1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Báo cáo "Một số trao đổi xung quynh công tác giảng dạy tiếng Việt ở khoa Việt Nam học, Trường Đại học Chungwoon, Hàn Quốc " potx

19 434 0
Tài liệu được quét OCR, nội dung có thể không chính xác

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 19
Dung lượng 649,76 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

MUC LUC Lê Thị Lan Anh Về hiện tượng chuyển đổi chức năng - nghĩa trong phạm vi danh từ tiếng Việt Lưu Tuấn Anh Việc sử dụng ngôn ngữ trung gian trong quá trình dạy tiếng Việt cho

Trang 1

KHOA TIENG VIET VA VAN HOA VN KHOAVIET NAM HỌC VÀ TIỆNG VIẾI

ĐẠI HỌC QUỐC GIÁ HÀ NỘI ĐẠI HỌC QUỐC GIÁ 1P HÓ CHMINH

NGHIÊN 6 wy vz ENG DAY

CHO NGUOI NUGC NGOAI

(Ky yeu hoi thao khoa hoc)

NHÀ XUẤT BẠN ĐẠI HỌC Q( [000 IV

Trang 2

10

11

12

13

MUC LUC

Lê Thị Lan Anh

Về hiện tượng chuyển đổi chức năng - nghĩa trong phạm vi danh từ

tiếng Việt

Lưu Tuấn Anh

Việc sử dụng ngôn ngữ trung gian trong quá trình dạy tiếng Việt cho

người nước ngoài

Bài Thị Phương Chỉ

Một số điểm cần chú ý trong việc giảng dạy câu bác bỏ

Pham Thay Chỉ

Nhận biết câu cầu khiến tiếng Việt qua tiểu từ tinh thái cuối câu

Nguyễn Minh Chính

Hỏi và trả lời trong lớp học ngoại ngữ

Trần Nhật Chính

Vai trò của các chí sĩ Hà Nội trong việc phát triển của từ ngữ tiếng

Việt những năm đầu thế kỉ XX

Nguyễn Văn Chính

Một số trao đổi xung quanh công tác dạy tiếng Việt ở khoa Việt

Nam học, trường Đại học Tổng hợp Chungwoon Hàn Quốc

Lê Thị Cúc

Giới thiệu trật tự từ ghép song tiết tiếng Việt cho người học tiếng

Việt như một ngoại ngữ

Bat Duy Dan

Giới thiệu cuốn sách: “Cổ đại vịnh sử thi tỉnh tuyển điểm bình”

Dinh Lư Giang

Dạy tiếng Việt như là nội dung hay phương tiện

Trần Thị Minh Giới

Thử nêu một cách dạy văn học Việt Nam cho sinh viên nước ngoài

Đỗ Thị Hảo

Vài nhận xét về sự tương đồng trong phát âm giữa tiếng Việt với

tiếng Trung và tiếng Hàn

Nguyễn Thị Ngoc Han

Nguồn từ vựng sản sinh của sinh viên nước ngoài học tiếng Việt:

Một vấn đẻ cần lưu ý

AGE

Trang

27

37

47

54

61

75

90

98

lil

121

127

Trang 3

14

15

16

17

18

19

20

2I1

22

23

24

25

26

Nguyễn Thị Hê

Dùng hình ảnh làm phương tiện đạy tiếng Việt như một ngoại ngữ

Huỳnh Công Hiển

Phân tích và dạy cho học viên người nước ngoài về nhóm từ biểu đạt

ý nghĩa khả năng có (hể, được, nổi trong tiếng Việt

Trịnh Đức Hiển - Đồ Thị Thu

Đặc điểm cấu trúc của các đơn vị trung gian giữa thành ngữ và tục ngữ

Vũ Thị Thu Hiện

Nguồn gốc một số dân tộc thiểu số ở Việt Nam và đôi nét tương

đồng - đị biệt của dân tộc hai nước Việt - Trung

Nguyễn Chí Hoa - Song Joeng Nam

Giảng dạy hội thoại - vấn để đặt ra từ thực tiễn

Nguyễn Văn Huệ

Vấn đề dạy ngữ pháp tiếng Việt cho người nước ngoài

Đỉnh Thanh Huệ - Phạm Tuấn Khoa

Về một cách xác định nghĩa từ vựng của giới từ không gian và từ

chỉ hướng không gian đứng sau động từ vận động trong tiếng Việt

Đào Văn Hùng

Về việc biểu hiện ý nghĩa đánh giá của một số trợ từ nhấn mạnh

Dương Thị Thu Hương

Một số kinh nghiệm giảng đạy môn tiếng Việt qua báo chí cho

sinh viên Việt Nam học

Hà Thu Hương

Quan hệ văn học dân gian - dân tộc học và việc nghiên cứu văn học

dân gian theo các mối quan hệ văn hóa tộc người

Nguyễn Việt Hương

Quy trình dạy một bài đọc tiếng Việt

Võ Thanh Hương

Dĩ nhiên, đương nhiên và tất nhiên có khác nhau?

