1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

TIỂU LUẬN HỌC PHẦN LUẬT HÌNH SỰ

13 12 0
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Tiểu Luận Học Phần Luật Hình Sự
Người hướng dẫn Lư Kế Trường, Giảng viên
Trường học Trường Đại Học Lao Động - Xã Hội
Chuyên ngành Luật Hình Sự
Thể loại Tiểu luận học phần
Năm xuất bản 2022
Thành phố Hà Nội
Định dạng
Số trang 13
Dung lượng 152,92 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

TIỂU LUẬN HỌC PHẦN LUẬT HÌNH SỰTIỂU LUẬN HỌC PHẦN LUẬT HÌNH SỰTIỂU LUẬN HỌC PHẦN LUẬT HÌNH SỰTIỂU LUẬN HỌC PHẦN LUẬT HÌNH SỰTIỂU LUẬN HỌC PHẦN LUẬT HÌNH SỰTIỂU LUẬN HỌC PHẦN LUẬT HÌNH SỰTIỂU LUẬN HỌC PHẦN LUẬT HÌNH SỰTIỂU LUẬN HỌC PHẦN LUẬT HÌNH SỰTIỂU LUẬN HỌC PHẦN LUẬT HÌNH SỰTIỂU LUẬN HỌC PHẦN LUẬT HÌNH SỰTIỂU LUẬN HỌC PHẦN LUẬT HÌNH SỰTIỂU LUẬN HỌC PHẦN LUẬT HÌNH SỰ

Trang 1

TRƯỜNG ĐẠI HỌC LAO ĐỘNG - XÃ HỘI

KHOA LUẬT

TIỂU LUẬN HỌC PHẦN LUẬT HÌNH SỰ

Lớp tín chỉ: D16LK01

HỌC KỲ 2 NĂM HỌC 2021 - 2022

Đề tài: Số 01

Họ và tên sinh viên : Trần Hoàng Thúy Hằng

Số thứ tự trong danh sách lớp: 26

Ngày/tháng/năm sinh : 03/06/1998

Họ và tên giảng viên : Lư Kế Trường

HÀ NỘI - 2022

Trang 2

MỤC LỤC

NỘI DUNG 1

Câu 1: Trình bày các hình thức lỗi trong trong luật hình sự Việt Nam? Cho ví dụ minh họa? 1

1.1 Khái niệm lỗi 1

1.2 Các hình thức lỗi trong luật hình sự Việt Nam 1

1.2.1 Lỗi cố ý trực tiếp 2

1.2.2 Lỗi cố ý gián tiếp 2

1.2.3 Lỗi vô ý vì quá tự tin 2

1.2.4 Lỗi vô ý do cẩu thả 3

1.3 Ví dụ minh họa 3

Câu 2: Bài tập tình huống 4

2.1 Trong vụ án trên những ai phạm tội? Phạm tội gì? Tại sao? 4

2.1.1 Trong vụ án trên những ai phạm tội 4

2.1.2 Phạm tội gì? Tại sao? 5

2.2 Vụ án có đồng phạm không? Tại sao? 8

2.3 Tội phạm được thực hiện ở giai đoạn nào? 9

DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 11

Trang 3

NỘI DUNG

Câu 1: Trình bày các hình thức lỗi trong trong luật hình sự Việt Nam? Cho ví dụ minh họa?

1.1 Khái niệm lỗi

Mặt chủ quan của tội phạm được biểu hiện thông qua ba yếu tố: Lỗi, động

cơ phạm tội và mục đích phạm tội Trong đó, lỗi là dấu hiệu quan trọng nhất, là nội dung cơ bản thể hiện mặt chủ quan của cấu thành tội phạm, không xác định được lỗi thì không thể cấu thành tội phạm

Lỗi là dấu hiệu thuộc mặt chủ quan của tội phạm phản ánh chủ thể đã lựa chọn thực hiện hành vi nguy hiểm cho xã hội khi có điều điều kiện lựa chọn thực hiện hành vi khác phù hợp với đòi hỏi của xã hội

Lỗi là thái độ tâm lý bên trong của người phạm tội đối với hành vi nguy hiểm cho xã hội và hậu quả nguy hiểm cho xã hội của mình cũng như khả năng gây ra hậu quả từ hành vi đó

Trong khoa học về pháp luật hình sự, lỗi được xem xét dưới hai khía cạnh:

