1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

BÀI KIỂM TRA GIỮA KỲ (LẦN 1) Môn học: Hệ thống nông nghiệp và khuyến nông

9 14 0
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Bài Kiểm Tra Giữa Kỳ (Lần 1)
Tác giả Tạ Diên Sơn
Trường học Trường Đại học Nông nghiệp Hà Nội
Chuyên ngành Hệ thống nông nghiệp và khuyến nông
Thể loại Bài kiểm tra
Thành phố Hà Nội
Định dạng
Số trang 9
Dung lượng 78,5 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

BÀI KIỂM TRA GIỮA KỲ (LẦN 1) Môn học: Hệ thống nông nghiệp và khuyến nông

Trang 1

BÀI KIỂM TRA GIỮA KỲ (LẦN 1) Môn học: Hệ thống nông nghiệp và khuyến nông

- Học viên thực hiện: Tạ Diên Sơn.

- Quê quán: Xã Dị Nậu, huyện Tam Nông, tỉnh Phú Thọ

- Lớp: Cao học Phát triển nông thôn - Khóa 23.

Đề bài:

Anh (chị) hãy cho biết tại sao phải tái cơ cấu ngành nông nghiệp

Bài làm:

1 Thành tựu chính của nền nông nghiệp nước ta:

Trong quá trình thực hiện sự nghiệp đổi mới, vượt qua bao gian khó, đến nay nền nông nghiệp nước ta đã từng bước trưởng thành và đóng góp nhiều thành tựu vào sự nghiệp phát triển kinh tế, trong đó nổi bật là những vấn đề sau đây:

- Nông nghiệp tiếp tục phát triển với nhịp độ khá cao theo hướng tăng năng suất, chất lượng và hiệu quả, bảo đảm vững chắc an ninh lương thực quốc gia; xuất khẩu nông, lâm thuỷ sản tăng nhanh; trình độ khoa học-công nghệ được nâng cao hơn:

+ Nông nghiệp Việt Nam tăng trưởng cao, liên tục, đặc biệt là căn bản giải quyết được vấn đề lương thực cho đất nước Trong hơn bốn thập kỷ, lương thực đối với nước ta luôn là vấn đề nóng bỏng, tình trạng thiếu lương thực diễn

ra triền miên Tính riêng 13 năm (1976-1988) Việt Nam đã nhập 8,5 triệu tấn qui gạo, hàng năm nhập 0,654 triệu tấn qui gạo, song từ năm 1989 lại đây, sản xuất lương thực, sản xuất lương thực nước ta chẳng những đã trang trải nhu cầu lương thực cho tiêu dùng, có dự trữ lương thực cần thiết mà còn dư thừa để xuất khẩu, hàng năm xuất khẩu từ 1,5 - 2,0 triệu tấn gạo thời kỳ 1989-1995 và tăng lên 3- 4,6 triệu tấn gạo thời kỳ 1996-2000

+ Giải quyết tốt vấn đề lương thực là điều kiện quyết định để đa dạng hoá cây trồng, vật nuôi Trong một thời kỳ dài, nông nghiệp nước ta là nông nghiệp độc canh lúa nước, từ khi giải quyết được vấn đề lương thực, mới có điều kiện

để đa dạng hoá theo hướng giảm tỷ trọng cây lương thực, tăng tỷ trọng cây công nghiệp, cây ăn quả v.v Lương thực dồi dào, nguồn thức ăn phong phú đã tạo điều kiện để phát triển chăn nuôi

+ Từng bước hình thành những vùng sản xuất chuyên môn hoá với qui mô lớn Từ nền nông nghiệp tự cung tự cấp chuyển sang sản xuất nông sản hàng hoá, nông nghiệp nước ta đã và đang từng bước hình thành các vùng sản xuất chuyên môn hoá với qui mô lớn Hai vùng trọng điểm lúa của nước ta là đồng bằng sông Cửu Long và đồng bằng Sông Hồng đó là hai vùng sản xuất lúa lớn nhất của đất nước Cà phê được phân bố tập trung nhất ở vùng Tây Nguyên và ở vùng Đông Nam Bộ Cao su là cây công nghiệp lâu năm được phát triển mạnh ở nước ta, sản xuất cao su được phân bổ chủ yếu vùng Đông Nam Bộ và Tây Nguyên Cây điều được trồng ở nước ta từ lâu, phân bổ từ Quảng Nam trở vào, gần đây được phát triển mạnh ở các tỉnh Tây Nguyên Từ năm 2010 sản lượng

