Vận dụng lý thuyết phân tầng xã hội hợp thức vào quản lý xã hội Liên hệ? Vì sao nói phân tầng xã hội hợp thức là cơ sở lý luận, phương thức, nền tảng để thực hiện công bằng xã hội còn công bằng xã hội[.]
Trang 1Vận dụng lý thuyết phân tầng xã hội hợp thức vào quản lý xã hội Liên hệ? Vì sao nói phân tầng xã hội hợp thức là cơ sở lý luận, phương thức, nền tảng để thực hiện công bằng xã hội còn công
bằng xã hội là nhân lõi của phân tầng hợp thức
Mã số học viên:
Lớp: Hoàn chỉnh kiến thức CCLLCT K68- C03
Hà Nội, tháng 3 năm 2018
Trang 2MỞ ĐẦU
Trong quá trình thực hiện đường lối đổi mới đất nước và phát triển kinh tế thị trường, sự phân hóa giàu nghèo, phân tầng xã hội nổi lên như một vấn đề thời
sự cấp bách Từ một hiện tượng diễn ra chậm chạp, lẻ tẻ, bị che lấp bởi “chủ nghĩa
bình quân chia đều sự nghèo khổ” đã trở thành một hiện tượng diễn ra ngày càng
rõ nét Phân tầng xã hội và phân hóa giàu nghèo đã trở thành những vấn đề nổi cộm mà ai cũng cảm nhận được Nó diễn ra giữa các vùng, miền khác nhau, giữa khu vực thành thị và nông thôn , thậm chí trong nội bộ một giai cấp, trong cùng một nghề nghiệp hay giữa các hộ gia đình
Phân tầng xã hội là một nội dung hết sức quan trọng trong các nội dung nghiên cứu về cơ cấu xã hội cũng như các vấn đề khác của xã hội học Trong đời sống xã hội hầu hết các khía cạnh của mỗi con người đều trực tiếp hoặc gián tiếp liên quan đến vị trí của họ trong bậc thang xã hội Do bản chất của nó, phân tầng
xã hội đặt ra những vấn đề hết sức nghiêm túc về sự phân hoá giàu - nghèo, giữa những người có địa vị cao, có lợi thế với những người có địa vị thấp và có nhiều bất lợi trong sự th ăng tiến Nó làm nảy sinh nhiều cuộc đấu tranh giành quyền lực
và lợi ích trong lịch sử ở nước ta phân tầng xã hội đã từng xuất hiện và tồn tại từ lâu Tuy nhiên quy mô và tính chất, mức độ của nó không giống nhau trong từng thời kỳ lịch sử khác nhau Từ khi chuyển sang nền kinh tế thị trường, phân tầng xã hội ngày một hiện rõ như một hiện tượng tự nhiên tất yếu, trong đó nổi bật là sự phân hoá giàu, nghèo đang là mối quan tâm sâu sắc của toàn xã hội Vì vậy, phải nghiên cứu và làm rõ nguyên nhân, các yếu tố ảnh hưởng đến sự phân tầng xã hội, tìm ra những mặt tích cực, những hạn chế, tiêu cực của phân tầng xã hội, những hậu quả do sự phân tầng xã hội đối với xã hội ta Từ đó có quan điểm và đề ra giải pháp khắc phục mặt tiêu cực của phân tầng xã hội nhằm đảm bảo công bằng xã
Trang 3hội Chính vì vậy lựa chọn đề tài “Vận dụng lý thuyết phân tầng xã hội hợp thức vào quản lý xã hội Liên hệ? Vì sao nói phân tầng xã hội hợp thức là cơ sở lý luận, phương thức, nền tảng để thực hiện công bằng xã hội còn công bằng xã hội là nhân lõi của phân tầng hợp thức” để có thể thấy rõ hơn các mặt của xã hội Trong quá trình tìm hiểu, nghiên cứu khó tránh khỏi những thiếu sót, rất mong nhận được sự góp ý, bổ sung và chỉnh sửa để bài viết được hoàn thiện hơn
Trang 4NỘI DUNG
1 Khái niệm Phân tầng xã hội (PTXH)
Phân tầng xã hội là một trong những khái niệm cơ bản của xã hội học Nó được định nghĩa là sự xếp hạng (ranking) một cách ổn định các vị trí trong xã hội xét từ góc độ quyền lực, uy tín hoặc các đặc quyền đặc lợi không ngang nhau Trong sự phân tầng xã hội, có các “tầng” (stratum), mỗi tầng là một tập hợp người (cá nhân) giống nhau về địa vị/vị thế, bao gồm địa vị kinh tế (tài sản, thu nhập), địa
vị chính trị (quyền lực) hay địa vị xã hội (như uy tín), từ đó mà họ có được những
