TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM HÀ NỘI KHOA NGỮ VĂN BÀI TẬP LỚN MÔN HỌC Khuynh hướng văn học và loại hình tác giả Văn học Trung đại Việt Nam TÊN CHỦ ĐỀ Sự giao thoa cảm hứng nhân đạo thế sự trong “Điệp tử thư trung” (Nguyễn Du) – “Xuân dạ liên nga” (Nguyễn Khuyến) và đặc điểm loại hình của hai tác giả.Hà Nội, tháng 12 năm 2021Báo cáo độc sáng
Trang 1TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM HÀ NỘI
KHOA NGỮ VĂN
BÀI TẬP LỚN
MÔN HỌC:
Khuynh hướng văn học và loại hình tác giả Văn học Trung đại Việt Nam
TÊN CHỦ ĐỀ
Sự giao thoa cảm hứng nhân đạo - thế sự trong “Điệp tử thư trung” (Nguyễn Du) –
“Xuân dạ liên nga” (Nguyễn Khuyến) và đặc điểm loại hình của hai tác giả
Hà Nội, tháng 12 năm 2021
Trang 2Báo cáo độc sáng
Mục lục
Trang 3BÀI TẬP LỚN: 1
Khuynh hướng văn học và loại hình tác giả Văn học Trung đại Việt Nam 1
1 Mở đầu 4
1.1 Lý do chọn đề tài 4
1.2 Mục tiêu, nhiệm vụ của chủ đề 4
1.3 Đối tượng nghiên cứu của chủ đề 5
2 Giải quyết vấn đề 5
2.1 Sự giao thoa, gặp gỡ của cảm hứng nhân đạo – thế sự trong văn học trung đại Việt Nam 5
2.2 Sự giao thoa cảm hứng nhân đạo – thế sự trong “Điệp tử thư trung” (Nguyễn Du) và “Xuân dạ liên nga” (Nguyễn Khuyến) 7
2.3 Đặc điểm loại hình tác giả Nguyễn Du và Nguyễn Khuyến 12
3 Kết luận 14
4 Tiền đề hình thành cảm hứng yêu nước trong văn học trung đại Việt Nam 14
5 Tài liệu tham khảo 16
1 Mở đầu
1.1 Lý do chọn đề tài
Trang 4Cùng với sự phát triển toàn diện về chính trị, xã hội, kinh tế, tôn giáo hay các loại hình nghệ thuật như kiến trúc, điêu khắc… thì thế kỷ X còn là cột mốc khởi đầu cho nền văn học Trung đại Việt Nam Văn học Trung đại Việt Nam được chia thành bốn giai đoạn chính, đặt trong tương quan bối cảnh văn hóa – xã hội phong kiến, chịu ảnh hưởng sâu sắc của ý thức hệ phong kiến, gắn liền với lịch sử dựng nước, giữ nước của dân tộc, mang đậm dấu ấn bản sắc văn hóa Việt Nam Về nội dung, văn học thời kỳ này mang những đặc điểm nổi bật về các khuynh hướng, cảm hứng sáng tác, chúng luôn tồn tại trong từng tác phẩm và có sự móc nối, giao thoa nhau, thể hiện cái nhìn của tác giả trước những vấn đề con người – xã hội – đất nước Đặc biệt, giai đoạn từ thế kỷ XVIII đến nửa đầu thế kỷ XIX đã chứng kiến sự bùng nổ của văn học mang nội dung giao thoa giữa cảm hứng nhân đạo và cảm hứng thế sự, thể hiện cái nhìn của tác giả trước chuyện đời, chuyện người, những vấn đề xã hội nổi cộm lúc bấy giờ, đồng thời nói lên tấm lòng yêu thương, cảm thông, trân trọng của họ trước mảnh đời bất hạnh, chịu cảnh bất công, bi thảm dưới xã hội phong kiến đang lúc suy tàn Những tên tuổi nổi bật thời kỳ này phải kể đến Nguyễn Du, Nguyễn Khuyến, Hồ Xuân Hương, Nguyễn Gia Thiều, Cao Bá Quát, Nguyễn Công Trứ…
Với “con mắt trông thấu sáu cõi, tấm lòng nghĩ suốt nghìn đời”, Nguyễn Du đã để