Vũ Thị Thu Hường

Một số bài luyện phát âm với với các kết hợp âm trúc trắc (tongue

twisters) cho sinh viên nước ngoài

(48

139

149

158

169

179

191

196

208

215

222

233

242

251

Trang 4

27

28

29,

30

31

32

33

34

35

36

37

38

Phạm Tuấn Khoa - Định Thanh Huệ

Những nhân tố tạo thành phát ngôn - giao tiếp và nghĩa tình thái của

phát ngôn trong tiếng Việt

Phạm Thị Liên

Ngữ nghĩa của sang, qua và một số vấn đề trong việc dạy tiếng

Nguyễn Thanh Mai

Kí năng đọc có tư duy (phê phán): Nhận diện và các bước áp dụng

trong việc giảng dạy tiếng Việt cho người nước ngoài

Nguyễn Thiện Nam

Một số vấn để liên quan đến việc dạy phát âm, từ vựng và ngữ pháp

tiếng Việt

Nguyễn Thị Bích Nga

Yếu tố kì ảo - một thủ pháp nghệ thuật đặc sắc trong truyện cổ

dân gian Việt Nam

Nguyễn Hông Ngọc

Các cung bậc sắc thái tình cảm khác nhau thể hiện qua câu cảm thần

tiếng Việt

Nguyễn Thị Nguyệt

Khảo sát tỉp truyện về Chử Đồng Tử và những mô tip chính xây

dựng nên tip truyện

Nguyễn Thị Nguyệt

Nhân vật công chúa Liễu Hạnh trong văn học và trong tín ngưỡng,

lễ hội đân gian

Nguyễn Văn Phúc

Nghiên cứu trong giảng dạy tiếng Việt thực hành

Nguyễn Thị Diễm Phương

Tìm hiểu về động từ ö/ trong tiếng Việt (So sánh với cấu trúc bị động

trong tiếng Anh)

Mai Minh Tan

Loại hình liên kết giữa gia đình người Việt với các cơ cấu xã hội

nghiêng về tính chất dân dã, tính chất cộng đồng

Va Van Thi

Cac yéu té chém xen va hién tuong “iéc” hóa trong tiếng Việt

134

260

268

275

288

295

300

309

323

341

356

367

376

Trang 5

39

40

41

42

43

45

46

47

48

49

50

51

Nguyễn Văn Thông

Tìm hiểu một số thói hư tật xấu của người Việt qua tục ngữ

Nguyễn Thi Héng Thu

Sơ lược về giao tiếp liên văn hoá

Phạm Thị Thu

Tap chi Tri Tan va Thanh Nghị với việc giáo dục học của nước nhà

trong những năm 1941 - 1945

Bùi Thanh Thuỷ

Quy trình thiết kế các phát ngôn so sánh tĩnh biểu thị ý nghĩa

tương đồng trong tiếng Việt cho người nước ngoài

Nguyễn Thu Trang

Chất văn học trong phóng sự của Ngô Tất Tố

Nguyễn Hoàng Trung

Sử dụng tài liệu nguyên bản trong việc dạy đọc hiểu

Võ Thị Thanh Tùng - Ngô Hải Uyên

Danh từ đơn vị trong tiếng Việt và trong tiếng Hàn: tương đồng và

khác biệt

Trần Thị Ánh Tuyết

Tìm hiểu nhóm phụ từ chỉ sự tiếp diễn: vấn, cứ, con trong một số

sách dạy tiếng Việt cho người nước ngoài, trình độ cơ sở

Phạm Phú Ty

Tư tưởng khai sáng, nét chủ đạo trong quan điểm nhân đạo của

Nguyễn Công Hoan

Bạch Thanh Vân

Lối nói ẩn dụ, hình tượng hoá trong bài thơ Tre Việt Nam của nhà

thơ Nguyễn Duy

Nguyễn Thị Vân

Chính sách giáo dục tiếng Anh ở Malaysia (Liên hệ với Việt Nam)

