1. Trang chủ
  2. » Tất cả

Nghiên cứu lựa chọn bài tập phát triển thể lực chuyên môn cho vận động viên khiêu vũ thể thao tỉnh khánh hòa

90 24 0
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Nghiên cứu lựa chọn bài tập phát triển thể lực chuyên môn cho vận động viên khiêu vũ thể thao tỉnh Khánh Hòa
Tác giả Võ Phạm Hoàng Quyên
Trường học Trường Đại học Thể dục Thể thao Bắc Ninh
Chuyên ngành Giáo dục học
Thể loại Luận văn Thạc sĩ giáo dục học
Năm xuất bản 2022
Thành phố Bắc Ninh
Định dạng
Số trang 90
Dung lượng 1,07 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Cấu trúc

  • CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN CÁC VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU (14)
    • 1.1. Lịch sử hình thành và một số đặc điểm cơ bản của môn Khiêu vũ thể thao (14)
      • 1.1.1. Lịch sử hình thành môn Khiêu vũ thể thao (14)
      • 1.1.2 Một số kỹ thuật cơ bản của Khiêu vũ thể thao (15)
    • 1.2 Các quan điểm về huấn luyện tố chất thể lực chuyên môn trong huấn luyện thể thao (18)
    • 1.3 Cơ sở lý luận của việc huấn luyện tố chất thể lực chuyên môn cho VĐV Khiêu vũ thể thao theo các giai đoạn của quá trình huấn luyện (26)
      • 1.3.1 Những cơ sở của phương pháp huấn luyện tố chất thể lực chuyên môn VĐV Khiêu vũ thể thao lứa tuổi 12 - 13 (26)
      • 1.3.2 Các nguyên tắc trong quá trình huấn luyện tố chất thể lực chuyên môn cho VĐV Khiêu vũ thể thao lứa tuổi 12 - 13 (33)
      • 1.3.3 Đặc điểm tâm - sinh lý lứa tuổi 12-13 (36)
    • 1.4. Các quan điểm về bài tập thể chất trong huấn luyện tố chất thể lực chuyên môn cho VĐV Khiêu vũ thể thao (39)
      • 1.4.1 Khái niệm về bài tập thể chất (39)
      • 1.4.2 Bài tập thể chất phát triển tố chất thể lực chuyên môn (39)
      • 1.4.3 Bài tập thể chất phát triển tố chất thể lực chuyên môn cho VĐV Khiêu vũ thể thao (40)
  • CHƯƠNG 2 PHƯƠNG PHÁP VÀ TỔ CHỨC NGHIÊN CỨU (44)
    • 2.1 Phương pháp nghiên cứu (44)
      • 2.1.1 Phương pháp phân tích và tổng hợp tài liệu (44)
      • 2.1.2 Phương pháp phỏng vấn và tạo đàm (44)
      • 2.1.4 Phương pháp kiểm tra sư phạm (45)
      • 2.1.5 Phương pháp thực nghiệm sư phạm (47)
      • 2.1.6 Phương pháp toán học thống kê (48)
    • 2.2 Tổ chức nghiên cứu (48)
      • 2.2.1 Đối tượng nghiên cứu (48)
      • 2.2.2 Phạm vi nghiên cứu (48)
  • CHƯƠNG 3 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ BÀN LUẬN (50)
    • 3.1 Thực trạng công tác huấn luyện thể lực chuyên môn cho VĐV khiêu vũ thể (50)
      • 3.1.1 Thực trạng chương trình huấn luyện VĐV khiêu vũ thể thao tỉnh Khánh Hòa (50)
      • 3.1.2. Thực trạng huấn luyện tố chất thể lực chuyên môn của VĐV Khiêu vũ thể (51)
      • 3.1.3. Thực trạng sử dụng các test đánh giá thể lực chuyên môn cho VĐV Khiêu vũ thể thao lứa tuổi 12-13 trung tâm huấn luyện KTTT tỉnh Khánh Hòa (55)
      • 3.1.4 Thực trạng thể lực chuyên môn VĐV Khiêu vũ thể thao lứa tuổi 12-13 tỉnh Khánh Hoà (61)
    • 3.2 Lựa chọn và đánh giá hiệu quả bài tập phát triển thể lực chuyên môn cho VĐV Khiêu vũ thể thao lứa tuổi 12-13 tỉnh Khánh Hoà (63)
      • 3.2.1 Lựa chọn bài tập phát triển thể lực chuyên môn cho VĐV Khiêu vũ thể (64)
      • 3.2.2 Xác định hiệu quả hệ thống các bài tập phát triển thể lực chuyên môn cho (71)
    • 1. Kết luận (80)
    • 2. Kiến nghị (82)