lại cho hậu thể những áng thơ văn bất hủ, thể hiện cái nhìn của ông về cuộc đời, con người, nhân tình thế thái đặt trong hoàn cảnh xã hội lúc bấy giờ Với tấm lòng yêu nước, thương dân thầm kín mà sâu nặng, vị “Tam nguyên Yên Đổ” Nguyễn Khuyến đã gửi gắm nỗi lòng của mình vào thơ ca, thể hiện “tiếng nói trữ tình, tiếng nói của bậc đại khoa bình dân, bậc đại quan nhập cuộc đời thường”, trở thành “nhà thơ của quê hương làng cảnh Việt Nam” Cả hai không cùng thời, nhưng đều sinh ra vào lúc thế nước đang loạn, nên các tác phẩm của hai ông đều gặp gỡ nhau tư tưởng, quan niệm sáng tác Ta bắt gặp trong những sáng tác của Nguyễn Du và Nguyễn Khuyến sự giao thoa giữa hai cảm hứng: nhân đạo và thế sự Hai con người, hai hướng đi, hai số phận, đều chịu cảnh nhiễu nhương của thời đại, đều để lại cho đời những áng thơ ca tuyệt thế, vẹn nguyên giá trị nghệ thuật – tư tưởng đến tận mai sau
1.2 Mục tiêu, nhiệm vụ của chủ đề
Ở bài tiểu luận này, bằng các phương pháp phân tích, so sánh, tổng hợp, người viết
sẽ làm rõ sự giao thoa giữa hai cảm hứng nhân đạo và cảm hứng thế sự - vốn là nguồn thi hứng quen thuộc, xuyên suốt các tác phẩm của Nguyễn Du và Nguyễn Khuyến, thông
Trang 5qua sáng tác của hai ông Bên cạnh những tác phẩm viết bằng chữ Nôm đã quá quen thuộc và gần gũi với bạn đọc, Nguyễn Du và Nguyễn Khuyến còn để lại cho hậu thế sau này kho thi liệu các tác phẩm chữ Hán Với thi pháp trung đại, việc sử dụng hình ảnh tượng trưng để thể hiện tâm tư, tình cảm, nỗi lòng của người viết dường như đã quá quen
thuộc trong các tác phẩm thơ ca Thông qua hai tác phẩm “Điệp tử thư trung” (Nguyễn Du) và “Xuân dạ liên nga” (Nguyễn Khuyến), người viết sẽ làm rõ sự gặp gỡ, giao thoa
giữa cảm hứng nhân đạo và cảm hứng thế sự nơi ngòi bút của hai tác giả, từ đó có thêm những chiêm nghiệm, hiểu biết về đặc điểm loại hình của hai ông
1.3 Đối tượng nghiên cứu của chủ đề
Đối tượng nghiên cứu mà bài tiểu luận muốn hướng đến là những nét tương đồng, gặp gỡ, giao thoa nhau giữa cảm hứng nhân đạo và cảm hứng thế sự trong nội dung, tư tưởng của hai tác giả Nguyễn Du, Nguyễn Khuyến, thể hiện cụ thể trong hai bài thơ chữ
Hán “Điệp tử thư trung” và “Xuân dạ liên nga” So với những tác phẩm chữ Nôm đã
quá quen thuộc, hai tác phẩm chữ Hán này dường như có phần xa lạ với người đọc, tuy nhiên nó vẫn chứa đựng rất nhiều giá trị từ nội dung, nghệ thuật đến quan niệm, tư tưởng
Từ đây, bài viết sẽ có những móc nối, liên hệ tới đặc điểm loại hình của hai tác giả tiêu biểu cho nền văn học Trung đại nước nhà
2 Giải quyết vấn đề
2.1 Sự giao thoa, gặp gỡ của cảm hứng nhân đạo – thế sự trong văn học
trung đại Việt Nam
Văn học trung đại Việt Nam ra đời, mở đầu cho thời kì văn học viết, kế thừa và phát huy những giá trị nhân văn của kho tàng văn học dân gian mà cha ông để lại Chủ nghĩa nhân đạo trong văn học trung đại xuất phát từ những giá trị vốn có từ tư tưởng, lối sống
