1. Trang chủ
  2. » Tất cả

Luận án Tiến sĩ Các yếu tố ảnh hưởng đến đổi mới tại các doanh nghiệp công nghiệp trên địa bàn tỉnh Thái Nguyên

227 13 0
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Các yếu tố ảnh hưởng đến đổi mới tại các doanh nghiệp công nghiệp trên địa bàn tỉnh Thái Nguyên
Tác giả Bùi Thị Phương Hồng
Người hướng dẫn PGS.TS. Nguyễn Xuân Trung, PGS.TS. Nguyễn Khánh Doanh
Trường học Học viện Khoa học Xã hội
Chuyên ngành Quản trị Kinh doanh
Thể loại Luận án Tiến sĩ
Năm xuất bản 2022
Thành phố Hà Nội
Định dạng
Số trang 227
Dung lượng 2,08 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Mục đích nghiên cứu Dựa trên cơ sở nghiên cứu khung lý luận về đổi mới và kết quả khảo sát thực tế, luận án tập trung đánh giá thực trạng và phân tích các yếu tố ảnh hưởng tới hoạt động

Trang 1

VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM

HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI

- -

BÙI THỊ PHƯƠNG HỒNG

CÁC YẾU TỐ ẢNH HƯỞNG ĐẾN ĐỔI MỚI TẠI CÁC DOANH NGHIỆP CÔNG NGHIỆP TRÊN

ĐỊA BÀN TỈNH THÁI NGUYÊN

LUẬN ÁN TIẾN SĨ QUẢN TRỊ KINH DOANH

HÀ NỘI - 2022

Trang 2

VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM

HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI

- -

BÙI THỊ PHƯƠNG HỒNG

CÁC YẾU TỐ ẢNH HƯỞNG ĐẾN ĐỔI MỚI TẠI CÁC DOANH NGHIỆP CÔNG NGHIỆP TRÊN

ĐỊA BÀN TỈNH THÁI NGUYÊN

Ngành: Quản trị Kinh doanh

Trang 3

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu độc lập của bản thân với sự giúp đỡ của 02 giảng viên hướng dẫn Những thông tin, số liệu, dữ liệu trong luận

án được trích dẫn rõ ràng, đầy đủ về nguồn gốc Những số liệu thu thập và tổng hợp

mà nghiên cứu sinh thực hiện đảm bảo tính khách quan, trung thực Kết quả nghiên cứu của luận án được nghiên cứu sinh công bố trên các tạp chí không trùng với bất

kỳ công trình nghiên cứu nào khác

Nghiên cứu sinh

Bùi Thị Phương Hồng

Trang 4

MỤC LỤC

PH ẦN MỞ ĐẦU 1

Chương 1: TỔNG QUAN CÁC NGHIÊN CỨU LIÊN QUAN ĐẾN ĐỀ TÀI 8

1.1 T ổng quan các công trình nghiên cứu về đổi mới (Innovation) 8

1.1.1 Các nghiên cứu về quan niệm đổi mới (Innovation) 8

1.1.2 Nghiên cứu về tầm quan trọng của đổi mới 13

1.1.3 Nghiên cứu về nội dung đổi mới 21

1.2 T ổng quan các công trình nghiên cứu yếu tố ảnh hưởng đến đổi mới trong doanh nghi ệp công nghiệp 23

1.2.1 Cạnh tranh và thông tin thị trường 23

1.2.2 Thể chế, chính sách và hệ thống pháp luật 26

1.2.3 Cơ sở hạ tầng 29

1.2.4 Liên kết và hợp tác 30

1.2.5 Nhà quản trị doanh nghiệp và chất lượng nguồn nhân lực 32

1.2.6 Năng lực tài chính doanh nghiệp 35

1.3 Kho ảng trống nghiên cứu 38

TI ỂU KẾT CHƯƠNG 1 39

Chương 2: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ ĐỔI MỚI TRONG DOANH NGHIỆP CÔNG NGHI ỆP 40

2.1 M ột số khái niệm cơ bản 40

2.1.1 Khái niệm về đổi mới (Innovation) trong doanh nghiệp 40

2.1.2 Khái niệm doanh nghiệp công nghiệp 41

2.1.3 Khái niệm hoạt động đổi mới trong doanh nghiệp công nghiệp 41

2.2 T ầm quan trọng của đổi mới đối với doanh nghiệp công nghiệp 43

2.3 Đặc trưng đổi mới trong doanh nghiệp công nghiệp 46

2.4 N ội dung đổi mới trong doanh nghiệp công nghiệp 49

2.4.1 Đổi mới sản phẩm 49

2.4.2 Đổi mới quy trình 51

2.4.3 Đổi mới tổ chức 52

2.4.4 Đổi mới Marketing 54

Trang 5

2.5 Lý thuy ết nền tảng liên quan tới đổi mới 55

2.5.1 Lý thuyết đo lường đổi mới của Edison, Ali và Torkar (2013) 55

2.5.2 Lý thuyết đổi mới của schumpeter 57

2.5.3 Lý thuyết đổi mới nội sinh (Endogenous Innovation Theory) 59

2.5.4 Lý thuyết khuếch tán đổi mới của Rogers (Rogers‟ Innovation Diffusion Theory) 60

2.5.5 Lý thuyết đổi mới của Roberts và Berry 61

2.5.6 Lý thuyết đổi mới của Teece 64

2.6 Đo lường đổi mới trong doanh nghiệp 66

2.6.1 Đo lường đổi mới thông qua đầu vào 66

2.6.2 Đo lường đổi mới thông qua đầu ra 69

2.7 Các y ếu tố ảnh hưởng tới đổi mới của doanh nghiệp 72

2.7.1 Cạnh tranh và thông tin thị trường 72

2.7.2 Thể chế, chính sách và hệ thống pháp luật 72

2.7.3 Cơ sở hạ tầng 73

2.7.4 Liên kết và hợp tác 74

2.7.5 Nhà quản trị và chất lượng nguồn nhân lực 74

2.7.6 Năng lực tài chính của doanh nghiệp 75

TI ỂU KẾT CHƯƠNG 2 76

Chương 3: PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 77

3.1 Câu h ỏi nghiên cứu 77

3.2 Gi ả thuyết và mô hình nghiên cứu 77

3.3 Thi ết kế nghiên cứu 79

3.4 Phương pháp tiếp cận 81

3.5 Phương pháp thu thập số liệu 81

3.5.1 Thu thập số liệu thứ cấp 81

3.5.2 Thu thập số liệu sơ cấp 82

3.6 Phương pháp xử lý, phân tích số liệu 90

TI ỂU KẾT CHƯƠNG 3 96

Trang 6

Chương 4: THỰC TRẠNG ĐỔI MỚI VÀ CÁC YẾU TỐ ẢNH HƯỞNG ĐẾN ĐỔI MỚI TẠI CÁC DOANH NGHIỆP CÔNG NGHIỆP TRÊN

ĐỊA BÀN TỈNH THÁI NGUYÊN 97

4.1 Khái quát v ề đổi mới tại các doanh nghiệp công nghiệp trên địa bàn t ỉnh Thái Nguyên 97

4.1.1 Giới thiệu chung về các doanh nghiệp công nghiệp trên địa bàn tỉnh Thái Nguyên 97

4.1.2 Tình hình đổi mới tại các doanh nghiệp công nghiệp trên địa bàn tỉnh Thái Nguyên dựa trên kết quả điều tra 101

4.2 Đánh giá thực trạng hoạt động đổi mới tại các doanh nghiệp công nghi ệp trên địa bàn tỉnh Thái Nguyên 106

4.2.1 Phân tích nhân tố khám phá (EFA) 106

4.2.2 Phân tích nhân tố khẳng định (CFA) 108

4.2.3 Kiển định độ tin cậy của các thang đo (Cronbach‟s Alpha) 111

4.2.4 Thực trạng hoạt động đổi mới của các doanh nghiệp công nghiệp trên địa bàn tỉnh Thái Nguyên 112

4.3 Các y ếu tố ảnh hưởng tới đổi mới của các doanh nghiệp công nghiệp trên địa bàn tỉnh Thái Nguyên 118

4.3.1 Phân tích nhân tố khám phá (EFA) 118

4.3.2 Phân tích nhân tố khẳng định (CFA) 120

4.3.3 Kiểm định độ tin cậy của các thang đo (Cronbach‟s Alpha) 123

4.3.4 Đánh giá thực trạng các yếu tố tác động tới hoạt động đổi mới của doanh nghiệp công nghiệp trên địa bàn tỉnh Thái Nguyên 124

4.4 Phân tích m ức độ ảnh hưởng của các yếu tố tới hoạt động đổi mới của các doanh nghi ệp công nghiệp trên địa bàn tỉnh Thái Nguyên 134

TI ỂU KẾT CHƯƠNG 4 144

Chương 5: MỘT SỐ GIẢI PHÁP NHẰM THÚC ĐẨY HOẠT ĐỘNG ĐỔI MỚI TẠI CÁC DOANH NGHIỆP CÔNG NGHIỆP TRÊN ĐỊA BÀN T ỈNH THÁI NGUYÊN 145

5.1 B ối cảnh đổi mới của các doanh nghiệp trong nước 145

Trang 7

5.1.1 Bối cảnh đổi mới của các quốc gia 145

5.1.2 Bối cảnh đổi mới của các doanh nghiệp công nghiệp tại Việt Nam 146

5.2 Phương hướng và mục tiêu của tỉnh Thái Nguyên về đổi mới 148

5.2.1 Về phương hướng 148

5.2.2 Về mục tiêu 149

5.3 M ột số giải pháp nhằm thúc đẩy hoạt động đổi mới tại các doanh nghi ệp công nghiệp trên địa bàn tỉnh Thái Nguyên 150

5.3.1 Hoàn thiện các chính sách hỗ trợ đổi mới trong doanh nghiệp 150

5.3.2 Xây dựng khu công nghệ cao nhằm tạo dựng cơ sở hạ tầng thúc đẩy hoạt động đổi mới trong các doanh nghiệp công nghiệp 158

5.3.3 Nâng cao năng lực đổi mới của Nhà quản trị 162

5.3.4 Nâng cao chất lượng và phát triển nguồn nhân lực 166

5.3.5 Tăng cường hoạt động liên kết và hợp tác trong đổi mới 168

5.4 Ki ến nghị 174

TI ỂU KẾT CHƯƠNG 5 175

K ẾT LUẬN 176

DANH M ỤC CÁC CÔNG TRÌNH NGHIÊN CỨU CỦA TÁC GIẢ LIÊN QUAN ĐẾN ĐỀ TÀI LUẬN ÁN 178

DANH M ỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 179

PH Ụ LỤC

Trang 8

Năng lực cạnh tranh quốc gia Năng suất lao động

Nghiên cứu và phát triển Tăng năng suất yếu tố tổng hợp

Trang 9

DANH MỤC BẢNG

Bảng 1.2: Tổng hợp các yếu tố tác động đến đổi mới trong doanh nghiệp 37

Bảng 3.1: Mô tả mẫu nghiên cứu 84

Bảng 3.2 Thang đo Likert - 5 mức độ 86

Bảng 3.3 Đề xuất thang đo hoạt động đổi mới 87

Bảng 3.4 Đề xuất thang đo các yếu tố ảnh hướng tới hoạt động đổi mới 88

Bảng 4.1: Số lượng doanh nghiệp công nghiệp chế biến, chế tạo trên địa bàn tỉnh Thái Nguyên giai đoạn 2016-2020 98

Bảng 4.2 Phân loại doanh nghiệp công nghiệp chế biến, chế tạo trên địa bàn tỉnh Thái Nguyên năm 2020 99

Bảng 4.3: Kết quả hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp công nghiệp chế biến, chế tạo tỉnh Thái Nguyên 100

Bảng 4.4: Các thang đo đo lường biến phụ thuộc sau khi phân tích EFA 108

Bảng 4.5: Tổng hợp kết quả phân tích CFA, độ tin cậy, tính hội tụ và tính phân biệt của nhóm biến phụ thuộc 109

Bảng 4.6: Kết quả phân tích độ tin cậy của thang đo “Hoạt động đổi mới” 111

Bảng 4.7: Thực trạng đổi mới sản phẩm tại các doanh nghiệp công nghiệp trên địa bàn tỉnh Thái Nguyên 112

Bảng 4.8: Thực trạng đổi mới quy trình sản xuất tại các doanh nghiệp công nghiệp trên địa bàn tỉnh Thái Nguyên 113

Bảng 4.9: Thực trạng đổi mới tổ chức tại các doanh nghiệp công nghiệp trên địa bàn tỉnh Thái Nguyên 115

Bảng 4.10: Thực trạng đổi mới Marketing tại các doanh nghiệp công nghiệp trên địa bàn tỉnh Thái Nguyên 116

Bảng 4.11: Các thang đo đo lường các biến độc lập sau phân tích EFA 119

Bảng 4.12: Tổng hợp kết quả phân tích CFA, độ tin cậy, tính hội tụ và tính phân biệt của nhóm biến độc lập 120

Bảng 4.13: Kết quả kiểm định độ tin cậy của thang đo của các biến độc lập 123

Bảng 4.14: Thực trạng cạnh tranh và thông tin thị trường 124

Bảng 4.15: Thực trạng thể chế, chính sách và hệ thống pháp luật 125

Trang 10

Bảng 4.16: Thực trạng cơ sở hạ tầng 128

Bảng 4.17: Thực trạng liên kết và hợp tác 129

Bảng 4.18: Thực trạng nhà quản trị và chất lượng nguồn nhân lực 130

Bảng 4.19: Thực trạng năng lực tài chính 132

Bảng 4.20: Tổng hợp kết quả hồi quy mô hình SEM (Chưa chuẩn hóa) 135

Bảng 4.21: Tổng hợp kết quả hồi quy mô hình SEM kiểm soát bởi quy mô doanh nghiệp (chưa chuẩn hóa) 141