Nội dung

Tính cấp thiết Tháng 3 năm 1946, Bác Hồ viết lời kêu gọi toàn dân tập thể dục: “Giữ gìn dân chủ, xây dựng nước nhà, gây đời sống mới, việc gì cũng cần có sức khỏe mới thành công” và “Dân cường nước thịnh”, “Vậy nên tập luyện Thể dục thể thao (TDTT), bồi bổ sức khỏe là bổn phận của người dân yêu nước”. Lời kêu gọi của Bác đã được đông đảo đồng bào và nhân dân hương ứng, đặc biệt tầng lớp thanh niên. Sau ngày hòa bình độc lập năm 1945, miền Bắc hoàn toàn giải phóng, tiến hành Cách mạng Xã hội chủ nghĩa, Đảng và Nhà nước ta đứng đầu là Chủ tịch Hồ Chí Minh tổ chức lại ngành TDTT, khôi phục và phát triển TDTT vì dân, vì nước. Ngày 31 tháng 3 năm 1960 Bác Hồ viết thư gửi Hội nghị cán bộ TDTT toàn Miền Bắc, Bác căn dặn: “Cán bộ thể dục thể thao phải học tập chính trị, nghiên cứu nghiệp vụ và hăng hái công tác nhằm phục vụ sức khỏe nhân dân”. Ngày 30 tháng 4 năm 1975 nước nhà hoàn toàn đôc lập, Đảng và Nhà nước ta vẫn thường xuyên quan tâm đến sự nghiệp phát triển TDTT, xây dựng nền TDTT xã hội chủ nghĩa với một phong trào thể thao quần chúng phát triển sâu rộng, từng bước được đầu tư thích đáng cho đào tạo vận động viên (VĐV) thành tích cao, tăng cường kinh phí, xây dựng cơ sở vật chất, kỹ thuật, kiện toàn hệ thống tổ chức của ngành. Có thể khẳng định, sau 8 năm triển khai thực hiện phương hướng nhiệm vụ của ngành Nghị quyết số 08NQTW của Bộ Chính trị về “Tăng cường sự lãnh đạo của Đảng, tạo bước phát triển mạnh mẽ TDTT đến năm 2020”, TDTT nước ta đã có những đóng góp tích cực trong việc thực hiện các nhiệm vụ chính trị xã hội và đối ngoại của Đảng và Nhà nước. Phong trào TDTT quần chúng ở cơ sở tiếp tục được phát triển rộng trên tất cả các đối tượng và địa bàn theo hướng xã hội hoá với nhiều hình thức đa dạng. Chất lượng phong trào từng bước được nâng lên, góp phần nâng cao sức khỏe, thể lực, đáp ứng nhu cầu về văn hóa, tinh thần của nhân dân và đạt được vị trí xứng đáng trong các hoạt động thể thao khu vực Đông Nam Á, phục vụ đắc lực sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước. Thực hiện chủ trương của Đảng và cơ chế chính sách của Nhà nước về xã hội hóa, ngành TDTT đã xây dựng và triển khai đề án xã hội hóa TDTT trên toàn quốc. Kết quả cho thấy xã hội hóa TDTT có ý nghĩa quan trọng thúc đẩy sự nghiệp TDTT nước nhà. Thể dục thể thao đã trở thành nhu cầu cần thiết của đông đảo tầng lớp nhân dân, thể thao đem lại nhiều vinh quang và vị thế của Việt Nam trong khu vực, Châu lục và trên Thế giới. Xã hội hóa là một chủ trương, chính sách lớn của Đảng và Nhà nước đã được triển khai tới các tỉnh, thành phố, huyện, thị xã trong cả nước nhằm thúc đẩy sự nghiệp TDTT. Tại Đại hội đại biểu Đảng bộ thành phố Nha Trang lần thứ XVIII chỉ rõ: “Phát triển mạnh phong trào thể thao, thực hiện xã hội hóa các hoạt động TDTT làm cho hoạt động này trở thành phong trào thường xuyên sâu rộng trong nhân dân”. Bám sát quan điểm của Đảng, chính sách của Nhà nước và nghị quyết Đại hội Đảng bộ tỉnh Khánh Hoà lần thứ XIX, được sự chỉ đạo của Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch và Ủy ban nhân dân tỉnh với chức năng của mình. Trung tâm Huấn luyện kỹ thuật thể thao Tỉnh Khánh Hoà đã chủ động phối hợp với