của con người Việt Nam, đó là truyền thống “thương người như thể thương thân”, “lá lành đùm lá rách” đã đi vào tiềm thức của người con đất Việt Nhân đạo, đơn giản là
lòng thương người, trân trọng giá trị của con người Với những biểu hiện vô cùng phong phú, đa dạng, cảm hứng nhân đạo dần ăn sâu vào lối viết của các nhà Nho, tác giả trung đại; qua đó, họ thể hiện sự cảm thông, trân trọng giá trị, vẻ đẹp của con người, đề ca khát vọng chính nghĩa và lên án những thế lực tối tăm đã chà đạp lên số phận con người Khác với nhân đạo, cảm hứng thế sự trong văn học đề cập đến các vấn đề trong xã hội “có tính chất đời thường, thế tục và thể hiện quan niệm, thái độ, cách phân tích, đánh
Trang 6giá, phê bình, lý giải của tác giả” về những vấn đề ấy Nói đến thế sự là nói đến những sự việc xảy ra xung quanh, có ảnh hưởng và tác động đến đời sống của con người, để từ đó
ta phải nhìn nhận và suy ngẫm Cuộc sống muôn màu muôn vẻ ngoài kia luôn là nguồn cảm hứng bất tận cho văn chương Cảm hứng thế sự chính là yếu tố quan trọng giúp tác giả “khẳng định giá trị thẩm mỹ của cái đời thường, đi sâu khám phá những biến đổi phức tạp, éo le của cuộc sống muôn màu, muôn sắc nhằm tìm kiếm hạnh phúc và khẳng định nhân cách, bản thân con người”
Trong cuộc đời cầm bút của mình, các tác giả không bao giờ đóng khung bản thân trong một cảm hứng sáng tác nhất định Bởi vốn dĩ, các cảm hứng sáng tác luôn có sự gặp gỡ, giao thoa nhau, bệ đỡ cho nhau và cùng nhau gây dựng lên ý nghĩa cho tác phẩm Một cách cụ thể, ta có thể bắt gặp sự giao thoa giữa cảm hứng thế sự và cảm hứng nhân đạo khi đặt điểm nhìn nơi các tác giả văn học trung đại Họ lấy chất liệu từ đời sống dân gian, cuộc sống thường nhật của nhân dân hay những chuyện chốn kinh thành xa xôi, nơi cung cấm của vua chúa, quan lại…từ đó thể hiện quan điểm, thái độ của mình về sự việc
ấy Thế sự có thể bàn đến những bất cập trong đời sống, những câu chuyện nơi góc khuất
mà lịch sử khó có thể đào sâu Từ những câu chuyện rất đời ấy, dưới cái nhìn tinh tế và
sự nhạy bén của mình, các tác giả văn học trung đại có thể bóc tách và lột trần lớp vỏ bọc bên ngoài để thấy được những vấn đề thực sự đằng sau nó, đồng thời nói lên tiếng nói của bản thân, cũng có khi là nói thay cho nhân vật Ta bắt gặp thái độ lên án, châm biếm sâu cay trước những chuyện đời “chướng tai gai mắt”; sự cảm thông, xót xa trước số phận bất hạnh của con người; cái nhìn trân trọng, ngưỡng mộ nhân cách cao đẹp, một con người tài hoa; hay những chiêm nghiệm, phân tích, lý giải về vấn đề xoay quanh cuộc sống Đó chính là cách một tác giả thể hiện tấm lòng nhân đạo của bản thân trước một thế sự họ trải qua hoặc chứng kiến, hay chỉ đơn giản là họ chiêm nghiệm được thông qua