Bảng 4.22: Tổng hợp kết quả kiểm định các giả thuyết 143

Trang 11

DANH MỤC HÌNH

Hình 1: Mô hình tăng trưởng kinh tế dựa vào năng suất lao động của APO 16

Hình 2.1: Phát triển bên trong hay tìm kiếm nguồn lực bên ngoài 62

Hình 2.2.: Ai có được lợi nhuận từ đổi mới 65

Hình 3.1: Khung nghiên cứu 78

Hình 3.2: Khung phân tích nghiên cứu các yếu tố ảnh hưởng tới đổi mới tại các DNCN Thái Nguyên 80

Hình 4.1: Doanh nghiệp thực hiện các nội dung đổi mới 101

Hình 4.2: Doanh nghiệp chi cho hoạt động đổi mới 103

Hình 4.3: Doanh nghiệp huy động tài chính phục vụ hoạt động đổi mới 104

Hình 4.4: Doanh nghiệp được hưởng chính sách hỗ trợ đổi mới của Nhà nước 105

Hình 5.1: Quản lý tiềm năng đổi mới của khu công nghệ cao 160

Hình 5.2: Sơ đồ mạng liên kết doanh nghiệp trong đổi mới 170

Trang 12

PH ẦN MỞ ĐẦU

1 Tính c ấp thiết của đề tài

Đổi mới là một quá trình dài hạn, từ việc hình thành ý tưởng đến việc thực thi ý tưởng và thương mại hóa ý tưởng Đổi mới mang lại rất nhiều lợi ích cho các quốc gia Theo báo cáo của OECD (2008), đổi mới sẽ tác động tích cực đến việc nâng cao năng lực cạnh tranh cho doanh nghiệp và nâng tầm vị thế cho các quốc gia Mỗi quốc gia đều chọn cho mình các con đường phát triển kinh tế khác nhau, bởi vì mỗi quốc gia đều có lợi thế về tài nguyên, dân số, tài chính, trình độ kỹ thuật khác nhau… Phát triển kinh tế trước đây thường dựa vào nguồn tài nguyên thiên nhiên, giai đoạn sau đó phát triển kinh tế lại dựa vào nguồn vốn đầu tư và hiện nay

xu hướng mới phát triển kinh tế sẽ dựa vào việc đổi mới (Porter, 2008) Do việc phát triển kinh tế dựa vào các nguồn lực khan hiếm như: Tài nguyên thiên nhiên, nguồn lao động, nguồn vốn…sẽ không bền vững, các nguồn lực này có nguy cơ cạn kiệt bất cứ lúc nào Để đối phó với các vấn đề này, các quốc gia đã chọn giải pháp tăng cường hoạt động đổi mới Thực tế đã chứng minh các quốc gia theo đuổi chiến

lược tăng cường đổi mới sáng tạo, áp dụng khoa học tiến bộ vào hoạt động sản xuất kinh doanh, thì sẽ nâng cao được hiệu quả kinh tế và phát triển kinh tế đất nước thành công

Việt Nam cũng không đứng ngoài xu hướng đó của thế giới, Đảng ta đã nhận thức thấy tầm quan trọng của đổi mới sáng tạo trong việc phát triển kinh tế đất

nước, Văn kiện Đại hội XII đã chỉ rõ “Phát triển mạnh mẽ khoa học, công nghệ,

làm cho khoa học, công nghệ thực sự là quốc sách hàng đầu, là động lực quan trọng nhất để phát triển lực lượng sản xuất hiện đại, kinh tế tri thức, nâng cao năng suất, chất lượng, hiệu quả và sức cạnh tranh của nền kinh tế, bảo đảm quốc phòng,

an ninh‖ Dưới sự chỉ đạo quyết liệt của Đảng và Nhà nước, đổi mới sáng tạo nước

ta đã đạt được những thành tựu đáng kể Việt Nam đã chủ động trong hội nhập kinh

tế, tận dụng các nguồn vốn trong và ngoài nước, tận dụng các dòng kiến thức lan tỏa, hấp thụ tri thức và tạo ra những sản phẩm của tri thức và sáng tạo mới Theo tổ chức sở hữu trí tuệ Thế giới (WIPO), chỉ số đổi mới sáng tạo (GII) của Việt Nam tăng qua các năm, cụ thể: Năm 2016 Việt Nam đứng thứ 59/128, năm 2017 là

Trang 13

47/127 (tăng 12 bậc), năm 2018 là 45/126 (tăng 2 bậc), năm 2019 lên vị trí 42/129 nước và nền kinh tế (tăng 3 bậc), năm 2020 xếp 42/131 quốc gia Năm 2021, Việt Nam xếp thứ 44/132 quốc gia mặc dù có thêm hai nước tham gia xếp hạng chỉ số đổi mới sáng tạo toàn cầu, trong đó chỉ số đầu vào của Việt Nam tăng 2 bậc và chỉ

số đầu ra của Việt Nam vẫn giữ nguyên

Thái Nguyên là một tỉnh miền núi phía Bắc, nơi cửa ngõ giao lưu kinh tế xã hội giữa vùng trung du miền núi với vùng đồng bằng Bắc Bộ Năm 2020, trên địa bàn tỉnh Thái Nguyên có 807 doanh nghiệp đang hoạt động trong lĩnh vực công nghiệp chế biến, chế tạo, với vốn sản xuất kinh doanh là 399.965 tỷ đồng và tạo ra công ăn việc làm cho 150.922 người lao động Doanh nghiệp công nghiệp chế biến, chế tạo đã khẳng định sự đóng góp quan trọng trong quá trình phát triển kinh tế xã hội của tỉnh Thái Nguyên Sự phát triển của các doanh nghiệp công nghiệp chế biến chế tạo trên địa bàn tỉnh Thái Nguyên đã giúp cho sự tăng trưởng kinh tế, tăng thu nhập, giúp xóa đói giảm nghèo….cho người dân trong địa bàn tỉnh và các khu vực lân cận

Hoạt động đổi mới bị tác động bởi rất nhiều yếu tố, trong đó bao gồm cả yếu

tố bên trong và yếu tố bên ngoài doanh nghiệp như: Chính sách, thể chế pháp luật,

cơ sở hạ tầng, tài chính doanh nghiệp, chất lượng nguồn nhân lực Hiện nay, tốc

độ đổi mới của các doanh nghiệp công nghiệp trên địa bàn tỉnh Thái Nguyên vẫn còn chậm, nguyên nhân là do doanh nghiệp chưa tập trung vào khâu nghiên cứu và phát triển (R&D), trình độ người lao động còn thấp,… Mặt khác, Tỉnh Thái Nguyên chưa chưa xây dựng được hệ thống đổi mới sáng tạo trong khu vực tỉnh một cách hiệu quả, chưa đưa ra được cơ chế chính sách nhằm kích thích hoạt động đổi mới trong các doanh nghiệp công nghiệp… Do vậy số lượng các doanh nghiệp công nghiệp trên địa bàn tỉnh Thái Nguyên theo đuổi chính sách đổi mới còn ít Hiện nay có nhiều nghiên cứu về các yếu tố ảnh hưởng tới đổi mới nhưng chưa có

sự thống nhất, do đó nghiên cứu thực trạng ở Thái Nguyên có thể góp phần làm rõ

hơn về lĩnh vực khoa học Chính vì thế tác giả chọn: “Các yếu tố ảnh hưởng đến đổi

mới tại các doanh nghiệp công nghiệp trên địa bàn tỉnh Thái Nguyên” làm đề luận

án nghiên cứu của mình

Trang 14

2 M ục đích và nhiệm vụ nghiên cứu

2.1 Mục đích nghiên cứu

Dựa trên cơ sở nghiên cứu khung lý luận về đổi mới và kết quả khảo sát thực

tế, luận án tập trung đánh giá thực trạng và phân tích các yếu tố ảnh hưởng tới hoạt động đổi mới của các doanh nghiệp công nghiệp trên địa bàn tỉnh Thái nguyên; từ đó nghiên cứu đề xuất các giải pháp nhằm thúc đẩy hoạt động đổi mới tại các doanh nghiệp công nghiệp trên địa bàn tỉnh Thái Nguyên trong thời gian tới

2.2 Nhiệm vụ nghiên cứu

Nhiệm vụ của luận án là:

(1) Hệ thống hoá và làm rõ những vấn đề lý luận cơ bản về đổi mới, các yếu

tố ảnh hưởng tới hoạt động đổi mới trong các doanh nghiệp công nghiệp;

(2) Khảo sát và đánh giá thực trạng đổi mới tại các doanh nghiệp công nghiệp trên địa bàn tỉnh Thái Nguyên;

(3) Nhận diện và đánh giá các yếu tố ảnh hưởng đến hoạt động đổi mới tại các doanh nghiệp công nghiệp trên địa bàn tỉnh Thái Nguyên;

(4) Đề xuất các giải pháp và kiến nghị nhằm thúc đẩy hoạt động đổi mới trong các doanh nghiệp công nghiệp tại tỉnh Thái Nguyên

3 Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu

3 1 Đối tượng nghiên cứu

Đối tượng nghiên cứu của luận án là đổi mới và các yếu tố ảnh hưởng tới hoạt động đổi mới tại các doanh nghiệp công nghiệp trên địa bàn tỉnh Thái Nguyên

3.2 Ph ạm vi nghiên cứu

Phạm vi nghiên cứu của luận án bao gồm các vấn đề liên quan đến lý luận và thực tiễn về đổi mới trong các doanh nghiệp công nghiệp trên địa bàn tỉnh Thái Nguyên giai đoạn 2018-2021

* Phạm vi về không gian

- Luận án sẽ nghiên cứu đổi mới sáng tạo tại các doanh nghiệp công nghiệp chế biến, chế tạo trên địa bàn tỉnh Thái Nguyên Đây là nhóm doanh nghiệp chủ lực

về sản xuất công nghiệp cần hoạt động đổi mới và là nhóm doanh nghiệp chiếm đa

số (87,8%) theo niêm giám thống kê tỉnh Thái Nguyên năm 2020 Các nhóm doanh

Trang 15

nghiệp công nghiệp còn lại (Công nghiệp khai khoáng; sản xuất và phân phối điện, khí đốt, nước nóng, hơi nước và điều hòa không khí; cung cấp nước, hoạt động quản lý và xử lý rác thải, nước thải) có tính đặc thù, không đòi hỏi nhiều đổi mới sáng tạo và chiếm tỷ trọng nhỏ nên tác giả không đưa vào nghiên cứu

* Phạm vi về thời gian

- Số liệu thứ cấp: Thu thập hoạt động đổi mới của doanh nghiệp công nghiệp tỉnh Thái Nguyên trong giai đoạn 2016-2020

- Số liệu sơ cấp: Thu thập trong năm 2020-2021

- Giải pháp được nghiên cứu và đề xuất đến năm 2030

* Phạm vi về nội dung

(1) Đánh giá tình hình đổi mới tại các doanh nghiệp công nghiệp trên địa bàn tỉnh Thái Nguyên; (2) Đánh giá hoạt động đổi mới tại các doanh nghiệp theo nội dung đổi mới sản phẩm, đổi mới quy trình; đổi mới tổ chức; đổi mới marketing; (3) Đánh giá thực trạng và phân tích mức độ ảnh hưởng của các yếu tố tới đổi mới của các doanh nghiệp công nghiệp trên địa bàn tỉnh Thái Nguyên

4 Phương pháp nghiên cứu

Để đạt được các mục tiêu nghiên cứu, luận án sẽ sử dụng kết hợp cả phương pháp nghiên cứu định tính và phương pháp nghiên cứu định lượng Trong đó phương pháp nghiên cứu định tính được sử dụng nhằm đánh giá thực trạng hoạt động đổi mới, nhận diện các yếu tố ảnh hưởng tới hoạt động đổi mới, đánh giá thực trạng các yếu tố này và đề xuất mô hình nghiên cứu

Phương pháp nghiên cứu định lượng sẽ được sử dụng để đánh giá mức độ ảnh hưởng của từng yếu tố đến hoạt động đổi mới tại các doanh nghiệp công nghiệp trên địa bàn tỉnh Thái Nguyên

4 1 Phương pháp nghiên cứu định tính

Đề tài sẽ sử dụng các phương pháp tiếp cận so sánh, phương pháp phỏng vấn

chuyên gia, phương pháp phỏng vấn sâu, để làm rõ thực trạng hoạt động đổi mới trong các doanh nghiệp công nghiệp trên địa bàn tỉnh Thái Nguyên Các phân tích được sử dụng với mục đích tìm ra những ảnh hưởng, tác động từ môi trường bên trong, môi trường bên ngoài đến hoạt động đổi mới của doanh nghiệp Kết quả nghiên cứu sẽ tổng

Trang 16

quát hóa và xây dựng khung lý thuyết hoàn thiện về các yếu tố ảnh hưởng tới hoạt động đổi mới trong doanh nghiệp nói chung và doanh nghiệp công nghiệp nói riêng

