thuê mướn lao động Cơ hội việc làm được tăng lên và ít bị ràng buộc bởi các nguyên tắc hành chỉnh và ý chí chủ quan của Nhà nước Ngoài ra với các cải tiến trong quản lý hành chính hộ khẩu , hoàn thiện chính sách bảo hiểm xã hội , bảo hiểm y tế , tiền tệ hoá tiền lương , tách chính sách tiền lương , thu nhập khỏi chính sách xã hội đã gặp phần làm tăng tính cơ động của lao động như làm nghiệp, ngư nghiệp , dịch vụ và

du lịch ở một sở vùng miền núi , đồng bằng sông Cửu Long ven biển vẫn

6Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VIII , trang 114-115

Trang 9

thiếu lao động, nhưng khả năng di dân và di chuyển lao động đến rất hạn chế Người lao động khi được tiếp nhận vẫn chưa thực sự gắn bó và yên tảm với công việc Người sử dụng lao động chưa thực sự tin tưởng vào người lao động

2.2 Thực trạng thị trường sức lao động ở Việt Nam hiện nay

*Thuận lợi của thị trường sức lao động

Nhờ có sự nỗ lực điều chỉnh các chính sách việc làm và điều tiết thi trường nên thị trường sức lao động nước ta đã có một số những chuyển biến thuận lợi sau đây :

Thứ nhất : Lực lượng lao động dôi dào

Chúng ta đã tạo được nhiều việc làm hơn cho người lao động : số lao động có việc làm là 48,015 triệu người ( năm 2009 ) và dự báo sẽ tăng lên 56,950 triệu người ( theo dự báo của Bộ Lao động thương binh xã hội ) Theo số liệu của Tổng cục Thống kê, số lao động đang làm việc năm 2012

so với năm 2008 tăng 5,24 triệu người, bình quân 1 năm tăng gần 1,3 triệu người

Có được những thành qua trên trước hết phải nói đến sự phát triển của hệ thông chính sách lao động việc làm nước ta: Nhà nước đã ban hành nhiều chính sách và cơ chế sửa đổi như Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật lao động, nghị quyết TW3, TW5, nhiều nghị định về việc làm Các chính sách như vay vốn, giải quyết việc làm, đào tạo nghề các chính sách hỗ trợ phát triển thị trường sức lao động, chính sách khuyến khích vật chất và tinh thần để thu hút lực lượng lao động trẻ đến các tỉnh miền núi, vùng sâu, vùng xa

Thứ hai: Chất lượng nguồn lao động

Chiều cao trung bình của nam thanh niên Việt Nam (từ 15-29 tuổi) là 163.3 cm, của nữ thanh niên là 153 cm (tăng 10 cm so với 10 năm trước) Tuổi thọ trung bình của người Việt Nam ngày càng cao (73 tuổi năm 2008)

Trang 10

Trình độ học vấn : đến năm 2008, tỷ lệ lao động chưa biết chữ là 4

%, chưa tốt nghiệp tiểu học là 12.01 %, tốt nghiệp tiểu học là 28.34 %, tốt nghiệp THCS là 32.08 % và tốt nghiệp THPT là 23,56 %

Năng suất lao động có xu hướng tăng trong những năm qua (năm 2005: 19,7 triệu đồng người năm, năm 2008 : 32.9 triệu đồng người năm)

Có thể thấy trình độ lực lượng lao động nước ta đang từng bước được cải một phần vì các doanh nghiệp mới đầu tư vào các cụm - khu công nghiệp đòi hỏi lực lượng lao động có trình độ, vì vậy mà lực lượng lao động sẽ có ý thức tự nâng cao trình độ của mình (năm 2010, số công nhân

có trình độ chuyên môn kỹ thuật chiếm 50,7%)

Thứ ba: Câu lao động

Sự chuyển dịch lao động trong những năm gần đây diễn ra theo hướng tích cực hơn: Do ảnh hưởng của tiến trình hội nhập kinh tế và nhất

là dưới tác động của cơ chế thị trường mở cửa, nền kinh tế nước ta đã từng bước chuyên sang công nghiệp và hiện đại Nó kéo theo sự thay đổi mọi mặt của đời sống xã hội cũng như cơ cấu lao động trên thị trường Dịch vụ

và công nghiệp dịch vụ trong vài năm trở lại đây đã có những khởi sắc đáng kể Vì vậy nó cũng thu hút được rất nhiều lao động trong các ngành nghề kinh tế khác tạo sự chuyển dịch cơ cấu lao động nói chung

Thứ tư : Về giá cả sức lao động ( tiền lương tiện công )

Hiện nay, cả nước có trên 4.145 triệu cơ sở kinh tế, hành chính, sự nghiệp, thu hút gần 17 triệu lao động vào làm việc, có khoảng 219 khu công nghiệp được thành lập , phân bố trên 54 tỉnh thành phố Các doanh nghiệp trong các khu công nghiệp thu hút trên 1 triệu lao động

Tiền lương và thu nhập của người lao động có xu hướng tăng khoảng 10 % - 20 % năm, đời sống của người lao động được cải thiện Theo số liệu điều tra doanh nghiệp hàng năm của Tổng cục Thống kê, năm

2006, thu nhập bình quần một lao động trong doanh nghiệp nhà nước là

4633 nghìn đồng tháng, doanh nghiệp dân doanh là 1.488 nghìn đồng /

Ngày đăng: 06/02/2023, 16:10

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w