các triết lý sống trong sách vở Đoạn trích “Chuyện cũ trong phủ chúa Trịnh” trong “Vũ trung tùy bút” của tác giả Phạm Đình Hổ chính là minh chứng rõ nét cho sự giao thoa
giữa cảm hứng nhân đạo và thế sự Thông qua việc phản ánh đời sống xa hoa, hưởng lạc của vua chúa, sự nhiễu nhương, chuyên quyền, lộng hành của quan lại thời vua Lê – chúa Trịnh, Phạm Đình Hổ đã thể hiện một góc nhìn vô cùng chân thực về thực trạng đen tối, thối nát của xã hội phong kiến Việt Nam thời bấy giờ Qua đó, ông thầm kín bày tỏ nỗi xót thương, cảm thông trước cuộc sống lầm than của người dân và sự bất lực của kẻ trí thức lúc vận nước đang suy yếu dần Giữa cảm hứng nhân đạo và thế sự luôn tồn tại một
Trang 7sợi dây vô hình móc nối nhau, đan xen nhau và gắn liền với nhau Từ những câu chuyện
về thế sự, tác giả thể hiện cái nhìn nhân đạo của mình một cách công khai hoặc thầm kín
2.2 Sự giao thoa cảm hứng nhân đạo – thế sự trong “Điệp tử thư trung”
(Nguyễn Du) và “Xuân dạ liên nga” (Nguyễn Khuyến)
Nguyễn Du và Nguyễn Khuyến là hai cái tên vô cùng nổi bật của văn học Việt Nam thời kỳ trung đại Tên tuổi Nguyễn Du gắn liền với các tác phẩm mang đậm cảm hứng nhân đạo, bày tỏ nỗi xót xa, cảm thông, trân trọng những kiếp người tài hoa, bạc mệnh, thể hiện cái nhìn mới lạ của ông về cái đẹp, về sự hoàn mỹ của con người trong xã hội phong kiến, đặc biệt là người phụ nữ Các sáng tác của Nguyễn Du bao gồm cả chữ
Nôm và chữ Hán, có thể kể đến như “Đoạn trường tân thanh” (Truyện Kiều), “Văn tế thập loại chúng sinh” (Văn chiêu hồn), “Thanh Hiên thi tập”… Đối với Nguyễn Khuyến
, vị “Tam nguyên Yên Đổ” nổi danh khắp vùng, được mệnh danh là “nhà thơ của làng cảnh Việt Nam” với các tác phẩm mang đậm cảm hứng thế sự, xuất phát từ những câu chuyện rất đời, rất thực, thể hiện một tâm hồn rộng mở, khoáng đạt, giàu cảm xúc, suy tư trước cuộc sống nông thôn, trước quang cảnh thiên nhiên núi rừng và con người nơi thôn quê dân dã Giống với Nguyễn Du, thơ ông vô cùng đa dạng, viết bằng cả chữ Nôm và
chữ Hán, ví dụ như chùm thơ thu nổi tiếng: “Thu vịnh, Thu điếu, Thu ẩm”, các tập thơ
“Quế sơn thi tập”, “Yên Đổ thi tập”…
Có thể nói, các tác phẩm của Nguyễn Du thiên về cảm hứng nhân đạo, còn trong thơ ca Nguyễn Khuyến luôn ẩn chứa câu chuyện, mang đặc trưng của cảm hứng thế sự Tuy nhiên, như đã nói ở trên, trong một tác phẩm văn học luôn chứa những yếu tố đan xen giữa các khuynh hướng cảm hứng nhằm bộc lộ cá tính sáng tạo cũng như nội dung tư tưởng, tình cảm mà tác giả muốn truyền đạt Sự xuất hiện đan xen giữa nhân đạo và thế
sự luôn hiện hữu trong các tác phẩm của Nguyễn Du và Nguyễn Khuyến Điều đó được
thể hiện rõ nét trong hai tác phẩm chữ Hán “Điệp tử thư trung” (Nguyễn Du) và “Xuân
dạ liên nga” (Nguyễn Khuyến)
“Điệp tử thư trung
Vân song tằng kỷ nhiễm thư hương,
Tạ khước phong lưu vị thị cuồng.
