TIỂU LUẬN Môn Luật Hình sự 2 Đề bài Hãy phân tích các dấu hiệu pháp lý của tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản theo quy định tại Điều 174 BLHS? Phân biệt tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản với tội lạm dụng tín.
Trang 1TIỂU LUẬN
Môn: Luật Hình sự 2
Đề bài: Hãy phân tích các dấu hiệu pháp lý của tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản theo quy định tại Điều 174 BLHS? Phân biệt tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản với tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản theo Điều 175 BLHS? Hãy nêu một số khó khăn, vướng mắc và hướng giải quyết trong thực tiễn định tội danh đối với tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản.
Trang 2MỤC LỤC
A ĐẶT VẤN ĐỀ 2
B GIẢI QUYẾT VẤN ĐỀ 3
I DẤU HIỆU PHÁP LÝ CỦA TỘI LỪA ĐẢO CHIẾM ĐOẠT TÀI SẢN 3
1 Khách thể của tội phạm 3
2 Mặt khách quan của tội phạm 4
3 Mặt chủ quan của tội phạm 7
4 Chủ thể của tội phạm 7
II PHÂN BIỆT GIỮA TỘI LỪA ĐẢO CHIẾM ĐOẠT TÀI SẢN VÀ TỘI LẠM DỤNG TÍN NHIỆM CHIẾM ĐOẠT TÀI SẢN 8
1 Dấu hiệu pháp lý của tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản 8
2 Phân biệt tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản với tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản 10
IV NHỮNG KHÓ KHĂN TRONG VIỆC ĐỊNH TỘI DANH VÀ HƯỚNG GIẢI QUYẾT 12
1 Những khó khăn trong việc định tội danh lừa đảo chiếm đoạt tài sản 12
2 Hướng giải quyết trong thực tiễn định tội danh đối với tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản 13
C KẾT LUẬN 15
TÀI LIỆU THAM KHẢO 16
Trang 3A ĐẶT VẤN ĐỀ
Trong lĩnh vực hình sự, số lượng vụ án về xâm phạm sở hữu có số lượng rất lớn
và ngày càng trở nên phức tạp do thủ đoạn của người phạm tội ngày càng tinh vi,liều lĩnh Cũng vì vậy mà nhiều tình huống xảy ra trong thực tế cũng đặt ra nhữngvấn đề lớn cho cơ quan chức năng về việc định tội danh cũng như quyết định hìnhphạt bởi vì nhiều tội danh được quy định trong Bộ luật hình sự có những nétgiống nhau Với tinh thần không để lọt tội phạm, không để oan sai thì việc địnhtội là vô cùng quan trong, nhất là khi số lượng các vụ án xâm phạm sở hữu ngàycàng phức tạp và xuất hiện nhiều thủ đoạn tinh vi Tuy nhiên, trong thực tế, việcphân biệt và định tội danh đối với các hành vi có tính chất tương tự quả thựckhông dễ dàng và còn gặp nhiều vướng mắc Chính vì vậy, em xin được trình bàynhững hiểu biết của mình nhằm phân biệt hai tội xâm phạm sở hữu là tội Lừa đảochiếm đoạt tài sản và tội Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản, đưa ra nhữngvướng mắc, khó khăn gặp phải trong việc định tội danh và phương hướng giảiquyết tình trạng khó khăn trên
Do kiến thức còn nhiều thiếu sót nên trong quá trình làm bài không thể tránhkhỏi những sai sót Mong thầy ( cô) giúp đỡ và phê bình để em tiến bộ hơn
Em xin chân thành cảm ơn!