Dưới khía cạnh xã hội: Một hành vi gây thiệt hại hoặc đe dọa gây thiệt hại cho xã hội bị coi là có lỗi nếu hành vi đó là kết quả của sự tự lựa chọn và quyết định của chủ thể trong khi có đủ điều kiện khách quan và chủ quan để lựa chọn

và thực hiện xử sự khác phù hợp với đòi hỏi của xã hội

Dưới khía cạnh tâm lý: Lỗi là thái độ tâm lý của một người đối với hành

vi nguy hiểm cho xã hội của mình và đối với hậu quả do hành vi đó gây ra được biểu hiện dưới hình thức cố ý hoặc vô ý

1.2 Các hình thức lỗi trong luật hình sự Việt Nam

Theo quy định của pháp luật hình sự, cụ thể theo Điều 10, Điều 11 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017, lỗi được chia thành 04 loại: Lỗi

cố ý trực tiếp, lỗi cố ý gián tiếp, lỗi vô ý vì quá tự tin và lỗi vô ý do cẩu thả

Trang 4

1.2.1 Lỗi cố ý trực tiếp

- Căn cứ pháp lý khoản 1 Điều 10 Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017: Người phạm tội nhận thức rõ hành vi của mình là nguy hiểm cho xã hội, thấy trước hậu quả của hành vi đó và mong muốn hậu quả xảy ra

- Về mặt lý trí: Nhận thức rõ tính chất nguy hiểm cho xã hội của hành vi

mà mình thực hiện, thấy trước hành vi đó có thể gây hậu quả nghiêm trọng cho

xã hội

- Về mặt ý chí: Sự lựa chọn hành vi phạm tội là sự lựa chọn duy nhất, chủ thể lựa chọn hành vi phạm tội vì chủ thể mong muốn hành vi đó

1.2.2 Lỗi cố ý gián tiếp

- Căn cứ pháp lý khoản 2 Điều 10 Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017: Người phạm tội nhận thức rõ hành vi của mình là nguy hiểm cho xã hội, thấy trước hậu quả của hành vi đó có thể xảy ra, tuy không mong muốn nhưng vẫn có ý thức để mặc cho hậu quả xảy ra

- Về mặt lý trí: Nhận thức rõ tính chất nguy hiểm cho xã hội của hành vi

mà mình thực hiện, thấy trước hành vi đó có thể gây hậu quả nghiêm trọng cho

xã hội

- Về mặt ý chí: Người phạm tội không mong muốn hậu quả xảy ra, tức hậu quả xảy ra không phù hợp với mục đích phạm tội Tuy nhiên để thực hiện mục đích này, người phạm tội để mặc hậu quả nguy hiểm cho xã hội mà hành vi của mình có thể gây ra

1.2.3 Lỗi vô ý vì quá tự tin

- Căn cứ pháp lý khoản 1 Điều 11 Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017: Người phạm tội tuy thấy trước hành vi của mình có thể gây ra hậu quả nguy hại cho xã hội nhưng cho rằng hậu quả đó sẽ không xảy ra hoặc có thể ngăn ngừa được

- Về mặt lý trí: Nhận thức được tính chất nguy hiểm cho xã hội của hành

vi của mình, thể hiện ở việc họ thấy trước hậu quả nguy hại cho xã hội mà hành

vi của mình có thể gây ra

Trang 5

- Về mặt ý chí: Người phạm tội không mong muốn hành vi của mình sẽ gây ra hậu quả nguy hại cho xã hội Tuy nhiên hậu quả nguy hại cho xã hội đã xảy ra và nằm ngoài dự tính của họ

1.2.4 Lỗi vô ý do cẩu thả

- Căn cứ pháp lý khoản 2 Điều 11 Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017: Người phạm tội không thấy trước hành vi của mình có thể gây

ra hậu quả nguy hại cho xã hội, mặc dù phải thấy trước và có thể thấy trước hậu quả đó

- Về mặt lý trí: Phải thấy trước hậu quả nhưng lại không thấy trước được hậu quả đó

- Về mặt ý chí: Người phạm tội khi thực hiện hành vi đáng ra phải thấy trước và có thể thấy trước hậu quả nguy hiểm cho xã hội sẽ xảy ra

1.3 Ví dụ minh họa

- Lỗi cố ý trực tiếp: Anh A và chị B là vợ chồng, anh A thường xuyên

nhậu nhẹt, đánh đập vợ con Tối ngày 28/11/2021, khi đang ăn cơm, anh chị xảy

ra mâu thuẫn, anh A đã dùng dao đâm nhiều nhát lên người chị B với ý muốn giết chết chị B Anh A ý thức được việc mình làm là nguy hiểm và mong muốn hậu quả chết người người xảy ra