Bạc mệnh hữu duyên lưu giản tịch,
“Xuân dạ liên nga
Tiện nhĩ tiêm tiêm nhất vũ hàn, Đầu minh nhi tử tử nhi an.
Nhược vi thảng thốt lâm nghi dị,
Trang 8Tàn hồn vô lệ khốc văn chương.
Đố ngư dị tỉnh phồn hoa mộng,
Huỳnh hoả nan hôi cẩm tú trường.
Văn đạo dã ưng cam nhất tử,
Dâm thư do thắng vị hoa mang”
Đáo đắc thuân tuần biện diệc nan.
Tố phú tri năng do vị dẫn.
Đương tiền danh lợi bất tương quan.
Cô đăng sát nhĩ do liên nhĩ.
Đáo đắc thành hôi lệ vị can.”
Bài thơ “Điệp tử thư trung” (Con bướm chết trong sách) được trích trong “Thanh Hiên thi tập” – một trong ba tập thơ chữ Hán nổi tiếng của Đại thi hào Nguyễn Du, nằm sát cuối phần “Làm quan ở Bắc Hà” viết khoảng năm 1802 – 1804 Bài thơ được viết khi
Nguyễn Du chưa tới tuổi “tam thập nhi lập”, được đánh giá là một tác phẩm “vừa lạ lùng vừa tuyệt diệu”, mang theo những tâm tư, chiêm nghiệm của tác giả về cuộc đời, con người, về cõi nhân sinh
Tương truyền, bài thơ “Xuân dạ liên nga” (Đêm xuân thương con thiêu thân) của
Nguyễn Khuyến có hoàn cảnh ra đời rất đặc biệt: có người cho rằng tác giả sáng tác bài thơ này khi nghe tin cụ Nghè Dao Cù bị giặc Pháp giết hại Đúng lúc đó, trên án thư có một con thiêu thân lao đầu vào đọi dầu mà chết, Nguyễn Khuyến liền mượn hình ảnh con thiêu thân để ngụ ý Cụ Nghè Dao Cù tên thật là Vũ Hữu Lợi, quê ở làng Dao Cù, Nam Trực, Nam Định, là chủ mưu cuộc đánh chiếm, hòng đòi lại tỉnh Nam Định đã rơi vào tay giặc Pháp; thế sự không thành, cụ bị giặc Pháp bắt và xử chém
Hai tác giả, hai cá tính sáng tác, hai tác phẩm khác nhau Điểm chung ở đây là cả hai cùng hướng điểm nhìn tới một đối tượng: con bướm hay con thiêu thân; từ hình ảnh mang đầy tính trừu tượng ấy, họ thể hiện cảm xúc, tâm sự thầm kín trong lòng và bày tỏ thái độ, những chiêm nghiệm về cuộc đời, kiếp người, cõi nhân sinh Một bên kể câu chuyện về con bướm chết trong sách, thi nhân tình cờ nhìn thấy, từ đó ngẫm về mình,