Trang 2

một số cây ăn quả cũng tăng khá như cam, quýt, dứa … Về chăn nuôi được phân bố đồng đều ở các vùng trong cả nước, tính tập trung chưa cao, song bước đầu đã thể hiện sự hình thành vùng sản xuất hàng hoá tương đối rõ

+ Các hình thức tổ chức sản xuất ở nông thôn tiếp tục được đổi mới; kinh

tế nông thôn phát triển theo hướng tăng công nghiệp, dịch vụ, ngành nghề, góp phần tạo việc làm và tăng thu nhập cho cư dân nông thôn Hiện nay, nhiều tiến

bộ khoa học và công nghệ áp dụng vào sản xuất nông nghiệp đã tạo ra giá trị gia tăng trong tăng trưởng nông nghiệp khoảng 30% Những năm qua, các cơ quan nghiên cứu, các nhà khoa học Việt Nam nghiên cứu thành công các quy trình công nghệ và chọn tạo được nhiều giống cây trồng, gia súc Những tiến bộ kỹ thuật đó được được áp dụng vào sản xuất nông nghiệp trên nhiều lĩnh vực như: trồng trọt, chăn nuôi, nuôi trồng thủy sản và chế biến sau thu hoạch

- Môi trường được cải thiện một cách rõ rệt, kết cấu hạ tầng kinh tế-xã hội nông thôn được tăng cường, công tác thuỷ lợi và phòng chống thiên tai có chuyển biến tích cực nhất là thuỷ lợi, giao thông, góp phần thúc đẩy phát triển sản xuất, từng bước làm thay đổi bộ mặt nông thôn. 

- Nông nghiệp đã tạo nhiều việc làm, góp phần xoá đói giảm nghèo (tỷ lệ

hộ đói nghèo giảm 2%/năm) Mức giảm đói nghèo ấn tượng này trong thời gian qua, chủ yếu là nhờ thành tựu to lớn trong lĩnh vực nông nghiệp, phát triển nông thôn từ đó đời sống vật chất, tinh thần của cư dân các vùng nông thôn ngày càng được cải thiện; xoá đói giảm nghèo đạt thành tựu to lớn Đồng thời, các công tác chăm sóc sức khoẻ, khám chữa bệnh, phổ cập giáo dục, văn hoá, thông tin, thể thao cũng được quan tâm và đẩy mạnh hơn

- Hệ thống chính trị ở nông thôn do Đảng lãnh đạo được tăng cường; dân chủ cơ sở được phát huy; vị thế giai cấp nông dân được nâng cao; an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội được giữ vững

2 Những vấn đề thách thức, tồn tại:

Bên cạnh những thành tựu đạt được nêu trên, nông nghiệp nước ta cũng còn nhiều tồn tại và hạn chế đặc biệt khi gia nhập WTO cũng tạo ra cho nông nghiệp nhiều thách thức:

- Bình quân đất nông nghiệp trên số dân làm nông ở Việt Nam là rất thấp, chỉ có 0.16ha/đầu người Vấn đề đối với quy mô đất nhỏ của các nông hộ càng trầm trọng hơn do tính tính xé lẻ, một kết quả của áp lực gia tăng dân số, và cụ thể ở miền bắc là do quá trình giao đất cho các nông hộ sau khi xóa bỏ hệ thống hợp tác xã kiểu cũ Hơn nữa, do những kiểm soát chặt chẽ của chính phủ, thị trường quyền sử dụng đất vẫn chưa rõ ràng và do đó vận hành chưa có hiệu quả