- Lỗi cố ý gián tiếp: Anh A là bác sĩ bệnh viện đa khoa tỉnh, chiều ngày

5/11/2021 anh A đang trên đường đi làm về, thấy một người phụ nữ đang gặp tai nạn bên đường nằm thở hấp hối, nhưng anh A đã không cứu người phụ nữ đó

mà đi thẳng về nhà Kết quả là người phụ nữ chết tại chỗ

Về lý trí: Anh A là bác sĩ bệnh viện đa khoa tỉnh là người có nhận thức bình thường, có kỹ năng sơ cứu A nhận thức được hành vi của mình gây ra là nguy hiểm cho xã hội, nhìn thấy được trước hậu quả có thể xảy ra

Về ý chí: Mặc dù thấy trước được hậu quả nguy hiểm nhưng anh A đã không dừng lại để cứu người phụ nữa, kết quả là người phụ nữ chết tại chỗ

- Lỗi vô ý vì quá tự tin: Anh A là giáo viên giảng dạy bơi lội ở hồ bơi

thiếu nhi quận 1, cháu M năm nay 5 tuổi được ba mẹ đưa đến học bơi Anh A thấy cháu M có tiềm năng bơi lội và cũng tin rằng kinh nghiệm của mình nếu

Trang 6

như cháu M bị chuột rút vẫn cứu kịp thời nên đã cho cháu M qua bơi ở hồ rộng

và sâu hơn mặc dù các giáo viên khác đã can ngăn Kết quả, cháu M bơi ra giữa

hồ, bị chuột rút, khoảng cách từ anh A đến M quá xa, A cứu không kịp dẫn đến cháu M bị tử vong Về lý trí: A là giáo viên bơi lội do đó có nhận thức bình thường, có năng lực trách nhiệm hình sự A thấy trước được hành vi của mình

có thể gây nguy hiểm cho cháu M nhưng H tự tin với năng lực của mình nếu có xảy ra nguy hiểm đó củng như có thể khắc phục được Về ý chí: Mặc dù hồ bơi rộng và sâu, các giáo viên khác đã can ngăn, A vẫn tự tin vào khả năng của mình dẫn đến hậu quả cháu M chị chuột rút, ngợp nước dẫn đến tử vong

- Lỗi vô ý do cẩu thả: Nhà anh A có một đám ruộng sắp đến mùa thu

hoạch, tuy nhiên chuột đến phá quá nhiều nên anh A giăng lưới điện xung quanh đám ruộng, trong quá trình làm vội để đi về nhà, Anh A đã không quấn ba mạch điện, dẫn đến mạch điện hở Đêm đến, chị B đi thăm ruộng sát bên đám ruộng anh A, chẳng may giẫm phải mạch hở, bị giật điện, không qua khỏi Anh A không nhận thấy hậu quả nguy hiểm cho xã hội đối với hành vi của mình mặc dù phải thấy hoặc có thể thấy đối với việc giăng dây điện Về ý chí: Anh A không muốn hậu quả xảy ra, củng như không mong muốn thực hiện hành vi khiến chị

B giật điện

Câu 2: Bài tập tình huống

Do đã có mâu thuẫn từ trước nên Hoàng Văn Tuấn có ý định trả thù Nguyễn Văn Kiên Vì vậy, đêm ngày 20/12/2018 biết gia đình anh Kiên đi du lịch nên Tuấn và Hà Văn Nghĩa đã dùng xăng đốt nhà bếp của nhà anh Kiên Hậu quả đã làm toàn bộ phần nhà bếp và đồ dùng nhà bếp cháy rụi, thiệt hại ước tính lên tới 100 triệu đồng Sự việc được làm rõ, Cơ quan điều tra xác định được chính Tuấn và Nghĩa là người thực hiện hành vi đốt nhà bếp của nhà anh Kiên

Hãy xác định:

2.1 Trong vụ án trên những ai phạm tội? Phạm tội gì? Tại sao?

2.1.1 Trong vụ án trên những ai phạm tội

* Vấn đề pháp lý cần giải quyết: Xác định các chủ thể phạm tội trong vụ

án nêu trên

Trang 7

* Lập luận: Trong vụ án nêu trên, chủ thể phạm tội là Hoàng Văn Tuấn

và Hà Văn Nghĩa Vì hai chủ thể này đã có hành vi đốt nhà bếp của nhà anh Kiên Hành vi của Tuấn và Nghĩa là hành vi vi phạm pháp luật hình sự

- Hành vi của Tuấn và Nghĩa đã xâm phạm đến quyền sở hữu tài sản của anh Kiên Đối tượng bị tác động là: Nhà bếp của nhà anh Kiên