“mượn thơ để kí thác tâm tư, gửi tiếng lòng vào muôn thuở” Một bên dùng tiếng thơ để thương khóc cho số phận con thiêu thân chịu kiếp chết thiêu trong lửa đèn như một cách kín đáo bày tỏ nỗi xót thương cho sự ra đi của người bạn mình, cũng là tỏ nỗi lòng bản thân khi quyết định rời xa thế sự nhiễu nhương, lui về cuộc sống ẩn dật để bào toàn danh tiết của một nhà Nho chân chính
Cả hai bài thơ chữ Hán đều viết theo thể thơ thất ngôn bát cú với bốn phần đặc
trưng: Đề – Thực – Luận – Kết Với nhan đề “Điệp tử thư trung”, người đọc sẽ tưởng
tượng Nguyễn Du kể một câu chuyện về “con bướm chết trong sách”, từ đó bày tỏ triết lý
Trang 9sống và thái độ, tư tưởng của bản thân Đối với “Xuân dạ liên nga” của Nguyễn Khuyến,
ngay từ nhan đề, tác giả đã thể hiện tấm lòng nhân đạo của mình một cách trực tiếp: xót thương, cảm thông trước cái chết của con thiêu thân: dám lao đầu vào ngọn lửa chết một cách “quang minh chính đại”, không hổ thẹn với lòng
Xuyên suốt “Điệp tử thư trung” là yếu tố thế sự và nhân đạo đan xen nhau Từ
những câu chuyện thế sự mà tác giả thể hiện tấm lòng nhân đạo của mình Ở hai câu đề, nhìn con bướm chết khô nằm trên trang sách cũ trong thư phòng, Nguyễn Du chợt ngộ ra triết lý sống, ngẫm về đời, nghĩ về mình
“Vân song tằng kỷ nhiễm thư hương – (Thư phòng nay nhiễm hương thơm của sách)
Tạ khước phong lưu vị thị cuồng – (Từ bỏ vị phong lưu không thể cho là dại)”
Hai câu đề nhuốm màu thế sự, thể hiện suy tư, triết lý về “nhân tình thế thái” của Nguyễn Du trong mối quan hệ giữa vật chất, danh vọng và những giá trị đích thực nơi cuộc sống Bài thơ mở đầu bằng hình ảnh thư phòng “nhiễm thư hương” – nhiễm hương thơm của sách vở Từ bỏ đi thói phong lưu, rong chơi để được sống và tận hưởng “hương thơm sách vở” nơi không gian ấy thì quả là điều sáng suốt, chứ lý nào là dại! Câu thơ mượn hình ảnh “con bướm” cốt để răn dạy con người: so với tiền tài, địa vị xã hội thì những kiến thức trong sách vở, giáo lý thánh hiền mới là thứ quý giá hơn Đây là “xu hướng đối lập giữa "nghĩa" (lí tưởng nhân nghĩa) với "lợi" (lợi ích vật chất, tiền tài, danh vọng) trong quan niệm về giá trị của các nhà nho.”