cơ hội thăng tiến, sự phong thưởng và những thứ bậc nhất định trong xã hội
PTXH có liên quan tới những bất bình đẳng xã hội đã thành mô hình, hay đã
được cấu trúc hoá giữa tất cả các nhóm người khác nhau Người ta tập trung chú ý
tới PTXH vì nó có tiềm năng gây ra các căng thẳng và biến động xã hội đột ngột
Trong lịch sử, các nhà xã hội học phương Tây đã đưa ra nhiều yếu tố để xác định khái niệm phân tầng xã hội Điển hình nhất là nhà xã hội học Đức Max Weber, đã bao hàm trong khái niệm phân tầng xã hội cả việc phân chia xã hội thành các giai cấp Bên cạnh đó, ông không chỉ nhấn mạnh vào tiêu chí kinh tế, sở hữu (như thường dùng khi xác định sự phân chia giai cấp), mà còn sử dụng đồng thời các tiêu chí về chính trị (quyền lực) và tiêu chí văn hóa (như uy tín) để định nghĩa khái niệm phân tầng xã hội
Talcott Parsons, nhà xã hội học Mỹ coi phân tầng xã hội là sự sắp xếp các cá nhân vào một hệ thống xã hội trên cơ sở sự phân chia những ngạch bậc và những tiêu chuẩn chung về giá trị Phân tầng xã hội là kết quả trực tiếp của phân công lao động xã hội và sự phân hóa của những nhóm xã hội khác nhau Còn theo Smelser, phân tầng xã hội gắn liền với những biện pháp mà nhờ đó sự bất bình đẳng được lưu truyền từ thế hệ này sang thế hệ khác, trong đó hình thành nên những tầng
Trang 5lớp/giai tầng khác nhau trong xã hội Phân tầng xã hội phản ánh sự bất bình đẳng mang tính cấu trúc của tất cả các xã hội, sự khác nhau về khả năng thăng tiến xã hội của các cá nhân bởi địa vị của họ trong các bậc thang xã hội
Như vậy, về cơ bản, phân tầng xã hội là một sự phân chia mang tính cấu trúc thành các tầng lớp, giai tầng xã hội dựa trên các đặc trưng vị thế kinh tế xã hội của các cá nhân, trong đó sử dụng đồng thời 3 loại các dấu hiệu, tiêu chí: về kinh tế (tài sản, thu nhập), về chính trị (quyền lực, tổ chức) và văn hóa (uy tín) Khái niệm phân tầng xã hội vì vậy phân biệt với các khái niệm gần gũi như: phân hóa giai cấp, phân hóa giàu nghèo, phân cực xã hội Các khái niệm sau này về cơ bản có thể xem như những biến thể, hay là trường hợp riêng của phân tầng xã hội
Phân tầng xã hội cũng phản ánh những bất bình đẳng xã hội đã thành mô
hình, hay đã được cấu trúc hóa giữa tất cả các nhóm người khác nhau, chứ không
riêng giữa các cá nhân Phân tầng xã hội cũng có liên hệ mật thiết tới các cơ may, vận hội trong cuộc đời của các cá nhân và các nhóm xã hội Những cơ may, vận hội trong cuộc đời đến với họ thường không đồng đều, cũng như việc hội đủ các điều kiện để tận dụng, khai thác các cơ may, vận hội đó cũng rất khác nhau
2 Phân tầng xã hội hợp thức
Phân tầng xã hội hợp thức là một cấu trúc tầng bậc cao thấp, phản ánh sự khác nhau, sự không ngang bằng nhau giữa các thành viên trong xã hội về ba dấu hiệu chủ yếu: địa vị chính trị, địa vị kinh tế, địa vị xã hội Tuy nhiên, cấu trúc tầng bậc này là “hợp thức”, nó đối lập với phân tầng xã hội không hợp thức Có nghĩa
rằng, nó được hình thành, không phải là do cách làm ăn phi pháp, luồn lọt, xu nịnh,
gian dối, mánh khóe, thủ đoạn hoặc do những hành vi sai trái, làm ăn bất chính mà
có Phân tầng xã hội hợp thức là một cấu trúc tầng bậc cao, thấp (trên, dưới) chủ yếu dựa vào sự khác biệt khách quan, tự nhiên giữa các thành viên trong xã hội về mặt năng lực (thể chất, trí tuệ), sự khác biệt về cái tài, cái đức và sự cống hiến, đóng góp thực tế của mỗi cá nhân cho xã hội
