1. Trang chủ
  2. » Tất cả

Phân tích vai trò của nguyễn ái quốc đối với sự ra đồi của đảng cộng sản việt nam

42 23 0
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Phân tích vai trò của Nguyễn Ái Quốc đối với sự ra đời của Đảng Cộng sản Việt Nam
Người hướng dẫn TS. Đào Thị Bích Hồng
Trường học Đại học Quốc gia Thành phố Hồ Chí Minh
Chuyên ngành Lịch sử Đảng Cộng Sản Việt Nam
Thể loại Bài tập lớn
Năm xuất bản 2022
Thành phố Thành phố Hồ Chí Minh
Định dạng
Số trang 42
Dung lượng 794,28 KB
File đính kèm vai-tro-cua-nguyen-ai-quoc.zip (770 KB)

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Cấu trúc

  • Chương 1 BỐI CẢNH LỊCH SỬ VIỆT NAM DƯỚI CHÍNH SÁCH THỐNG TRỊ, (0)
    • 1.1. Bối cảnh lịch sử (7)
      • 1.1.1. Bối cảnh lịch sử thế giới và những tác động đến Việt Nam (7)
      • 1.1.2. Bối cảnh lịch sử và nhiệm vụ của Việt Nam (8)
    • 1.2. Các phong trào yêu nước Việt Nam cuối thế kỷ XIX, đầu thế kỷ XX (10)
      • 1.2.1. Phong trào yêu nước vào cuối thế kỷ XIX (10)
      • 1.2.2. Phong trào yêu nước đầu thế kỷ XX (11)
  • Chương 2 SỰ LỰA CHỌN CON ĐƯỜNG CÁCH MẠNG VÔ SẢN, CHUẨN BỊ VỀ CHÍNH TRỊ, TƯ TƯỞNG VÀ TỔ CHỨC CHO VIỆC THÀNH LẬP ĐẢNG CỘNG SẢN Ở VIỆT NAM CỦA NGUYỄN ÁI QUỐC (0)
    • 2.1. Lựa chọn con đường cách mạng vô sản của Nguyễn Ái Quốc (1911-1920) (13)
      • 2.1.1. Những yếu tố tác động đến quyết định đi tìm đường cứu nước của Nguyễn Ái Quốc (13)
      • 2.1.2. Quá trình lựa chọn con đường cách mạng vô sản (14)
    • 2.2. Chuẩn bị về tư tưởng, chính trị và tổ chức cho việc thành lập Đảng Cộng sản ở Việt Nam (1921-1929) (16)
      • 2.2.1. Chuẩn bị về tư tưởng, chính trị (16)
      • 2.2.2. Sự chuẩn bị về tổ chức (20)
    • 2.3. Phát triển phong trào yêu nước Việt Nam theo khuynh hướng vô sản (21)
      • 2.3.1. Sự phát triển của phong trào công nhân (21)
      • 2.3.2. Sự ra đời của các tổ chức Cộng sản (24)
    • 3.1. Hội nghị thành lập Đảng và nội dung Cương lĩnh chính trị đầu tiên (27)
      • 3.1.1. Hội nghị thành lập Đảng (27)
      • 3.1.2. Cương lĩnh chính trị đầu tiên (29)
    • 3.2. Giá trị thực tiễn của sự kiện Đảng Cộng sản Việt Nam ra đời và Cương lĩnh chính trị đầu tiên (31)
      • 3.2.1. Đối với sự nghiệp giải phóng dân tộc, thống nhất Tổ quốc (1930-1975) 27 3.2.2. Đối với sự phát triển của đất nước hiện nay (31)
  • TÀI LIỆU THAM KHẢO (41)

Nội dung

Từ khi thực dân Pháp nổ súng đánh chiếm Đà Nẵng, mở đầu cuộc chiến tranh xâm lược Việt Nam (191858) đến những thập niên đầu thế kỷ XX, các phong trào đấu tranh chống ách thống trị tàn bạo của thực dân Pháp, dù theo khuynh hướng phong kiến hay theo khuynh hướng dân chủ tư sản, cuối cùng đều đi đến bế tắc, vì thiếu một đường lối đúng đắn, thiếu một phương pháp đấu tranh thích hợp và nhất là chưa có một tổ chức lãnh đạo đáp ứng yêu cầu của sự nghiệp đấu tranh giải phóng dân tộc. Chỉ đến năm 1930, Nguyễn Ái Quốc trở về thống nhất ba Đảng lúc bấy giờ và thành lập một Đảng duy nhất là Đảng cộng sản Việt Nam thì cuộc khủng hoảng về đường lối cứu nước, nguy cơ chia rẽ của các tổ chức cộng sản mới được giải quyết; đồng thời thống nhất về tư tưởng, thống nhất về hành động và thống nhất về tổ chức. Sự ra đời của Đảng Cộng sản Việt Nam gắn liền với tên tuổi của Nguyễn Ái Quốc Hồ Chí Minh, người là người Việt Nam đầu tiên tiếp xúc và tiếp thu chủ nghĩa Mác – Lênin. Trên cơ sở thấm nhuần học thuyết Mác – Lênin, Người đã vận dụng một cách khoa học và sáng tạo chủ nghĩa Mác – Lênin vào vấn đề thành lập Đảng. Đảng là do Người sáng lập, là sản phẩm kết hợp chủ nghĩa Mác – Lênin với phong trào công nhân và phong trào yêu nước Việt Nam, đồng thời đề ra Cương lĩnh chính trị đúng đắn ngay từ đầu. Những sáng tạo của Nguyễn Ái Quốc trong việc thành lập đảng đã được thực tế cách mạng Việt Nam và cách mạng thế giới thế kỷ XX kiểm chứng và chứng minh là đúng đắn và khoa học. Hơn 90 năm qua, dưới sự lãnh đạo của Đảng do Nguyễn Ái Quốc (Hồ Chí Minh) sáng lập, đã giành được thắng lợi và tạo nên kì tích trong thế kỷ XX. Bên cạnh những thành tựu thì vẫn còn những hạn chế cần tiếp tục khắc phục. Dựa vào những hạn chế này, các thế lực thù địch luôn tìm cách chống phá để hạ thấp uy tín của Đảng, nhằm xóa bỏ vai trò lãnh đạo của Đảng và Nguyễn Ái Quốc. Vì thế gắn liền với sự ra đời và lãnh đạo của Đảng là vai trò rất quan trọng của Nguyễn Ái Quốc trong việc thành lập Đảng. Cũng từ thực tiễn lãnh đạo cách mạng cho thấy Đảng đã trở thành người lãnh đạo duy nhất của dân tộc Việt Nam và được toàn thể dân tộc coi là Đảng của mình. Hiện nay, để tiếp tục công cuộc đổi mới Công nghiệp hóa – Hiện đại hóa đất nước, phấn đấu vì mục tiêu dân giàu, nước mạnh, xã hội dân chủ, công bằng, văn minh, đòi hỏi Đảng phải thường xuyên đổi mới, tự chỉnh đốn, nâng cao năng lực tự chiến đấu là nhiệm vụ then 2 chốt – nhiệm vụ sống còn của sự nghiệp cách mạng của đảng và của dân tộc ta. Việc nghiên cứu những sáng tạo và cống hiến của Nguyễn Ái Quốc trên con đường thành lập Đảng để vận dụng vào giai đoạn cách mạng hiện nay là việc rất cần thiết và có ý nghĩa thực tiễn, lý luận. Vì những lý do trên nên nhóm em chọn đề tài “Vai trò của Nguyễn Ái Quốc đối với sự ra đời của Đảng Cộng sản Việt Nam” làm bài tập lớn để kết thúc môn học Lịch sử Đảng Cộng sản Việt Nam. Nhiệm vụ của đề tài: Một là, làm rõ tình hình thế giới, đặc điểm kinh tế, xã hội Việt Nam dưới chính sách thống trị, khai thác thuộc địa của thực dân Pháp và kết quả của các phong trào yêu nước Việt Nam cuối thế kỷ XIX, đầu thế kỷ XX. Hai là, làm rõ quá trình lựa chọn con đường cách mạng vô sản và sự chuẩn bị của Nguyễn Ái Quốc về chính trịtư tưởng và tổ chức cho việc thành lập Đảng Cộng sản ở Việt Nam; Ba là, làm rõ sự phát triển của phong trào công nhân Việt Nam từ khi tiếp thu lý luận về cách mạng giải phóng dân tộc của Nguyễn Ái Quốc qua thực tiễn hoạt động của Hội Việt Nam cách mạng Thanh niên và sự ra đời của các tổ chức cộng sản ở Việt Nam vào cuối năm 1929; Bốn là, làm rõ sự chủ động của Nguyễn Ái Quốc trong việc triệu tập, chủ trì Hội nghị thành lập Đảng và soạn thảo Cương lĩnh chính trị đầu tiên Năm là, làm rõ giá trị sự ra đời của Đảng Cộng sản Việt Nam và Cương lĩnh chính trị đầu tiên đối với sự phát triển của cách mạng Việt Nam từ năm 1930 đến

BỐI CẢNH LỊCH SỬ VIỆT NAM DƯỚI CHÍNH SÁCH THỐNG TRỊ,

Bối cảnh lịch sử

1.1.1 Bối cảnh lịch sử th ế giới và những tác động đến Việt Nam

Kể từ nửa sau thế kỷ XIX, các nước tư bản Âu-Mỹ bước vào giai đoạn chuyển biến mạnh mẽ về kinh tế - xã hội, khi chủ nghĩa tư bản phương Tây chuyển từ tự do cạnh tranh sang độc quyền hoặc đế quốc chủ nghĩa Các quốc gia tư bản đế quốc không chỉ gia tăng sự bóc lột nhân công trong nội bộ mà còn tiến hành xâm lược và áp bức các dân tộc thuộc địa tại châu Á, châu Phi và Mỹ-Latinh Mâu thuẫn giữa các dân tộc bị thực dân áp bức và chủ nghĩa thực dân ngày càng gay gắt, thúc đẩy phong trào giải phóng dân tộc mạnh mẽ, toàn diện, đặc biệt ở châu Á.

Với thắng lợi của Cách mạng Tháng Mười Nga năm 1917, chủ nghĩa Mác - Lênin từ lý luận đã trở thành hiện thực, mở ra một kỷ nguyên mới của phong trào cách mạng chống đế quốc và cuộc đấu tranh giải phóng dân tộc Cách mạng Tháng Mười Nga không những thành công trong việc lật đổ chế độ thực dân, mà còn trở thành tấm gương sáng về cuộc cách mạng giải phóng các dân tộc bị áp bức trên toàn thế giới.