4 2 Phương pháp nghiên cứu định lượng

Phương pháp nghiên cứu định lượng được sử dụng để đánh giá mức độ ảnh hưởng của các yếu tố tới hoạt động đổi mới tại các doanh nghiệp công nghiệp trên địa bàn tỉnh Thái Nguyên Tác giả sẽ tiến hành phân tích Cronbach‟s Alpha để kiểm tra độ tin cậy, sử dụng phân tích EFA để nhóm biến giải thích, phân tích CFA để xác nhận cấu trúc mô hình và sử dụng phân tích mô hình cấu trúc tuyến tính SEM

để đánh giá mức độ ảnh hưởng của các yếu tố tới hoạt động đổi mới của các doanh nghiệp công nghiệp trên địa bàn tỉnh Thái Nguyên SEM là một mô hình kinh tế lượng mạnh mẽ, khắc phục được những khuyết điểm của các kỹ thuật hồi quy thông thường, đồng thời giúp mô hình hóa mối quan hệ đa chiều giữa các biến trong cùng một mô hình Kỹ thuật này sẽ giúp việc ước lượng chính xác và phù hợp hơn với

thực tiễn (Nội dung về phương pháp nghiên cứu tác giả sẽ trình bày cụ thể hơn ở

chương 3)

5 Đóng góp mới về mặt lý luận

Dựa trên các công trình mà tác giả tiếp cận được, luận án có những đóng góp mới về mặt lý luận như sau:

Trong bối cảnh lý thuyết về đổi mới còn rất hạn chế tại Việt Nam Luận án

đã hệ thống lại một các logic về khái niệm đổi mới, nội dung của đổi mới, hình thức đổi mới và phân tích rõ tầm quan trọng của đổi mới tới phát triển kinh tế của mỗi

quốc gia Làm cơ sở để giải thích lý do tại sao Việt Nam hay các quốc gia khác đang tăng cường hoạt động đổi mới

Luận án đã làm rõ được đặc trưng của đổi mới trong các doanh nghiệp công nghiệp Đưa ra được các tiêu chí để đo lường hoạt động đổi mới trong doanh nghiệp, cụ thể đo lường đổi mới thông qua đầu vào và đo lường đổi mới thông qua đầu ra Từ đó góp phần làm phong phú thêm hệ thống lý luận về hoạt động đổi mới

tại các doanh nghiệp nói chung và doanh nghiệp công nghiệp nói riêng

Luận án đã đánh giá được mức độ ảnh hưởng của 06 yếu tố bên trong và bên ngoài doanh nghiệp ảnh hướng tới hoạt động đổi mới của doanh nghiệp công

Trang 17

nghiệp trên địa bàn tỉnh Thái Nguyên một cách toàn diện và thực tế nhất thông qua việc sử dụng mô hình cấu trúc tuyến tính SEM Mô hình cấu trúc tuyến tính SEM

là một kỹ thuật phân tích thống kê thế hệ thứ hai được phát triển để phân tích mối quan hệ đa chiều giữa nhiều biến trong một mô hình Đa quan hệ giữa các biến có

thể được biểu diễn trong một loạt các phương trình hồi quy đơn và bội Kỹ thuật mô hình cấu trúc tuyến tính sử dụng kết hợp dữ liệu định lượng và các giả định tương quan (nguyên nhân - kết quả) vào mô hình Từ đó giải thích được tốt nhất các yếu tố ảnh hưởng đến hoạt động đổi mới của doanh nghiệp công nghiệp trên địa bàn tỉnh Thái Nguyên Đây là công trình nghiên cứu hàn lâm kế thừa và có bổ sung, lần đầu kiểm định tại tại Thái Nguyên Chính vì vậy kết quả nghiên cứu đóng góp giá trị

học thuật nhất định, là tài liệu tham khảo cho các nghiên cứu về

6 Đóng góp mới về mặt thực tiễn

Doanh nghiệp công nghiệp đang là một ngành mũi nhọn của tỉnh Thái Nguyên Chính vì thế việc đổi mới để tăng năng suất, tăng hiệu quả sản xuất kinh doanh tại các doanh nghiệp không chỉ là mục tiêu quan trọng của doanh nghiệp mà còn là mục tiêu chiến lược trong phát triển kinh tế -xã hội của tỉnh Thái Nguyên

Luận án đã đóng góp về mặt thực tiễn như sau:

- Đánh giá tình hình đổi mới tại các doanh nghiệp công nghiệp trên địa bàn

tỉnh Thái Nguyên theo các khía cạnh như: Nội dung đổi mới của các doanh nghiệp; Chi phí dành cho hoạt động đổi mới; Huy động nguồn vốn cho đổi mới; Mức độ doanh nghiệp được nhận từ các chính sách của chính phủ

- Luận án đã xác định và xây dựng được một cách hệ thống, logic các yếu tố ảnh hưởng đến đổi mới tại các doanh nghiệp công nghiệp (Cạnh tranh và thông tin thị trường; Thể chế, chính sách và hệ thống pháp luật; Cơ sở hạ tầng; Liên kết và

hợp tác; Nhà quản trị và chất lượng nguồn nhân lực; Năng lực tài chính doanh nghiệp) và tác động của các yếu tố tới theo các nội dung của đổi mới như: Đổi mới sản phẩm; Đổi mới tổ chức; đổi mới quy trình và đổi mới marketing của các doanh nghiệp công nghiệp trên địa bàn tỉnh Thái Nguyên

- Đưa ra các giải pháp quan trọng để thúc đẩy hoạt động đổi mới tại các doanh nghiệp công nghiệp trên địa bàn tỉnh Thái Nguyên như: Hoàn thiện chính

Trang 18

sách hỗ trợ đổi mới; Xây dựng khu công nghệ cao; Nâng cao năng lực đổi mới của nhà quản trị; Nâng cao năng lực và phát triển nguồn nhân lực; Tăng cường hoạt động liên kết và hợp tác trong đổi mới

Đây là nguồn tham khảo vô cùng hữu ích cho các cơ quan chủ quan và doanh nghiệp để thúc đẩy hoạt động đổi mới trong các doanh nghiệp công nghiệp trên địa bàn tỉnh Thái Nguyên

7 C ấu trúc của luận án

Ngoài phần mở đầu, kết luận và tài liệu tham khảo thì luận án được kết cấu thành 5 chương:

Chương 1: Tổng quan các nghiên cứu liên quan đến đề tài

Chương 2: Lý luận chung về đổi mới và các yếu tố ảnh hưởng tới đổi mới

trong doanh nghiệp công nghiệp

Chương 3: Phương pháp nghiên cứu

Chương 4: Thực trạng đổi mới và các yếu tố ảnh hưởng đến đổi mới tại các

doanh nghiệp công nghiệp trên địa bàn tỉnh Thái Nguyên

Chương 5: Một số giải pháp nhằm thúc đẩy hoạt động đổi mới tại các doanh

nghiệp công nghiệp trên địa bàn tỉnh Thái Nguyên

Trang 19

Chương 1

1.1 T ổng quan các công trình nghiên cứu về đổi mới (Innovation)

1.1.1 Các nghiên c ứu về quan niệm đổi mới (Innovation)

“Đổi mới” trong tiếng Anh là “Innovation” Ở nhiều quốc gia người ta không

dịch mà để nguyên thuật ngữ “Innovation” để hiểu rõ nội hàm của thuật ngữ Tại

Việt Nam thì có rất nhiều tài liệu và các nhà quản lý Việt Nam dịch là “đổi mới

sáng t ạo” Trong luận án này, tác giả lựa chọn dịch là “đổi mới”, nhằm giữ nguyên

nội hàm của thuật ngữ “Innovation”

Đổi mới là hoạt động mà doanh nghiệp sử dụng các kiến thức, tri thức mới

về công nghệ hay thị trường, về tổ chức quản lý để tạo ra các sản phẩm, dịch vụ, quy trình hay hệ thống quản lý nhằm đáp ứng được những nhu cầu và đòi hỏi luôn thay đổi của thị trường, thông qua đó giúp doanh nghiệp nâng cao được hiệu quả

hoạt động sản xuất kinh doanh Clausen và cộng sự (2013) khẳng định động lực thúc đẩy các doanh nghiệp tham gia vào hoạt động đổi mới đó là: Do sức ép cần phải tồn tại của doanh nghiệp; Do những cơ hội, lợi ích mà công nghệ mới đem lại (Công nghệ ngoại sinh so với công nghệ nội sinh; công nghệ khai thác so với công nghệ thăm dò); và do cơ hội, lợi ích kinh tế của các kết quả đổi mới đem lại như: Tăng lợi nhuận, tăng thị phần hoặc tăng sức mạnh thị trường Nguồn gốc của kết

quả đổi mới là do đầu tư vào nghiên cứu và phát triển và mục tiêu của hầu hết các doanh nghiệp khi tiến hành hoạt động đổi mới là nhằm kiếm được lợi nhuận cao từ đầu tư R&D hay kiếm được tiền từ cho thuê các ý tưởng hoặc sáng chế mới

Chính vì thế, để đo lường đầu vào của hoạt động đổi mới, các nhà khoa học thường sử dụng chỉ tiêu R&D (Flor và Oltra, 2004; Bygrave, 1992; Buddelmeyer và

cộng sự, 2006) Chỉ tiêu R & D sẽ thể hiện nỗ lực đổi mới của doanh nghiệp, tuy nhiên chỉ tiêu này lại không thể hiện được kết quả của đổi mới Bởi vì nhiều khi

hoạt động nghiên cứu và phát triển không dẫn đến việc tạo ra các sản phẩm hoặc quy trình mới, nguyên nhân là do các thất bại của hoạt động R&D Do vậy, nhiều nghiên cứu coi chỉ tiêu R&D như một biến số độc lập trong mô hình phương trình

Trang 20

đổi mới Điều này đã được khẳng định trong nghiên cứu của Becheikh và cộng sự (2006) Tác giả cho rằng chỉ tiêu R&D thường được dùng để "đo lường các phát

minh hơn là các đổi mới"

Ngoài ra, đo lường đổi mới có thể thông qua phiếu khảo sát Đây là phương pháp thường được dùng hiện nay để tìm hiểu về kết quả đổi mới trong các doanh nghiệp Phương pháp này đang được sử dụng phổ biến ở các nước Châu Âu (Greenhalg và Rgoers, 2010), tại đây một cuộc khảo sát về đổi mới có quy mô lớn

là Khảo sát đổi mới cộng đồng (CIS), được bắt đầu tiến hành vào năm 1991 Đo lường bằng phiếu khảo sát thường sử dụng để thu thập dữ liệu với quy mô lớn và sử

dụng nhiều biến số khác nhau nhằm đánh giá hoạt động đổi mới của doanh nghiệp Các biến độc lập và biến phụ thuộc được lựa chọn để phân tích hồi quy Đối với mỗi biến, cần đưa ra mô tả chi tiết, thang đo và sự tác động của biến độc lập tới biến

phụ thuộc Greenhalg và Rgoers (2010) lại cho rằng đo lường đổi mới bằng phiếu

khảo sát không phải công việc đơn giản và dễ dàng Nguyên nhân là do khó khăn trong khâu thiết kế nội dung câu hỏi cho phù hợp với hoàn cảnh thực tế, lý luận nền

tảng vẫn còn rất nhiều tranh cãi, việc thu thập dữ liệu rất phức tạp do quy mô mẫu

lớn, sự phản hồi từ các doanh nghiệp chưa thực sự hiệu quả Greenhalg và Rgoers (2010) cho biết, ban đầu CIS chỉ điều tra về quy trình và sản phẩm mới mà các doanh nghiệp đã công bố, tuy nhiên CIS lại không phân biệt liệu các đổi mới này là mới trên thị trường hay chỉ mới với doanh nghiệp Về sau, CIS đã thêm vào các câu

hỏi mới trong các cuộc khảo sát nhằm phân biệt những đổi mới nào là mới đối với doanh nghiệp, mới với ngành, hoặc mới với quốc gia Tuy nhiên, biện pháp đo lường đổi mới thông qua phiếu khảo sát cũng bị chỉ trích vì phương pháp này chỉ

nắm bắt được nỗ lực đổi mới ở biên độ rộng (bao nhiêu doanh nghiệp tiến hành hoạt động đổi mới), chứ không phải cường độ của những nỗ lực (mức độ hoạt động đổi mới qua các giai đoạn khác nhau như thế nào (Buddelmeyer và cộng sự, 2006 ; Palangkaraya và cộng sự, 2016)

Arrow (1962) cho rằng đổi mới là một quá trình từ khi hình thành ý tưởng, cho đến khi thương mại hóa các kết quả đổi mới Tuy nhiên khó khăn của đổi mới

đó là sự không chắc chắn cho thành công của hoạt động đổi mới Hay kết quả đổi

Trang 21

mới doanh nghiệp nên bán hay cho thuê, hay thương mại hóa? Rủi ro cho doanh

nghiệp tiến hành đổi mới khi kết quả đổi mới là “sản phẩm, hàng hóa công cộng”,

thì doanh nghiệp cũng sẽ không đạt được lợi nhuận như là kỳ vọng Arrow (1962)

nhấn mạnh rằng kết quả đổi mới mà tạo ra “hàng hóa công cộng” sẽ làm giảm động

cơ đổi mới trong doanh nghiệp Bởi vì, doanh nghiệp phải trả chi phí cho hoạt động đổi mới nhưng không được hưởng lợi về mặt kinh tế đối với kết quả kinh tế (nguyên nhân có thể là do sự bắt chước) Arrow (1962) cho rằng để giải quyết vấn