các ban, ngành, đoàn thể, cấp ủy, chính quyền các địa phương xây dựng các chương trình, kế hoạch phát triển sự nghiệp TDTT. Đặc biệt là tăng cường vai trò quản lý của Nhà nước đối với các hoạt động TDTT, tổ chức huy động mọi tầng lớp nhân dân tham gia tập luyện, đóng góp sức người, sức của vì sự phát triển sự nghiệp TDTT. Khiêu vũ thể thao là một môn thể thao mới được phát triển ở nước ta, là một loại hình nghệ thuật để rèn luyện, tôn vinh vẻ đẹp cho con người, tạo niềm hưng phấn về văn hóa, tinh thần trong cuộc sống, một phong cách trang nhã, lịch sự và vẻ đẹp trong nghệ thuật. Nghệ thuật khiêu vũ là sự kết hợp hài hòa giữa sự uyển chuyển của toàn cơ thể người nhảy với âm nhạc (gồm các điệu nhạc và nhịp điệu….) gắn kết với nhau. Do vậy Khiêu vũ thể thao cũng là một môn thi đấu mới của Thể dục thể thao. Khiêu vũ thể thao là một môn thể thao mới xuất hiện ở Việt Nam. Cùng với sự phát triển nhanh chóng của kinh tế và đời sống văn hóa ngày càng phong phú, những năm gần đây các cuộc thi đấu Khiêu vũ thể thao đã phát triển nhanh. Vì vậy, làm thế nào để tăng cường và cải thiện công tác tổ chức và đánh giá cuộc thi căn cứ theo thông lệ quốc tế, kết hợp với tình hình thực tế ở nước ta là một nhiệm vụ quan trọng đặt ra cho các nhà quản lý và chuyên môn trong việc phát triển môn thể thao mới này. Vấn đề đặt ra đối với các huấn luyện viên (HLV) thì làm thể nào để có được những lứa vận động viên vừa đáp ứng tốt về kỹ thuật cũng như thể lực của các nội dung thi đấu là yếu tố quan trọng và cần thiết. Hiện nay, Khiêu vũ thể thao tỉnh Khánh Hoà đang từng bước phát triển mạnh mẽ. Với những việc làm như vậy, Khiêu vũ thể thao TP. Nha Trang đã thu được những kết quả đáng kể, số lượng người tham gia tập luyện phong trào tại các địa phương đông. Nhiều xã, phường, trường học đã tổ chức được các câu lạc bộ (CLB), giải thi đấu thể thao làm tiền đề phát hiện các tài năng thể thao cung cấp cho đội tuyển của tỉnh và đưa một số môn thể thao mới về phát triển tại địa phương. Bên cạnh, những kết đã đạt được vì một số nguyên nhân khách quan và chủ quan như: Cơ sở vật chất, sân bãi, dụng cụ, phương tiện tập luyện, cán bộ chuyên môn làm công tác huấn luyện và giảng dạy vẫn còn thiếu và chưa đáp ứng được yêu cầu… nên hiệu quả còn chưa cao. Để tiếp tục đẩy mạnh hơn nữa việc phát triển Khiêu vũ thể thao đến từng người dân thì việc đánh giá đúng hiện trạng công tác xã hội hóa trên địa bàn toàn tỉnh và tìm ra các giải pháp tối ưu nhằm phát triển công tác này là việc hết sức cần thiết để có thể tuyển chọn thêm nhiều vận động viên có khả năng bổ sung cho đội tuyển tỉnh nhà. Việc nghiên cứu để tìm ra những bài tập phù hợp với đối tượng nghiên cứu lựa chọn các bài tập cho các vận động viên trẻ được nhiều tác giả trong và ngoài nước quan tâm như: Ngô Thu Hà (2006),Nguyễn Ngọc Hùng (2007),Bùi Lan Anh (2010),Đặng Văn Khai (2011), Đặng Đình Khương (2014)…… Tuy nhiên chưa có tác giả nào đề cập đến vấn đề thể lực cho các vận động viên trẻ Khiêu vũ thể thao. Xuất phát từ những lý do trên tôi mạnh dạn nghiên cứu đề cương với tên đề tài: “Nghiên cứu lựa chọn bài tập phát triển thể lực chuyên môn cho vận động viên Khiêu vũ thể thao lứa tuổi 1213 tỉnh Khánh Hoà”.