Với bối cảnh trên, thì đã có không ít những tác động đến tình hình ởViệt Nam, cụ thể như sau:

Phong trào yêu nước Việt Nam được tác động mạnh mẽ bởi các phong trào giải phóng dân tộc ở các nước châu Á đầu thế kỷ XX

Quốc tế Cộng sản (Quốc tế III) được thành lập vào tháng 3/1919 dưới sự lãnh đạo của V I Lênin, nhằm trở thành bộ tham mưu chiến đấu và tổ chức lãnh đạo phong trào cách mạng vô sản toàn cầu Sự ra đời của tổ chức này đã thúc đẩy mạnh mẽ phong trào cộng sản và công nhân quốc tế trên toàn thế giới Đối với Việt Nam, Quốc tế Cộng sản giữ vai trò quan trọng trong việc truyền bá chủ nghĩa Mác - Lênin và góp phần xây dựng nền móng cho sự thành lập Đảng Cộng sản Việt Nam. -**Sponsor**Bạn đang tìm cách tối ưu hóa bài viết của mình theo chuẩn SEO? [Article Generation](https://pollinations.ai/redirect-nexad/K1oownB3?user_id=983577) có thể giúp bạn! Thay vì mất thời gian tự chỉnh sửa, hãy để công cụ này tạo ra các đoạn văn mạch lạc, chứa đựng những câu quan trọng nhất, đồng thời tuân thủ các quy tắc SEO Quốc tế Cộng sản (Quốc tế III) do V I Lênin đứng đầu đã thúc đẩy sự phát triển mạnh mẽ phong trào cộng sản và công nhân quốc tế Quốc tế Cộng sản có vai trò quan trọng trong việc truyền bá chủ nghĩa Mác - Lênin và thành lập Đảng Cộng sản Việt Nam.

1.1.2 Bối cảnh lịch sử và nhiệm vụ của Việt Nam

Năm 1858, thực dân Pháp bắt đầu cuộc xâm lược Việt Nam bằng việc nổ súng tấn công, mở đầu quá trình thiết lập chế độ thực dân Quá trình này biến một quốc gia phong kiến độc lập thành thuộc địa nửa phong kiến, đánh dấu bước ngoặt quan trọng trong lịch sử Việt Nam.

Trong lĩnh vực chính trị, thực dân Pháp đã áp đặt chính sách cai trị thực dân, tước đoạt quyền lực của chính quyền phong kiến nhà Nguyễn, chia Việt Nam thành ba khu vực là Bắc Kỳ, Trung Kỳ và Nam Kỳ, với mỗi khu vực áp dụng chế độ cai trị riêng Chế độ thực dân Pháp đặc biệt khắc nghiệt, mang đặc điểm “độc tài chuyên chế nhất”, tàn bạo và khủng khiếp hơn chế độ phong kiến châu Á xưa Năm 1862, Pháp thành lập nhà tù Côn Đảo để giam giữ những người yêu nước Việt Nam chống lại sự xâm lược của thực dân Thực dân Pháp còn câu kết với giai cấp địa chủ để bóc lột kinh tế và đàn áp chính trị nhân dân Việt Nam một cách tàn bạo và chính trực.

Trong lĩnh vực kinh tế, thực dân Pháp tiến hành chính sách bóc lột và cướp đoạt ruộng đất để thiết lập đồn điền, nhằm khai thác tối đa nguồn tài nguyên; đồng thời đầu tư xây dựng cơ sở công nghiệp, hệ thống giao thông và bến cảng nhằm phục vụ cho mục tiêu khai thác thuộc địa một cách hiệu quả.

Dưới tác động của chính sách cai trị và chính sách kinh tế, giáo dục, xã hội Việt Nam đã trải qua quá trình phân hóa sâu sắc Giai cấp địa chủ hợp tác với thực dân Pháp tăng cường bóc lột và đàn áp nông dân, gây ra bất bình trong nhân dân Tuy nhiên, nội bộ địa chủ Việt Nam không đồng đều, một bộ phận có lòng yêu nước và căm ghét chế độ thực dân đã tham gia vào các hoạt động đấu tranh chống Pháp bằng nhiều hình thức và mức độ khác nhau.

Giai cấp nông dân là lực lượng đông đảo nhất trong xã hội Việt Nam, ngoài mâu thuẫn giai cấp vốn có với địa chủ, còn có mâu thuẫn sâu sắc với thực dân Pháp xâm lược Tình cảnh bần cùng, khốn khổ của nông dân Việt Nam đã thúc đẩy lòng căm thù đế quốc và phong kiến tay sai, đồng thời làm tăng ý chí cách mạng trong cuộc đấu tranh giành lại ruộng đất và quyền sống tự do.

Giai cấp công nhân Việt Nam ra đời trong bối cảnh cuộc khai thác thuộc địa lần thứ nhất của thực dân Pháp, chủ yếu xuất thân từ giai cấp nông dân và có quan hệ chặt chẽ với nông dân Họ bị đế quốc và phong kiến áp bức, bóc lột nặng nề, ban đầu chủ yếu là công nhân khai thác mỏ và đồn điền với quy mô nhỏ bé Tuy nhiên, các công nhân đã nhanh chóng tiếp thu tư tưởng tiến bộ của thời đại, phát triển từ phong trào tự phát đến tự giác, thể hiện năng lực lãnh đạo cách mạng.

Giai cấp tư sản Việt Nam xuất hiện muộn hơn giai cấp công nhân, phân thành hai bộ phận chính là tư sản mại bản và tư sản dân tộc Tư sản mại bản gắn liền lợi ích với thực dân Pháp, tham gia vào đời sống chính trị và kinh tế của chính quyền thực dân, trong khi tư sản dân tộc bị thực dân kìm hãm, lệ thuộc và yếu ớt về kinh tế Mặc dù phần lớn tư sản dân tộc có tinh thần yêu nước, nhưng do bị thực dân đàn áp và hạn chế, họ ít có khả năng tập hợp các giai cấp để tiến hành cuộc cách mạng giải phóng dân tộc.

Tầng lớp tiểu tư sản Việt Nam gồm tiểu thương, tiểu chủ và sinh viên, những người bị đế quốc và tư bản áp bức, khinh miệt nhưng vẫn thể hiện lòng yêu nước và căm ghét thực dân, đế quốc Họ có khả năng tiếp thu những tư tưởng tiến bộ từ bên ngoài, góp phần thúc đẩy phong trào cách mạng Tuy nhiên, do vị thế kinh tế bấp bênh, thái độ dao động và thiếu kiên định, tầng lớp tiểu tư sản không thể trở thành lực lượng lãnh đạo cách mạng.

Trong xã hội phong kiến, các sĩ phu phân hóa thành nhiều khuynh hướng khác nhau Một bộ phận trong số họ hướng theo tư tưởng dân chủ tư sản hoặc vô sản, phản ánh sự đa dạng về quan điểm chính trị Nhiều sĩ phu đã khởi xướng các phong trào yêu nước có ảnh hưởng lớn, góp phần thúc đẩy phong trào đấu tranh chống ngoại xâm và bảo vệ độc lập dân tộc.

Các giai cấp, tầng lớp trong xã hội Việt Nam đều có chung số phận là người dân mất nước và đều bị thực dân Pháp áp bức, bóc lột Ngoài mâu thuẫn cơ bản giữa nhân dân, chủ yếu là nông dân với giai cấp địa chủ và phong kiến, đã nổi lên mâu thuẫn mới mang tính chất vừa cơ bản vừa gay gắt hơn, đó là cuộc đấu tranh của toàn thể nhân dân Việt Nam chống lại thực dân Pháp xâm lược.

Tính chất của xã hội Việt Nam là xã hội thuộc địa nửa phong kiến đang đặt ra hai yêu cầu:

Một là, phải đánh đuổi thực dân Pháp xâm lược, giành độc lập cho dân tộc, tự do cho nhân dân

Hai là, xóa bỏ chế độ phong kiến, giành quyền dân chủ cho nhân dân, chủ yếu là ruộng đất cho nông dân

Chống đế quốc và giải phóng dân tộc là nhiệm vụ hàng đầu của phong trào cách mạng Việt Nam Sau khi đạt được độc lập, việc xóa bỏ chế độ phong kiến để chấm dứt sự thống trị của các triều đại phong kiến cũng là một mục tiêu quan trọng Đồng thời, các nhà yêu nước Việt Nam không chỉ đấu tranh chống thực dân Pháp mà còn phải lựa chọn con đường phát triển phù hợp để kiến thiết đất nước.

Các phong trào yêu nước Việt Nam cuối thế kỷ XIX, đầu thế kỷ XX

1.2.1 Phong trào yêu nước vào cuối thế k ỷ XIX

Dưới cuối thế kỷ XIX, dù triều đình phong kiến nhà Nguyễn đã ký các Hiệp ước Ácmăng năm 1883 và Patơnốt năm 1884, đầu hàng thực dân Pháp, phong trào chống Pháp vẫn tiếp tục diễn ra mạnh mẽ Phong trào Cần Vương (1885-1896), do Hàm Nghi và Tôn Thất Thuyết phát động, đã thực hiện các cuộc tấn công trại lính Pháp gần kinh thành Huế, thể hiện ý chí chống xâm lược mãnh liệt của nhân dân Mặc dù thất bại trong việc thành công, Tôn Thất Thuyết đã đưa Hàm Nghi chạy ra Tân Sở và ban hành Chiếu Cần Vương, đánh dấu sự tiếp tục của phong trào kháng chiến Phong trào này phát triển mạnh ở Bắc Kỳ và Bắc Trung Kỳ, với các cuộc khởi nghĩa tiêu biểu như Ba Đình của Phạm Bành và Đinh Công Tráng (1881-1887), Bãi Sậy của Nguyễn Thiện Thuật (1883-1892), Hương Khê của Phan Đình Phùng (1885-1895), cùng với cuộc khởi nghĩa của nông dân Yên Thế do Hoàng Hoa Thám lãnh đạo kéo dài đến năm 1913, thể hiện tinh thần bất khuất của nhân dân chống Thực dân Pháp xâm lược.

Phong trào Cần Vương thất bại do nguyên nhân chính là sự kháng cự mang tính chất địa phương, chưa hình thành được một lực lượng thống nhất đủ mạnh để chống Pháp Thiếu sự tập hợp và phối hợp chặt chẽ giữa các phong trào, các cuộc khởi nghĩa chưa quy tụ thành một khối vững chắc, làm giảm khả năng đối đầu lâu dài với thực dân Pháp Tính chất địa phương hạn chế khả năng mở rộng và phát triển của phong trào, dẫn đến thất bại chung của phong trào Cần Vương.

Các đạo quân này thường bị dân quê không ưa thích vì họ thường phải cướp phá để kiếm phương tiện sinh sống và duy trì chiến đấu Do đó, mối quan hệ giữa các đạo quân và người dân địa phương thường gặp nhiều khó khăn.