đề này thì bằng sáng chế là một giải pháp khả thi Bởi vì bằng sáng chế sẽ loại trừ những người bắt chước sử dụng kiến thức mới mà doanh nghiệp đã tạo ra, từ đó doanh nghiệp được hưởng lợi từ việc độc quyền các kết quả đổi mới

Theo tác giả Nguyễn Đình Bình (2015), đổi mới được chia làm 02 loại là đổi

mới đóng và đổi mới mở Trong đó, đổi mới đóng (đổi mới truyền thống) đây là

hình thức đổi mới chỉ dựa vào các nguồn lực bên trong doanh nghiệp Với hình thức đổi mới này doanh nghiệp thường phải chi số tiền rất lớn mua máy móc thiết bị tiên

tiến phục vụ hoạt động nghiên cứu, chiêu mộ những người ưu tú có năng lực vượt

trội để tiến hành hoạt động nghiên cứu và phát triển, nhằm đưa ra được các phát minh mới, các công nghệ hiện đại, hoặc sản phẩm mới để dẫn đầu thị trường Mô hình này đã từng được rất nhiều các doanh nghiệp áp dụng và thành công trong một khoảng thời gian dài Tuy nhiên, hiện nay hình thức đổi mới này không còn phù

hợp, khi doanh nghiệp tiến hành đổi mới mà quy mô công nghệ vượt xa năng lực công nghệ hiện tại của doanh nghiệp, tốc độ thay đổi công nghệ thì nhanh chóng,

mặt khác do chi phí đầu tư cho nghiên cứu và phát triển lại thường rất lớn Để giải quyết vấn đề này đòi hỏi sự liên kết hợp tác giữa doanh nghiệp với nhiều tổ chức hay doanh nghiệp khác, hình thức đổi mới như vậy gọi là đổi mới mở Với hình

thức đổi mới này thì doanh nghiệp sẽ chấp nhận việc chia sẻ nguồn lực đổi mới với bên ngoài, cũng như là chia sẻ lợi ích với các đối tác trong nghiên cứu, thường thì các đối tác là các trường đại học, các viện nghiên cứu Hình thức này không những giúp doanh nghiệp cắt giảm được chi phí trong việc duy trì hoạt động nghiên cứu và phát triển, vẫn bảo đảm tính liên tục và năng lực trong hoạt động đổi mới của doanh nghiệp Tuy nhiên khi áp dụng hình thức này ngoài việc doanh nghiệp phải chia sẻ

Trang 22

lợi ích với các đối tác, nó còn có hạn chế khi mà mối liên kết giữa doanh nghiệp với các đối tác nghiên cứu không được chặt chẽ, dẫn đến tình trạng mất bản quyền sáng

chế, doanh nghiệp phải phụ thuộc vào các đối tác, không tự đưa ra được các quyết định trong đổi mới (Hutter và cộng sự, 2013)

Đổi mới là một xu hướng nghiên cứu đã có từ lâu trên thế giới, có rất nhiều tác giả nghiên cứu về đổi mới trong các lĩnh vực khác nhau (Quintane và cộng sự, 2011) Tuy nhiên có hai trường phái rõ rệt về đổi mới, một trường phái coi đổi mới là một quy trình (process), trường phái còn lại xem đổi mới là một kết quả (outcome)

Trường phái thứ nhất, đổi mới là một quy trình

Trong trường phái này, các tác giả chỉ chú trọng đến các quy trình hình thành và phát triển ý tưởng (Almeida và cộng sự, 1997) hay quy trình thử nghiệm, sai và sửa liên tục để đạt được hiệu quả trong đổi mới (Brown và cộng sự, 1995)

Triguero và Córcoles (2013) nhấn mạnh đổi mới là một quy trình phức tạp,

nó không đơn thuần là kết quả của sự khai thác nguồn nhân lực, tài chính, công nghệ, tài nguyên hay tận dụng các chính sách của nhà nước, mà nó là sự liên kết đổi mới giữa quá khứ và hiện tại Nói cách khác, hoạt động đổi mới trong quá khứ sẽ tác động rất lớn đến sự thành công của hoạt động đổi mới ở hiện tại Bởi vì thông thường hoạt động đổi mới trong hiện tại của doanh nghiệp sẽ được phát triển từ nền

tảng của hoạt động đổi mới trong quá khứ Hơn thế nữa, hoạt động đổi mới trong quá khứ và hiện tại sẽ định hướng hoạt động đổi mới trong tương lai

Theo Phùng Xuân Nhạ (2013), đổi mới là một quá trình bao gồm nhiều giai đoạn, từ nghiên cứu, phát triển, lập kế hoạch, đề ra các biện pháp thực thi và cuối

cùng là thương mại hóa Trong khi đó, Richard R Nelson (1993) lại cho rằng "Đổi

m ới là quá trình chuyển ý tưởng thành sản phẩm mới hoặc sản phẩm hoàn thiện trong công nghi ệp và thương mại, hoặc đưa ra cách tiếp cận mới trong lĩnh vực xã

h ội" Theo National Research Council (2014) đổi mới là quá trình bắt đầu với một

phát minh, hay tiến trình với một phát minh của một sản phẩm mới, quá trình hoặc

dịch vụ nhằm thỏa mãn các yêu cầu của thị trường Đổi mới là tạo ra, chấp nhận và

thực hiện ý tưởng (West và Anderson, 1996) Từ các quan niệm trên chúng ta thấy rằng đổi mới là một quá trình, không phải là một kết quả Đổi mới được bắt đầu từ

Trang 23

các ý tưởng đổi mới, đến thực thi ý tưởng và thương mại hóa ý tưởng Mục tiêu của đổi mới nhằm thỏa mãn tốt hơn các yêu cầu của thị trường

Zaltman và cộng sự (1973) cho rằng “Đổi mới là một quá trình sáng tạo, từ

đó hai hay nhiều quan niệm hoặc ý tưởng được kết hợp với nhau theo một phương pháp mới để tạo ra một sự đổi mới chưa từng có” Quy trình đổi mới bao gồm các

bước: Sáng chế (Tạo ra một ý tưởng mới); Đổi mới (Giới thiệu sản phẩm mới ra thị trường; Bắt chước (Các đối thủ cạnh tranh phát triển sản phẩm tương tự; Sự lan tỏa (Sự lan tỏa của các sản phẩm trong thị trường)

Đổi mới là một quá trình liên quan đến một chuỗi các hoạt động từ tìm hiểu nhu cầu thị trường, phát sinh ra ý tưởng, áp dụng và hiện thực nó (Coopper, 1998)

Chấp nhận và triển khai các ý tưởng cần phải được thực hiện một cách tuần tự (Kalmal, 2006) Hansen và cộng sự (1995) phân tích cụ thể và chi tiết hơn, khi đưa

ra quy trình hình thành một ý tưởng gồm 5 bước: Tìm hiểu nhu cầu của khách hàng; Xác định cơ hội đổi mới; Tìm kiếm ý tưởng mới; Chuyển đổi ý tưởng; Khuyếch tán

và đưa ra ý tưởng mới

Trường phái thứ hai, đổi mới xem như một kết quả

Đổi mới xem như một kết quả đầu ra của quá trình đổi mới, nó bao gồm: Số lượng các phát minh, sáng chế mà tổ chức hay doanh nghiệp tạo ra; số lượng đăng

ký bản quyền tác giả; số lượng các loại đổi mới mà doanh nghiệp đã tạo ra hay kết quả đổi mới sản phẩm làm tăng bao nhiêu doanh thu, lợi nhuận cho doanh nghiệp

Các tác giả thuộc trường phái này quan tâm tới “tính mới”của sản phẩm và dịch vụ cuối cùng được sản xuất ra Tuy nhiên có sự tranh cãi thế nào là “mới”

“Tính mới” là sản phẩm và dịch vụ được đưa ra mới hoàn toàn trên thị trường, hay một sự cải tiến nhỏ trong sản phẩm và dịch vụ Cái gì là “mới phải được phân biệt

với hình thức hay trạng thái hiện tại” (Darroch, 2005) Tuy nhiên, Robertson (1967)

cho rằng, “Tính mới” thôi chưa đủ, cần phải có tiêu chuẩn rõ ràng để phân biệt đổi mới

Để làm rõ vấn đề này tác giả Edison và cộng sự (2013) đã chia thành bốn nhóm: Đổi mới từng bước (Incremental innovation); Đột phá thị trường; Đột phá về công nghệ; Đổi mới căn bản (radical innovations) Việc phân chia kết quả của đổi mới dựa vào sự tác động của đổi mới đến tới thị trường hay sự thay đổi của công nghệ nền tảng

Trang 24

Để trả lời câu hỏi thế nào là mới? OECD (2005) phân chia “tính mới” thành

ba loại: (1) Mới đối với doanh nghiệp, điều này xảy ra khi doanh nghiệp lần đầu

đưa ra một sản phẩm, dịch vụ, quy trình hay chiến lược marketing mới Có thể những nội dung này đã có ở nơi khác, tuy nhiên đối với doanh nghiệp là mới Đây gọi là đổi mới từ việc “hấp thụ” tri thức, công nghệ từ bên ngoài Mặc dù sự mới này đối với doanh nghiệp khác đã là cũ, tuy nhiên nó sẽ là nền tảng để doanh nghiệp

cải tiến và hoàn thiện hoạt động đổi mới tiếp theo (2) Mới đối với thị trường, khi

doanh nghiệp là người tiên phong trong việc đổi mới Doanh nghiệp giới thiệu sản phẩm hoặc dịch vụ mới ra thị trường mà doanh nghiệp đang hoạt động, có thể là

một khu vực địa lý hay một dòng sản phẩm hay dịch vụ (3) Mới đối với thế giới,

khi doanh nghiệp sở hữu công nghệ đột phá trên toàn thế giới Thông qua đó doanh nghiệp sản xuất ra những sản phẩm, dịch vụ mới trên tất cả các thị trường cả trong nước, cũng như ngoài nước Mục tiêu của loại đổi mới này là tạo ra nhu cầu mới, thay vì nhằm thỏa mãn tốt hơn nhu cầu đang tồn tại Doanh nghiệp sẽ tạo ra bước nhảy vọt trong sản xuất kinh doanh hay tiêu dùng

Đổi mới là sự sản xuất của một bí quyết hay một công nghệ mới, không nhất thiết phải là một công nghệ cao và nó kéo theo việc giới thiệu bên trong thị trường

để đạt được mục tiêu lợi nhuận Bí quyết bao gồm kiến thức và năng lực làm thế nào để sản xuất một sản phẩm mới; chạy một quy trình sản xuất mới; tiếp cận thị trường mới; hay áp dụng một vật liệu mới Sản phẩm của đổi mới là các hiện vật như: Phần mềm mới, xe mới, máy sản xuất mới, thiết bị mới Tidd và Besant

(2013) “Đổi mới là một quá trình chuyển đổi các ý tưởng thành những sản

phẩm/dịch vụ, quy trình mới và hữu dụng”

1.1.2 Nghiên c ứu về tầm quan trọng của đổi mới

1.1 2.1 Giúp tăng trưởng một cách bền vững

Vào những năm 1970, các nhà khoa học quan tâm đến hoạt động đổi mới nhằm sử dụng hiệu quả các nguồn lực, thông qua đó sẽ làm phát triển kinh tế của một quốc gia Tuy nhiên đến cuối những năm 1980, các nhà khoa học cho rằng thực hiện quá trình đổi mới cần phải xem xét đến sự tăng trưởng và phát triển kinh tế quốc gia một cách bền vững Solow (1991) cho rằng, đổi mới cần phải có chiến

Trang 25

lược, nghiên cứu một cách cụ thể, hệ thống khi sử dụng nguồn nhân lực, tài nguyên,

kỹ thuật và công nghệ, tránh tình trạng sử dụng quá mức, không đúng, không hiệu quả Điều này sẽ dẫn đến các nguồn lực của một quốc gia bị cạn kiệt hoặc phát triển không bền vững

Chủ nghĩa tư bản đã tạo ra sự tăng trưởng kinh tế cao chưa từng có trong lịch

sử, mức sống của các nước từ Mỹ, Đức đến Nhật bản tăng theo cấp số nhân (Baumol, 2014) cho rằng sự tăng trưởng kinh tế mạnh mẽ thường bắt nguồn từ đổi

mới Một tổ hợp của hoạt động đổi mới có hệ thống trong các doanh nghiệp, “một

cuộc chạy đua vũ trang” trong quá trình đổi mới, sự hợp tác giữa các doanh nghiệp

trong việc tạo ra và sử dụng các kết quả đổi mới Bởi vì không một doanh nghiệp nào muốn tụt hậu so với những doanh nghiệp khác trong các khía cạnh về sản phẩm mới hay quy trình mới (Baumol, 2014) nhấn mạnh rằng các doanh nghiệp lớn sẽ sử dụng hoạt động đổi mới như một vũ khí cạnh tranh chính Tuy nhiên, như ông giải thích, các doanh nghiệp không muốn mạo hiểm đổi mới quá nhiều, vì nó tốn kém và

có thể bị lỗi thời bởi sự đổi mới của các đối thủ Vì vậy, các doanh nghiệp đã phân chia sự khác biệt thông qua việc bán giấy phép công nghệ hoặc tham gia vào các tổ chức chia sẻ công nghệ Điều này sẽ mang lại lợi nhuận khổng lồ cho các doanh nghiệp, cũng như toàn bộ nền kinh tế Quá trình này sẽ tạo nên sự tăng trưởng vô cùng lớn của các nền kinh tế tư bản hiện đại