Trang 4Tài sản1 là đối tượng tác động của các tội phạm xâm phạm sở hữu có những đặcđiểm riêng như sau:
- Tài sản là đối tượng tác động của các tội phạm xâm phạm sở hữu phải được thểhiện dưới dạng những vật cụ thể, có giá trị và giá trị sử dụng, là sản phẩm do conngười lao động tạo ra
- Tài sản là đối tượng tác động của các tội phạm xâm phạm sở hữu là thuộc quyềnchiếm hữu, sử dụng, định đoạt tài sản của chủ thể nhất định và phải có khả năngchuyển dịch giữa các chủ thể với nhau
- Đối tượng có thể là giấy tờ có giá vô danh2 ( giấy tờ được phát hành theo hìnhthức chứng chỉ không ghi tên người sở hữu nhưng thuộc quyền sở hữu của ngườinắm giữ giấy tờ đó), như vậy, việc để thất lạc giấy tờ có giá vô danh cũng sẽ đồngthời làm mất quyền sở hữu đối với giấy tờ có giá đó, vì vậy nó trở thành đốitượng của các tội phạm xâm phạm sở hữu
- Một số vật do tính chất và công dụng đặc thù mà trở thành những đối tượng tácđộng của những tội phạm khác cũng được quy định trong Bộ luật Hình sự như matúy được quy định tại chương XX, tàu bay, tàu thủy được quy định tại chươngXXI, các công trình an ninh quốc gia được quy định tại mục 3 chương XXI…
2 Mặt khách quan của tội phạm
1 Xem thêm Điều 105 Bộ luật Dân sự năm 2015.
2 Xem thêm Điều 2 Thông tư 34/2013/TT-NHNN quy định phát hành kỳ phiếu, tín phiếu, chứng chỉ tiền gửi, trái phiếu trong nước của tổ chức tín dụng, chi nhánh ngân hàng nước ngoài.
Trang 5có yêu cầu phải xảy ra hậu quả thì mới cấu thành tội phạm và mới có thể xử lý Vìvậy, điều đầu tiên cần lưu ý ở tội danh này là phải có sự chuyển dịch tài sản mộtcách bất hợp pháp từ chủ thể sở hữu sang cho người phạm tội và điều thứ hai làgiá trị của tài sản bị chiếm đoạt là từ 2.000.000 đồng- dưới 50.000.000 đồng
và nếu dưới
2.000.000 đồng thì phải thuộc các trường hợp quy định tại khoản 1- điều 174 Bộluật hình sự năm 2015 Bên cạnh đó, mặt khách quan của tội lừa đảo chiếm đoạttài sản bao gồm: Hành vi chiếm đoạt trái phép tài sản, hành vi sử dụng trái phéptài sản, hành vi làm hủy hoại, hư hỏng, mất mát tài sản Tuy nhiên, trong Bộ luậthình sự năm 2015, ở một số tội danh khác như tội cướp tài sản ( điều 168), tội bắtcóc nhằm chiếm đoạt tài sản ( điều 169), tội cưỡng đoạt tài sản ( điều 170) thìkhông yêu cầu phải xảy ra hậu quả, là những tội có cấu thành hình thức, chỉ cầnthỏa mãn hành vi khách quan được quy định trong Bộ luật hình sự năm 2015 làtội phạm hoàn thành
2.2 Người phạm tội phải có hành vi “ dùng thủ đoạn gian dối”
Trang 6Có thể hiểu rộng ra rằng, người phạm tội đã dùng thủ đoạn gian dối để chiếmđoạt tài sản của người khác như đưa ra thông tin không đúng sự thật khiến chủ sởhữu tài sản hoặc người quản lý tài sản do nhầm tưởng mà tự nguyện chuyển giao quyền sở hữu hoặc quyền quản lý tài sản cho người phạm tội Theo đó, thủ đoạn gian dối để chiếm đoạt tài sản được thể hiện như sau:
- Một là, người phạm tội đã có hành vi gian dối như bằng lời nói, hành động hoặcnhững thủ đoạn khác nhằm cung cấp nhưng thông tin sai lệch về sự việc như nóidối, không đúng sự thật, nói không thành có,
- Hai là, chủ sở hữu tài sản hoặc người quản lý tài sản đã nhầm tưởng, tin vào cácthông tin không đúng sự thật nên đã tự nguyện chuyển giao quyền sở hữu hoặcquyền quản lý tài sản cho người phạm tội