Mâu thuẫn với tôn giáo: sự tàn sát vô cớ những người Công giáo của quân Cần

Vương khiến giáo dân phải tự vệ bằng cách thông báo tin tức cho phía Pháp

Mâu thuẫn sắc tộc tại Việt Nam phát sinh từ chính sách sa thải các quan chức người Việt Nam và hạn chế quyền tự trị của các dân tộc thiểu số, khiến cho nhiều cộng đồng thiểu số ủng hộ Pháp nhằm bảo vệ quyền lợi và tự do của mình.

Thất bại của phong trào Cần Vương cho thấy rõ sự bất lực của hệ tư tưởng phong kiến trong việc giải quyết nhiệm vụ giành độc lập dân tộc Điều này phản ánh hạn chế của chế độ phong kiến trong việc đáp ứng yêu cầu lịch sử, đồng thời tạo tiền đề cho phong trào kháng Pháp diễn ra trong giai đoạn sau.

1.2.2 Phong trào yêu nước đầu thế k ỷ XX Đầu thế kỷ XX, Phan Bội Châu chủ trương dựa vào sự giúp đỡ bên ngoài, chủ yếu là Nhật Bản, để đánh Pháp giành độc lập dân tộc, thiết lập một nhà nước theo mô hình quân chủ lập hiến của Nhật Ông lập ra Hội Duy tân (1904), tổ chức phong trào Đông

Trong giai đoạn 1906-1908, Chủ trương của ông là dựa vào đế quốc Nhật Bản để chống lại đế quốc Pháp, nhưng không thành công, nên ông về Xiêm nằm chờ thời Khi Cách mạng Tân Hợi bùng nổ và giành thắng lợi năm 1911, ông trở về Trung Quốc và thành lập Việt Nam Quang phục Hội vào năm 1912 nhằm tập hợp lực lượng rồi kéo về nước để thực hiện các hoạt động võ trang chống Pháp, giải phóng dân tộc, nhưng kế hoạch không đạt được kết quả mong đợi.

Phan Châu Trinh chủ trương thực hiện các cải cách văn hóa, mở rộng dân trí, nâng cao tinh thần yêu nước và phát triển kinh tế theo hướng tư bản chủ nghĩa trong khuôn khổ hợp pháp nhằm thúc đẩy sự giàu mạnh của đất nước và bắt buộc thực dân Pháp trao trả độc lập cho Việt Nam Tại Bắc Kỳ, việc mở trường học với nội dung và phương pháp mới, tiêu biểu là Trường Đông Kinh nghĩa thục Hà Nội, đóng vai trò quan trọng trong sự nghiệp giáo dục Ở Trung Kỳ, phong trào Duy tân kêu gọi thay đổi phong tục, nếp sống truyền thống, kết hợp với phong trào đấu tranh chống thuế năm 1908 nhằm thúc đẩy các cải cách xã hội, góp phần vào phong trào yêu nước và chống thực dân.

Phan Bội Châu và Phan Châu Trinh cùng các sĩ phu cấp tiến lãnh đạo phong trào yêu nước đầu thế kỷ XX gặp nhiều hạn chế về lịch sử và giai cấp, khiến họ không thể xác định được phương hướng chính xác cho cuộc đấu tranh giải phóng dân tộc Vì vậy, phong trào chỉ phát triển trong một thời kỳ ngắn rồi bị kẻ thù dập tắt.

Nguyên nhân thất bại chủ yếu là do:

Một là, khuynh hướng dân chủ tư sản không còn phù hợp với thời đại mới

Hai là, các phong trào cứu nước diễn ra lẻ tẻ không thống nhất nên dễ dàng bị thực dân Pháp đàn áp

Các phong trào này thường quá phụ thuộc vào người lãnh đạo, vì vậy khi lãnh đạo bị bắt hoặc hy sinh, chúng thường dễ dàng thất bại Điều này cho thấy tầm quan trọng của việc xây dựng các phong trào có tổ chức, vững mạnh để giảm thiểu sự phụ thuộc vào cá nhân lãnh đạo trong các chiến dịch đấu tranh.

Bốn là, chỉ hô hào cổ động không quan tâm đến vận động quần chúng, không chủ động xây dựng lực lượng chính trị và lực lượng vũ trang

Các phong trào yêu nước theo chủ nghĩa dân chủ tư sản ở Việt Nam đã diễn ra liên tục, sôi nổi và thu hút đông đảo quần chúng tham gia, thể hiện rõ ý thức dân tộc và tinh thần chống đế quốc của giai cấp tư sản Việt Nam Tuy nhiên, tất cả đều thất bại vì giai cấp tư sản Việt Nam quá nhỏ yếu về mặt kinh tế và chính trị, nên không đủ khả năng lãnh đạo sự nghiệp giải phóng dân tộc.

Dù thất bại, các phong trào yêu nước theo khuynh hướng dân chủ tư sản đã góp phần cổ vũ tinh thần yêu nước của nhân dân ta Những phong trào này đã bồi đắp thêm chủ nghĩa yêu nước Việt Nam và thúc đẩy các nhà yêu nước, đặc biệt là lớp thanh niên trí thức có khuynh hướng dân chủ tư sản, tìm kiếm con đường mới để cứu nước và giải phóng dân tộc theo xu thế của thời đại.

Trong bối cảnh xã hội Việt Nam thời kỳ đó, nhiệm vụ hàng đầu là đẩy lùi thực dân Pháp xâm lược, giành độc lập dân tộc và tự do cho nhân dân, đồng thời xóa bỏ chế độ phong kiến để trao quyền dân chủ cho nông dân Các phong trào yêu nước từ cuối thế kỷ XIX đến đầu thế kỷ XX diễn ra sôi nổi, nhưng do thiếu đường lối hợp lý, tổ chức và lực lượng cần thiết, nên phần lớn đã thất bại, dẫn đến cuộc khủng hoảng sâu sắc trong đường lối cứu nước của cách mạng Việt Nam Chính vì vậy, cần có con đường cách mạng rõ ràng và sự lãnh đạo đúng đắn để xây dựng, phát triển các phong trào yêu nước một cách bền vững nhằm nhanh chóng hoàn thành mục tiêu giải phóng dân tộc.

SỰ LỰA CHỌN CON ĐƯỜNG CÁCH MẠNG VÔ SẢN, CHUẨN BỊ VỀ CHÍNH TRỊ, TƯ TƯỞNG VÀ TỔ CHỨC CHO VIỆC THÀNH LẬP ĐẢNG CỘNG SẢN Ở VIỆT NAM CỦA NGUYỄN ÁI QUỐC

Lựa chọn con đường cách mạng vô sản của Nguyễn Ái Quốc (1911-1920)

2.1.1 Những yếu tố tác động đến quyết định đi tìm đường cứu nước của Nguyễn Ái Quốc

Những nhân tố ảnh hưởng đến quyết định ra đi tìm đường cứu nước của người thanh niên Nguyễn Tất Thành:

Phong trào giải phóng dân tộc ở các nước thuộc địa bắt đầu từ cuối thế kỷ XIX và đầu thế kỷ XX, khi chủ nghĩa tư bản chuyển sang giai đoạn đế quốc chủ nghĩa, mở rộng xâm lược các nước nhỏ yếu để tranh giành thị trường và tài nguyên Từ năm 1858, Việt Nam mất chủ quyền khi Pháp xâm lược và thiết lập thuộc địa sau Hiệp định Patơnốt năm 1884, thúc đẩy sự bóc lột và đàn áp của thực dân Pháp cùng chế độ phong kiến Trước tình hình đó, các tầng lớp nhân dân Việt Nam không cam chịu làm nô lệ, mà đứng lên đấu tranh giành độc lập, tạo nên phong trào giải phóng mạnh mẽ Sự kiện này ảnh hưởng sâu sắc tới tư tưởng của các thanh niên Việt Nam yêu nước như Nguyễn Tất Thành, khơi dậy quyết tâm không để đất nước trở thành nô lệ, mà phải đấu tranh để giành tự do, ấm no và hạnh phúc cho nhân dân.

502 Bad GatewayUnable to reach the origin service The service may be down or it may not be responding to traffic from cloudflared

“Khâm phục các cụ Phan Đình Phùng, Hoàng Hoa Thám, Phan Châu Trinh và Phan Bội

502 Bad GatewayUnable to reach the origin service The service may be down or it may not be responding to traffic from cloudflared

502 Bad GatewayUnable to reach the origin service The service may be down or it may not be responding to traffic from cloudflared

2.1.2 Quá trình lựa chọn con đường cách mạng vô sản

Từ năm 1911 đến 1916, Nguyễn Ái Quốc đã nghiên cứu các lý luận và khảo sát thực tiễn của các cuộc cách mạng gần đây, đánh giá cao các tư tưởng tự do, bình đẳng và bác ái về quyền con người của cách mạng tư sản Mỹ và Pháp Tuy nhiên, ông nhận thấy những hạn chế của hai cuộc cách mạng này khi quần chúng nhân dân vẫn còn đói nghèo, chế độ phong kiến chưa bị xóa bỏ hoàn toàn, và chỉ có giai cấp tư sản được hưởng lợi Nguyễn Ái Quốc nhấn mạnh rằng, dù cách mạng Mỹ và Pháp thành công cách đây hơn 150 năm, công nông vẫn còn khổ cực và chưa đạt đến mục tiêu tự do, độc lập Ông cho rằng, hai cuộc cách mạng này chỉ mang tính tư bản, không hoàn toàn đáp ứng mục tiêu độc lập và tự do cho dân tộc Việt Nam, đồng thời còn gây áp bức đối với nông dân, thuộc địa Vì vậy, những kinh nghiệm từ cách mạng Mỹ và Pháp không phù hợp để thực hiện mục tiêu độc lập và tự do của Nguyễn Tất Thành.

Trong giai đoạn 1917-1920, Nguyễn Ái Quốc quan tâm tìm hiểu về cách mạng tháng 10 Nga (1917), sự kiện đánh dấu bước ngoặt lớn trong lịch sử thế giới Sau thắng lợi của cách mạng dân chủ tư sản tháng 2-1917, lật đổ chính quyền Sa Hoàng, Nga đã hình thành hai chính quyền song song: Chính phủ lâm thời của giai cấp tư sản và các xôviết công, nông, binh Cuộc đấu tranh chuyển từ cách mạng dân chủ tư sản sang cách mạng xã hội chủ nghĩa dưới sự lãnh đạo của Lenin và Đảng Cộng sản Bônsơvích, dẫn đến thành công rực rỡ của cách mạng tháng Mười Tháng 10 năm 1917 theo lịch Nga, Đại hội II Xôviết toàn Nga tuyên bố chính quyền về tay chính quyền xôviết, thông qua Sắc lệnh hòa bình và Sắc lệnh ruộng đất, chính thức thành lập chính quyền xôviết trên toàn quốc và mở đầu thời đại quá độ từ chủ nghĩa tư bản lên chủ nghĩa xã hội Sự kiện này đánh dấu thắng lợi của cuộc cách mạng xã hội chủ nghĩa đầu tiên trong lịch sử loài người và mở ra con đường giải phóng cho các dân tộc trên phạm vi toàn cầu.