Trang 6Người nào có tài càng cao, đức càng rộng và sự cống hiến cho xã hội càng nhiều thì người đó càng xứng đáng đứng vào vị trí cao trong xã hội, xứng đáng được giao phó cho những quyền lực cao, quan trọng để lãnh đạo, quản lý xã hội
Và đương nhiên họ cũng xứng đáng được xã hội kính trọng, suy tôn và được hưởng những lợi ích vật chất cao Người nào tài đức trung bình và cống hiến cho
xã hội ở mức trung bình thì cũng sẽ có những vị trí trung bình và sự đánh giá tương ứng với mức độ những đóng góp trung bình của họ Những người tài, trí thấp, “tài hèn sức mọn”, đóng góp cho xã hội ít thì đương nhiên sẽ đứng ở vị trí thấp, và họ được đánh giá, nhìn nhận một cách tương ứng với những gì mà họ có và đóng góp cho xã hội Thực chất phân tầng xã hội hợp thức vận hành theo nguyên tắc “làm theo năng lực, hưởng theo lao động” - nguyên tắc quan trọng nhất để nhận biết và phân biệt giữa công bằng xã hội và bất công bằng xã hội Hợp thức được hiểu trong khái niệm phân tầng xã hội hợp thức không chỉ hiểu theo nghĩa thông thường
mà là một khái niệm khoa hoc Nó hàm chứa ở trong đó cả sự phù hợp với đạo lý, pháp lý, vừa phù hợp với các giá trị, chuẩn mực và các quy tắc của đời sống văn hóa, xã hội Nó không chỉ phù hợp với những quy tắc, chuẩn mực của hiện tại, của cái đang diễn ra mà còn phù hợp với xu hướng vận động đi lên mang tính quy luật của xã hội Ở đây nó bao hàm cả ba không phải là một.Vì trong thực tế, ở một giai đoạn nào đó, trong một quốc gia hay một số địa phương nhất định nào đó với một bối cảnh cụ thể, nhất định, sự phù hợp với đạo lý chưa chắc đã phù hợp vơi pháp lý
và ngược lai, hoặc sự phù hợp với một phương thức, thể thức nào đó ( mặc dù được nhiều người thừa nhận) song chưa hẳn đã phù hợp với tính quy luật khách quan, sự vận động mang tính xu hướng của xã hội Đây là một khái niêm có nội hàm mới, một đóng góp mới làm phong phú thêm kho tàng của các khái niệm, phạm trù khoa học xã hội Khái niệm này cần được phân biệt một cách rạch ròi với các khái niệm như hợp pháp, hợp với đạo lý hay những thể thức, quy tắc thông thường, cục bộ, nhất thời nào
Trang 7Rõ ràng rằng, với một nội hàm khái niệm như vậy, chúng ta có thể hiểu phân tầng xã hội hợp thức chính là trật tự xã hội lý tưởng của sự công bằng xã hội Đương nhiên, trong trường hợp này, phân tầng xã hội hợp thức là tích cực, là cần thiết là cái chúng ta ước muốn Một xã hội như vậy sẽ tạo ra được động lực, nguồn xung lượng thúc đẩy xã hội tiến lên phía trước, nó sẽ góp phần tạo ra trật tự xã hội cũng như bộ mặt nhân văn, nhân bản, nhân ái cho xã hội; Đồng thời khắc phục được những tư tưởng bảo thủ, ích kỷ, hẹp hòi, kèn cựa, đố kị ganh ghét những người hơn mình Mặt khác, nó sẽ tạo ra được chuẩn mực cho sự đánh giá xã hội cũng như sự tự đánh giá đúng bản thân Các cá nhân vừa biết đặt ra cho mình những mục tiêu phấn đấu phù hợp vừa biết tự bằng lòng với những gì mình có, mình làm, không lười biếng, không ỷ lại song cũng không quá tham vọng so với năng lực và những điều kiện hiện có của họ Một xã hội mà mỗi người đều tự biết
rõ mình, biết rõ người, biết tự đặt mình vào vị trí của người khác, biết tự nhìn nhận đánh giá bản thân từ vị trí mà xã hội giao phó Đồng thời hành động theo đúng vị thế, vai trò của mình theo cái danh, cái phận của bản thân thì chắc chắn rằng xã hội
đó sẽ là một xã hội trật tự, kỷ cương, ổn định, công bằng và phát triển
Với một xã hội phân tầng xã hội hợp thức như vậy, đương nhiên là chúng ta