- Hành vi trái pháp luật Tuấn và Nghĩa đã có hành vi trái pháp luật hình

sự cụ thể là hành vi dùng xăng đốt nhà bếp của anh Kiên Hành vi của Tuấn và Nghĩa là hành vi gây nguy hiểm cho xã hội đã dẫn đến hậu quả làm toàn bộ phần nhà bếp và đồ dùng nhà bếp cháy rụi, thiệt hại ước tính lên tới 100 triệu đồng

- Chủ thể: Tuấn và Nghĩa Chủ thể có đầy đủ năng lực hành vi và năng lực pháp luật để chịu trách nhiệm hình sự

- Tuấn và Nghĩa thực hiện hành vi với lỗi cố ý trực tiếp đó là việc Tuấn và Nghĩa nhận thức được hành vi của mình là nguy hiểm cho xã hội, nhưng cả 2 điều cố ý thực hiện và mong muốn hậu quả xảy ra

- Hành vi của Tuấn và Nghĩa là hành vi gây nguy hiểm cho xã hội, phải chịu hình phạt theo Bộ luật hình sự hiện hành

2.1.2 Phạm tội gì? Tại sao?

* Vấn đề pháp lý cần giải quyết: Xác định tội phạm của Tuấn và Nghĩa

* Căn cứ pháp lý: Căn cứ vào quy định tại Điều 178 Bộ luật hình sự năm

2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017

“Điều 178 Tội hủy hoại hoặc cố ý làm hư hỏng tài sản

1 Người nào hủy hoại hoặc cố ý làm hư hỏng tài sản của người khác trị giá từ 2.000.000 đồng đến dưới 50.000.000 đồng hoặc dưới 2.000.000 đồng nhưng thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tiền từ 10.000.000 đồng đến 50.000.000 đồng, phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt

tù từ 06 tháng đến 03 năm:

a) Đã bị xử phạt vi phạm hành chính về một trong các hành vi quy định tại Điều này mà còn vi phạm;

b) Đã bị kết án về tội này, chưa được xóa án tích mà còn vi phạm;

c) Gây ảnh hưởng xấu đến an ninh, trật tự, an toàn xã hội;

Trang 8

d) Tài sản là phương tiện kiếm sống chính của người bị hại và gia đình họ;

đ) Tài sản là di vật, cổ vật.

2 Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 02 năm đến 07 năm:

a) Có tổ chức;

b) Gây thiệt hại cho tài sản trị giá từ 50.000.000 đồng đến dưới 200.000.000 đồng;

c) Tài sản là bảo vật quốc gia;

d) Dùng chất nguy hiểm về cháy, nổ hoặc thủ đoạn nguy hiểm khác;

đ) Để che giấu tội phạm khác;

e) Vì lý do công vụ của người bị hại;

g) Tái phạm nguy hiểm.

3 Phạm tội gây thiệt hại cho tài sản trị giá từ 200.000.000 đồng đến dưới 500.000.000 đồng, thì bị phạt tù từ 05 năm đến 10 năm.

4 Phạm tội gây thiệt hại cho tài sản trị giá 500.000.000 đồng trở lên, thì

bị phạt tù từ 10 năm đến 20 năm.

5 Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 10.000.000 đồng đến 100.000.000 đồng, cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ 01 năm đến 05 năm.”

* Lập luận: Theo quy định của pháp luật thì Tuấn và Nghĩa phạm tội hủy

hoại hoặc cố ý làm hư hỏng tài sản

- Khách thể: Tội huỷ hoại hoặc cố ý làm hư hỏng tài sản không xâm phạm đến quan hệ nhân thân mà chỉ xâm phạm đến quan hệ sở hữu Hành vi của Tuấn

và Nghĩa xâm phạm đến tài sản là ngôi nhà bếp, gây thiệt hại 100 triệu đồng

- Về mặt khách quan:

+ Hành vi trái pháp luật: Huỷ hoại tài sản là làm cho tài sản mất hẳn giá trị sử dụng không thể khôi phục lại được và như vậy toàn bộ giá trị tài sản không còn Hành vi huỷ hoại hoặc làm hư hỏng tài sản được thực hiện bằng nhiều phương thức khác nhau tùy thuộc vào thủ đoạn mà người phạm tội thực hiện

Trang 9

như: Đốt cháy, đập phá, dùng chất độc, hoá chất,…Tình huống trên thì Tuấn và Nghĩa đã cùng nhau thực hiện hành vi dùng xăng đốt nhà bếp anh Kiên