TỔNG QUAN CÁC VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU

Lịch sử hình thành và một số đặc điểm cơ bản của môn Khiêu vũ thể thao

1.1.1 Lịch sử hình thành môn Khiêu vũ thể thao

Khiêu vũ thể thao (Dancesport) có lịch sử phát triển lâu dài, bắt nguồn từ Anh vào cuối thế kỉ 18 và đầu thế kỉ 19, ban đầu gắn liền với các vũ hội của giới thượng lưu Đến cuối thế kỉ 19 và đầu thế kỉ 20, bộ môn này bắt đầu phổ biến trong tầng lớp bình dân Năm 1924, Hiệp hội vũ sư Anh thành lập Chi hội khiêu vũ để đề ra các tiêu chuẩn về âm nhạc, bước nhảy và kỹ thuật biểu diễn cho Khiêu vũ thể thao Dần dần, bộ môn này lan rộng ra toàn châu Âu, châu Á và châu Mỹ, góp phần nâng cao kỹ thuật và phổ biến rộng rãi.

Ban đầu, các cuộc thi Dancing tự phát được tổ chức tại các thành phố lớn như Paris và Berlin Năm 1930, các cuộc thi diễn ra thường xuyên hơn nhưng vẫn chưa có chuẩn mực và phong cách rõ ràng như ngày nay Tháng 5 năm 1935, tại Praha, các quốc gia như Áo, Tiệp Khắc, Đan Mạch, Anh, Pháp, Hà Lan, Thụy Sỹ và Nam Tư thành lập Liên đoàn Khiêu vũ Nghiệp dư Quốc tế nhằm chuẩn hóa các giải đấu Năm 1936, Giải vô địch thế giới đầu tiên được tổ chức tại Bad Nauheim, Đức, với sự tham gia của 15 quốc gia từ ba châu lục, chứng tỏ cuộc thi đã có luật lệ quốc tế rõ ràng Kể từ đó, các cuộc thi quốc tế đều do FIDA điều hành và quản lý cho đến Chiến tranh thế giới thứ hai.

II bùng nổ vào năm 1939 Sự kiện thảm khốc này đã chấm dứt các hoạt động thi đấu quốc tế.

Tháng 9 năm 1950, Hội đồng khiêu vũ Quốc tế (the international Council of Ballroom Dancing (ICBD)) đã được thành lập ở Edinburgh (Scotland) theo sáng kiến của Philip Richardson và trở thành tổ chức khiêu vũ chuyên nghiệp đầu tiên trên thế giới Tổ chức này gồm 9 thành viên Châu Âu và ba thành viên châu khác Năm 1990, ICAD đổi tên thành Liên đoàn Khiêu vũ thể thao Quốc tế

IDSF (Liên đoàn Khiêu vũ thể thao quốc tế) đã nỗ lực nhiều để được công nhận bởi Ủy ban Olympic Quốc tế, và ngày 8/9/1997, IOC chính thức công nhận và chấp nhận IDSF là thành viên toàn quyền, đánh dấu bước ngoặt lớn trong giới Dancesport thế giới Hiện nay, IDSF là tổ chức đại diện cho 73 hiệp hội Khiêu vũ thể thao trên toàn cầu, gồm các thành viên từ các châu lục Tại Việt Nam, Khiêu vũ thể thao bắt nguồn từ những năm đầu thế kỷ 20 và đã phát triển rộng rãi, trở thành xu hướng yêu thích của nhiều người Đặc biệt, tỉnh Khánh Hòa đã chính thức công nhận Khiêu vũ thể thao là môn thể thao thành tích cao từ năm 2012, và đến nay, đội tuyển môn này luôn đạt thành tích xuất sắc, trong đó nổi bật là chiến thắng tại Đại hội Thể dục thể thao toàn quốc lần thứ 7 năm 2014 với huy chương vàng Năm 2017, tại Giải vô địch trẻ quốc gia và Cúp Khiêu vũ thể thao mở rộng, đội tuyển Khánh Hòa đã giành 15 huy chương, gồm 8 vàng, 2 bạc và 3 đồng, thể hiện sức mạnh và sự phát triển của môn thể thao này tại địa phương.