Nguyễn Thị Hoàng Yến

So sánh một số cách nói gây khiến trong tiếng Anh, tiếng Nhật với

những từ biểu thị ý gây khiến trong tiếng Việt

Trương Nguyễn Hoàng Yến

Dạy từ vựng theo mô hình 3P cho người học tiếng

200

382

391

397

406

414

422

432

439

449

454

460

475

486

Trang 6

MOT SỐ TRAO ĐỔI XUNG QUANH CÔNG TÁC DẠY TIENG VIỆT Ở KHOA VIỆT NAM HỌC, TRƯỜNG ĐẠI

HOC TONG HGP CHUNGWOON HAN QUOC

Nguyễn Văn Chính

Khoa Tiếng Việt và Văn hoá Việt Nam cho người nước ngoài

Trường ĐH KHXH&NV, ĐHQG Hà Nội

1 ĐẶT VẤN ĐỀ

Nói đến việc đạy tiếng Việt và văn hoá Việt Nam cho người nước ngoài thường thường chúng ta nghĩ nhiều đến nhiệm vụ dạy cho các đối tượng là người nước ngoài đến Việt Nam để học tập, nghiên cứu hoặc cư trú trong một thời gian Nhưng chúng ta còn một nhiệm vụ cũng quan trọng không kém, đó là nhiệm vụ giảng dạy tiếng Việt và văn hoá Việt Nam ngoài lãnh thổ Việt Nam Nói một cách khác, đó là việc dạy tiếng Việt và văn hoá Việt ở nước ngoài Tuy nhiên, dạy tiếng Việt và văn hoá Việt Nam ở nước ngoài là một địa hạt quá rộng, không

thể bàn hết trong khuôn khổ của một bài báo khoa học Vì vậy bài viết

của tôi chỉ xoay quanh một số vấn đề về việc dạy tiếng Việt trong một địa bàn cụ thể đó là trường Đại học Tổng hợp ChungWoon, Hàn Quốc

2 NHỮNG THUẬN LỢI VÀ KHÓ KHĂN THÔNG THƯỜNG

Đề cập đến những thuận lợi và khó khăn mà người dạy cũng như

người học thường gặp trong môi trường ngoài Việt Nam thường thấy

phần khó khăn nổi lên lấn át phần thuận lợi Điều này có phần đúng,

nhưng thực tế việc giảng dạy ở nước ngoài cũng có những thuận lợi riêng của nó Những thuận lợi và khó khăn mà chúng tôi nói đến là

những thực tế mà người giáo viên khi đi dạy ở nước ngoài có thể gặp

Trang 7

2.1 Những thuận lợi cơ bản

Thuận lợi đầu tiên mà người giáo viên khi đến nước ngoài giảng dạy là họ được làm việc trong một môi trường giáo dục mới, ở đó điều kiện sinh hoạt và giảng dạy đây đủ và đồng bộ, hiện đại hơn Ở trường Đại học Tổng hợp ChungWoon, mỗi giảng viên chính thức và giảng viên thỉnh giảng sẽ được trang bị một phòng làm việc tại trường với đẩy đủ thiết bị văn phòng: bàn, ghế làm việc, tủ hồ sơ tài liệu, máy

tính có kết nối internet, điện thoại

Các phòng học chuẩn về mức độ rộng rãi, được trang bị đầy đủ

các thiết bị trợ giúp giảng dạy như máy casset-recorder, đầu DVD, hệ

thống Projector , các điều kiện về ánh sáng, nhiệt độ, vệ sinh rất

đảm bảo

Hệ thống thư viện hiện đại đã được tin học hoá ở mức độ cao, là nơi giáo viên và sinh viên có thể đễ dàng cập nhật kiến thức sau các giờ làm việc ở giảng đường Đại học Tổng hợp ChungWoon dành 4 tầng ở hai toà nhà cao tầng nằm gần nhau để làm thư viện và phòng

đọc

Quan hệ giữa các giảng viên trong khoa, trong trường nói chung

là rất thân mật, lịch sự Quan hệ giữa giáo viên và sinh viên cũng thân

thiết nhưng có khoảng cách và tính tôn ti rd rang

Đặc biệt, khi đến giảng dạy tại các trường đại học nước ngoài chúng ta sẽ được giúp bởi một hệ thống các phòng ban chức năng với đội ngũ nhân viên đã chuyên môn hoá cao Các nhân viên phòng ban trong trường sẽ giúp chúng ta hoàn thành các công việc hành chính sự

vụ một cách nhanh chóng và hữu hiệu Người giáo viên sẽ không tốn thời gian và không bị các phiền toái do các thủ tục hành chính gây ra

làm ảnh hưởng đến các công việc chuyên môn của mình

2.2 Những khó khăn có thể gặp phải

Cũng như mọi người khác, khi đến giảng dạy ở một môi trường

mới, người giảng viên cũng sẽ gặp phải một vài khó khăn về địa lí, khí

hậu cũng như phải làm quen với những định chế xã hội khác với xã hội

mà chúng ta đã quen thuộc Những khó khăn về mặt thổ nhưỡng, khí hậu là điều mà chúng ta có thể lường trước được và có thể có những