Baumol (2014) cho rằng kinh tế thị trường đạt được sự đổi mới và tăng trưởng tối ưu, các nhà kinh tế sẽ không chỉ đơn giản là mô tả hệ thống và cảnh báo

về những nguy cơ bị can thiệp Hoạt động đổi mới đôi khi sẽ phải chịu nhiều “thất

bại của thị trường” Nhưng chính những thất bại thị trường này sẽ làm cho việc

hiểu đổi mới và tăng trưởng trở nên quan trọng, do đó đòi hỏi thể chế được thiết kế

để cải thiện những “thất bại” này

Một thực tế hiện nay các quốc gia phát triển đang có xu hướng chuyển ngành công nghiệp gây ô nhiễm cao và sử dụng nhiều năng lượng sang các nước kém phát

triển hơn, các quốc gia này trở thành một “thiên đường ô nhiễm” (Zeng and Zhou,

2021) Để đạt được tăng trưởng kinh tế tạm thời và cải thiện tỷ lệ việc làm, chính phủ ở các quốc gia và khu vực kém phát triển đã thực hiện một loạt các biện pháp

Trang 26

thu hút vốn đầu tư nước ngoài bằng mọi giá và liên tục hạ thấp các tiêu chuẩn kiểm soát môi trường Vấn đề ô nhiễm môi trường đã nảy sinh theo thời gian cùng với dòng vốn và công nghệ Với sự xuất hiện của biến đổi khí hậu toàn cầu, suy giảm tầng ôzôn, ô nhiễm nguồn nước và các vấn đề khác Điều này đòi hỏi hoạt động đổi

mới nhằm giúp phát triển kinh tế theo định hướng “xanh”, công nghệ “xanh” ở các

quốc gia trên thế giới đã dần được củng cố

Greenhalg and Rgoers (2010) khẳng định đổi mới giúp chuyển đổi cơ cấu kinh tế từ các ngành công nghiệp giá trị gia tăng thấp như dệt may sang các ngành công nghiệp có giá trị gia tăng cao như điện tử và viễn thông, công nghiệp chế biến chế tạo Chuyển dịch cơ cấu kinh tế sẽ góp phần cải thiện năng suất, đồng thời cũng là cơ hội cho các doanh nghiệp hội nhập vào chuỗi giá trị toàn cầu và mở rộng thị trường

Đổi mới sáng tạo sâu rộng giúp các quốc gia vượt lên các thách thức mới để tiếp tục phát triển, kể cả các yếu tố xung đột địa chính trị toàn cầu, đại dịch COVID-19, biến đổi khí hậu và sự sụt giảm đáng kể về tăng trưởng năng suất Tuy nhiên, để thúc đẩy đổi mới đòi hỏi một chương trình cải cách toàn diện Ngoài việc định hướng lại các chính sách khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo cho phù hợp hơn với năng lực và nhu cầu của doanh nghiệp, các quốc gia cần tăng cường các yếu tố bổ trợ quan trọng cho đổi mới sáng tạo như kỹ năng của người lao động và khả năng tiếp cận tài chính cho các dự án đổi mới (Yang và cộng sự, 2019)

1.1 2.2 Đổi mới giúp tăng năng suất lao động

King và cộng sự (1993) cho rằng đổi mới giúp nâng cao năng suất, chất lượng sản phẩm hàng hóa của doanh nghiệp thông qua việc áp dụng các tiến bộ khoa học kỹ thuật vào quá trình sản xuất Việc áp dụng đổi mới công nghệ, đổi mới quy trình, đổi mới tổ chức sẽ tạo lên sự đột phá trong tăng năng suất lao động

Mặt khác, tăng năng suất yếu tố tổng hợp (TFP) được sử dụng để phân tích đầy đủ hơn về các yếu tố tác động tới tăng trưởng Tăng trưởng kinh tế có được thường do sự gia tăng lao động, vốn và một phần dựa trên tăng TFP Bộ khoa học

và công nghệ (2018) đã chứng minh rằng tăng vốn và tăng lao động có thể dẫn đến tăng trưởng kinh tế ngắn hạn, phù hợp với giai đoạn đầu của quá trình công nghiệp

Trang 27

Tốc độ tăng năng suất lao động Tốc độ tăng năng

suất

Tăng trưởng GDP Tăng trưởng kinh

tế

Tăng trưởng GDP bình quân đầu người Mức sống

Kế hoạch tổng thể năng suất quốc gia dựa trên nền tảng khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo

hóa, còn tăng TFP mới là nguồn gốc căn nguyên của tăng trưởng trong dài hạn, bảo đảm chất lượng tăng trưởng và phát triển

Law và cộng sự (2020) cho rằng tỷ trọng đóng góp của tăng TFP vào tăng trưởng kinh tế đang dần cao lên trong giai đoạn vừa qua cho thấy yếu tố đầu vào là vốn và lao động đang được sử dụng hiệu quả hơn trong việc tạo ra kết quả đầu ra Đây là sự chuyển biến tích cực của nền kinh tế theo hướng tập trung vào chất lượng tăng trưởng: như nâng cao chất lượng lao động, chất lượng vốn, áp dụng các tiến bộ

kỹ thuật, công nghệ, thúc đẩy hoạt động đổi mới và tập trung nguồn lực vào các ngành, lĩnh vực có hiệu quả kinh tế cao hơn

Mô hình tăng trưởng kinh tế dựa vào tăng năng suất lao động được nghiên cứu bởi Tổ chức Năng suất Châu Á (APO) và đã trở thành mô hình điển hình cho

nhiều quốc gia thành viên nghiên cứu và áp dụng phù hợp với bối cảnh kinh tế - xã hội của mỗi quốc gia, trong đó có Việt Nam

Hình 1: Mô hình tăng trưởng kinh tế dựa vào năng suất lao động của APO

Nguồn: Bô khoa học công nghệ (2018)

Từ mô hình khái quát trên, một số nội dung làm rõ mối quan hệ giữa tăng năng suất lao động với khoa học, công nghệ và đổi mới trong bối cảnh phát triển

Trang 28

kinh tế của các quốc gia hiện nay Động lực chính của tăng trưởng kinh tế (được đo lường bằng chỉ tiêu tăng trưởng GDP) là tăng năng suất lao động thông qua hoạt động đổi mới Trong những điều kiện hạn chế đầu vào (lao động và vốn), đổi mới sẽ giúp sử dụng hiệu quả các yếu tố đầu vào, từ đó tăng năng suất lao động Đây là con đường duy nhất để tăng trưởng kinh tế bền vững về dài hạn Trong đó, tăng năng suất lao động phụ thuộc vào: năng suất lao động của các doanh nghiệp, vì doanh nghiệp được coi là trung tâm của phát triển kinh tế; (2) năng suất nội ngành của các ngành kinh tế và (3) cơ cấu kinh tế (Nelson, 1993)

Artz và cộng sự (2010) đã khẳng định rằng đổi mới tác động rất lớn tới năng suất lao động của quốc gia Hoạt động đổi mới sẽ giúp dịch chuyển lao động từ một ngành có năng suất lao động thấp sang ngành có năng suất lao động cao cũng làm tăng năng suất chung, hoặc nâng cao năng suất lao động của từng ngành cũng có tác động cải thiện năng suất nền kinh tế Đổi mới trong dịch chuyển cơ cấu kinh tế có tác dụng trong thời kỳ đầu của quá trình phát triển kinh tế, tuy nhiên khi nền kinh tế phát triển tới mức cao hơn thì yếu tố tăng năng suất nội ngành sẽ có vai trò tiên quyết cho nâng cao năng suất lao động bền vững

Đổi mới giúp tăng năng suất lao động của doanh nghiệp hay năng suất nội ngành hoặc thay đổi cơ cấu kinh tế đều là kết quả của việc đổi mới giúp sử dụng hiệu quả vốn trên lao động hoặc tăng TFP (Roger và cộng sự, 2010) Trong đó, tăng TFP là yếu tố chất lượng, và tất nhiên là quan trọng hơn vì tăng TFP phản ánh tập trung nhất hiệu quả sử dụng yếu tố đầu vào vốn và lao động thông qua quá trình đổi mới, do vậy, tăng trưởng kinh tế dựa trên tăng TFP thì tăng trưởng kinh tế mới có chất lượng, và tăng trưởng kinh tế mới đảm bảo phát triển bền vững

Neely và cộng sự (1998) nhấn mạnh rằng đổi mới giúp đẩy nhanh tốc độ tăng trưởng kinh tế và tăng trưởng kinh tế chủ yếu dựa vào tăng năng suất lao động cần phải chú trọng hoạt động đổi mới, bằng cách tăng cường đầu tư theo chiều sâu cho các ngành, các doanh nghiệp để nâng cao chất lượng nguồn nhân lực, tăng cường đổi mới công tác quản lý, đổi mới hoạt động sản xuất kinh doanh Đặc biệt đầu tư cho đổi mới sáng tạo, đẩy mạnh tiến bộ khoa học và công nghệ, vì nhờ có hoạt động đổi mới, tăng cường tiến bộ khoa học và công nghệ mới thay đổi được cách thức làm việc, mới

Trang 29

có thể làm nhanh hơn, hiệu quả hơn, tạo ra sản phẩm hàng hóa mới hơn với chất lượng

và giá trị cao hơn; nhờ đó đẩy mạnh tiến bộ khoa học và công nghệ, đổi mới mới có thể đảm nhận được những phần công việc, công đoạn của quá trình sản xuất khó hơn có tỷ

lệ giá trị gia tăng cao hơn trong chuỗi giá trị Điều đó cũng đồng nghĩa với việc tạo ra tốc độ tăng TFP cao hơn và năng suất lao động lớn hơn

1.1 2.3 Nâng cao năng lực cạnh tranh

Theo Mytelka và cộng sư (2000), các quốc gia không ngừng tăng cường đổi mới, bởi vì hoạt động đổi mới có vai trò quan trọng trong việc nâng cao năng lực cạnh tranh quốc gia, cũng như năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp

Bộ khoa học và công nghệ Việt Nam (2018) nhấn mạnh trong bối cảnh CMCN 4.0 diễn ra mạnh mẽ, công nghệ và đổi mới sáng tạo sẽ sớm giải phóng để tạo ra sự bùng nổ về năng suất và tăng trưởng kinh tế cao hơn Cuộc CMCN 4.0 với

sự ra đời của công nghệ mới và những đổi mới có tầm bao phủ rộng đang lan tỏa nhanh chóng và rộng rãi hơn nhiều so với các cuộc cách mạng trước đó Quy luật cạnh tranh của nền kinh tế trong CMCN 4.0 sẽ khác với các thời kỳ trước Để có được lợi thế cạnh tranh, quốc gia phải đi đầu trong đổi mới

Trong báo cáo của Diễn đàn Kinh tế thế giới năm 1997 đã nêu khái niệm:

“Năng lực cạnh tranh của một quốc gia là năng lực cạnh tranh của nền kinh tế

quốc dân nhằm đạt được và duy trì mức tăng trưởng cao trên cơ sở các chính sách,

t hể chế bền vững tương đối và các đặc trưng kinh tế khác Năng lực cạnh tranh quốc gia (NLCTQG) phụ thuộc vào hiệu quả sử dụng nguồn lực con người, tài nguyên về vốn của một quốc gia, bởi vì chính năng suất xác định mức sống bền vững thể hiện qua mức lương, tỷ suất lợi nhuận từ vốn bỏ ra, tỷ suất lợi nhuận thu được từ tài nguyên thiên nhiên” Trong đó đổi mới sẽ giúp nâng cao năng suất lao

động và hiệu quả sử dụng nguồn vốn, hiệu quả sử dụng tài nguyên từ đó nâng cao năng lực cạnh tranh của quốc gia (Nelson, 1993)

Peter (1998) cho biết để nâng cấp vị thế quốc gia trong chuỗi giá trị toàn cầu, bắt buộc các quốc gia phải có nhiều doanh nghiệp đổi mới trong các lĩnh vực công nghệ cao như công nghệ thông tin, công nghệ sinh học, công nghệ nano

Trang 30

Đổi mới làm cho chất lượng sản phẩm của doanh nghiệp tăng lên, đáp ứng yêu cầu ngày càng khắt khe của khách hàng Bên cạnh đó, hoạt động đổi mới thúc đẩy doanh nghiệp ứng dụng các công nghệ hiện đại vào quá trình sản xuất, sẽ làm giảm hao phí lao động trên một đơn vị sản phẩm, từ đó làm hạ giá thành sản phẩm, nâng cao tính cạnh tranh của sản phẩm trên thị trường (Thái Hà, 2009)

Để đánh giá năng lực đổi mới của quốc gia cần dựa trên các chỉ tiêu đầu vào của hoạt động đổi mới như hoạt động nghiên cứu, khoa học và công nghệ, cơ sở hạ tầng quốc gia, hệ sinh thái đổi mới sáng tạo… Hoặc dựa trên các chỉ tiêu đầu ra của hoạt động đổi mới như số lượng các bài báo khoa học, số bằng sáng chế đã được đăng ký… Năng lực đổi mới của quốc gia ngoài việc dựa trên tích lũy kiến thức từ các nghiên cứu và hoạt động sáng chế, còn thể hiện thông qua các chính sách, thể chế nhằm khuyến khích sự sáng tạo, sự tương tác và hợp tác giữa các cá nhân và tổ chức, khả năng thương mại hóa các sản phẩm mới (Bùi Nhật Lệ Uyên, 2018)

Law và cộng sự (2020) đã khẳng định đổi mới vừa là chìa khóa quan trọng giúp tăng năng suất lao động, vừa là yếu tố nền tảng quyết định năng lực cạnh tranh của một quốc gia, từ đó giúp nâng cao chất lượng đời sống của người dân Vì vậy,