1.1.2 Một số kỹ thuật cơ bản của Khiêu vũ thể thao

1.1.2.1 Kỹ năng dẫn và theo [23]

Kỹ năng dẫn và theo giúp tạo sự phối hợp tốt giữa người dẫn và người theo trong quá trình khiêu vũ Đây là kỹ năng cần được phát triển hoàn thiện ngay từ những bước đầu học khiêu vũ để đảm bảo sự thuận tiện và thống nhất trong từng bước nhảy Để đạt được hiệu quả cao, người dẫn cần tuân thủ các yêu cầu sau nhằm duy trì sự đồng bộ và tự nhiên trong suốt buổi diễn.

- Phương hướng: là nơi người dẫn muốn người theo đi tới, chủ yếu là thông báo sự bước đổi hướng sẽ thực hiện như thế nào

- Nhịp điệu: Báo cho người theo biết thời gian bắt đầu chuyển động khi nào và lúc nào lại tiếp tục di chuyển

- Tốc độ: Là yêu cầu chuyển động nhanh hay chậm, phải tạo cảm giác rõ ràng cho người theo về tốc độ

- Tạo dáng: giữ khung cho bức tranh khiêu vũ với người theo

Trong các điệu standard, người nam thường sử dụng trọng tâm cơ thể và đôi bàn tay phải để dẫn dắt Để đạt hiệu quả cao trong kỹ năng dẫn và theo, việc duy trì sự tiếp xúc thân thể ở 5 điểm chạm là yếu tố quan trọng Tuy nhiên, việc này yêu cầu sự phối hợp chính xác và nhẹ nhàng để đảm bảo sự hòa nhập giữa đôi nhảy Do đó, luyện tập đều đặn và chú trọng vào các điểm tiếp xúc sẽ nâng cao kỹ năng dẫn dắt và thực hiện các bước nhảy một cách trôi chảy, uyển chuyển hơn.

1.1.2.2 Tạo dáng và Khiêu vũ thể thao [23]

Trong Khiêu vũ thể thao, tư thế và dáng đứng đóng vai trò then chốt để tạo nên một màn trình diễn đẹp mắt và chuyên nghiệp Việc duy trì tư thế đúng giúp nâng cao vẻ đẹp hình thể và thể hiện sự tự tin của dancers trên sân khấu Trong quá trình luyện tập, người tập cần chú trọng tự kiểm soát các yếu tố như giữ thẳng lưng, giữ cổ và đầu cân đối, đồng thời duy trì sự linh hoạt và cân bằng Điều này không những giúp cải thiện kỹ năng mà còn góp phần tạo nên những bước nhảy sắc nét và quyến rũ, phù hợp với yêu cầu của nghệ thuật Khiêu vũ thể thao.

Trong mỗi bước nhảy, việc duy trì vị trí chính xác của bàn chân là yếu tố quan trọng để đảm bảo sự cân bằng và ổn định Đặt bàn chân đúng cách xuống mặt sàn giúp duy trì lực căng tại các điểm tiếp xúc, từ đó tối ưu hóa hiệu suất di chuyển và giảm nguy cơ chấn thương Chú trọng vào kỹ thuật đặt bàn chân đúng hướng góp phần nâng cao hiệu quả vận động và bảo vệ sức khỏe chân dài hạn.

- Cẳng chân: Luôn giữ cho hai đùi sát nhau, đầu gối hơi lỏng (nhún)

- Đầu và cổ: Luôn ngẩng cao đầu, mắt nhìn lên Trong các điệu nhảy Latinh cần duy trì tiếp xúc bằng thị giác với người nhảy.

- Cánh tay: Luôn cao hơn thắt lưng Không tự do buông thõng, luôn duy trì lực căng của cánh tay.

- Giữ hướng: Luôn duy trì hướng và đúng kỹ thuật ở mỗi bước nhảy và suốt quá trình vận động.

Dáng điệu đúng đòi hỏi xếp thẳng các khối cơ thể như đầu, thân, hông và chân, đặc biệt chú ý đến phần thắt lưng để giữ cột sống thẳng Việc nén thấp lồng ngực và giữ hai vai thấp giúp duy trì tư thế cân đối, góp phần nâng cao hiệu quả vận động và phòng tránh các chấn thương liên quan đến tư thế xấu.