- Vốn đầu tư cho nông nghiệp, nông thôn qua thấp, chỉ bằng 10% so với tổng đầu tư ngân sách xã hội Chính vì đầu tư thấp nên sản xuất nông nghiệp vẫn còn manh mún, nhỏ lẻ, trình độ canh tác của nông dân lạc hậu, hệ thống hạ tầng phục vụ nông nghiệp chưa đáp ứng được nhu cầu, tốc độ cơ giới hóa chậm, chất lượng nông sản thấp, giá thành cao, khả năng cạnh tranh kém, luôn bị động trước những diễn biến thị trường Bên cạnh đó con số đầu tư 10% ngân sách cho nông nghiệp cũng chưa thực sự hiệu quả bởi chúng ta chưa làm tốt công tác quy hoạch, xây dựng chiến lược và có chính sách cụ thể, hợp lý

Trang 3

- Cơ cấu nông nghiệp và kinh tế nông thôn chuyển dịch chậm, thiếu bền vững Ngành trồng trọt chiếm tỉ trọng lớn, trên 57%, các ngành chăn nuôi, lâm nghiệp chưa phát huy hết tiềm năng, lợi thế và xu hướng phát triển không ổn định Việc xây dựng các vùng nguyên liệu lớn, tập trung cho các ngành công nghiệp chế biến tiến hành chậm

- Việc ứng dụng thành tựu khoa học – công nghệ vào quá trình sản xuất nông, lâm, ngư nghiệp còn chậm Hầu hết các loại cây trồng vật nuôi có năng suất, chất lượng và khả năng cạnh tranh thấp Năng suất cây trồng thường mới đạt từ 50% đến 70% mứa bình quân chung của thế giới Công tác nghiên cứu, chuyển giao khoa học – kĩ thuật, công nghệ mới còn nhiều bất cập Hệ thống quản lý thủy nông, thú y, bảo vệ thực vật, cung ứng giống, vật tư chưa đáp ứng được yêu cầu công nghiệp hóa nông nghiệp

- Công tác bảo vệ rừng và tuyên truyền phòng chống cháy rừng luôn được các địa phương quan tâm và tổ chức triển khai đến các thôn, bản Tuy nhiên, do thời tiết đầu năm khô hạn kéo dài nên hiện tượng cháy rừng vẫn xảy ra tại một

số địa phương

3 Định hướng tái cơ cấu nền nông nghiệp:

 Nền nông nghiệp Việt Nam trong thời gian qua đã đạt được nhiều thành tựu tuy nhiên, nông nghiệp hiện vẫn rất khó khăn để tạo ra các thay đổi về chất trong hoạt động Dù đã tạo ra sản lượng lương thực đủ tiêu dùng trong nước và xuất khẩu từ nhiều năm, nhưng những mâu thuẫn cơ bản của nông nghiệp Việt Nam rất chậm được xử lý Sự tác động của cơ chế, của khoa học, kỹ thuật đã làm tăng năng suất cây trồng, thúc đẩy tổng sản lượng tăng theo, nhưng phương thức canh tác, trồng cấy của người nông dân vẫn thực hiện theo truyền thống, kinh nghiệm như hàng nghìn năm qua Sự thâm nhập của phương thức sản xuất mới, máy móc hiện đại vào nông nghiệp có, nhưng kết quả thì vẫn hạn chế Lý

do là vì ruộng đất được chia nhỏ cho các hộ gia đình ở nông thôn, bình quân diện tích nhỏ, manh mún và do đó lại hạn chế, triệt tiêu nhu cầu ứng dụng công nghệ cao để gia tăng giá trị khai thác đất Kết quả là tại nhiều vùng, ruộng đất chỉ tạo ra sản lượng lương thực đủ ăn cho mỗi gia đình sở hữu ruộng, nhiều vùng khác thậm chí là không tạo ra sản lượng đủ ăn Để gia tăng giá trị khai thác

từ nông nghiệp, theo tôi cần có những định hướng sau:

- Khuyến khích tích tụ ruộng đất, hình thành mô hình canh tác kiểu công nghiệp với sự tham gia của máy móc, khoa học, công nghệ, hay mô hình trang trại có diện tích lớn, hoạt động khép kín Tuy nhiên, tích tụ ruộng đất lại làm nảy sinh vấn đề thừa lao động, thiếu ruộng tại nông thôn và từ đó gây bất ổn xã hội