Thắng lợi của Cách mạng Tháng Mười là yếu tố quan trọng ảnh hưởng đến nhận thức của Nguyễn Ái Quốc trong việc xác định con đường cách mạng của dân tộc Việt Nam theo quỹ đạo vô sản Chủ tịch Hồ Chí Minh xác định rằng Cách mạng Tháng Mười như mặt trời chói lọi, chiếu sáng khắp năm châu và thức tỉnh hàng triệu người bị áp bức, bóc lột trên toàn thế giới Đây là cuộc cách mạng có ý nghĩa to lớn, sâu xa nhất trong lịch sử nhân loại, đồng thời là thắng lợi đầu tiên của chủ nghĩa Mác - Lênin tại Liên Xô, một quốc gia rộng hơn một phần sáu thế giới Thành công này là chiến thắng vĩ đại của giai cấp công nhân, nhân dân lao động, các dân tộc bị áp bức, dưới sự lãnh đạo của Đảng Bônsơvích, đội quân tiên phong của cách mạng vô sản. -**Sponsor**Looking to optimize your article and boost its SEO? Let [Soku AI](https://pollinations.ai/redirect-nexad/0qJIWtdc?user_id=983577) help! Soku AI, trained by Facebook advertising and marketing experts, can help rewrite your article by extracting key sentences that capture the coherent meaning of each paragraph while adhering to SEO best practices It's like having an expert content optimizer working for you 24/7, ensuring your message is clear, concise, and ranks well Let Soku AI turn your article into a powerful tool for engaging your audience.

Cách mạng Tháng Mười đã dùng bạo lực cách mạng để đánh đổ giai cấp tư sản và phong kiến địa chủ, mở ra kỷ nguyên mới cho giai cấp công nhân và nhân dân lao động Thành công của cách mạng này đã xây dựng chính quyền của những người lao động, thiết lập một xã hội không còn bóc lột, công bằng và tiến bộ hơn Cách mạng Tháng Mười không chỉ mở ra con đường giải phóng cho các dân tộc mà còn đánh dấu bước ngoặt lịch sử trong quá trình chuyển đổi từ chủ nghĩa tư bản lên chủ nghĩa xã hội, bắt đầu một thời đại mới trên toàn thế giới.

Vào tháng 7-1920, Nguyễn Ái Quốc nghiên cứu Sơ thảo lần thứ nhất những Luận cương về vấn đề dân tộc và vấn đề thuộc địa của Lênin

Trong Luận cương, Lenin chỉ trích nhiều luận điểm sai lầm của những người lãnh đạo Quốc tế thứ hai về vấn đề dân tộc và vấn đề thuộc địa, đồng thời lên án mạnh mẽ tư tưởng suy thoái.

Lênin nhấn mạnh rằng nhiệm vụ của các Đảng Cộng sản là hỗ trợ phong trào cách mạng của các nước thuộc địa và phụ thuộc, giữ vững đoàn kết giữa giai cấp vô sản các quốc gia tư bản và quần chúng lao động các dân tộc nhằm chống lại các thế lực đế quốc và phong kiến Ông đã làm rõ những quan điểm cốt lõi của Quốc tế Cộng sản về phong trào giải phóng dân tộc, xác định hướng đi đúng đắn và biện pháp quan trọng nhất để đảm bảo thắng lợi hoàn toàn trong cuộc đấu tranh giải phóng dân tộc thuộc địa.

Sau khi đọc bản Luận cương của Lenin, Nguyễn Ái Quốc cảm thấy vô cùng xúc động và tin tưởng sâu sắc vào con đường cách mạng do Lenin đề ra Ông chia sẻ rằng dù còn gặp khó khăn trong việc hiểu những từ ngữ chính trị phức tạp, nhưng việc đọc đi đọc lại giúp ông nắm bắt được các nội dung chính, làm tăng thêm niềm tin vào lý tưởng cộng sản Nguyễn Ái Quốc đã cảm thấy cảm động, phấn khởi và tin tưởng tuyệt đối vào Luận cương của Lenin cũng như sự lãnh đạo của Quốc tế thứ ba, từ đó dành chọn niềm tin và quyết tâm theo đuổi con đường giải phóng dân tộc.

Trước tình hình đất nước bị thực dân Pháp đô hộ và những hạn chế về tư tưởng cũng như phương thức đấu tranh của các nhà cách mạng đương thời, Nguyễn Tất Thành đã quyết tâm ra đi tìm đường cứu nước bằng trí tuệ và lòng quyết tâm Chọn Pháp làm điểm đến lý tưởng, anh đã nghiên cứu các cuộc cách mạng gần đây, và nhận xét rằng chỉ có Cách mạng Tháng 10 Nga là thành công, còn các cuộc cách mạng Pháp và Mỹ chưa đạt được mục tiêu Sau khi tìm hiểu Sơ thảo lần thứ nhất về các luận cương của Lênin về vấn đề dân tộc và thuộc địa, anh nhận thấy cách mạng vô sản là hướng đi duy nhất để giải phóng dân tộc và xây dựng tổ quốc.

Chuẩn bị về tư tưởng, chính trị và tổ chức cho việc thành lập Đảng Cộng sản ở Việt Nam (1921-1929)

2.2.1 Chuẩn bị về tư tưởng, chính trị

Nghị quyết số 09-NQ/TW ngày 18/2/1995 của Bộ Chính trị khóa VII khẳng định:

Chủ tịch Hồ Chí Minh đã đóng vai trò quan trọng trong việc phát triển chủ nghĩa Mác – Lênin qua việc giải quyết các vấn đề cốt lõi của cách mạng Việt Nam Ông góp phần hoàn thiện lý luận về cách mạng giải phóng dân tộc và hướng tới xây dựng chủ nghĩa xã hội trong các nước thuộc địa và đang phát triển Những tư tưởng của Hồ Chí Minh đã làm rõ vai trò của phong trào giải phóng dân tộc trong bối cảnh toàn cầu, thúc đẩy phong trào cách mạng Việt Nam tiến bước.

Tư tưởng Hồ Chí Minh là một hệ thống quan điểm toàn diện và sâu sắc về những vấn đề cơ bản của cách mạng Việt Nam, kết quả của việc vận dụng và sáng tạo chủ nghĩa Mác – Lênin phù hợp với điều kiện cụ thể của đất nước Hồ Chí Minh tiếp nhận những bài học quý báu từ Lênin và Cách mạng Tháng Mười Nga, nhưng không rập khuôn hay sao chép mà phát triển tinh thần của Chủ nghĩa Mác – Lênin để phù hợp với thực tiễn Việt Nam Qua luận cương của Lênin, Người nhận thức rõ con đường giải phóng dân tộc là nhu cầu cấp bách của cách mạng Việt Nam Từ hiểu biết sâu sắc về văn hóa phương Đông và Pháp, Hồ Chí Minh đã vận dụng linh hoạt chủ nghĩa Mác – Lênin, nhấn mạnh rằng độc lập dân tộc gắn liền với chủ nghĩa xã hội, và khẳng định cuộc đấu tranh giải phóng thuộc địa có thể tự lực đứng lên, thắng lợi trước cả cách mạng chính quốc Hồ Chí Minh xem chủ nghĩa Mác – Lênin như kim chỉ nam cho sự nghiệp cứu nước và luôn nhấn mạnh việc vận dụng sáng tạo “cẩm nang thần kỳ” này vào thực tiễn cách mạng Việt Nam.

Hồ Chí Minh đã đóng góp những luận điểm sáng tạo, góp phần làm phong phú thêm chủ nghĩa Mác – Lênin về cách mạng giải phóng dân tộc Ông nhấn mạnh tầm quan trọng của việc xây dựng chế độ dân chủ mới phù hợp với điều kiện của một nước phương Đông thuộc địa, nửa phong kiến và có nền kinh tế nghèo nàn, lạc hậu Những quan điểm của Hồ Chí Minh giúp xác định con đường quá độ lên chủ nghĩa xã hội phù hợp với hoàn cảnh đất nước Việt Nam.

Hồ Chí Minh đã đóng vai trò tiên phong trong việc phân tích chủ nghĩa thực dân và vấn đề giải phóng dân tộc qua các tác phẩm như “Bản chất chế độ thực dân Pháp” (1925) và “Đây công lý của thực dân Pháp ở Đông Dương” Ông vạch trần bản chất, quy luật vận động và thủ đoạn bóc lột, đàn áp dã man của chủ nghĩa thực dân Pháp đối với các dân tộc thuộc địa, đồng thời nhấn mạnh nguyện vọng giải phóng và các cuộc đấu tranh của các dân tộc này Phân tích của Hồ Chí Minh về chủ nghĩa thực dân đã vượt xa những gì các nhà lý luận mác-xít đề cập, thể hiện những luận điểm sáng tạo, góp phần định hình tư duy cách mạng chống thực dân.-

Cách mạng giải phóng dân tộc ở các nước thuộc địa có mối quan hệ chặt chẽ nhưng không hoàn toàn phụ thuộc vào cách mạng chính quốc Nhân dân các dân tộc thuộc địa và phụ thuộc hoàn toàn có khả năng chủ động đứng lên, dùng sức mạnh của mình để đấu tranh giành độc lập.

14 giải phóng cho ta”, giành thắng lợi trước cách mạng chính quốc và qua đó, thúc đẩy cách mạng chính quốc

Hồ Chí Minh đã phân tích xã hội các nước thuộc địa, tiếp thu và vận dụng linh hoạt quan điểm giai cấp và đấu tranh giai cấp của chủ nghĩa Mác – Lênin Ông nhận định rằng con đường đúng đắn cho dân tộc là “làm tư sản dân quyền cách mạng và thổ địa cách mạng”, nhằm hướng tới mục tiêu xây dựng xã hội cộng sản.

Hồ Chí Minh nhấn mạnh rằng, sau khi hoàn thành cách mạng dân tộc dân chủ, Việt Nam cần thực hiện quá độ lên chủ nghĩa xã hội để giải phóng dân tộc, xã hội và con người Đặc điểm quan trọng của giai đoạn này là Việt Nam tiến thẳng từ một nền nông nghiệp lạc hậu lên chủ nghĩa xã hội mà không cần trải qua giai đoạn phát triển tư bản chủ nghĩa Việc xây dựng chủ nghĩa xã hội là con đường duy nhất để đạt được tự do, độc lập và tiến bộ xã hội.