Tư thế vào đôi đúng là yếu tố quan trọng để đảm bảo hiệu quả và an toàn trong quá trình chơi Khi vào đôi, cần chú ý đến độ lệch của đôi, hai thân người, các điểm tiếp xúc với mặt đất, vị trí bàn tay và khủy tay để duy trì tư thế chuẩn Việc phân bố trọng lượng đều trên bàn chân giúp duy trì sự cân đối và ổn định trong suốt quá trình thi đấu hoặc luyện tập.

- Trạng thái tinh thần: Nắn nót tới từng chi tiết, trong từng bước nhảy, tập trung cảm nhận âm nhạc.

Trong quá trình tập luyện, việc có huấn luyện viên hoặc quan sát viên có trình độ giúp bạn phát hiện những sai sót trong quá trình thực hiện, từ đó điều chỉnh kỹ thuật đúng đắn Điều này đảm bảo an toàn, nâng cao hiệu quả tập luyện và đạt được kết quả tốt nhất Việc được hướng dẫn chuyên môn là một yếu tố quan trọng để tránh chấn thương và duy trì động lực tập luyện lâu dài.

1.1.2.3 Tốc độ và biểu cảm [23]

Biểu cảm là yếu tố cốt lõi của môn Khiêu vũ thể thao, chỉ có thể thể hiện rõ qua quá trình tập luyện phù hợp và chăm chỉ Để đạt được biểu cảm tự nhiên, các vũ công cần phối hợp hoàn hảo và đồng điệu giữa hai thành viên trong bài nhảy Tốc độ là một yếu tố quan trọng liên quan mật thiết đến từng bước nhảy, đòi hỏi thực hiện đúng thời gian quy định để thể hiện kỹ thuật chính xác Những người biểu diễn các điệu nhảy như Jive hay Quickstep không chỉ cần có tốc độ vượt trội mà còn phải thể hiện năng lượng cao, nhanh và sắc nét trong các bước xoay và di chuyển, tạo nên sự sinh động và cuốn hút trên sân khấu.

1.1.2.4 Từ âm nhạc đến bước nhảy Khiêu vũ thể thao [23]

Trong âm nhạc, cùng một câu hát hoặc câu nhạc có thể được thể hiện đa dạng phong cách, từ mạnh mẽ đến dịu nhẹ, với các âm thanh biến đổi từ nhỏ nhẹ đến lớn dần, thể hiện từng sắc thái và màu sắc riêng biệt Thuật ngữ “nuance” trong âm nhạc mô tả sự biến hóa cường độ âm thanh, mang lại chiều sâu cảm xúc cho phần biểu diễn Trong khiêu vũ, các bước chân cũng phản ánh sắc thái của âm nhạc qua động tác, giúp tạo nên sự hòa quyện hài hòa giữa âm nhạc và chuyển động.

Sắc thái chủ yếu của Waltz là Legato, thể hiện qua câu nhạc diễn ra âm này nối tiếp âm kia một cách mượt mà, tạo cảm giác trôi chảy và duyên dáng Kỹ thuật này giúp trọng lượng cơ thể chuyển từ từ giữa các bước, đẩy gót chân tiến lướt trên mặt sàn và kéo theo chân trụ cũ về phía chân trụ mới, mang lại cảm giác nhẹ nhàng, bay bổng cho đội nhảy Sắc thái Legato trong âm nhạc phản ánh rõ nét trong điệu nhảy Waltz, tạo nên nét duyên dáng và phiêu du cho từng động tác.

Trong vũ đạo Tango, sắc thái Staccato thể hiện rõ nét qua từng bước nhảy dứt khoát và chính xác Các chân chuyển động nhanh chóng, không kéo lê trên sàn, tạo nên những bước chuyển trọng lượng rõ ràng và sắc nét Điều này góp phần làm cho điệu nhảy trở nên mạnh mẽ, quyến rũ và đầy cảm xúc.

Các quan điểm về huấn luyện tố chất thể lực chuyên môn trong huấn luyện thể thao

Huấn luyện thể thao nhằm chuẩn bị vận động viên đạt thành tích cao nhất trong thi đấu Các nhiệm vụ chính của huấn luyện thể thao bắt nguồn từ yêu cầu thi đấu cụ thể và các yếu tố của quá trình vận động trong huấn luyện Thành tích thể thao được xác định dựa trên cấu trúc thành tích, với các yếu tố cá nhân được hệ thống hóa thành 5 nhóm chính Các yếu tố này đóng vai trò quan trọng trong việc định hướng chiến lược và nâng cao thành tích thi đấu của vận động viên.