sẽ thừa nhận, ủng hộ và tìm cách bảo vệ Hơn thế nữa chúng ta cũng cần thiết phải tuyên truyền rộng rãi để đông đảo mọi người cùng thừa nhận, ủng hộ và cùng góp sức duy trì, củng cố, phát triển và bảo vệ một trật tự xã hội hợp thức Đương nhiên, với một xã hội như vây, thì cần được thiết chế hoá trong cuộc sống Nhà nước cần phải tạo ra những hành lang pháp lý minh bach, văn minh, rộng rãi an toàn, cần thiết và cởi mở cho phân tầng hợp thức, nơi mà mọi người đều được phát huy năng lực, cống hiến theo khả năng và được hưởng các lợi ích mà họ xứng đáng được hưởng theo đúng pháp luật của nhà nước và đạo lý của xã hội
2 Mối quan hệ giữa phân tầng xã hội hợp thức và công bằng xã hội
Trang 8Phân tầng xã hội hợp thức thực chất là trật tự của công bằng xã hội, là điều kiện, phương thức và nền tảng xã hội đảm bảo cho việc thực hiện công bằng xã hội; còn công bằng xã hội lại là tiêu chuẩn “nhân lõi”cốt yếu bên trong của phân tầng xã hội hợp thức
Thực hiện tiến bộ xã hội và công bằng xã hội là một trong các mục tiêu cao cả và định hướng xã hội mạnh mẽ của chính phủ Việt nam suốt từ khi lập nước đến nay.Tuy nhiên, để đi đến một nhận thức đúng đắn cũng như đưa ra các giải pháp thực hiện một cách sát hợp về công bằng xã hội là cả một quá trình tìm tòi với những bước đi quanh co khúc khuỷu của nó Đã có một thời kỳ dài, khái niệm công bằng xã hội chưa được nhận thức và phân biệt một cách rõ ràng, rành mạch với khái niệm bình đẳng xã hội Hai khái niệm này thường đi kèm nhau và được dùng chung nghĩa với nhau hoặc thay nghĩa cho nhau,(không thấy sự khác biệt đáng kể nào trong nhận thức cũng như trong các lối ứng xử giữa người ta với nhau); thường thì, công bằng xã hội được hiểu như ngang bằng và bất bình đẳng xã hội có lúc, có nơi lại được một số người xem là bất công bằng xã hội) Chính những nhận thức thiếu rõ ràng và có phần sai lệch này đã dẫn đến việc dư luận xã hội cũng như các chính sách xã hội có xu hướng bình quân chủ nghĩa, thậm chí có những nơi những lúc, người ta đã coi phương thức phân phối bình quân chủ nghĩa như là phương thức phân phối lợi ích tốt nhất, dễ dàng nhất để thực hiện công bằng
xã hội Hệ lụy của nó là đã làm thủ tiêu động lực của các tầng lớp xã hội và theo đó
là một thời kỳ xã hội trì trệ kéo dài Điều này đã được Đảng và Nhà nước Việt Nam nghiêm túc thừa nhận trong các văn kiện chính thức của mình Để khắc phục những vướng mắc về mặt nhận thức lý luận cũng như những bất cập trong thực tiễn về việc thực hiên và áp dụng những tiêu chuẩn của công bằng xã hôi, chúng tôi cho rằng, chúng ta cần thiết phải đồng thời có những nhận thức đúng đắn về cả phân tầng xã hội và cả công bằng xã hội, phải thấy rõ mối quan hệ bản chất giữa phân tầng xã hội hợp thức với công bằng xã hội Không thể xây dựng được một xã
Trang 9hội phân tầng hợp thức nếu vẫn tồn tại phổ biến những tiêu chuẩn và những phương thức áp dụng phi quy tắc về công bằng trong xã hội Ngược lại không thể
có công bằng xã hội nếu chúng ta đã đồng nhất phân tầng xã hội nói chung với bất công bằng xã hội Chỉ một khi nhận thức được rằng, trong phân tầng xã hội có cả phân tầng xã hội hợp thức và phân tầng xã hội không hợp thức, trong đó phân tầng
xã hội hợp thức là một cấu trúc bất bình đẳng song được xây dựng trên những nguyên tắc của công bằng (e’gal với công bằng) như đã phân tích ở trên thì chúng
ta mới có cơ sở khoa học để vừa xây dựng xã hội phân tầng hợp thức vừa thực hiện được những mục tiêu của công bằng xã hội Theo suy nghĩ của chúng tôi, để