Như vậy, điểm khác biệt của sự chiếm đoạt tài sản trong tội lừa đảo chiếm đoạttài sản so với các tội cướp tài sản, tội bắt cóc nhằm chiếm đoạt tài sản chính là ởhành vi dùng thủ đoạn gian dối Hành vi dùng thủ đoạn gian dối nhằm làm chochủ thể sở hữu tài sản tự nguyện giao tài sản cho người phạm tội, không cần phảidùng vũ lực hay đe dọa sử dụng vũ lực đối với chủ thể sở hữu tài sản Trongnhiều trường hợp, mặc dù mức độ nguy hiểm cho tính mạng, sức khỏe của người
bị hại không cao hơn so với mức độ nguy hiểm của tội cướp tài sản hay bắt cócnhằm chiếm đoạt tài sản nhưng khi so sánh về mức độ tinh vi và chuyên nghiệpthì rõ ràng, hành vi dùng thủ đoạn gian dối sẽ hiệu quả và an toàn hơn, ít nguy cơhơn khi dùng vũ lực nhằm chiếm đoạt tài sản vì hành vi gian dối đó giúp chongười phạm tội có được lòng tin của chủ sở hữu tài sản mà tự nguyện giao tài sảnra
2.3 Hành vi gian dối phải xảy ra trước khi có sự chuyển dịch tài sản
Trong hành vi khách quan của tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản, cần phải lưu ý vềthứ tự thực hiện hành vi và yêu cầu đặt ra là hành vi lừa đảo chiếm đoạt tài sảnphải diễn ra trước, sự chuyển dịch trái phép tài sản từ chủ thể sở hữu sang ngườiphạm tội diễn ra sau và có mối quan hệ nhân quả giữa hành vi sử dụng thủ đoạn
Trang 7gian dối
Trang 8và tài sản có được do chuyển dịch trái phép Trong luật hình sự, mối quan hệ nhânquả sẽ chỉ ra được mối liên hệ giữa hành vi của người phạm tội và hậu quả từhành vi đó gây ra, có ý nghĩa trong việc định tội danh và quyết định hình phạt.Trong một trường hợp, khi tiến hành thực hiện dùng thủ đoạn gian dối nhằmchiếm đoạt một tài sản cụ thể là tiền nhưng kết quả không giống như người phạmtội mong muốn, mà cái mà họ có được từ hành vi dùng thủ đoạn gian dối đối vớichủ thể sở hữu là một thứ có giá trị thấp hơn 2.000.000 đồng và không thuộc cáctrường hợp tại khoản 1- điều 174 Bộ luật Hình sự năm 2015, thậm chí là thứngười phạm tội có được là không có giá trị thì không cấu thành tội phạm và theonguyên tắc, họ không phải là tội phạm Trong thực tế, để cấu thành tội lừa đảochiếm đoạt tài sản thì hành vi dùng thủ đoạn gian dối phải có trước và nếu hành vìdùng thủ đoạn gian dối xảy ra sau khi chiếm đoạt được tài sản thì sẽ cấu thànhmột tội danh khác
2.4 Hành vi dùng thủ đoạn gian dối phải có tính chất quyết định
Tội phạm hiện nay ngày càng trẻ hóa và có nhiều thủ đoạn mới nhằm đạt đượcnhững mục đích riêng khi thực hiện hành vi phạm tội Để đạt được mục đích, cầnthực hiện rất nhiều hành vi, bao gồm cả thủ đoạn dùng hành vi gian dối và nhiềuhành vi gian dối khác như giả mạo công nhân viên chức, kết bạn, làm quen,…Tuynhiên, trong tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản, hành vi dùng thủ đoạn gian dối phải làhành vi có tính chất quyết định Hành vi có tính chất quyết định có thể hiểu là nếukhông diễn ra hành vi đó thì sẽ không đạt được mục đích và không thể thiếu hành
vi đó trong quá trình chiếm đoạt tài sản Ví dụ: A và B là bạn bè mới quen quamạng Lấy cớ rằng phải đi có việc mà không có xe nên A nhờ B chở đi Khi đitrên đoạn đường vắng vẻ, A xin B cho đi thử xe, sau đó A phóng xe đi mất vàkhông liên lạc được Có thể thấy rằng, trong một chuỗi các hành vi A đã thựchiện, chỉ có hành vi dùng thủ đoạn gian dối là xin B cho đi thử xe là hành vi cótính chất quyết định, nếu không có điều đó thì A sẽ không có được chiếc xe như
dự định Còn những hành vi trước đó như làm quen, giả vờ có việc, nhờ B đưađi… cũng là một loạt hành vi gian dối nhưng xét về vai trò, những hành vi đó chỉ
Trang 9giúp chị A tiếp cận