- Các phẩm chất cá nhân của VĐV.

- Các tố chất thể lực.

- Các khả năng kỹ thuật, phối hợp vận động và kỹ xảo.

- Khả năng chiến thuật và trí tuệ.

- Sự hiểu biết của VĐV trong lĩnh vực khoa học TDTT. Để đạt được thành tích thể thao cao, người ta phải sử dụng các phương tiện khác nhau.

- Các bài tập thể chất.

- Các điều kiện tự nhiên (môi trường, không khí, nước, ánh sáng ).

- Các yếu tố vệ sinh.

Bài tập thể chất là phương tiện chính để huấn luyện thể thao và đóng vai trò quan trọng nhất trong việc nâng cao thành tích thể thao Các bài tập này phải phù hợp với mục đích và nhiệm vụ của quá trình huấn luyện, không nên sử dụng một cách bừa bãi hay không chọn lựa kỹ lưỡng Tính mục đích của bài tập trong huấn luyện thể thao thành tích cao thể hiện ở chỗ chúng nhằm phát triển thành tích trong môn chuyên sâu, phù hợp với yêu cầu của cấu trúc thành tích dài hạn, nâng cao khả năng chịu đựng lượng vận động liên tục, và tạo điều kiện phát triển thành tích thể thao một cách nhanh chóng.

Việc lựa chọn hợp lý các bài tập thể chất phù hợp là yếu tố quan trọng để nâng cao hiệu quả tập luyện cho vận động viên Phân chia một cách tối ưu lượng vận động của từng bài tập cùng nhóm bài tập giúp đảm bảo sự phát triển toàn diện về thể lực Nhờ đó, vận động viên có thể phát triển đầy đủ năng lực, phát huy tiềm năng tối đa trong giai đoạn đạt thành tích thể thao cao nhất.

Hiện nay, thể thao thành tích cao nhận được sự quan tâm đặc biệt, phản ánh khát vọng vươn lên của con người trong lĩnh vực thể chất Khả năng về kỹ thuật, chiến thuật, thể lực, tâm lý, ý chí và tri thức của vận động viên đóng vai trò quyết định thành tích thể thao, trong đó thể lực chung và chuyên môn là yếu tố quan trọng nhất Các nhà khoa học và huấn luyện viên luôn chú trọng phát triển tố chất thể lực nhằm nâng cao thành tích trong thi đấu Khả năng chịu đựng cường độ vận động lớn là tiêu chí cơ bản trong tuyển chọn vận động viên, được hình thành dựa trên sự phát triển thể lực và các yếu tố liên quan khác.

Huấn luyện thể lực trong thể thao là yếu tố cốt lõi giúp nâng cao thành tích thi đấu Tuy nhiên, mức độ phát triển các tố chất thể lực phụ thuộc vào trạng thái chức năng và cấu tạo của nhiều cơ quan, hệ cơ quan trong cơ thể Quá trình tập luyện nhằm phát triển các tố chất thể lực chính là quá trình hoàn thiện hệ thống chức năng của các bộ phận này, đảm bảo hiệu quả trong từng hoạt động của cơ bắp.

Theo quan điểm của Zusalovxki V.P Philin, tố chất thể lực phát triển theo các giai đoạn có tính không đều và phụ thuộc vào từng thời kỳ của lứa tuổi Do đó, huấn luyện viên cần nắm vững quy luật phát triển tự nhiên, đặc biệt là thời kỳ nhạy cảm – giai đoạn thuận lợi để phát triển các tố chất thể lực Ngoài ra, huấn luyện viên cũng cần hiểu rõ đặc điểm phát triển tố chất thể lực theo độ tuổi của từng vận động viên để đưa ra phương pháp đào tạo phù hợp.