Hồ Chí Minh nhấn mạnh rằng Đảng được xây dựng dựa trên sự kết hợp giữa chủ nghĩa Mác-Lênin, phong trào công nhân và phong trào yêu nước, phản ánh rõ nét bản chất của Đảng là của giai cấp, của dân tộc và của nhân dân Trong bối cảnh một đất nước thuộc địa nửa phong kiến, nơi mà nông dân chiếm đa số dân cư như Việt Nam, Hồ Chí Minh đã sáng tạo ra luận điểm mới về vai trò và bản chất của Đảng trong việc lãnh đạo cách mạng Ông khẳng định rằng Đảng là tổ chức vừa mang tính lý luận chính trị, vừa có nền tảng tổ chức và văn hóa phù hợp với điều kiện của một nền nông nghiệp lạc hậu.

Nội dung các cuộc cách mạng giải phóng dân tộc nhằm mục đích mở đường tiến lên chủ nghĩa xã hội, trong đó độc lập dân tộc là mục tiêu trực tiếp, cơ sở và tiền đề để tiến tới xã hội mới Theo Hồ Chí Minh, cách mạng Việt Nam bao gồm hai giai đoạn chính: cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân và cách mạng xã hội chủ nghĩa Trong giai đoạn cách mạng dân tộc dân chủ, độc lập dân tộc là mục tiêu cấp bách và trực tiếp, song không phải là mục đích cuối cùng, mà tạo nền tảng để nhân dân tự quyết định con đường đi tới chủ nghĩa xã hội dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Chủ nghĩa xã hội đại diện cho xu hướng phát triển tất yếu trong thời đại mới theo quan điểm của Hồ Chí Minh.

Bài viết nhấn mạnh tư tưởng của Hồ Chí Minh về con đường cách mạng Việt Nam, giúp hiểu rõ chiến lược đấu tranh và phát triển của phong trào cách mạng Nội dung này cung cấp cái nhìn sâu sắc về tầm nhìn của Hồ Chí Minh trong việc xây dựng đất nước, qua đó góp phần nâng cao nhận thức và thúc đẩy phong trào cách mạng phát triển bền vững Thông tin từ Ban tuyên giáo Huyện ủy Nam Trà My được trích dẫn để làm rõ các quan điểm về con đường đi lên của cách mạng Việt Nam, mang ý nghĩa định hướng cho các hoạt động tuyên truyền và giáo dục chính trị.

Cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân là một phát triển tất yếu trong quá trình đấu tranh giải phóng dân tộc, tạo nên con đường cứu nước khác biệt về chất so với các phong trào cùng thời kỳ Chủ nghĩa xã hội là con đường vững chắc để củng cố độc lập dân tộc và hoàn toàn giải phóng dân tộc, thể hiện mối quan hệ giữa mục tiêu trước mắt và mục tiêu cuối cùng của cách mạng Cách mạng dân tộc dân chủ xác lập nền móng, tiền đề cho cách mạng xã hội chủ nghĩa, qua đó khẳng định và bảo vệ nền độc lập dân tộc vững chắc Lực lượng chủ yếu tham gia cách mạng là “sỹ, nông, công, thương”, trong đó công-nông là “chủ cách mạng” và “gốc cách mạng” Sau thắng lợi, tổ chức duy nhất có khả năng xây dựng tư tưởng, lực lượng để điều hành đất nước là Đảng Cộng sản, số một và duy nhất trong sự nghiệp cách mạng.

Cách mạng giải phóng dân tộc của Việt Nam nằm trong quỹ đạo của cuộc cách mạng thế giới, trở thành biểu tượng của khát vọng độc lập, tự do và hòa bình mà các nước thuộc địa hướng tới Thắng lợi của phong trào đấu tranh giải phóng dân tộc của Việt Nam đã truyền cảm hứng mạnh mẽ cho các phong trào giải phóng trên toàn thế giới, đặc biệt là ở châu Á, châu Phi và châu Mỹ Latin Thành công của Việt Nam góp phần làm tan rã hệ thống chủ nghĩa thực dân cũ, buộc các đế quốc phải xóa bỏ hệ thống thuộc địa lỗi thời, được xem là “vết nhơ của nhân loại trong thế kỷ XX” Các cuộc cách mạng ở các thuộc địa có mối quan hệ mật thiết với cách mạng vô sản ở chính quốc, đòi hỏi phải chủ động và có khả năng chiến thắng trước cách mạng vô sản trong nước.

Phương pháp cách mạng là sự nghiệp của quần chúng, do đó, cần tập trung tuyên truyền, giáo dục và tổ chức quần chúng thành những lực lượng tự giác Việc này giúp họ nhận thức rõ vai trò của mình và tích cực tham gia các phong trào cách mạng Theo Lênin, để thành công trong cách mạng, phải huy động tối đa sức mạnh của quần chúng thông qua các hoạt động tổ chức và tuyên truyền phù hợp.

Phải biết cách huy động đông đảo quần chúng tham gia các hoạt động cách mạng thực tiễn để tạo nên sức mạnh đoàn kết và chuyển đổi xã hội Việc phân bổ hợp lý lực lượng giai cấp và đạo quân đông đảo hàng triệu người vào những vị trí chiến lược là yếu tố then chốt để đạt được thành công trong cách mạng Đồng thời, cần xem xét và sử dụng đúng đắn những lực lượng còn có tác dụng lịch sử nhất định nhằm phát huy tối đa hiệu quả của phong trào cách mạng.

16 cả các giai cấp và các tầng lớp để có được một hoạt động cách mạng thật sự có tính chất quần chúng sâu rộng” 1

2.2.2 Sự chuẩn bị về t ổ chức

Nguyễn Ái Quốc mong muốn tập hợp những thanh niên Việt Nam ưu tú, đầy lòng yêu nước và khát khao cứu nước Sau khi tiếp xúc với Phan Bội Châu và nhận danh sách từ đồng chí thân cận, ông quyết định thành lập một nhóm bí mật tại Quảng Châu để làm hạt nhân cho phong trào sau này Trong vòng 3 tháng, nhóm đã trải qua lớp huấn luyện về phương pháp tổ chức nhằm xây dựng một tổ chức cách mạng vững mạnh Các cá nhân tiêu biểu như Lê Hồng Phong, Lê Hồng Sơn, Hồ Tùng Mậu đã trở thành những thành viên chủ chốt trong quá trình hình thành tổ chức.

Phát triển phong trào yêu nước Việt Nam theo khuynh hướng vô sản

2.3.1 Sự phát triển của phong trào công nhân Được ra đời trong lần khai thác thuộc địa lần thứ nhất của Pháp, sau Chiến tranh thế giới thứ nhất, giai cấp công nhân Việt Nam ngày càng tăng về số lượng Dưới ảnh hưởng của trào lưu cách mạng vô sản, phong trào công nhân ngày càng phát triển theo phương hướng từ tự phát đến tự giác

Nguyễn Ái Quốc là người sáng lập Hội Việt Nam Cách mạng Thanh niên, đánh dấu bước ngoặt quan trọng trong phong trào cách mạng Việt Nam Hội Việt Nam Cách mạng Thanh niên đã đóng vai trò then chốt trong việc tập hợp lực lượng đấu tranh giành độc lập Thủ đoạn tuyên truyền của Ban tuyên giáo Thành ủy TP.HCM cần được nghiên cứu kỹ lưỡng để hiểu rõ hơn về các hoạt động của Nguyễn Ái Quốc trong giai đoạn thành lập hội Nghiên cứu về vai trò của Nguyễn Ái Quốc giúp nâng cao nhận thức về lịch sử dân tộc và công cuộc cách mạng.

Có 25 vụ đấu tranh riêng rẽ và có quy mô tương đối lớn, nhưng mục tiêu đấu tranh còn nặng về kinh tế, chưa có sự phối hợp giữa các nơi, mới chỉ là một trong các lực lượng tham gia phong trào dân tộc, dân chủ, cuộc đấu tranh còn mang tính chất tự phát

Vào đầu thế kỷ XX, cuộc bãi công của thủy thủ Hải Phòng và Sài Gòn phản ánh những khó khăn về phụ cấp đắt đỏ, góp phần thúc đẩy phong trào công nhân Năm 1920, công nhân Sài Gòn, Chợ Lớn đã thành lập Công hội bí mật do Tôn Đức Thắng đứng đầu, đánh dấu bước ngoặt quan trọng trong phong trào công đoàn và phong trào đấu tranh của công nhân tại Việt Nam.

Năm 1921, một số công nhân, thuỷ thủ Việt Nam làm việc trên các tàu của Pháp gia nhập Liên đoàn công nhân tàu biển Viễn Đông

Năm 1922, công nhân viên chức Bắc Kỳ đã tổ chức đòi chủ lao động cho phép nghỉ ngày chủ nhật có trả lương, thể hiện nhu cầu được đảm bảo quyền lợi chính đáng Cùng năm, công nhân thợ nhuộm ở Chợ Lớn tiến hành cuộc bãi công nhằm đòi tăng lương, góp phần nâng cao đời sống và quyền lợi của người lao động tại địa phương.

Từ năm 1924, nhiều cuộc bãi công của công nhân nhà máy đèn, xát gạo, rượu, dệt tại Nam Định, Hà Nội và Hải Dương diễn ra mạnh mẽ, phản ánh tinh thần đấu tranh của công nhân miền Bắc Đặc biệt, năm 1925 chứng kiến cuộc bãi công quy mô của thợ máy sửa chữa tàu thủy tại xưởng, góp phần vào phong trào lao động đòi quyền lợi ngày càng sôi động.

Ba Son (Sài Gòn) đã ngăn không cho tàu Pháp đưa lính sang tham gia đàn áp phong trào cách mạng của nhân dân Trung Quốc và các thuộc địa Pháp ở châu Phi, đánh dấu bước tiến mới của phong trào công nhân Việt Nam Sự kiện này cho thấy giai cấp công nhân Việt Nam bắt đầu tự giác tham gia vào các cuộc đấu tranh cách mạng Cuộc bãi công tại Ba Son chứng tỏ tư tưởng Cách mạng tháng Mười Nga 1917 đã thâm nhập sâu vào ý thức của công nhân Việt Nam, biến thành hành động đấu tranh thực tế của giai cấp công nhân.

Trong giai đoạn 1919 – 1925, phong trào công nhân chủ yếu tập trung vào đòi hỏi quyền lợi kinh tế hàng ngày, còn thiếu sự phối hợp chặt chẽ giữa các ngành và địa phương, diễn ra dưới dạng tự phát và lẻ tẻ Tuy nhiên, những phong trào này cho thấy ý thức giai cấp của công nhân đã phát triển rõ rệt, tạo nền tảng cho các hoạt động đấu tranh trong tương lai.