để hoạt động đổi mới được toàn diện, tích cực và đồng bộ, đòi hỏi các nước cần đề

ra các chính sách hướng tới cải thiện hệ thống đổi mới quốc gia như chính sách đối với các viện nghiên cứu, trường đại học nhằm thúc đẩy hoạt động nghiên cứu tạo ra tri thức, công nghệ và các chính sách đối với doanh nghiệp để giúp doanh nghiệp thực sự phát huy được vị trí trung tâm của mình trong hệ thống đổi mới quốc gia, giúp doanh nghiệp phát huy được vai trò trụ đỡ của nền kinh tế

1.1 2.4 Đẩy mạnh áp dụng khoa học kỹ thuật vào sản xuất kinh doanh

Zeng and Zhou (2021) cho biết các quốc gia đang đối mặt với sự khan hiếm tài nguyên Sự xuất hiện vấn đề khan hiếm tài nguyên nghiêm trọng, sẽ kích thích

sự đổi mới trong lĩnh vực khoa học kỹ thuật, từ đó mang lại sự tăng trưởng kinh tế

và thay đổi cơ cấu kinh tế theo tỷ trọng phù hợp với điều kiện thực tế (Yang và cộng sự, 2019) Tăng trưởng kinh tế sẽ làm nảy sinh các vấn đề khan hiếm tài nguyên thiên nhiên, các giải pháp nhằm khắc phục vấn đề này sẽ được tìm ra thông qua các hoạt động đổi mới

Trang 31

Theo Quadrio Cunio (1994) đổi mới, nguồn lực và tăng trưởng kinh tế là phụ thuộc lẫn nhau trong bối cảnh của một hệ thống kinh tế toàn cầu Trong đó sự tương tác giữa các nguồn lực, sự khan hiếm và công nghệ là động lực chính của động lực phát triển kinh tế

Zeng and Zhou (2021) cho rằng động lực và nguồn đảm bảo cho sự tăng trưởng bền vững của nền kinh tế của một quốc gia là đổi mới, trong đó cần nhấn mạnh tầm quan trọng của năng lực đổi mới công nghệ của quốc gia, đóng một vai trò không thể thay thế trong tăng trưởng và phát triển kinh tế Một số nghiên cứu đã chỉ ra rằng sự đổi mới công nghệ của Trung Quốc có thể được tạo ra nhờ hiệu ứng

“tràn công nghệ” Điều này có nghĩa là Trung Quốc thông qua việc thu hút các doanh nghiệp FDI để “giới thiệu – hấp thụ – làm chủ” các công nghệ tiên tiến từ các nước phát triển và “đứng trên vai người đi trước” để đổi mới và sau đó đạt được

mục tiêu cải tiến trình độ phát triển kinh tế trong nước

Flor (2004) đã khẳng định rằng để tăng trưởng, hội nhập trong bối cảnh toàn cầu hoá, quốc gia cần phải triển khai các hoạt động nghiên cứu phát triển, đưa doanh nghiệp trở thành trung tâm của hệ thống đổi mới sáng tạo quốc gia Mỗi loại hình doanh nghiệp cần có những chính sách, biện pháp phù hợp để thúc đẩy hoạt động khoa học và công nghệ, đổi mới trong doanh nghiệp, ứng dụng khoa học kỹ thuật vào hoạt động sản xuất kinh doanh

Theo Hult (2004) xu hướng tái cân đối chính sách phát triển khoa học, công nghệ và đổi mới, chuyển từ tập trung đầu tư tạo ra công nghệ tiên tiến sang thúc đẩy hấp thụ và phổ biến công nghệ Sự lan tỏa công nghệ không chỉ là nghiên cứu và phát triển có thể mang lại hiệu quả năng suất và chuyển đổi kinh tế, giúp tăng trưởng kinh tế Đổi mới để tận dụng tối đa các công nghệ hiện đại nhất, việc thu hẹp khoảng cách về kỹ năng của lực lượng lao động cả chất lượng và số lượng cũng sẽ rất quan trọng để giúp tăng trưởng kinh tế

Quevedo và cộng sự (2017) tiếp tục khẳng định đổi mới giúp nâng cao năng lực hấp thụ tiến bộ công nghệ Từ đó giúp công tác đào tạo, tập huấn người lao động, cũng như hệ thống quản trị để có thể vận hành được công nghệ mới, hiện đại, gia tăng năng suất sản xuất của doanh nghiệp, của ngành

Trang 32

1.1.3 Nghiên c ứu về nội dung đổi mới

Joseph Schumpter (1934) được coi là nhà kinh tế học đầu tiên nghiên cứu về đổi mới Schumpter đã đưa ra năm nội dung đổi mới: (1) Giới thiệu sản phẩm mới hoặc có sự thay đổi đáng kể đối với sản phẩm hiện tại; (2) Đưa ra phương pháp sản xuất mới trong một ngành; (3) Mở ra một thị trường mới; (4) Phát triển nguồn cung mới cho nguyên liệu và các yếu tố đầu vào khác và (5) Đổi mới về mặt tổ chức Đến năm 2005, OECD đưa ra định nghĩa về đổi mới trong Cẩm nang Oslo 2005, gồm bốn nội dung đổi mới: Đổi mới sản phẩm; Đổi mới quy trình; đổi mới tổ chức; Đổi mới Marketing

Phuangrod và cộng sự (2017) lại phân loại nội dung đổi mới thành năm khía cạnh sản phẩm, quy trình, thị trường, chiến lược và hành vi Những khía cạnh này được sử dụng để đo lường tính đổi mới Đồng quan điểm trên tác giả Đỗ Văn Hải (2015) cũng phân chia đổi mới thành 5 nhóm, tuy nhiên nội dung của đổi mới có sự khác biệt, cụ thể có: Đổi mới sản phẩm hoặc cải tiến chất lượng sản phẩm hiện có; Đổi mới phương pháp sản xuất; phát triển thị trường mới; phát triển nguồn cung ứng mới; Đổi mới tổ chức

Oslo (2005) lại gọi chung đổi mới sản phẩm và đổi mới quy trình là đổi mới công nghệ (technological product and process innovations – TPP innovations) Tác giả cũng phân biệt giữa đổi mới công nghệ và đổi mới phi công nghệ Đổi mới công nghệ là khi doanh nghiệp công bố ít nhất một sản phẩm hay một quy trình mới hoặc

là một sự cải tiến trong sản phẩm hay quy trình sản xuất Đổi mới phi công nghệ được đánh giá khi có sự thay đổi trong marketing, hay thay đổi trong cơ cấu kinh doanh, cách thức quản lý doanh nghiệp Trong khi đó OECD (2005) nhấn mạnh tầm quan trọng của đổi mới công nghệ, bởi vì đổi mới công nghệ sẽ giúp doanh nghiệp đưa ra được sản phẩm mới hoặc thay đổi được chất lượng sản phẩm, cải thiện được giá thành, từ đó giúp gia tăng được hiệu quả hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp

Trong khi đó, Clausen và cộng sự (2013) lại cho rằng các doanh nghiệp cần phải tăng cường hoạt động đổi mới sản phẩm để có thể duy trì được lợi thế cạnh tranh trong kinh doanh Mục đích của nghiên cứu này là để quan sát sự khác biệt

Trang 33

giữa các doanh nghiệp có đầu tư và tiến hành hoạt động đổi mới sản phẩm Tác giả

sử dụng các câu hỏi nghiên cứu như: Doanh nghiệp đã phát triển triển sản phẩm mới như thế nào? Hay cái cách mà doanh nghiệp tiến hành hoạt động đổi mới? Kết quả cho thấy, những doanh nghiệp mà chú trọng đến hoạt động đổi mới sản phẩm thì vẫn duy trì hoặc có sự tăng trưởng trong doanh thu và thị phần trên thị trường

Tại Việt Nam, Mai Lê Thúy Vân và cộng sự (2018) tiến hành khảo sát trên

996 doanh nghiệp từ năm 2014 đến năm 2016 về thực trạng đổi mới sản phẩm, kết quả chỉ có 31% doanh nghiệp thực hiện đổi mới sản phẩm Mặc dù các doanh nghiệp nhận thức được tầm quan trọng của đổi mới sản phẩm trong việc duy trì năng lực cạnh tranh cho doanh nghiệp Tuy nhiên do các doanh nghiệp gặp rất nhiều khó khăn về tài chính, nguồn nhân lực, các chính sách của chính phủ chưa hỗ trợ được hoạt động đổi mới trong các doanh nghiệp Cụ thể tỷ lệ doanh nghiệp nhận được hỗ trợ về tín dụng hay chính sách hỗ trợ đổi mới chỉ từ 10% đến 17% (Hồ Ngọc Luật, 2019) Mặt khác sự liên kết giữa các doanh nghiệp trong hoạt động đổi mới sản phẩm còn thấp có 85% doanh nghiệp tự thực hiện, 15% doanh nghiệp phối hợp hoặc thuê cá nhân, đơn vị ngoài (Bộ khoa học công nghệ, 2018) Đây là nguyên nhân dẫn đến đổi mới sản phẩm trong các doanh nghiệp Việt Nam còn diễn

ra chậm Mai Lê Thúy Vân và cộng sự (2018) còn phân tích về thực trạng đổi mới quy trình, kết quả có 46% doanh nghiệp thực hiện đổi mới quy trình Mặc dù so với đổi mới sản phẩm có 31% doanh nghiệp tiến hành, đổi mới quy trình vẫn được các doanh nghiệp Việt Nam tiến hành nhiều hơn Tuy nhiên mức độ thực hiện đổi mới còn ít Nguyên nhân do các nguồn lực, các hoạt động phụ trợ thúc đẩy đổi mới quy trình vẫn chưa được các doanh nghiệp chú trọng, cụ thể chỉ có 25% doanh nghiệp chú trọng đến đào tạo nhân viên và 10% doanh nghiệp có sự liên kết với các đối tác bên ngoài để thực hiện hoạt động đổi mới công nghệ Mặt khác chương trình quỹ quốc gia hỗ trợ doanh nghiệp ứng dụng và đổi mới công nghệ còn thấp và hoạt động chưa thực sự hiệu quả

Hồ Ngọc Luật (2019) điều tra thử nghiệm đổi mới sáng tạo trên 7.641 doanh nghiệp chế biến, chế tạo tại Việt Nam, những doanh nghiệp này có đầu tư cho R&D

và có đăng ký bằng sáng chế Điều tra cho thấy có 61,6% doanh nghiệp có hoạt

Trang 34

động đổi mới trong giai đoạn 2014-2016, trong đó đổi mới sản phẩm là 32,1% và doanh số sản phẩm mới chiếm đến 62% tổng doanh số sản phẩm của doanh nghiệp Tại Việt Nam các doanh nghiệp chủ yếu là nâng cao chất lượng sản phẩm và cắt giảm chi phí sản xuất, mà ít tập trung vào nghiên cứu phát triển sản phẩm mới Tác giả còn cho biết, chỉ có có 39,9% doanh nghiêp có hoạt động đổi mới quy trình trong giai đoạn 2014-2016 Doanh nghiệp đổi mới quy trình mới chỉ chú trọng thực hiện đổi mới công nghệ gắn với việc nâng cấp, chỉnh sửa thiết bị, máy móc hiện có của doanh nghiệp Doanh nghiệp rất ít đầu tư mua sắm tài sản trí tuệ như: Sáng chế, giải pháp công nghệ hữu ích hay thực hiện chuyển giao công nghệ… Để sở hữu được máy móc thiết bị, quy trình công nghệ hiện đại của riêng mình Đổi mới tổ chức chiếm 37,7% tỷ lệ doanh nghiệp đổi mới sáng tạo Tác giả cũng nhấn mạnh muốn nâng cao NSLĐ cần cải thiện sự hài lòng tại nơi làm việc, tiếp cận các công

cụ cải tiến năng suất, giảm chi phí quản lý Với lề lối phong cách làm việc tại Việt Nam, đổi mới tổ chức là hoạt động hết sức cần thiết Đổi mới marketing chiếm

28,6% tỷ lệ doanh nghiệp đổi mới sáng tạo Đây là nội dung đổi mới sáng tạo mà các doanh nghiệp Việt Nam thực hiện ít nhất Dẫn đến kết quả các doanh nghiệp chưa tạo dựng được giá trị thương hiệu mạnh trên thị trường trong nước cũng như quốc tế (Nguyễn Quốc Duy, 2015)

1.2 T ổng quan các công trình nghiên cứu yếu tố ảnh hưởng đến đổi mới trong doanh nghi ệp công nghiệp

Có rất nhiều yếu tố tác động tới đổi mới trong doanh nghiệp và đã có nhiều nghiên cứu trước đây đề cập tới vấn đề này Nghiên cứu tổng hợp về đo lường đổi mới của Edison, Ali và Torkar (2013) là một ví dụ điển hình Trong nghiên cứu này, trên cơ sở tổng hợp từ rất nhiều các nghiên cứu trước đó, các tác giả đã xác định

244 yếu tố chi tiết tác động tới đổi mới của doanh nghiệp Edison, Ali và Torkar (2013) đã phân chia các yếu tố này thành hai nhóm chính: Các yếu tố bên ngoài và các yếu tố bên trong Bên cạnh đó, các tác giả đã nhóm 244 yếu tố chi tiết thành 23 nhóm các yếu tố quyết định ảnh hưởng tới đổi mới của doanh nghiệp, trong đó có thể kể tới một số yếu tố quan trọng như: Thị trường, chính sách, công cụ hỗ trợ, công nghệ, hoạt động R&D, sự liên kết, tài chính, nguồn nhân lực,…Tuy nhiên,