Trang 10gần hơn với tài sản và không có ý nghĩa quyết định Có thể nói rằng: Trong tộilừa đảo chiếm đoạt tài sản, hành vi dùng thủ đoạn gian dối phải là hành vi có tínhchất quyết định
3 Mặt chủ quan của tội phạm
Có thể thấy rằng, thông qua mặt khách quan của tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản,hành vi dùng thủ đoạn gian dối là hành vi có trước và có tính chất quyết định đốivới hậu quả Người đã thực hiên hành vi này phải có sự chuẩn bị trước về kếhoạch và thủ đoạn của mình, vì vậy, tội phạm diễn ra với lỗi cố ý trực tiếp
4 Chủ thể của tội phạm
Chủ thể của tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản là người từ đủ 16 tuổi trở lên, có nănglực trách nhiệm hình sự ( bao gồm cả công dân Việt Nam và người nước ngoài).Người được coi là có năng lực trách nhiệm hình sự (TNHS) là người thực hiệnhành vi nguy hiểm cho xã hội khi đã đủ độ tuổi theo điều 12, Bộ luật Hình sự năm
2015, có khả năng nhận biết mức độ nguy hiểm của hành vi của mình đối với xãhội và có khả năng điều khiển hành vi đó
Người được coi là không có năng lực TNHS là người thực hiện hành vi nguyhiểm cho xã hội khi đang mắc bệnh tâm thần hoặc một bệnh khác làm mất khảnăng nhận thức hoặc khả năng điều khiển hành vi của mình Để xác định mộtngười có mất năng lực TNHS hay không thì cần xác định được hai yếu tố:
- Dấu hiệu y học: Người được xem là mất năng lực TNHS là người thực hiệnhành vi nguy hiểm cho xã hội khi đang mắc bệnh tâm thần hoặc bệnh khác làmrối loạn hoạt động tâm thần
- Dấu hiệu tâm lý:
+ Người thực hiện hành vi nguy hiểm cho xã hội mất nhận thức về mức độ nguyhiểm của hành vi minh thực hiện và mất khả năng điều khiển hành vi đó
Trang 11+ Người thực hiện hành vi nguy hiểm cho xã hội trong tình trạng vẫn còn nhậnthức về mức độ nguy hiểm của hành vi nhưng đã mất khả năng điều khiển hành viđó
Để đưa ra kết luận về một người còn hay không còn năng lực TNHS, cần phảixem xét đủ cả hai dấu hiệu y học và dấu hiệu tâm lý Người thực hiện hành vinguy hiểm cho xã hội trong tình trạng không có năng lực TNHS thì không phải làtội phạm và không phải chịu trách nhiệm hình sự Vì vậy, chủ thể của tội lừa đảochiếm đoạt tài sản phải là người có năng lực trách nhiệm hình sự và từ đủ 16 tuổitrở lên
II PHÂN BIỆT GIỮA TỘI LỪA ĐẢO CHIẾM ĐOẠT TÀI SẢN VÀ TỘI LẠMDỤNG TÍN NHIỆM CHIẾM ĐOẠT TÀI SẢN
1 Dấu hiệu pháp lý của tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản
1.1 Khách thể của tội phạm
Là tội pham xâm phạm quyền sở hữu tài sản của Nhà nước, cơ quan, tổ chức,doanh nghiệp, cá nhân
1.2 Mặt khách quan của tội phạm
Mặt khách quan của tội phạm thể hiện ở hành vi lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạttài sản Hành vi lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản là hành vi có được tài sản
do người quản lý tài sản giao cho bằng hình thức hợp đồng3 sau đó là lạm dụnglòng tin chiếm đoạt tài sản đó Hành vi lạm dụng được biểu hiện dưới các dạngsau đây:
- Vay, mượn, thuê tài sản của người khác hoặc nhận được tài sản của người khácbằng hình thức hợp đồng rồi dùng thủ đoạn gian dối để chiếm đoạt tài sản đó.Nghĩa là người phạm tội có được tài sản một các hợp pháp, nhưng sau khi nhậnđược thì dùng thủ đoạn gian dối chiếm đoạt một phần hoặc toàn bộ số tài sản đó
- Vay, mượn, thuê tài sản của người khác hoặc nhận được tài sản của người khácbằng hình thức hợp đồng rồi tìm các bỏ trốn để chiếm đoạt tài sản đó Nghĩa là
Trang 123 Xem Điều 385 Bộ luật Dân sự năm 2015.