Sau khi thành lập Hội Việt Nam cách mạng thanh niên và trang bị lý luận cách mạng, Nguyễn Ái Quốc đặc biệt quan tâm đến việc rèn luyện cán bộ qua hoạt động thực tiễn, nhấn mạnh rằng giác ngộ cách mạng chưa đủ, mà hành động cách mạng mới là yếu tố quyết định Vô sản hóa là một quan điểm của Nguyễn Ái Quốc nhằm thúc đẩy quá trình hành động cách mạng, giúp cán bộ hòa nhập sâu vào quần chúng công nhân và nông dân để tiến hành cách mạng hiệu quả Trong các lớp huấn luyện tại Trường Chính trị Quảng Châu từ 1925 đến 1927, Người nhấn mạnh rằng "Người cách mạng phải hòa mình vào quần chúng công nhân và nông dân để thực hiện mục tiêu cách mạng," khẳng định vai trò của sự gắn bó mật thiết với quần chúng trong công cuộc cách mạng.

Để hiểu sâu sắc chủ nghĩa cộng sản và có khả năng truyền đạt, giáo dục đường lối của Đảng, mỗi người cần trải qua quá trình tự cải tạo bản thân thành người vô sản Sự tự hoàn thiện này giúp họ nhận thức rõ hơn về giá trị của chủ nghĩa cộng sản và có thể tổ chức, lãnh đạo quần chúng đấu tranh hiệu quả Đây là yếu tố cốt lõi để nâng cao nhận thức chính trị và xây dựng phong trào cách mạng vững mạnh.

Ngày 28-08-1928, Kỳ bộ Bắc Kỳ Hội Việt Nam cách mạng thanh niên họp hội nghị tại Hà Nội Hội nghị nhận định “ cơ sở cách mạng của Thanh niên phát triển mạnh khắp các tỉnh, thành ở miền Bắc Tuy vậy, ở các xí nghiệp, hầm mỏ, số công nhân còn ít, phong trào công nhân chưa mạnh Số đông hội viên là tiểu tư sản trí thức, học sinh, giáo viên Họ không thể truyền bá chủ nghĩa Mác – Lênin vào giai cấp công nhân, nếu họ không tự cải tạo trong lao động” 1 Hội nghị kết luận: “Trong công tác phát triển cơ sở cách mạng phải lấy “công nông làm gốc”, phải tăng cường công tác vận động quần chúng công nông Phải đưa cán bộ đi “vô sản hóa”, vào làm công nhận tại các hầm mỏ, nhà máy, đồn điền là những yết hầu kinh tế của Pháp Phải có biện pháp thích hợp để tuyên truyền giáo dục quần chúng, xây dựng tổ chức cách mạng trong công nhân” 2

Từ cuối năm 1928, phong trào vô sản hóa phát triển mạnh mẽ và lan rộng khắp các khu vực Các hội viên của cả ba kỳ tích cực tham gia vào hoạt động ở các nhà máy, hầm mỏ, đồn điền để thực hiện chính sách "bốn cùng": cùng ăn, cùng ở, cùng lao động và cùng đấu tranh với công nhân, nhằm xây dựng phong trào cách mạng vững mạnh.

Những người đi vô sản hóa đã tuyên truyền lý luận cách mạng một cách khéo léo, giúp công nhân nhận thức rõ vai trò và sứ mệnh lịch sử của giai cấp công nhân Họ nhấn mạnh sự cần thiết của sự đoàn kết và đấu tranh để giải phóng dân tộc cũng như giai cấp, hướng tới con đường của cách mạng vô sản Nhờ đó, phong trào vô sản tại Việt Nam đã nhanh chóng hình thành và phát triển.

Các phong trào đấu tranh tiêu biểu trong giai đoạn này có thể kể đến như:

Trong giai đoạn 1926-1927 tại Việt Nam đã xảy ra nhiều cuộc bãi công của công nhân và học sinh học nghề, trong đó nổi bật là cuộc bãi công của 1.000 công nhân nhà máy sợi Nam Định, 500 công nhân đồn điền cao su Cam Tiêm, cùng với các cuộc bãi công của công nhân đồn điền cà phê Rayna và đồn điền cao su Phú Riềng.

1 Trần Ngọc Hải, Lớn lên với phong trào “Vô sản hóa”, Vô sản hóa (Hồi ký cách mạng), Nxb Thanh niên, HN,

2 Trần Ngọc Hải, Lớn lên với phong trào “Vô sản hóa”, Vô sản hóa (Hồi ký cách mạng), Nxb Thanh niên, HN,

Vũ Quang Hiển và Trần Viết Nghĩa đã đề cập về Vô sản hóa là một phương thức rèn luyện, đào tạo đội ngũ cán bộ đầu tiên của cách mạng Việt Nam Bài viết trong Tạp chí Lịch sử Đảng số 8 năm 2008 nhấn mạnh tầm quan trọng của quá trình này trong việc xây dựng lực lượng cách mạng Phương pháp Vô sản hóa giúp các cán bộ tiếp cận, hiểu rõ đời sống quần chúng, từ đó nâng cao khả năng lãnh đạo và vận động quần chúng góp phần thúc đẩy phong trào cách mạng phát triển mạnh mẽ hơn.

Trong hai năm 1928 - 1929, có khoảng 40 cuộc bãi công của công nhân nổ ra từ Bắc chí Nam Tiêu biểu là:

Năm 1928, bãi công của công nhân nổ ra ở mỏ than Mạo Khê, nhà máy nước đá

Hội nghị thành lập Đảng và nội dung Cương lĩnh chính trị đầu tiên

3.1.1 Hội nghị thành lập Đảng

Năm 1929, ba tổ chức cộng sản lần lượt xuất hiện tại Việt Nam, góp phần thúc đẩy phong trào cách mạng phát triển mạnh mẽ Tuy nhiên, các tổ chức này hoạt động riêng rẽ và cạnh tranh ảnh hưởng, gây nguy cơ chia rẽ lớn trong phong trào cách mạng trong nước.

Ngày 23-12-1929, Nguyễn Ái Quốc, với tư cách là đại diện của Quốc tế Cộng sản, đã đến Hồng Kông triệu tập đại biểu của Đông Dương Cộng sản Đảng và An Nam Cộng sản Đảng họp tại Cửu Long để tiến hành hội nghị hợp nhất các tổ chức cộng sản thành một chính đảng duy nhất của Việt Nam, nhằm đáp ứng nhu cầu cấp bách của phong trào cách mạng trong nước.

Hội nghị diễn ra từ ngày 6-1 đến ngày 7-2-1930, với sự tham dự của đại biểu từ các đảng cộng sản Đông Dương và An Nam Thành phần gồm có 2 đại biểu của Đông Dương Cộng sản Đảng là Trịnh Đình Cửu và Nguyễn Đức Cảnh, cùng 2 đại biểu của An Nam Cộng sản Đảng là Châu Văn Liêm và Nguyễn Thiệu Hội nghị do lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc, đại biểu của Quốc tế Cộng sản, chủ trì, nhằm thúc đẩy phong trào cộng sản ở Đông Dương.

Sau khi nghe Nguyễn Ái Quốc trình bày về lý do tổ chức Hội nghị, các đại biểu đều nhận thức rõ những sai lầm của sự chia rẽ trong phong trào cộng sản Họ thống nhất quyết tâm thành lập Đảng Cộng sản để cải thiện tổ chức và hướng tới mục tiêu cách mạng chung Ban đầu, số đảng viên của Đảng mới chỉ có 310 người, đánh dấu sự hợp nhất của hai tổ chức cộng sản trước đó.

Theo đề nghị của Nguyễn Ái Quốc, Hội nghị đã nhất trí đặt tên đảng mới là Đảng Cộng sản Việt Nam, phản ánh quan điểm coi Đông Dương gồm ba quốc gia dân tộc cần thành lập đảng cách mạng riêng cho từng quốc gia để đấu tranh giành độc lập.

Hội nghị đã thảo luận và tán thành ý kiến chỉ đạo của Nguyễn Ái Quốc, đồng thời thông qua các văn kiện quan trọng do lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc soạn thảo Trong đó, có Chánh cương vắn tắt của Đảng, Sách lược vắn tắt của Đảng, Chương trình tóm tắt của Đảng và Điều lệ vắn tắt của Đảng, tạo nền tảng cho sự phát triển của phong trào cách mạng.

1 Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện Đảng Toàn tập, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 1998, tập 2, trang 21

2 Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện Đảng Toàn tập, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 1998, tập 2, trang 11

Đảng Cộng sản Việt Nam xác định rõ tôn chỉ mục đích của mình là lãnh đạo quần chúng lao động đấu tranh nhằm xóa bỏ chủ nghĩa tư bản đế quốc và xây dựng xã hội cộng sản Điều kiện gia nhập Đảng bao gồm những người tin theo chủ nghĩa cộng sản, ủng hộ chương trình của Đảng và Quốc tế Cộng sản, có tinh thần tranh đấu tích cực và sẵn sàng hy sinh, phục tùng mệnh lệnh của Đảng, đồng thời đóng phí, phấn đấu trong tổ chức Đảng.

Hội nghị chủ trương thành lập một Trung ương lâm thời để lãnh đạo cách mạng Việt Nam Hệ thống tổ chức Đảng từ cấp chi bộ, huyền bộ, thị bộ, khu bộ, tỉnh bộ, thành bộ đến Trung ương được xây dựng nhằm củng cố tổ chức và quản lý Ngoài ra, chủ trương phát triển các tổ chức cộng hội, nông hội, cứu tế, phản đế nhằm đoàn kết lực lượng cách mạng Đảng cũng dự định xuất bản một tạp chí lý luận cùng ba tờ báo tuyên truyền để nâng cao nhận thức và vận động quần chúng.

Hội nghị đã đề ra kế hoạch hợp nhất các tổ chức cộng sản trong nước và thành lập Ban Chấp hành Trung ương lâm thời Theo đó, Bắc Kỳ và Trung Kỳ sẽ do Trung ương Đông Dương Cộng sản Đảng lãnh đạo, cử năm ủy viên vào Ban Chấp hành Trung ương lâm thời Riêng đối với Nam Kỳ, Trung ương Đông Dương Cộng sản Đảng và Ban Chấp hành lâm thời An Nam Cộng sản Đảng sẽ giới thiệu đảng viên của mình, tổ chức họp chung để bầu hai đại biểu Nam Kỳ tham gia vào Trung ương mới, góp phần xây dựng khối đoàn kết trong phong trào cộng sản trong nước.