- Hình thành các vùng sản xuất chuyên canh lớn, tập trung như cà phê, chè, mía Nhưng cũng lại là thực tế tại các vùng sản xuất lớn này, cứ tăng được sản lượng thì lại giảm về giá bán, thậm chí nông dân bị ép giá tới không còn lãi, hoặc lỗ nặng Do vậy, Nhà nước phải quy hoạch các vùng và chỉ đạo bằng chính sách để sản xuất các loại cây trồng, vật nuôi có lợi thế theo vùng Nhà nước chuyển sang nền sản xuất hàng hóa, định hướng vĩ mô, bằng chính sách phát triển cây hàng hóa có lợi thế hàng hóa cao, không phát triển tràn lan

- Nông dân không có thu nhập ổn định từ đất đã hạn chế tốc độ ứng dụng khoa học, công nghệ, kỹ thuật cao vào sản xuất Thiếu đột phá từ ứng dụng khoa

Trang 4

học, công nghệ lại không nâng cao được thu nhập của nông dân dẫn đến người nông dân có thu nhập bình quân tăng chậm nhất Do vậy, đối với người dân phải thay đổi ý nghĩ cũ của người dân đó là sản xuất theo hướng quảng canh, trông chờ, ỷ nại vào sự hỗ trợ của nhà nước mà người dân phải năng động, chủ động tiếp thu khoa học kỹ thuật, phối hợp với các cơ quan có thẩm quyền tìm đầu ra cho sản phẩm, sản xuất theo hướng hàng hóa chứ không phải theo hướng tự sản,

tự tiêu, nhỏ lẻ Đây là vấn đề hết sức khó khăn, cần sự quan tâm đầu tư đặc biệt của các cấp chính quyền từ trung ương đến địa phương

Nông nghiệp đóng có vai trò hết sức to lớn trong nền kinh tế, vì vậy nhà nước cần có các biện pháp thích hợp để khắc phục những hạn chế và phát huy hơn nữa những thành tựu đạt được để nông nghiệp Việt Nam ngày càng phát huy hơn nữa vai trò của mình

Trang 5

BÀI KIỂM TRA GIỮA KỲ (LẦN 2) Môn học: Hệ thống nông nghiệp và khuyến nông

- Học viên thực hiện: Tạ Diên Sơn.

- Quê quán: Xã Dị Nậu, huyện Tam Nông, tỉnh Phú Thọ

- Lớp: Cao học Phát triển nông thôn - Khóa 23.

Đề bài:

Anh (chị) hãy trình bày vai trò của nông dân trong nghiên cứu phát triển nông thôn

Bài làm:

1 Khái niệm về nông dân:

Nông dân là những người lao động cư trú ở nông thôn, tham gia sản xuất nông nghiệp Nông dân sống chủ yếu bằng ruộng vườn, sau đó đến các ngành nghề mà tư liệu sản xuất chính là đất đai Tùy từng thời kì lịch sử, người nông dân có quyền sở hữu khác nhau về ruộng đất Họ hình thành nên giai cấp nông dân, có vị trí, vai trò nhất định trong xã hội Trong lịch sử, nhiều nền văn minh lấy nông nghiệp làm nền tảng đã phát triển giai cấp nông dân, được tổ chức chặt chẽ hình thành dần tầng lớp tiểu nông từ những cơ sở ruộng đất lớn của chủ đất Tiếp đó, ở nông thôn tầng lớp phú nông, địa chủ, cùng với tư sản thành thị Ngày nay, nông dân có sinh hoạt tổ chức khác nhau trên từng địa phương Nhìn chung, nông dân là những người nghèo, bị phụ thuộc vào các tầng lớp trên hay còn gọi là tá điền, nông nô

Nông dân Việt Nam đóng vai trò quan trọng trong quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa nhất là đối với nông nghiệp nông thôn, vì đây là lực lượng chiếm số lượng đa số trong cả nước và cũng chính họ đã có nhiều đóng góp đáng tự hào từ lịch sử đến hiện nay Nông dân chính là những người tích cực tham gia vào quá trình xây dựng nông thôn, chủ động, sáng tạo trong xây dựng kết cấu cơ sở hạ tầng kinh tế - xã hội; trong quá trình tổ chức sản xuất công nghiệp hóa, hiện đại hóa nông nghiệp, nông thôn; trong gìn giữ nếp sống văn hóa, thuần phong mỹ tục và là nhân tố góp phần quan trọng vào xây dựng hệ thống chính trị - xã hội vững mạnh, bảo đảm an ninh trật tự tại cơ sở