62

ok

Trang 8

chuẩn bị để vượt qua và dần dân thích nghỉ Dẫu vậy, những khác la về

mặt khí hậu đôi khi cũng gây ra một số trục trặc về sức khoẻ cho người

mới đến Ví dụ cái lạnh băng giá của mùa đông ở xứ Hàn Quốc có thể ảnh hưởng không tốt đến sức khoẻ đối với các giáo viên đến từ vùng

có khí hậu nóng ấm, những giáo viên đến từ miền Nam Việt Nam

Nhưng có lẽ khó khăn lớn nhất xuyên suốt quá trình sống và làm việc tại nước ngoài là việc chúng ta phải chuyển đến sống và từng bước phải hoà nhập với một cộng đồng khác lạ với cộng đồng Việt Nam chúng ta Rào cản lớn nhất là những trở ngại về mặt ngôn ngữ Điều này cũng có liên quan mật thiết đến công tác dạy và học tiếng Việt mà chúng tôi sẽ để cập nhiều hơn ở phần sau Những trở ngại về ngôn ngữ thường tạo ra những ngăn cách giữa người giáo viên lần đầu

đến môi trường mới, không có phương tiện để giao tiếp khiến cho

nhiều khi có cảm giác cô đơn, lạnh lẽo giữa một xã hội phát triển năng động như Hàn Quốc.Tương tự như người nước ngoài đến công tác, học tập tại Việt Nam, khi đến Hàn Quốc làm việc chúng ta cũng gặp phải

những khác biệt mang tính đặc thù về văn hoá, vé lối sống, cách ứng

xử, tác phong làm việc Tất cả những yếu tố đó sẽ tạo ra những “cú sốc” hay là những xung đột văn hoá “Xung đột văn hoá” thường gây

ra những khó khăn, bối rối khi giao lưu, tiếp xúc với người bản xứ Lấy

ví dụ về “văn hoá uống rượu” của người Hàn, trong một cuộc uống

rượu người Hàn rất hiếm khi tự rót rượu (kể cả shoju hay các loại nước

uống khác) cho mình Thường thì người ít tuổi hơn hoặc người có vị thế thấp hơn dùng tay phải của mình (tay trái đặt lên ngực) đưa chén rồi rót cho người trên Việc dùng tay phải để rót rượu hoặc đưa một vật dụng gì đó cho người khác là một nghi thức giao tiếp bất buộc của người Hàn, nó thể hiện thái độ chân thành và sự tôn trọng của người

này với người kia Đến lượt mình người đối ẩm cũng thực hiện các hành động như vậy với người cùng uống Trường hợp nếu bạn là người lớn tuổi hơn hoặc là bề trên thì không cần thiết phải đặt tay trái lên

ngực khi hành động Khi người uống rượu chưa uống hết chén của mình thì về nguyên tắc người cùng uống sẽ không rót tiếp và mời nâng cốc nữa Nghỉ thức này có một tác dụng thiết thực là giúp cho những ai

63 kon

Trang 9

có tửu lượng thấp tránh phải uống nhiều và bị say Việc không nắm được các quy tắc, các nghỉ thức trong bữa rượu với người Hàn có thể

làm người Hàn hiểu sai thiện ý của bạn, ví dụ bạn dùng tay trái rót

rượu cho đối tác sẽ khiến họ nghĩ rằng bạn không tôn trọng họ

Một đơn cử khác, mặc dù ở Hàn Quốc hệ thống siêu thị đã phát

triển rộng khắp trên toàn quốc nhưng bên cạnh đó hệ thống chợ truyền

thống vẫn song hành tồn tại Dường như người Hàn không có tệ nói thách giá như ở các chợ Việt Nam và người Hàn khi đi mua sắm cũng không có thói quen mặc cả nhiều Đến Hàn Quốc, vào chợ mà mặc cả

sẽ được xem là hiện tượng khá lạ, nhưng khi bạn đã đồng ý trả một món hàng nào đó thì người bắn thường thêm ít nhiều cho bạn