Trang 35

việc phân tích định lượng đồng thời cả 244 yếu tố chi tiết hoặc 23 nhóm các yếu tố quyết định là không khả thi Do đó, trên cơ sở nghiên cứu các học thuyết, lý thuyết, tổng quan tài liệu nghiên cứu về đổi mới, các yếu tố ảnh hưởng đến đổi mới của các doanh nghiệp ở Việt Nam, cũng như kết hợp với nghiên cứu khảo sát tình hình thực

tế của các doanh nghiệp công nghiệp trên địa bàn tỉnh Thái Nguyên, tác giả đã tổng hợp và lựa chọn ra 06 yếu tố phù hợp nhất để tìm hiểu, tổng hợp và đánh giá ảnh hưởng của chúng tới đổi mới của doanh nghiệp

1.2.1 Cạnh tranh và thông tin thị trường

Sự cạnh tranh gay gắt trên thị trường trong nước và quốc tế sẽ thúc đẩy các doanh nghiệp tiến hành hoạt động đổi mới Do vậy áp lực từ môi trường bên ngoài

sẽ kích thích hoạt động đổi mới trong doanh nghiệp, vì doanh nghiệp lo sợ sẽ bị tụt hậu (Porter, 2008) Tuy nhiên hoạt động đổi mới là một quá trình dài hạn đòi hỏi doanh nghiệp phải xây dựng chiến lược đổi mới trong chiến lược cạnh tranh dài hạn của doanh nghiệp Điều này sẽ giúp huy động và sử dụng các nguồn lực bên trong doanh nghiệp một cách hiệu quả hơn (Porter, 2008)

Đồng quan điểm với Porter (2008), Arranz và cộng sự (2019) đã nhấn mạnh rằng, các doanh nghiệp nên coi việc đổi mới là một phần trong chiến lược cạnh tranh của doanh nghiệp Đổi mới sẽ giúp giảm chi phí, nâng cao hiệu quả sản xuất

và giúp doanh nghiệp có được ưu thế trong cạnh tranh Thêm vào đó tác giả cũng chỉ ra rằng, động lực của hoạt động đổi mới có thể đến từ áp lực môi trường bên ngoài (đổi mới bị động) hoặc sự chủ động, tự nguyện của doanh nghiệp Sử dụng số liệu của 5461 doanh nghiệp Tây Ban Nha, Arranz và cộng sự (2019) đã nghiên cứu các yếu tố khuyến khích và cản trở sự đổi mới trong các doanh nghiệp Tác giả đã nhấn mạnh rằng thông tin thị trường và đặc biệt là hiểu biết về giá cả thị trường, hiểu biết về nhu cầu thị trường là yếu tố ảnh hưởng mạnh mẽ tới hoạt động đổi mới của doanh nghiệp

Năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp cũng sẽ ảnh hưởng rất lớn đến hoạt động đổi mới của doanh nghiệp Điều này đã được chứng minh trong nghiên cứu của các tác giả Bùi Nhật Lệ Uyên (2019); Trần Thị Hồng Việt (2016); Acs và cộng

sự (1988); Dananpour và cộng sự (2006)… Năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp

Trang 36

được thể hiện qua các nội dung như: năng lực cạnh tranh về tài chính, năng lực cạnh tranh về giá, năng lực cạnh tranh về thị phần, năng lực cạnh tranh về nguồn nhân

lực… Các tác giả đã chứng minh rằng doanh nghiệp có ưu thế hơn trong cạnh tranh, thì hoạt động đổi mới trong doanh nghiệp được quan tâm hơn và hiệu quả hơn so với các doanh nghiệp mà năng lực cạnh tranh yếu

Theo Sala và cộng sự (2017) động lực cũng như yếu tố để thúc đẩy đổi mới chính là việc tạo dựng lợi thế cho doanh nghiệp thông qua việc định vị và nâng cao chất lượng sản phẩm, dịch vụ và uy tín thương hiệu nhằm chiếm lĩnh thị trường Tuy nhiên, mối tương quan giữa chi phí và lợi ích của đổi mới là một trong những vấn đề khiến các doanh nghiệp cần thực sự phải cân nhắc Manget và cộng sự (2009) đã chỉ ra rằng, trong trường hợp người tiêu dùng cảm nhận về giá trị nhận sản phẩm được cao hơn, chất lượng tốt hơn, họ sẽ sẵn sàng chi nhiều tiền hơn để mua sản phẩm mới, từ đó doanh nghiệp sẽ bù đắp được các chi phí đã bỏ ra để tiến hành hoạt động đổi mới hướng tới việc cải thiện chất lượng và uy tín của sản phẩm của doanh nghiệp

Mức độ cạnh tranh trong lĩnh vực mà doanh nghiệp đang hoạt động là một trong những vấn đề mà doanh nghiệp phải đối mặt khi thực hiện hoạt động đổi mới Nhưng tác động của thị trường lĩnh vực mà doanh nghiệp đang hoạt động tới đổi mới là vấn đề còn nhiều tranh cãi Các nghiên cứu về tác động của cạnh tranh đối với hoạt động đổi mới đưa ra các kết quả khác nhau Nghiên cứu của Aghion và cộng sự (1999) chỉ ra mặt tích cực của cạnh tranh đối với sự đổi mới, trong khi nghiên cứu của Lee và cộng sự (2005) ủng hộ quan điểm ngược lại, thậm trí theo hình U ngược (Aghion và cộng sự, 2005) Hussen và Çokgezen (2019) cũng nhấn mạnh rằng, mức độ cạnh tranh có tác động tiêu cực đối với cả hai loại hình đổi mới,

đó là đổi mới sản phẩm và đổi mới quy trình sản xuất Hiệu ứng Schumpeterian

phản ánh cạnh tranh sẽ làm giảm lợi ích độc quyền của các sản phẩm mới tiềm năng, do đó làm giảm động lực của doanh nghiệp khi tham gia vào các hoạt động đổi mới (Geroski, 1990) Theo Cohen (1990) cấu trúc thị trường độc quyền sẽ làm cho hành vi của đối thủ vừa ổn định vừa có thể dự đoán được, từ đó giúp hoạt động đổi mới được an toàn và hiệu quả

Trang 37

Theo Aghion (2005) đã phát triển rằng mối quan hệ giữa cạnh tranh và đổi mới theo hình chữ U ngược Mô hình này giả định có hai loại cạnh tranh: (1) các đối thủ là ngang tài ngang sức hoặc (2) kẻ dẫn đầu và kẻ tụt hậu Khi các doanh nghiệp là ngang tài, ngang sức, cạnh tranh sẽ thúc đẩy động lực đổi mới nhằm giúp doanh nghiệp vượt lên Tuy nhiên, một khi một doanh nghiệp vượt lên, sự cạnh

tranh trên thị trường sẽ rơi vào trường hợp thứ hai, “người dẫn đầu” (đã đổi mới thành công và vươn lên) và “kẻ tụt hậu” (thất bại trong việc đổi mới) Trong tình

huống này, các doanh nghiệp tụt hậu không nên tiếp tục thực hiện hoạt động đổi mới, thay vào đó nên thuê hoặc mua các kết quả đổi mới Vì nhiều khi giá thuê hoặc mua các kết quả đổi mới sẽ thấp so với việc tiếp tục đầu tư vào hoạt động đổi mới

để cạnh tranh với người dẫn đầu

1.2.2 Th ể chế, chính sách và hệ thống pháp luật

Arranz và cộng sự (2019) đã đề cao vai trò của quản lý nhà nước đối với hoạt động đổi mới, tác giả cho rằng thể chế, chính sách và hệ thống pháp luật sẽ tác động trực tiếp hoặc gián tiếp đến hoạt động đổi mới của doanh nghiệp Việc tác động trực tiếp hoặc gián tiếp tới hoạt động đổi mới sẽ phụ thuộc vào mức độ và phạm vi của chính sách Nhận định này cũng được ủng hộ bởi Romijn và Albaladejo (2002), tác giả nhấn mạnh tầm quan trọng của sự hỗ trợ về thể chế trong đổi mới và chính sách hỗ trợ đổi mới của chính phủ sẽ tác động trực tiếp đến hoạt động đổi mới của doanh nghiệp Nguyễn Quốc Duy (2015) cho rằng nếu nhà nước sử dụng hiệu quả các chính sách hỗ trợ hoạt động đổi mới như: Chính sách về tín dụng, chính sách về hỗ trợ khoa học và công nghệ, chính sách bảo vệ quyền sở hữu trí tuệ, chính sách hỗ trợ khởi nghiệp đổi mới sáng tạo….điều này sẽ tạo môi trường lành mạnh, hiệu quả cho doanh nghiệp tiến hành hoạt động đổi mới

Yang và cộng sự (2019) đã sử dụng số liệu bảng của các doanh nghiệp công nghiệp năng lượng Trung Quốc trong giai đoạn 2001-2015 và chỉ ra yếu tố chính tác động tới hoạt động đổi mới trong các doanh nghiệp năng lượng là thể chế Bên cạnh đó, tác giả còn nhấn mạnh vai trò của của Chính phủ trong việc thúc đẩy hoạt động đổi mới của các doanh nghiệp Điều này cũng được chứng minh trong các nghiên cứu của Arranz và cộng sự (2019); Romijn và Albaladejo (2002); Nguyễn

Trang 38

Quốc Duy (2015); Hussen và Çokgezen (2019); Bùi Nhật Lệ Uyên (2018)… Các tác giả cho rằng thể chế, chính sách và hệ thống pháp luật của nhà nước là một trong những đòn bẩy quan trọng cho hoạt động đổi mới, chính phủ vừa là nhà đầu

tư, vừa là nhà hỗ trợ tài chính cho hoạt động đổi mới trong doanh nghiệp Sự hỗ trợ của Chính phủ sẽ rất hữu ích cho các doanh nghiệp khi đối mặt với sự thiếu hụt các nguồn lực (Bùi Nhật Lệ Uyên, 2018) Bên cạnh đó chính phủ đóng vai trò xây dựng mạng lưới và kích thích mạng lưới đổi mới hoạt động hiệu quả Đặc biệt vai trò của chính phủ sẽ được thể hiện thông qua việc xây dựng hệ sinh thái đổi mới quốc gia

Theo Hussen và Çokgezen (2019) cấu trúc thị trường hoặc chất lượng của thể chế mà doanh nghiệp đang hoạt động, đều quan trọng trong việc xác định hiệu quả đổi mới của doanh nghiệp Kết quả của hoạt động đổi mới có thể là các phát minh mang tính đột phát, cần được bảo vệ thông qua chính sách bảo vệ quyền sở hữu trí tuệ Điều này sẽ tránh tình trạng sao chép mà không mất phí và đảm bảo lợi nhuận cho doanh nghiệp đổi mới Sivak và cộng sự (2011) đã kết luận rằng chính sách bảo vệ quyền sở hữu trí tuệ sẽ tạo điều kiện thuận lợi cho sự đổi mới Tuy nhiên, không phải chính sách hay luật lệ nào cũng tác động tích cực tới hoạt động đổi mới Ví dụ luật phá sản chặt chẽ có thể cản trở các doanh nghiệp tiến hành đổi mới vì đôi khi chúng có thể tạo ra gánh nặng lớn cho các doanh nghiệp trong trường hợp đổi mới bị thất bại Nhưng luật phá sản chặt chẽ sẽ cung cấp một bảo đảm mạnh mẽ cho các nhà đầu tư và do đó các doanh nghiệp có thể tiếp cận tín dụng một cách dễ dàng hơn Thực tế cho thấy ở những nước có luật phá sản chặt chẽ, tỷ

lệ khởi nghiệp thấp hơn, do tinh thần khởi nghiệp đổi mới sáng tạo giảm (Sala và cộng sự 2017) Parchomovsky và Stein (2008) cho rằng hệ thống pháp luật cũng có tác động đến hoạt động đổi mới, việc truy cứu trách nhiệm do sơ suất trong quá trình tiến hành hoạt động đổi mới, sản phẩm đổi mới bị lỗi và sản phẩm biến đổi gen, kết quả đổi mới không phù hợp với đạo đức hay nhân quyền… đều sẽ là một trở ngại cho hoạt động đổi mới Các quy định để đảm bảo hoạt động cạnh tranh là quan trọng nhưng không nên quá phức tạp, vì điều này sẽ gây khó khăn cho hoạt động đổi mới của doanh nghiệp (Nijsen và cộng sự 2009) Ngoài ra, việc thiết lập khuôn khổ thể chế

Trang 39

để quản lý doanh nghiệp cần đảm bảo tính hiệu quả, thông qua đó thúc đẩy hoạt động đổi mới trong các doanh nghiệp