2 Khái niệm phát triển nông thôn:

Phát triển nông thôn là một chiến lược nhằm cải thiện các điều kiện sống

về kinh tế và xã hội của một nhóm người cụ thể - người nghèo ở vùng nông thôn Nó giúp những người nghèo nhất trong những người dân sống ở các vùng nông thôn được hưởng lợi ích từ sự phát triển (Theo định nghĩa của ngân hàng thế giới năm 1975)

Phát triển nông thôn là một quá trình cải thiện có chủ ý một cách bền vững về kinh tế, xã hội, văn hoá và môi trường, nhằm nâng cao chất lượng cuộc sống của người dân nông thôn Quá trình này, trước hết là do chính người dân nông thôn và có sự hỗ trợ tích cực của Nhà nước và các tổ chức khác (Tại Việt Nam)

Trang 6

3 Vai trò của nghiên cứu phát triển nông thôn:

Nghiên cứu ngày càng đóng vai trò quan trọng trong quá trình phát triển nói chung, phát triển nông thôn nói riêng Trong những năm gần đây sự quan tâm đến nghiên cứu, đặc biệt là nghiên cứu nông thôn như là một công cụ phục

vụ phát triển cũng tăng lên Hoạt động nghiên cứu không chỉ tập trung vào các công nghệ mới, những can thiệp mới, mà còn tập trung vào sự hiểu biết quá trình đổi mới, đặt sự phát triển trên cơ sở thực tế thay vì những kế hoạch như trư

ớc đây Sự khác nhau giữa các loại nghiên cứu này còn chưa rõ ràng, bởi vì mọi sản phẩm nghiên cứu còn phải được đem sử dụng và kiểm nghiệm, phải có trao đổi, thảo luận giữa các nhà nghiên cứu với người sử dụng, với các cộng đồng ở nông thôn Sự ủng hộ, chấp nhận của chủ thể (người dân) nông thôn để sử dụng kết quả nghiên cứu nhằm phát triển nông thôn càng mạnh mẽ thì vai trò của nghiên cứu sẽ càng ngày càng có ý nghĩa trong phát triển nông thôn Hiện nay, Việt Nam đang rất chú trọng đến khoa học công nghệ, trong đó hoạt động nghiên cứu khoa học đóng vai trò hết sức quan trọng

Trong lĩnh vực nông nghiệp và phát triển nông thôn, chủ trương của Chính phủ là “phấn đấu để đưa đóng góp của khoa học công nghệ vào giá trị gia tăng của nông-lâm-ngư nghiệp là 30 - 40%” Đây là một con số rất có ý nghĩa nói lên tầm quan trọng của khoa học công nghệ nói chung và của nghiên cứu phát triển nông thôn nói riêng

4 Vai trò của nông dân trong nghiên cứu phát triển nông thôn:

Người nông dân là chủ thể tích cực tham gia vào quá trình xây dựng quy hoạch và thực hiện quy hoạch xây dựng nông thôn; chủ thể tham gia xây dựng kết cấu hạ tầng kinh tế - xã hội ở nông thôn; chủ thể trực tiếp trong phát triển kinh tế và

tổ chức sản xuất của tiến trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa nông nghiệp, nông thôn; chủ thể tích cực, sáng tạo trong xây dựng và gìn giữ đời sống văn hoá - xã hội, môi trường ở nông thôn; nhân tố góp phần quan trọng vào xây dựng hệ thống chính trị - xã hội vững mạnh, bảo đảm an ninh, trật tự xã hội ở cơ sở Do vậy để nghiên cứu phát triển nông thôn thì người dân có những vai trò cụ thể như sau:

- Người dân nông thôn cùng tham gia chia sẻ, thảo luận và phân tích kiến thức của họ về đời sống và điều kiện nông thôn để họ tìm ra những phương sách, giải pháp

từ đó lập kế hoạch và thực hiện kế hoạch nhằm cải thiện đời sống của cộng đồng nông thôn.