có thể nhận thức cho đúng và đưa ra những giải pháp cho đúng nhằm hướng tới mực tiêu xây dựng một xã hội công bằng (thực hiện tiến bộ xã hội , công bằng xã hội) đòi hỏi chúng ta phải phát hiện và tìm ra một điểm chung của phân tầng xã hội
hợp thức và công bằng xã hôi- đó là sự “phù hợp”, sự “tương ứng” Trước hết đối
với khái niệm công bằng xã hội, chúng tôi cho rằng, công bằng không phải là cào
bằng, là sự ngang bằng nhau một cách vô điều kiện mà là một sự ngang bằng nhau
trong một mối quan hệ hết sức xác định, với một nguyên tắc hết sức xác định, đó là người ta sẽ được ứng xử ngang nhau, nhận về mình những lợi ích ngang nhau, hưởng quyền lợi ngang nhau, được sắp xếp vào những vị trí ngang nhau nếu họ có tài năng, đức độ ngang nhau, cống hiến, đóng góp cho xã hội ngang nhau, thực hiện những nghĩa vụ ngang nhau Người ta sẽ sẽ được ứng xử khác nhau, nhận về
mình những quyền và lợi ích khác nhau, sắp xếp vào những vị trí khác nhau nếu tài năng, đức độ khác nhau, cống hiến, đóng góp khác nhau, đảm nhận những nghĩa
vụ khác nhau.1 “Công bằng ở đây được hiểu đó là sự phù hơp giữa năng lực thực tiễn của người ta với địa vị xã hội mà họ đảm nhiệm, giữa nghĩa vụ và trách nhiệm, cống hiến và hưởng thụ, sự hy sinh, đóng góp và sự đền đáp, công lao và sự thừa nhận, giữa làm và hưởng, lao động và sự trả công, giữa tội ác và sự trừng phạt (có
Xem: Từ điển bách khoa Triết học, Matxcơva,1983,tr 650(tiếng Nga)
Trang 10làm thì có hưởng, không làm thì không hưởng Theo cách hiểu này, thì công bằng không phải là cào bằng, cũng không phải bất cứ sự bằng nhau nào”2 Hai người được ứng xử ngang bằng nhau, đãi ngộ ngang nhau nhưng tài năng, đức độ khác nhau, cống hiến đóng góp khác nhau thì không được hiểu là công bằng mà chính
nó là bất công bằng.Tương tự như vậy, hai người được ứng xử khác nhau đãi ngộ khác nhau trên cơ sở của sự khác nhau tương ứng về tài năng ,đức độ và sự đóng góp, cống hiến của họ cho xã hội thì đó không phải là bất công bằng xã hội mà chính đó lại là công bằng xã hội Điều này cũng có nghĩa rằng, nếu đánh đồng khái niệm công bằng xã hội với khái niệm bình đẳng xã hội thì thật là một sai lầm đáng tiếc, nó có thể dẫn đến những hệ lụy xã hội tiêu cực Không phải bất kỳ một sự bình đẳng xã hội nào cũng là công bằng xã hội mà chỉ có những bình đẳng xã hội nào dược đặt trong một mối quan hệ hết sức xác định như vừa phân tích ở trên thì
mới là công bằng xã hội Hai là, bình đẳng xã hội là mọi sự ngang nhau song công
bằng xã hội bao hàm cả sự khác nhau (sự cống hiến, đóng góp cao thấp khác nhau
sẽ nhận được những quyền và lợi ích cao thấp khác nhau).Những người có trình
độ, năng lực khác nhau song lại được ứng xử giống nhau, ngang bằng nhau thì đó
là cào bằng, là bất công bằng Bình đẳng xã hội là sự ngang bằng nhau về một khía cạnh, một phương diện nào đó giữa người ta với nhau mà chưa xem xét đến hay không đòi hỏi phải gắn nó với một quan hệ hết sức xác định vốn không ngang bằng nhau về mặt năng lực (thể chất, trí tuệ), tài năng, cống hiến, đóng góp thực tế của mỗi cá nhân cho xã hội.Ví dụ: Chúng ta nói rằng, anh A và anh B bình đẳng với nhau để cùng đua tranh với nhau vào một vị trí giám đốc một nhà máy hay hiệu trưởng một trường phổ thông nào đó nhưng chúng ta chưa nói gì đến sự khác biệt giữa họ về trình độ chuyên môn được đào tạo, kinh nghiệm, sức bền, sự điềm đạm
và những tiêu chuẩn cần thiết khác thì đó mới chỉ thuần túy nói đến sự bình đẳng
về cơ hội giữa hai người và sự không ngang bằng nhau về năng lực vận dụng cơ
Nguyễn Đình Tấn.T/c XHH, số 4/2014, tr18.