Tham nhũng là hậu quả của một hệ thống điều hành chính phủ yếu, kém Các doanh nghiệp đổi mới có thể phải đối mặt với các yêu cầu hối lộ từ các cơ quan, ban ngành trong hệ thống chính quyền (Anokhin và Schulze, 2009) Điều này sẽ làm tăng chi phí cho hoạt động đổi mới của doanh nghiệp và gây khó khăn trong hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp (Romijn, 2002; Nijsen và cộng sự 2009) Do vậy

một thống pháp luật hiệu quả và công bằng sẽ tạo điều kiện thuận lợi cho doanh nghiệp tiến hành hoạt động đổi mới (Buddelmeyer và cộng sự, 2006; Baumol, 1990; Rosenbusch và cộng sự, 2011) Tại Việt Nam, quy định và thủ tục hành chính rườm

rà, không công khai, minh bạch đang là một rào cản lớn để thu hút các doanh nghiệp nước ngoài đầu tư R&D vào Việt Nam Các quy định thì không rõ ràng và khó hiểu, các ban ngành chức năng không có sự liên kết với, thủ tục hành chính thì quá phức tạp điều này gây mất thời gian và chi phí của doanh nghiệp khi thực hiện hoạt động đổi mới như: khi doanh nghiệp xin các dự án hỗ trợ hoạt động đổi mơi của chính phủ, xin miễn thuế cho dây truyền công nghệ cao, xin hỗ trợ tín dụng… (Vũ Anh Dũng và cộng sự, 2018) Chính vì vậy hệ thống pháp luật đòi hỏi phải công khai và minh bạch, tạo điều kiện thuận lợi và dễ dàng cho doanh nghiệp khi làm việc với các cơ quan chính quyền tại địa phương

Sự kém hiệu quả của bộ máy hành chính quyền sẽ tác động tiêu cực đến hoạt động đổi mới và có thể làm giảm lợi nhuận từ hoạt động đổi mới của doanh nghiệp Các quy định pháp luật chặt chẽ sẽ làm giảm động lực đổi mới và làm giảm đầu tư cho hoạt động R&D (Aghion và cộng sự, 2009) Hay sự chậm chễ trong việc phê duyệt các thủ tục giấy tờ liên quan đến việc mua công nghệ phục vụ hoạt động đổi mới, hay thủ tục giấy tờ phức tạp liên quan đến các chính sách hỗ trợ của nhà nước….sẽ kìm hãm hoạt động đổi mới của doanh nghiệp

Yang và cộng sự (2019) chỉ ra rằng chính sách tài chính công và quy định của nhà nước liên quan tới vấn đề môi trường chỉ có ảnh hưởng gián tiếp tới hoạt động đổi mới trong lĩnh vực năng lượng của các doanh nghiệp tại Trung Quốc

Trang 40

1.2.3 Cơ sở hạ tầng

Sivak, Caplanova và Hudson (2012) đã sử dụng số liệu của dự án khảo sát Doanh nghiệp của Ngân hàng Thế giới (WBES), được thực hiện vào năm 2009, để phân tích sự đổi mới ở các nước mới nổi ở Châu Âu và Châu Á, bao gồm các nước đang phát triển nhanh chóng hiện là thành viên của EU và cả những nước đang phát triển ở Châu Á Nghiên cứu của họ đã kết luận rằng cơ sở hạ tầng (bao gồm cơ sở

hạ tầng giao thông, công nghệ thông tin và tài chính) rất quan trọng đối với sự đổi mới, có tác động trực tiếp đến hoạt động đổi mới trong doanh nghiệp Nhà nước đóng vai trò quan trọng trong việc cung cấp cơ sở hạ tầng, tạo điều kiện thuận lợi cho các doanh nghiệp tiến hành hoạt động đổi mới…

Hạ tầng giao thông sẽ tác động trực tiếp đến hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp, thể hiện qua việc dễ dàng tiếp cận các yếu tố đầu vào, cũng như thuận tiện trong việc vận chuyển sản phẩm đầu ra của doanh nghiệp tới tay người tiêu dùng, từ đó ảnh hưởng gián tiếp đến hoạt động đổi mới trong doanh nghiệp Hạ tầng giao thông cũng sẽ giúp tạo ra các mạng liên kết trong hoạt động đổi mới tại mỗi địa phương và quốc gia (Djoumessi và cộng sự, 2019; Gallego và cộng sự, 2011; Guinet, 1999)

Theo OECD (2008) đã nhấn mạnh tầm quan trọng của hạ tầng công nghệ thông tin và công nghệ thông tin là nền tảng hỗ trợ sự đổi mới của một quốc gia OECD cũng đề cập đến tầm quan trọng của sự phổ biến Internet Internet vừa tạo thuận lợi cho việc tiếp thị hàng hóa và dịch vụ mới của doanh nghiệp, vừa đóng vai trò cầu nối tri thức, thúc đẩy lan tỏa tri thức, từ đó tác động đến hoạt động đổi mới của doanh nghiệp Chính phủ cũng có thể dựa vào hệ thống thông tin để thúc đẩy mạng lưới liên kết, từ đó hình thành hệ sinh thái đổi mới quốc gia (Ayyagari và cộng sự, 2005) Theo Nguyễn Quốc Duy (2015) trong nền kinh tế tri thức, hệ thống thông tin và tri thức khoa học công nghệ là đầu vào quan trọng của quá trình sản xuất, cũng như hoạt động đổi mới Để tiến hành hoạt động đổi mới đòi hỏi mọi thành viên trong doanh nghiệp phải tiếp cận một cách dễ dàng, hiệu quả các nguồn thông tin, tri thức khoa học, công nghệ mới, kinh nghiệm hay và thực tiễn tốt Điều này sẽ tạo điều kiện thuận lợi để doanh nghiệp học hỏi, cải tiến và đổi mới

Ngày đăng: 05/02/2023, 12:02

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
13. Vũ Anh Dũng và Hoàng Thị Hồng Hạnh (2018), “ Các y ế u t ố ảnh hưởng đế n vi ệ c thu hút FDI g ắ n v ớ i R&D t ừ các công ty Nh ậ t B ả n vào Vi ệ t Nam ”, Tạ p chí Nh ữ ng v ấn đề Kinh t ế và Chính tr ị th ế gi ớ i, s ố 7(267), tr.47-59 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Các yếu tố ảnh hưởng đến việc thu hút FDI gắn với R&D từ các công ty Nhật Bản vào Việt Nam
Tác giả: Vũ Anh Dũng, Hoàng Thị Hồng Hạnh
Nhà XB: Tạp chí Những vấn đề Kinh tế và Chính trị thế giới
Năm: 2018
15. Đả ng C ộ ng s ả n Vi ệt Nam (2016). “Văn kiện Đạ i h ội đạ i bi ể u toàn qu ố c l ầ n th ứ XII ”, Nxb. Chính trị qu ố c gia - S ự th ậ t, Hà N ộ i Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứXII
Tác giả: Đả ng C ộ ng s ả n Vi ệt Nam
Nhà XB: Nxb. Chính trị quốc gia - Sự thật
Năm: 2016
18. Đỗ Văn Hải (2015), “ Bàn v ề đổ i m ớ i sáng t ạ o trong doanh nghi ệ p ”, Dầ u khí, Số 11, tr.56-59 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bàn về đổi mới sáng tạo trong doanh nghiệp
Tác giả: Đỗ Văn Hải
Nhà XB: Dầu khí
Năm: 2015
22. Phùng Xuân Nh ạ, Lê Quân (2013), “Đổ i m ớ i sáng t ạ o c ủ a doanh nghi ệ p Vi ệ t Nam ”, T ạ p chí Khoa h ọc ĐHQGHN, Tậ p 29, S ố 4, tr.1-11 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đổi mới sáng tạo của doanh nghiệp Việt Nam
Tác giả: Phùng Xuân Nh ạ, Lê Quân
Năm: 2013
25. Tr ầ n Quang Ti ến (2018), “Đổ i m ớ i sáng trong các doanh nghi ệ p nh ỏ và v ừ a do ph ụ n ữ làm ch ủ”, Tạp chí Nghiên cứu kinh tế, số 5, tr.88-95 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đổi mới sáng trong các doanh nghiệp nhỏ và vừa do phụ nữ làm chủ
Tác giả: Tr ầ n Quang Ti ến
Năm: 2018
26. Hoàng Văn Trung (2018), Gi ải pháp nâng cao năng lực đổ i m ớ i sáng t ạ o c ủ a doanh nghi ệ p nh ỏ và v ừa trên đị a bàn t ỉ nh Ngh ệ An, Lu ận văn Thạc sĩ Quả n lý Khoa học và Công nghệ, Học viện Khoa học Xã hội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giải pháp nâng cao năng lực đổi mới sáng tạo của doanh nghiệp nhỏ và vừa trên địa bàn tỉnh Nghệ An
Tác giả: Hoàng Văn Trung
Năm: 2018
27. Nguy ễ n Lê Thanh Tuy ền (2013), “ Nghiên c ứ u các nhân t ố t ảnh hưởng đế n hi ệ u qu ả ho ạt độ ng kinh doanh c ủ a các công ty ngành s ả n xu ấ t ch ế bi ế n th ự c ph ẩ m niêm y ế t trên th ị trườ ng ch ứ ng khoán Vi ệ t Nam ”. Lu ận văn thạc sĩ, ĐH Đà Nẵ ng Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghiên cứu các nhân tố tác động đến hiệu quả hoạt động kinh doanh của các công ty ngành sản xuất chế biến thực phẩm niêm yết trên thị trường chứng khoán Việt Nam
Tác giả: Nguyễn Lê Thanh Tuyền
Nhà XB: Đại học Đà Nẵng
Năm: 2013
30. Mai Lê Thúy Vân, Nguyễn Đạt Thịnh, Văn Đức Hòa, Lê Thị Việt Hòa, Hoàng Th ị Di ệ u Huy ề n, Lê Tr ần Thùy Dương (2018), “ Th ự c tr ạ ng các y ế u t ố quy ế t định đến đổ i m ớ i công ngh ệ c ủ a các doanh nghi ệ p Vi ệ t Nam ”, Tậ p 2, S ố 2, tr.40-48 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thực trạng các yếu tố quyết định đến đổi mới công nghệ của các doanh nghiệp Việt Nam
Tác giả: Mai Lê Thúy Vân, Nguyễn Đạt Thịnh, Văn Đức Hòa, Lê Thị Việt Hòa, Hoàng Th ị Di ệ u Huy ề n, Lê Tr ần Thùy Dương
Năm: 2018
31. Tr ầ n Th ị H ồ ng Vi ệ t (2016), “ Nhân t ố tác động đến năng lực đổ i m ớ i sáng t ạ o c ủ a các doanh nghi ệ p da gi ầ y Hà N ộ i ”, Tạ p chí Qu ả n lý kinh t ế , T ậ p 1, S ố 74, tr. 52 – 63.TIẾNG ANH Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nhân tố tác động đến năng lực đổi mới sáng tạo của các doanh nghiệp da giày Hà Nội
Tác giả: Trần Thị Hồng Việt
Nhà XB: Tạp chí Quản lý kinh tế
Năm: 2016
32. Abernathy, W. J., & Clark, K. B. (1985). Innovation: Mapping the winds of creative destruction. Research Policy, 14(1), 3 – 22. https://doi.org/10.1016/0048 ‐ 7333(85)90021 ‐ 6 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Innovation: Mapping the winds of creative destruction
Tác giả: Abernathy, W. J., & Clark, K. B
Năm: 1985
33. Acs, Z. J., & Audretsch, D. B. (1988). “ Innovation in large and small firms: An empirical analysis. The American Economic Review ”, 78(4), 678e690 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Innovation in large and small firms: An empirical analysis. The American Economic Review
Tác giả: Acs, Z. J., & Audretsch, D. B
Năm: 1988
34. ADB (2014). “ Middle- Income Trap Hold Back Asia‘s Potential New Tiger Economies: 12 Things to Know ”. Asian development Bank, p.2-14 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Middle-Income Trap Hold Back Asia‘s Potential New Tiger Economies: 12 Things to Know
Tác giả: ADB
Năm: 2014
35. Aghion, P., Bloom, N., Blundell, R., Griffith, R., and Howitt, R., (2005).“ Competition and Innovation: An Inverted- U Relationship‖, The Quarterly Journal of Economics, Vol. 120, No. 2 (May, 2005), pp. 701-728 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Competition and Innovation: An Inverted-U Relationship
Tác giả: Aghion, P., Bloom, N., Blundell, R., Griffith, R., Howitt, R
Nhà XB: The Quarterly Journal of Economics
Năm: 2005
14. Đả ng b ộ t ỉ nh Thái Nguyên (2020), Ngh ị quy ết Đạ i h ội đạ i bi ểu Đả ng b ộ t ỉ nh Thái Nguyên l ầ n th ứ XX nhi ệ m k ỳ 2020-2025 Khác
16. Thái Hà (Biên d ịch) (2009), “Đổ i m ớ i ki ế n t ạo tương lai”, NXB Lao độ ng – Xã h ộ i 17. Nguyễn Vân Hà (2020), “Đổ i m ớ i sáng t ạ o s ả n ph ẩ m và quy trình trong ngànhkhách s ạ n t ạ i Vi ệ t Nam ” , Lu ậ n án ti ến sĩ, ĐH Kinh tế qu ố c dân Khác
19. H ội đồ ng nhân dân (2019), Ngh ị quy ế t s ố 09/2019/NQ- HĐND ngày 11/12/2019 c ủa HĐND tỉnh ban hành Quy đị nh n ộ i dung và m ứ c chi th ự c hi ệ n h ỗ tr ợ h ệ sinh thái kh ở i nghi ệp đổ i m ớ i sáng t ạ o t ỉnh Thái Nguyên đến năm 2025 Khác
23. Quốc hội Việt Nam (2008), Luật công nghệ cao 24. Qu ố c h ộ i Vi ệ t Nam (2020), Lu ậ t doanh nghi ệ p Khác
36. Ajzen, I. (1991), “ The theory of planned behaviour ”, Organization Behaviour and Human Cecision Processes, vol. 50, pp. 179-211 Khác

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w