Trang 13người phạm tội nhận được tài sản từ một hợp đồng và sau đó trong quá trình thựchiện hợp đồng hoặc đến thời hạn phải trả lại tài sản người phạm tội đã bỏ trốnnhằm chiếm đoạt tài sản đó Tuy nhiên, có một hành vi tương tự nhưng không cấuthành tội này, đó là trường hợp một người trong quá trình thực hiện hợp đồng, dolàm ăn thua lỗ mà không có khả năng trả nợ, bị các chủ nợ uy hiếp gây nguy hiểmđến tính mạng, sau đó đã bỏ trốn và báo với cơ quan chức năng có thẩm quyền đểcan thiệp thì không cấu thành tội này
- Vay, mượn, thuê tài sản của người khác hoặc nhận được tài sản thông qua mộthình thức hợp đồng nào đó, đến thời hạn trả lại tài sản mặc dù có điều kiện, khảnăng nhưng cố tình không trả Đây là trường hợp người phạm tội có được tài sảnbằng một hình thức hợp pháp, tuy nhiên, khi kết thúc thời hạn hợp đồng, mặc dù
có điều kiện để trả nhưng tiến hành viện cớ, hoặc lấy lý do không chính đáng đểtrì hoãn hoặc không trả lại tài sản
- Vay, mượn, thuê tài sản của người khác hoặc nhận được tài sản của người khácbằng các hình thức hợp đồng và đã sử dụng tài sản đó vào mục đích bất hợp phápdẫn đến không có khả năng trả lại tài sản
1.3 Mặt chủ quan của tội phạm
Tội phạm được thực hiện với lỗi cố ý Người phạm tội nhận thức được mức độnguy hiểm cho xã hội của hành vi của mình và nhận thức được mức độ nghiêmtrọng đối với hậu quả từ hành vi đó
1.4 Chủ thể của tội phạm
Là người từ đủ 16 tuổi trở lên, có năng lực trách nhiệm hình sự Ngoài ra, đốivới chủ thể của tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản, để là người có khảnăng lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản của chủ thể sở hữu hoặc người quản
lý tài sản thì người đó phải có mối quan hệ với người bị hại và đạt được sự tintưởng nhất định từ phía của người bị hại
Trang 14Là việc người phạm tội chiếm đoạt tàisản của người khác bằng thủ đoạn lạmdụng tín nhiệm của chủ sở hữu hoặcngười quản lý tài sản.
Hành vi Người phạm tội dùng các
thủ đoạn gian dối: Đưa ranhững thông tin khôngđúng sự thật làm cho chủ
sở hữu hoặc người quản lýtài sản nhầm tưởng, tựnguyện giao tài sản chongười phạm tội
Vay, mượn, thuê tài sản của ngườikhác bằng các hình thức hợp đồngmột cách hợp pháp Sau khi có đượctài sản người phạm tội đã không thựchiện nghĩa vụ tài sản theo hợp đồng
mà chiếm đoạt tài sản đó bằng mộttrong các thủ đoạn sau: Gian dối, bỏtrốn, sử dụng tài sản vào các mục đíchbất hợp pháp như đánh bạc, cầm đồ,cho vay nặng lãi,… dẫn đến không cókhả năng
trả lại tài sản
Thủ đoạn Hành vi dùng thủ đoạn
gian dối là hành vi có tínhchất quyết định, phải xảy ratrước khi chuyển dịch tàisản
Có thể có hoặc không xuất hiện thủđoạn gian dối