- Người nông dân dựa trên kiến thức bản địa, kinh nghiệm truyền thống và năng lực vốn có của mình để xác định vấn đề, ra quyết định, huy động nguồn lực, tổ chức thực hiện để cùng phát triển cộng đồng.

- Người nông dân địa phương tham gia tự nguyện, sáng tạo vào mọi quá trình xác định vấn đề, xác định mục tiêu, ra quyết định, thực hiện, giám sát và đánh giá.

Trang 7

BÀI KIỂM TRA HẾT MÔN Môn học: Hệ thống nông nghiệp và khuyến nông

- Học viên thực hiện: Tạ Diên Sơn.

- Quê quán: Xã Dị Nậu, huyện Tam Nông, tỉnh Phú Thọ

- Lớp: Cao học Phát triển nông thôn - Khóa 23.

Đề bài:

Anh (chị) hãy cho biết lý do cần có sự tham gia của người dân trong nghiên cứu và phát triển nông thôn

Bài làm:

1 Khái niệm về nông dân:

Nông dân là những người lao động cư trú ở nông thôn, tham gia sản xuất nông nghiệp Nông dân sống chủ yếu bằng ruộng vườn, sau đó đến các ngành nghề mà tư liệu sản xuất chính là đất đai Tùy từng thời kì lịch sử, người nông dân có quyền sở hữu khác nhau về ruộng đất Họ hình thành nên giai cấp nông dân, có vị trí, vai trò nhất định trong xã hội Trong lịch sử, nhiều nền văn minh lấy nông nghiệp làm nền tảng đã phát triển giai cấp nông dân, được tổ chức chặt chẽ hình thành dần tầng lớp tiểu nông từ những cơ sở ruộng đất lớn của chủ đất Tiếp đó, ở nông thôn tầng lớp phú nông, địa chủ, cùng với tư sản thành thị Ngày nay, nông dân có sinh hoạt tổ chức khác nhau trên từng địa phương Nhìn chung, nông dân là những người nghèo, bị phụ thuộc vào các tầng lớp trên hay còn gọi là tá điền, nông nô

Nông dân Việt Nam đóng vai trò quan trọng trong quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa nhất là đối với nông nghiệp nông thôn, vì đây là lực lượng chiếm số lượng đa số trong cả nước và cũng chính họ đã có nhiều đóng góp đáng tự hào từ lịch sử đến hiện nay Nông dân chính là những người tích cực tham gia vào quá trình xây dựng nông thôn, chủ động, sáng tạo trong xây dựng kết cấu cơ sở hạ tầng kinh tế - xã hội; trong quá trình tổ chức sản xuất công nghiệp hóa, hiện đại hóa nông nghiệp, nông thôn; trong gìn giữ nếp sống văn hóa, thuần phong mỹ tục và là nhân tố góp phần quan trọng vào xây dựng hệ thống chính trị - xã hội vững mạnh, bảo đảm an ninh trật tự tại cơ sở

2 Khái niệm phát triển nông thôn:

Phát triển nông thôn là một chiến lược nhằm cải thiện các điều kiện sống

về kinh tế và xã hội của một nhóm người cụ thể - người nghèo ở vùng nông thôn Nó giúp những người nghèo nhất trong những người dân sống ở các vùng nông thôn được hưởng lợi ích từ sự phát triển (Theo định nghĩa của ngân hàng thế giới năm 1975)

Phát triển nông thôn là một quá trình cải thiện có chủ ý một cách bền vững về kinh tế, xã hội, văn hoá và môi trường, nhằm nâng cao chất lượng cuộc sống của người dân nông thôn Quá trình này, trước hết là do chính người dân nông thôn và có sự hỗ trợ tích cực của Nhà nước và các tổ chức khác (Tại Việt Nam)

Trang 8

3 Vai trò của nghiên cứu phát triển nông thôn:

Nghiên cứu ngày càng đóng vai trò quan trọng trong quá trình phát triển nói chung, phát triển nông thôn nói riêng Trong những năm gần đây sự quan tâm đến nghiên cứu, đặc biệt là nghiên cứu nông thôn như là một công cụ phục

vụ phát triển cũng tăng lên Hoạt động nghiên cứu không chỉ tập trung vào các công nghệ mới, những can thiệp mới, mà còn tập trung vào sự hiểu biết quá trình đổi mới, đặt sự phát triển trên cơ sở thực tế thay vì những kế hoạch như trư