Hội nghị quyết định loại bỏ các tờ báo do Đông Dương Cộng sản Đảng và An Nam Cộng sản Đảng xuất bản trước đó để nâng cao công tác báo chí của Đảng Đồng thời, Ban Trung ương có kế hoạch xuất bản một tạp chí lý luận và ba tờ báo tuyên truyền nhằm thúc đẩy công tác tuyên truyền và củng cố vị trí của Đảng trong lòng người dân.

Hội nghị chủ trương thành lập mặt trận phản đế bao gồm các đảng phái như Tân Việt, Thanh niên, Quốc dân Đảng và đảng Nguyễn An Ninh, nhằm tập hợp các lực lượng chống phản động Đến ngày 24-2-1930, việc thống nhất các tổ chức cộng sản thành một chính đảng duy nhất đã hoàn thành theo Quyết nghị của Lâm thời chấp ủy Đảng Cộng sản Việt Nam, trong đó Đông Dương Cộng sản Liên đoàn được gia nhập Đảng Cộng sản Việt Nam Hội nghị thành lập Đảng Cộng sản Việt Nam dưới sự chủ trì của lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc mang ý nghĩa như một Đại hội Đảng, đánh dấu bước ngoặt quan trọng trong phong trào cách mạng Việt Nam Sau hội nghị, Nguyễn Ái Quốc gửi lời kêu gọi nhân dịp thành lập Đảng để động viên công nhân, nông dân, binh lính, học sinh và các anh chị em bị áp bức bóc lột, trong đó ông nhấn mạnh rằng “giữa lúc các cuộc khủng bố trắng lên đến đỉnh cao thì ”.

1 Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện Đảng Toàn tập, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 1998, tập 2, trang 7 – 8

2 Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện Đảng Toàn tập, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 1998, tập 2, trang 11

Các người cộng sản An Nam trước kia chưa có tổ chức, đang thống nhất thành Đảng Cộng sản Việt Nam để lãnh đạo phong trào cách mạng chống áp bức Người kêu gọi quần chúng gia nhập, ủng hộ và đi theo Đảng để cùng nhau đấu tranh Trong lời kêu gọi, Người nhấn mạnh đã nhận chỉ thị từ Quốc tế Cộng sản và hoàn thành nhiệm vụ giải quyết vấn đề cách mạng của đất nước.

3.1.2 Cương lĩnh chính trị đầu tiên

Trong các văn kiện do lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc soạn thảo và thông qua tại Hội nghị thành lập Đảng, có hai tài liệu quan trọng phản ánh phương hướng phát triển và chiến lược của cách mạng Việt Nam Những văn kiện này chính là "Chánh cương vắn tắt của Đảng" và "Sách lược vắn tắt của Đảng," thể hiện những vấn đề cốt lõi về chiến lược và sách lược cách mạng Do đó, đây được xem là Cương lĩnh chính trị đầu tiên của Đảng Cộng sản Việt Nam, đặt nền móng cho sự phát triển của đảng và phong trào cách mạng Việt Nam.

Cương lĩnh chính trị đầu tiên xác định phương hướng chiến lược của cách mạng

Việt Nam đang đối mặt với thực trạng xã hội nửa thuộc địa nửa phong kiến, với mâu thuẫn gay gắt giữa dân tộc Việt Nam, công nhân và nông dân với đế quốc Để giải quyết những mâu thuẫn này, Đảng lựa chọn đường lối chiến lược dựa trên “chủ trương làm tư sản dân quyền cách mạng và thổ địa cách mạng,” hướng tới mục tiêu xây dựng xã hội cộng sản Mục tiêu chiến lược của cách mạng Việt Nam được xác định rõ trong Cương lĩnh đầu tiên của Đảng, với nội dung rằng cách mạng thuộc địa là một phần của cách mạng vô sản toàn cầu.

Nhiệm vụ chủ yếu của cách mạng Việt Nam là “đánh đổ đế quốc chủ nghĩa Pháp và bọn phong kiến”, nhằm làm cho nước Nam hoàn toàn độc lập Cương lĩnh xác định rằng, chống đế quốc và chống phong kiến là nhiệm vụ cốt lõi để giành độc lập cho dân tộc và ruộng đất cho dân cày, trong đó ưu tiên hàng đầu là chống đế quốc và đạt được độc lập cho dân tộc.

Về phương diện xã hội, Cương lĩnh xác định rõ: “a) Dân chúng được tự do tổ chức b) Nam nữ bình quyền, v.v c) Phổ thông giáo dục theo công nông hoá”

Giá trị thực tiễn của sự kiện Đảng Cộng sản Việt Nam ra đời và Cương lĩnh chính trị đầu tiên

3.2.1 Đối với sự nghiệp giải phóng dân tộc, thống nhất Tổ quốc (1930 - 1975)

Sự ra đời của Đảng Cộng sản Việt Nam, bước ngoặt vĩ đại, chấm dứt thời kỳ khủng hoảng về đường lối của phong trào yêu nước Việt Nam

Trong những năm cuối thế kỷ XIX và đầu thế kỷ XX, phong trào yêu nước Việt Nam diễn ra sôi nổi, quyết liệt nhằm chống lại sự xâm lược của thực dân Pháp, bất chấp các hình thái đấu tranh khác nhau Mục tiêu chung của các phong trào này là lật đổ chế độ thực dân, giành độc lập cho dân tộc Việt Nam, dù tiến hành theo ngọn cờ phong kiến hay phong trào dân chủ tư sản Tuy nhiên, theo khảo nghiệm lịch sử, các phong trào cứu nước từ lập trường Cần Vương đến phong trào tư sản và tiểu tư sản đều lần lượt thất bại, khiến phong trào yêu nước Việt Nam rơi vào khủng hoảng và bế tắc về đường lối cứu nước.

1 Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện Đảng Toàn tập, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2007, tập 5, trang 14

Đảng Cộng sản Việt Nam ra đời đã chấm dứt khủng hoảng bế tắc về đường lối cứu nước và đưa cách mạng Việt Nam bước vào một giai đoạn lịch sử quan trọng, trở thành phần không thể tách rời của cách mạng vô sản thế giới Sự phát triển mạnh mẽ và thống nhất của phong trào công nhân cùng phong trào yêu nước Việt Nam, được soi sáng bởi chủ nghĩa Mác - Lênin, đã đóng vai trò then chốt trong bước ngoặt lịch sử này Chủ tịch Hồ Chí Minh khẳng định rằng việc kết hợp chủ nghĩa Mác - Lênin với phong trào công nhân đã dẫn đến sự thành lập Đảng, đánh dấu một bước ngoặt vô cùng quan trọng trong lịch sử cách mạng Việt Nam, thể hiện sự trưởng thành và khả năng lãnh đạo của giai cấp vô sản Với Cương lĩnh chính trị đầu tiên được đề ra tại Hội nghị thành lập, Đảng đã phản ánh rõ quy luật khách quan của xã hội Việt Nam, đáp ứng nhu cầu bức thiết của đất nước và định hướng chiến lược đúng đắn cho sự phát triển của cách mạng Việt Nam trong xu thế của thời đại.

Lựa chọn con đường cách mạng vô sản phù hợp với xu thế thời đại bắt nguồn từ thành công của Cách mạng Tháng Mười Nga vĩ đại Đối với Việt Nam, không còn con đường nào khác để đạt được độc lập dân tộc thực sự và hạnh phúc cho nhân dân ngoài cách mạng vô sản Đây là sự lựa chọn đúng đắn của lịch sử, đã được xác định rõ ràng từ năm 1930 khi Đảng Cộng sản Việt Nam ra đời, mở ra con đường chiến đấu chống thực dân, phong kiến để giành độc lập tự do cho đất nước.

Ngay từ khi thành lập, Đảng Cộng sản Việt Nam đã trở thành người lãnh đạo vững chắc, đưa cách mạng Việt Nam vượt qua muôn vàn khó khăn, thử thách Đảng đã dẫn dắt đất nước đi lên, tạo nên những kỳ tích lịch sử và ghi dấu những bước ngoặt quan trọng trong tiến trình phát triển của dân tộc Sự lãnh đạo của Đảng đáp ứng khát vọng của nhân dân Việt Nam và phù hợp với xu thế phát triển của lịch sử.

Tổ chức vận động cách mạng giải phóng dân tộc, giành chính quyền về tay nhân dân

Trong giai đoạn từ 1930 đến 1945, Đảng hoạt động bí mật, bất hợp pháp dưới chính quyền thực dân và phải đối mặt với nhiều thử thách như khủng bố, đánh phá, khiến hệ thống tổ chức của Đảng hai lần phải xây dựng lại, đồng thời hy sinh bốn Tổng bí thư của Đảng Tuy nhiên, nhờ xác định đường lối chiến lược cách mạng qua Cương lĩnh chính trị đầu tiên, Đảng đã đáp ứng khát vọng giải phóng dân tộc của nhân dân Việt Nam Chỉ sau 15 năm kể từ khi bắt đầu theo đuổi con đường cách mạng, dân tộc Việt Nam đã tạo nên kỳ tích vĩ đại trong sự nghiệp giải phóng và thống nhất đất nước.

Vào ngày 29 tháng Tám năm 1945, Việt Nam công bố thành lập nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa, đánh dấu sự xoá bỏ tận gốc chế độ thuộc địa nửa phong kiến Thành công này không chỉ là niềm tự hào của giai cấp lao động và nhân dân Việt Nam mà còn là hành trình lịch sử đáng tự hào của các dân tộc bị áp bức khác trên thế giới Đặc biệt, đây là lần đầu tiên trong các cuộc cách mạng của các dân tộc thuộc địa và nửa thuộc địa, một Đảng mới tuổi 15 đã lãnh đạo thành công cuộc cách mạng và nắm chính quyền toàn quốc Thắng lợi này mở ra kỷ nguyên độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội, thay đổi vận mệnh của đất nước và số phận của người dân Việt Nam.