+ Hậu quả: Bộ luật hình sự năm 2015 sửa đổi bổ sung năm 2017 quy định những loại tài sản mà người phạm tội khi thực hiện hành vi hủy hoại hoặc cố ý làm hư hỏng đối với những tài sản này sẽ bị truy cứu trách nhiệm về tội này đó là: Tài sản có trị giá từ 2.000.000 đồng trở lên, tài sản là di vật, cổ hoặc vật có giá trị lịch sử, văn hóa hoặc tài sản trị giá dưới 2.000.000 đồng nhưng đã bị xử phạt vi phạm hành chính về hành vi chiếm đoạt tài sản mà còn vi phạm; đã bị kết án về tội này, chưa được xóa án tích mà còn vi phạm; gây ảnh hưởng xấu đến an ninh, trật tự, an toàn xã hội; tài sản là phương tiện kiếm sống chính của người bị hại và gia đình họ; tài sản là kỷ vật, di vật, đồ thờ cúng có giá trị đặc biệt về mặt tinh thần đối với người bị hại

Trong tình huống này hậu quả đã làm toàn bộ phần nhà bếp và đồ dùng nhà bếp cháy rụi, thiệt hại ước tính lên tới 100 triệu đồng

+ Mối quan hệ nhân quả: Nguyên nhân cháy nhà củng như thiệt hại tài sản của anh Kiên là do hành vi của anh Tuấn và nghĩa Nếu tuấn và nghĩa không thực hiện đốt nhà anh Kiên Thì hậu quả thiệt hại 100 triệu đồng không xảy ra

+ Thời gian: Đêm ngày 20/12/2018

+ Địa điểm: Nhà anh Kiên

- Chủ thể tội phạm: Tuấn và Nghĩa là người phải có năng lực chủ thể cùng với năng lực trách nhiệm hình sự Chủ thể phải là người thực hiện hành vi nguy hiểm cho xã hội mà ở đây là hành vi hủy hoại tài sản hoặc làm hư hỏng tài sản của người khác Cụ thể thì Tuấn và Nghĩa cùng tiến hành thực hiện hành vi đốt nhà bếp của Kiên

- Mặt chủ quan:

+ Lỗi: Cố ý trực tiếp

+ Động cơ: đó là việc trả thù anh Kiên do có mâu thuẫn từ trước

+ Mục đích: Mục đích của người phạm tội là mong muốn huỷ hoại hoặc làm hư hỏng tài sản của người khác Ngoài mục đích này, người phạm tội không

Trang 10

có mục đích nào khác và mục đích này cũng là dấu hiệu bắt buộc của cấu thành tội phạm

* Kết luận: Tuấn và Nghĩa phạm tội hủy hoại hoặc cố ý làm hư hỏng tài

sản tại Điều 178 Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017

2.2 Vụ án có đồng phạm không? Tại sao?

* Vấn đề pháp lý cần giải quyết: Xác định vụ án nêu trên có đồng phạm

hay không?

* Căn cứ pháp lý:

- Căn cứ khoản 1 Điều 17 Bộ luật hình sự năm 2015,sửa đổi, bổ sung năm

2017 có quy định “Đồng phạm là trường hợp có hai người trở lên cố ý cùng

thực hiện một tội phạm.”

- Căn cứ khoản 3, khoản 4 Điều 17 Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017

“3 Người đồng phạm bao gồm người tổ chức, người thực hành, người xúi

giục, người giúp sức.

Người thực hành là người trực tiếp thực hiện tội phạm.

Người tổ chức là người chủ mưu, cầm đầu, chỉ huy việc thực hiện tội phạm.

Người xúi giục là người kích động, dụ dỗ, thúc đẩy người khác thực hiện tội phạm.

Người giúp sức là người tạo điều kiện tinh thần hoặc vật chất cho việc thực hiện tội phạm.

4 Người đồng phạm không phải chịu trách nhiệm hình sự về hành vi vượt quá của người thực hành.”

* Lập luận: Theo quy định của pháp luật, đồng phạm là trường hợp có

hai người trở lên cố ý cùng thực hiện một tội phạm

- Thứ nhất, đồng phạm là phải có hai ngưởi trở lên: Có từ hai người trở

lên và những người này phải có đủ điều kiện chủ thể của tội phạm Dấu hiệu chủ thể đặc biệt không đòi hỏi phải có ở tất cả những người đồng phạm mà chỉ cần

có ở người thực hành

- Thứ hai, các chủ thể này cố ý cùng thực hiện một tội phạm

Ngày đăng: 05/02/2023, 23:40

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w