Nói một cách tổng quan, những khác biệt, những khó khăn trong

giao tiếp ứng xử mà một người nước ngoài nói chung, người giáo viên

nói riêng có thể gặp phải khi đến Hàn Quốc là khá nhiều Nó xảy ra ở tất cả các lĩnh vực của đời sống xã hội và chỉ có thể khắc phục chúng

trên cơ sở quan sát, ghỉ nhớ và thực hành hàng ngày

3 ĐẶC TRƯNG CÔNG VIỆC

3.1 Đặc điểm của Khoa Việt Nam học, trường Đại học Tổng hợp ChungWoon, Hàn Quốc

Trường Đại học Tổng hợp ChungWoon là một trường tư thục,

được thành lập từ năm 1995 Mới đầu trường có tên là trường Đại học

Cộng sản Chung Nam đào tạo thiên về các ngành khoa học công nghệ

Sau do nhu cầu mở rộng các lĩnh vực và ngành nghề đào tạo, trường

đổi tên thành Đại học Tổng hợp ChungWoon (Thiên Thanh — Tên hiệu của nhà tài phiệt sáng lập ra trường) và giữ đến nay

Khoa Việt Nam ra đời từ năm1998, là một trong số 24 khoa của

trường đại học này Số sinh viên hiện đang theo học tại Khoa trong

năm học này là 92 người trong đó số sinh viên năm thứ nhất là 46 người, kế đến là sinh viên năm thứ hai là 25 người, sinh viên năm thứ

ba 10 người và sinh viên năm thứ tư là 11 người

Giảng viên biên chế chính thức của khoa gồm 2 người, một người

có học hàm Phó Giáo sư, một người có học vị Tiến sĩ (Phó Giáo sư

64

“24

Trang 10

Kim Jung Ouk, chuyén mén lich sit Viét Nam; Tién si Park Jeon Kwan,

chuyên môn ngữ văn Việt Nam) Ngoài hai biên chế thường trực vừa nêu, hàng năm khoa đều mời thêm một giảng viên của trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn, Đại học Quốc gia Hà Nội đến với tư cách là Giáo sư thỉnh giảng Tính đến nay, khoa đã mời lần lượt: Phó Giáo sư Nguyễn Bá Thành (1999); Tiến sĩ Phạm Phú Ty (2003), Phó

Giáo sư Vũ Văn Thí (2005) và Tiến sĩ Nguyễn Văn Chính (2006) Bên

cạnh đó, để đảm bảo đủ giáo viên giảng dạy cho các môn học theo quy chế, khoa còn thực hiện chế độ hợp đồng giảng dạy với một cố giảng

viên là người Hàn hoặc một số cán bộ nghiên cứu sinh, thực tập sinh

Việt Nam Các giáo viên này làm theo hợp đồng ngắn hạn, mang tính thời vụ theo yêu cầu khách quan của từng năm học cụ thể

3.2 Nhiệm vụ của giáo sư thỉnh giảng

Giáo sư thỉnh giảng được mời đến khoa Việt Nam học để đảm

nhiệm giảng dạy môn Hội thoại tiếng Việt cho sinh viên các lớp từ

năm thứ nhất tới năm thứ tư Đây là một trong những môn chuyên đề

quan trọng nhất xuyên suốt toàn bộ khoá học 4 năm Môn hội thoại tiếng Việt gồm 24 đơn vị học trình được giảng liên tục trong tám học

kì, mỗi học kì 3 đơn vị học trình

Đảm trách môn học này, người dạy phải chịu trách nhiệm toàn

bộ về môn học từ khâu chuẩn bị giáo trình, giáo án, lên lớp giảng dạy,

ra bài tập về nhà, điểm danh sinh viên đến khâu tổ chức thi, kiểm tra đánh giá định kì Ở Hàn Quốc nói chung, ở đại học Tổng hợp ChungWoon nói riêng, việc kiểm tra đánh giá chất lượng sinh viên được tổ chức và thực hiện rất nghiêm túc Đối với mỗi môn học, hàng

năm đều có hai kì thi cuối các kì và hai lần kiểm tra giữa mỗi học ki Cách thức tiến hành thi, kiểm tra và cho điểm được dựa theo cách làm

của các trường dai hoc & Mi, cu thé: điểm lên lớp: 10 điểm; điểm chuẩn bị bài: 20; điểm kiểm tra giữa học kì: 30; và điểm thi cuối học kì: 40; Tổng cộng 100 điểm (tối đa) Trên cơ sở cộng các mục điểm

của sinh viên, người thầy sẽ xếp loại sinh viên từ loại A+ cho đến F Sinh viên bị đánh giá là F sẽ phải học lại sau để lấy chứng chỉ

Ngày đăng: 25/03/2014, 16:21

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w