Từ quan niệm, triết lý nhuốm màu thế sự, hai câu thực kế thừa, phát triển và truyền tải cái nhìn nhân đạo đầy xót xa:
“Bạc mệnh hữu duyên lưu giản tịch – (Mệnh bạc có duyên lưu lại với sách vở) Tàn hồn vô lệ khốc văn chương – (Hồn tàn không nước mắt khóc văn chương)”
Tố Như bày tỏ lòng xót thương xen lẫn ngưỡng mộ: nơi con bướm chết là trên một trang sách “Con bướm thực may mắn khi được lưu cùng sách – cũng có nghĩa lưu cùng những giá trị bất hủ nằm trong sách” Câu thơ thứ hai trong phần thực mang hình ảnh trừu tượng và độc đáo: “hồn tàn”, “không nước mắt” khi “khóc văn chương”? Có lẽ khi chết đi, hồn rời khỏi nơi thể xác, chỉ còn lại cái xác khô đang khóc cho văn chương một cách bất lực; mà cái hồn, thứ linh khí kia mới chính là thứ cần có để “giao lưu hòa nhập” với những tinh hoa của văn chương Nguyễn Du mượn hình ảnh con bướm để nói về mình, cũng là nói về người trong thiên hạ “Cái khốc này chính là của Nguyễn Du dành
Trang 10cho văn chương, đúng hơn là cho những khát vọng ông chưa thực hiện được cho văn chương đến giây phút ấy” Thương thay một kiếp phong lưu, suốt đời phiêu bạt, lênh đênh; tới khi hiểu rằng mọi thứ phồn hoa phù phiếm trên đời chẳng thể đổi lấy một lần thanh thản, an yên nơi Đạo thì đã muộn
Sự giao thoa giữa cảm hứng nhân đạo và cảm hứng thế sự cũng được thể hiện ở
“Xuân dạ liên nga” Lấy hình ảnh con thiêu thân như một hình ảnh thực tế thay thế cho điển tích, điển cố cho Trung Quốc, giúp cho bài thơ dễ hiểu và gần gũi hơn rất nhiều Con thiêu thân vốn có đặc tính bị thu hút bởi ánh sáng và thường lao đầu vào ánh sáng
ấy Nguyễn Khuyến mượn hình ảnh con thiêu thân để ca ngợi về chí khí của bậc quân tử, dám hi sinh thân mình, từ bỏ tất cả để bảo toàn khí tiết, giữ tâm trong sạch Nguyễn Khuyến sinh sống trong thời loạn, nước nhà trong cảnh lầm than, nên không thiếu những câu chuyện các nhà Nho, tướng sĩ lãnh đạo cầm quân, đánh đuổi giặc, dẫu kết cục có phải “đầu rơi máu chảy”, họ vẫn cam lòng Đến cách chết của người trí sĩ cũng là điều đáng nói đến:
“Nhược vi thảng thốt lâm nghi dị – Nếu là thảng thốt mà xông vào chỗ chết thì còn dễ Đáo đắc thuân tuần biện diệc nan – Nhưng dùng dằng mà quyết chết được, thực khó”
Nếu thảng thốt lao đầu vào chỗ chết, không có chút dằn vặt, day dứt nào thì chưa phải cái chết được người đời ca tụng, cũng không phải khí tiết một nhà Nho nên có Bởi thế Nguyễn Khuyến mới cho đó là cái chết dễ dàng, sẵn sàng bỏ lại tất cả để giải thoát bản thân khỏi guồng xích, gông kìm Còn khi vẫn dùng dằng giữa sống và chết, giữa hi sinh và bảo toàn mạng sống, nhưng suy tính thiệt hơn, việc bản thân chết sẽ giúp được cho nhiều người sống, thì đó là cái chết đáng “lưu danh thiên cổ” Thái độ “dùng dằng” trước đó cho thấy sự không nỡ xa rời nhân thế, bản thân còn nhiều tâm nguyện ấp ủ, mong muốn cống hiến nhiều hơn, hay đơn giản là chỉ mong được nhìn thấy người thân yêu lần cuối Thế nhưng cuối cùng, họ vẫn quyết chết, hi vọng sự hi sinh của bản thân cứu được nhiều người phía sau Bởi thế, cái chết thực là khó Câu thơ nhuốm màu tang thương, chết chóc; phải chăng chính tác giả đang day dứt, dằn vặt, xót xa, đau đớn cho cái chết ấy của người tử sĩ, của người bạn mình? Thông qua hình ảnh đau xót ấy, nhà thơ muốn phản ánh hiện thực xã hội lúc bấy giờ, từ đó thể hiện thái độ lên án chế độ phong kiến, căm giận giặc Pháp, xót thương cho người những người trí sĩ yêu nước hi sinh nơi chiến trường và người dân sống trong leo lắt, đói khổ Đó là sự giao thoa giữa thế sự và nhân đạo nơi hồn thơ Nguyễn Khuyến