Tổ chức và lãnh đạo thắng lợi các cuộc kháng chiến chống ngoại xâm, bảo vệ vững chắc Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa

Ngày 2-9-1945 Chủ tịch Hồ Chí Minh tuyên bố Tuyên ngôn độc lập, khai sinh ra nước Việt Nam dân chủ cộng hòa Trước bối cảnh chính quyền còn non trẻ, Đảng vừa ra hoạt động công khai, nắm chính quyền cách mạng thì phải đối phó với vô vàn khó khăn Giặc đói, giặc dốt, giặc ngoại xâm, tình thế cách mạng Việt Nam như “ngàn cân treo sợi tóc” Nhưng Đảng Cộng sản Việt Nam dựa trên nguyên tắc “dĩ bất biến, ứng vạn biến” đã chèo lái con thuyền cách mạng Việt Nam, vừa kháng chiến vừa kiến quốc, giữ vững chủ quyền của đất nước, vững vàng bước vào cuộc kháng chiến toàn quốc, với đường lối toàn dân, toàn diện, lâu dài, tự lực cánh sinh là chính

Sau 9 năm kháng chiến trường kỳ, thắng lợi vĩ đại của cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp và can thiệp Mỹ (1945-1954) đã bảo vệ và phát triển thành quả Cách mạng Tháng Tám 1945, chấm dứt ách thống trị của thực dân Pháp, giải phóng miền Bắc, đưa cách mạng Việt Nam bước sang giai đoạn mới, giai đoạn xây dựng chủ nghĩa xã hội ở miền Bắc và tiếp tục tiến hành cách mạng giải phóng ở miền Nam

Việt Nam đã trải qua 21 năm chiến đấu anh dũng dưới đường lối chiến tranh nhân dân, kết hợp sức mạnh dân tộc và sức mạnh của thời đại để giành thắng lợi Nhân dân Việt Nam đã đánh bại cuộc chiến tranh xâm lược mới của đế quốc Mỹ, giải phóng miền Nam và kết thúc 30 năm chiến tranh giải phóng dân tộc một cách vẻ vang Thành công này đã thu giang sơn về một mối, chấm dứt vĩnh viễn ách thống trị hơn một thế kỷ của chủ nghĩa thực dân trên đất nước Đồng thời, thắng lợi của cách mạng miền Nam đã hoàn thành cơ bản cuộc cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân trên toàn quốc.

1 Hồ Chí Minh Toàn tập, Nhà xuất bản Chính trị quốc gia - Sự Thật, Hà Nội, 2011, tập 7, trang 25

Chiến công đó là biểu tượng sáng ngời của chủ nghĩa anh hùng cách mạng và trí tuệ con người, đi vào lịch sử thế giới như một chiến công vĩ đại của thế kỷ XX Sự kiện này có tầm ảnh hưởng quốc tế to lớn và mang ý nghĩa sâu sắc về thời đại Từ đây, dân tộc Việt Nam bước vào một kỷ nguyên mới, với cả nước đoàn kết hòa bình, thống nhất và bắt đầu quá trình chuyển tiếp lên chủ nghĩa xã hội.

3.2.2 Đối với sự phát triển của đất nước hiện nay

Sau ngày thống nhất, cả nước bắt đầu chiến lược xây dựng chủ nghĩa xã hội, đối mặt với những thách thức và khó khăn gay gắt trong nước, khu vực và quốc tế Sự nghiệp xây dựng chủ nghĩa xã hội đặt ra nhiệm vụ nặng nề và đòi hỏi sự quyết tâm của Đảng, góp phần thúc đẩy sự phát triển bền vững của đất nước.

Trong bối cảnh toàn cầu hóa, hội nhập quốc tế và cách mạng công nghiệp 4.0, tình hình thế giới diễn biến phức tạp với sự can thiệp của các nước lớn và căng thẳng ngoại giao giữa các quốc gia đòi hỏi Đảng ta phải có những quyết định sáng suốt để bảo vệ lợi ích của dân tộc Đồng thời, Đảng đối mặt với các thế lực thù địch tấn công toàn diện vào hệ thống chính trị, với những quan điểm sai trái như đòi đa nguyên chính trị, đa đảng đối lập, dân chủ cực đoan nhằm gây rối an ninh chính trị và chia rẽ khối đại đoàn kết dân tộc Trước tình hình đó, Đảng đã kiên trì lãnh đạo, từng bước hoàn thiện đường lối đổi mới qua các kỳ đại hội, như Đại hội VII (1991), Đại hội XI (2011), và tiếp tục khẳng định quyết tâm đổi mới mạnh mẽ hơn tại Đại hội XII (2016), nhằm đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước, hội nhập quốc tế và phấn đấu đưa đất nước trở thành nước công nghiệp hiện đại theo hướng tiến bộ, bền vững Những thành tựu này phản ánh quá trình trăn trở, tìm tòi, đổi mới tư duy và nhận thức đúng đắn hơn về thực tiễn cách mạng Việt Nam của Đảng.

Dưới sự lãnh đạo của Đảng, công cuộc đổi mới ở Việt Nam đã đạt được những thành tựu to lớn và quan trọng, góp phần chuyển mình mạnh mẽ của đất nước về mặt chính trị và kinh tế Những thành tựu này thúc đẩy sự phát triển bền vững, nâng cao đời sống nhân dân và đưa Việt Nam trở thành một quốc gia ngày càng năng động trên trường khu vực và quốc tế.

Báo cáo chính trị của Ban Chấp hành Trung ương Đảng tại Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ IV do Đảng Cộng sản Việt Nam trình bày đã khẳng định vai trò trung tâm của Đảng trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ đất nước Tài liệu này nhấn mạnh những thành tựu đạt được cũng như phương hướng, nhiệm vụ của Đảng trong giai đoạn mới, góp phần củng cố niềm tin của nhân dân vào lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam Đây là nguồn tư liệu quý giá phản ánh quá trình phát triển, chiến lược phát huy vai trò của Đảng trong thời kỳ đổi mới.

2 Đảng Cộng sản Việt Nam (2016), Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XII, Văn phòng Trung ương Đảng,

Trong quá trình phát triển, công cuộc xây dựng và phát triển xã hội không ngừng nâng cao đời sống vật chất và tinh thần của nhân dân Đồng thời, chúng ta không ngừng khẳng định vị thế của đất nước trên trường quốc tế, góp phần nâng cao vị thế chính trị và kinh tế của Việt Nam trong cộng đồng thế giới.

Ngày đăng: 06/02/2023, 14:01

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Bộ Giáo dục và Đào tạo (2019), Giáo trình Lịch sử Đảng Cộng sản Việt Nam (Dành cho sinh viên đại học khối không chuyên ngành Mác-Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh), Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo trình Lịch sử Đảng Cộng sản Việt Nam (Dành cho sinh viên đại học khối không chuyên ngành Mác-Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh)
Tác giả: Bộ Giáo dục và Đào tạo
Nhà XB: Nxb. Chính trị quốc gia
Năm: 2019
2. Bộ Giáo dục và Đào tạo (2018), Giáo trình Đường lối cách mạng của Đảng Cộng sản Việt Nam (Dành cho sinh viên đại học, cao đẳng khối không chuyên ngành Mác-Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh), Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo trình Đường lối cách mạng của Đảng Cộng sản Việt Nam (Dành cho sinh viên đại học, cao đẳng khối không chuyên ngành Mác-Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh)
Tác giả: Bộ Giáo dục và Đào tạo
Nhà XB: Nxb. Chính trị quốc gia
Năm: 2018
3. Đảng Cộng sản Việt Nam (2011), Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XI, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XI
Tác giả: Đảng Cộng sản Việt Nam
Nhà XB: Nxb. Chính trị quốc gia
Năm: 2011
4. Đảng Cộng sản Việt Nam (1998), Văn kiện Đảng Toàn tập (tập 2), Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn kiện Đảng Toàn tập (tập 2)
Tác giả: Đảng Cộng sản Việt Nam
Nhà XB: Nxb. Chính trị quốc gia
Năm: 1998
5. Đảng Cộng sản Việt Nam (2007), Văn kiện Đảng Toàn tập (tập 5), Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn kiện Đảng Toàn tập (tập 5)
Tác giả: Đảng Cộng sản Việt Nam
Nhà XB: Nxb. Chính trị quốc gia
Năm: 2007
8. Học viện Chính trị Quốc gia Hồ Chí Minh (2007), Lịch sử biên niên Đảng Cộng sản Việt Nam (tập 1), Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Lịch sử biên niên Đảng Cộng sản Việt Nam (tập 1)
Tác giả: Học viện Chính trị Quốc gia Hồ Chí Minh
Nhà XB: Nxb. Chính trị quốc gia
Năm: 2007
9. Ban tuyên giáo Huyện ủy Nam Trà My, Tư tưởng Hồ Chí Minh về con đường của cách mạng Việt Nam, http://huyenuy.namtramy.quangnam.gov.vn/De-fault.aspx?tabid=1292&Group=210&NID=3599&tu-tuong-ho-chi-minh-ve-con-duong-cua-cach-mang-viet-nam, ngày truy cập: 29/03/2022 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tư tưởng Hồ Chí Minh về con đường của cách mạng Việt Nam
Tác giả: Ban tuyên giáo Huyện ủy Nam Trà My
12. Đặng Thị Hiền (2019), Phong trào Cần vương (1885 - 1896), https://vanban.laocai.gov.vn/1299/31180/65534/361374/chuyen-de/phong-trao-can-vuong-1885-1896-hoc-ki-ii-nam-hoc-2018-2019-dang-thi-hien,ngày truy cập: 15/03/2022 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phong trào Cần vương (1885 - 1896)
Tác giả: Đặng Thị Hiền
Năm: 2019
10. Ban tuyên giáo Thành ủy TPHCM, Nguyễn Ái Quốc với việc thành lập Hội Việt Nam Cách mạng Thanh niên, https://www.hcmcpv.org.vn/tin- tuc/nguyen-ai-quoc-voi-viec-thanh-lap-hoi-viet-nam-cach-mang-thanh-nien-1491879067, ngày truy cập: 29/03/2022 Link
11. Ban Tuyên giáo Trung ương, Đảng Cộng sản Việt Nam ra đời như thế nào?, https://www.antv.gov.vn/tin-tuc/chinh-tri/dang-cong-san-viet-nam-ra-doi-nhu-the-nao-131114.html, ngày truy cập: 15/03/2022 Link
15. Quang Minh (2020), Từ Luận cương của Lênin, tới việc lựa chọn con đường cách mạng vô sản của Nguyễn Ái Quốc, https://nghean.dcs.vn/vi-vn/tin/tu-luan-cuong-cua-lenin--toi-viec-lua-chon-con-duong-cach-mang-vo-san-cua-nguyen-ai-quoc--/24021-58053-432280, ngày truy cập: 14/03/2022 Link
16. Trần Thị Vui (2019), Vai trò lãnh đạo của Đảng trong công cuộc đổi mới đất nước sau 44 năm thống nhất, truy cập tại http://dukcqtw.dcs.vn/vai-tro-lanh-dao-cua-dang-trong-cong-cuoc-doi-moi-dat-nuoc-sau-44-nam-thong-nhat-%5bety-duk4411.aspx, ngày truy cập: 14/03/2022 Link
13. Vũ Quang Hiển, Quá trình hình thành Đảng Cộng sản Việt Nam, Tạp chí Lịch sử Quân sự, 2-2012 Khác
14. Vũ Quang Hiển, Trần Viết Nghĩa, Vô sản hóa (1928) - Một phương thức rèn luyện, đào tạo đội ngũ cán bộ đầu tiên của cách mạng Việt Nam, Tạp chí Lịch sử Đảng, số 8, 2008 Khác

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w