ớc đây Sự khác nhau giữa các loại nghiên cứu này còn chưa rõ ràng, bởi vì mọi sản phẩm nghiên cứu còn phải được đem sử dụng và kiểm nghiệm, phải có trao đổi, thảo luận giữa các nhà nghiên cứu với người sử dụng, với các cộng đồng ở nông thôn Sự ủng hộ, chấp nhận của chủ thể (người dân) nông thôn để sử dụng kết quả nghiên cứu nhằm phát triển nông thôn càng mạnh mẽ thì vai trò của nghiên cứu sẽ càng ngày càng có ý nghĩa trong phát triển nông thôn Hiện nay, Việt Nam đang rất chú trọng đến khoa học công nghệ, trong đó hoạt động nghiên cứu khoa học đóng vai trò hết sức quan trọng

Trong lĩnh vực nông nghiệp và phát triển nông thôn, chủ trương của Chính phủ là “phấn đấu để đưa đóng góp của khoa học công nghệ vào giá trị gia tăng của nông-lâm-ngư nghiệp là 30 - 40%” Đây là một con số rất có ý nghĩa nói lên tầm quan trọng của khoa học công nghệ nói chung và của nghiên cứu phát triển nông thôn nói riêng

4 Nghiên cứu phát triển nông thôn cần có sự tham gia của người dân là vì:

- Lấy sự tham gia của dân làm trọng tâm Mọi người dân, nam giới cũng như nữ giới, người nghèo và cả người không biết chữ, đều được khuyến khích

và tạo điều kiện để có thể trình bày nguyện vọng của họ, để phân tích hoàn cảnh

và thực hiện những thay đổi cho chính họ

- Người dân sống trực tiếp ở các địa phương, họ biết được mặt mạnh, mặt yếu, nhận thức sâu sắc các tiềm năng phát triển ở địa phương, từ đó đóng góp những ý kiến sâu sắc để phát triển nông thôn bền vững

- Người dân có được một môi trường học tập mang tính tập thể dể xây dựng năng lực của mình Họ có được kiến thức, các kỹ năng thái độ, họ cũng tự tin hơn để đề xuất và quản lý các chương trình hành động riêng

- Người dân được được khơi dậy nhu cầu của họ, phát hiện những ý tưởng

và hình thành chung một tầm nhìn để định hướng phát triển nông thôn phù hợp

- Nông dân là nguồn nhân lực quan trọng trong phát triển nông nghiệp và xây dựng nông thôn

- Nông dân là người trực tiếp xây dựng, giữ gìn và bảo vệ kết cấu hạ tầng nông thôn

- Nông dân là những người trực tiếp đóng góp và đưa đường lối, chủ trương của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước đi vào cuộc sống

- Nông dân là những người trực tiếp tham gia đóng góp xây dựng Đảng, chính quyền, các tổ chức đoàn thể chính trị - xã hội

- Nông dân là chủ thể xây dựng đời sống văn hóa tinh thần ở các vùng nông thôn

- Nông dân là chủ thể giữ gìn an ninh, trật tự ở các vùng nông thôn

Trang 9

Người nông dân là chủ thể tích cực tham gia vào quá trình xây dựng quy hoạch và thực hiện quy hoạch xây dựng nông thôn; chủ thể tham gia xây dựng kết cấu hạ tầng kinh tế - xã hội ở nông thôn; chủ thể trực tiếp trong phát triển kinh tế và

tổ chức sản xuất của tiến trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa nông nghiệp, nông thôn; chủ thể tích cực, sáng tạo trong xây dựng và gìn giữ đời sống văn hoá - xã hội, môi trường ở nông thôn; nhân tố góp phần quan trọng vào xây dựng hệ thống chính trị - xã hội vững mạnh, bảo đảm an ninh, trật tự xã hội ở cơ sở

Ngày đăng: 06/02/2023, 11:33

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w