Theo Harre D 1996, Macximenco G 1980, Novicop Matveep L.P 1990,Philin V.P 1996 thì cho rằng: “Dù bất kỳ giai đoạn nào của quá trình đào tạo

Vận động viên và công tác huấn luyện thể lực chung đóng vai trò then chốt trong thành tích thi đấu Thể lực chung, cùng với thể lực chuyên môn, được xem là nền tảng quan trọng để đạt thành tích cao trong thể thao Việc nâng cao thể lực toàn diện giúp cải thiện hiệu suất thi đấu và duy trì phong độ trong suốt quá trình luyện tập và thi đấu Do đó, tập trung vào công tác huấn luyện thể lực chung là yếu tố quyết định thành công của vận động viên.

Theo nghiên cứu của Ozolin (1980), việc huấn luyện tố chất thể lực chung cần tiến hành liên tục trong nhiều năm suốt quá trình đào tạo vận động viên Tỷ lệ giữa huấn luyện thể lực chung và thể lực chuyên môn được điều chỉnh phù hợp với mục tiêu của từng giai đoạn huấn luyện, nhằm đảm bảo phát triển toàn diện và tối ưu hiệu quả thi đấu.

Quá trình huấn luyện thể lực cần phù hợp với các phương tiện tập luyện cũng như các phương pháp sử dụng, nhằm đảm bảo phát triển tối ưu cho đối tượng Theo Matveep (1990), huấn luyện thể lực đòi hỏi sự phù hợp với các quy luật phát triển của đối tượng như độ tuổi và trình độ tập luyện để đạt hiệu quả cao nhất Việc điều chỉnh bài tập thể thao và phương pháp huấn luyện dựa trên các yếu tố này đóng vai trò quan trọng trong việc nâng cao thành tích thể lực.

Huấn luyện thể lực là quá trình liên tục, có kế hoạch nhằm phát triển tố chất thể lực chung và chuyên môn qua các bài tập thể dục thể thao, ảnh hưởng sâu sắc đến hệ thần kinh, cơ bắp và các cơ quan nội tạng Để đạt thành tích xuất sắc trong môn Khiêu vũ thể thao, cần có tố chất thể lực phù hợp, gồm các yếu tố như sức nhanh, sức mạnh, sức bền, khả năng mềm dẻo và khả năng phối hợp vận động Tuy nhiên, không nên xem nhẹ các mặt kỹ - chiến thuật trong quá trình huấn luyện để phát huy tối đa khả năng vận động của vận động viên.

Khi bàn về thể lực chung và giáo dục các tố chất thể lực chuyên môn, chúng ta nhận thấy hoạt động cơ bắp đóng vai trò trung tâm trong hoạt động của con người Hoạt động này đặc trưng và chiếm lĩnh trong các hoạt động hàng ngày, thể hiện qua ba phương diện chính Hiểu rõ về vai trò của hoạt động cơ bắp giúp nâng cao hiệu quả phát triển thể chất toàn diện và đáp ứng tốt yêu cầu của các môn thể thao chuyên môn Việc tập luyện và rèn luyện các tố chất thể lực phù hợp sẽ góp phần nâng cao sức khỏe, thể lực chung và khả năng vận động chuyên sâu.

- Sự co cơ (phụ thuộc chủ yếu vào tỷ lệ cấu trúc sợi cơ, số lượng sợi cơ và thiết diện cơ).

- Sự trao đổi chất (tức là các quá trình sản sinh năng lượng).

- Sự dẫn truyền kích thích (hoạt động thần kinh cơ) [24], [25].

Theo các tác giả Ozolin 1980, Philin 1996, cho rằng, ba phương diện trên đây luôn có mối tương quan với khả năng hoạt động của tố chất thể lực [35],

Các tố chất thể lực cơ bản gồm sức mạnh, sức nhanh và sức bền đều có mối quan hệ chặt chẽ với nhau và đóng vai trò quan trọng trong phát triển thể lực Sức mạnh tối đa, sức mạnh nhanh và sức mạnh bền phụ thuộc vào khả năng co cơ và khả năng dẫn truyền của hệ thần kinh, liên quan đến thành phần của sợi cơ và khả năng duy trì cường độ vận động qua thời gian Sức nhanh phản ánh khả năng phản ứng và vận động nhanh, còn sức bền chủ yếu liên quan đến hoạt động trao đổi chất dựa trên cơ sở sinh năng lượng yếm khí và ưa khí, dẫn đến các loại sức bền như sức bền cự ly ngắn, cự ly dài và cự ly trung bình.

Trong bài viết này, cần nhớ rằng tất cả các tố chất vận động đều luôn hiện diện trong mối tương tác lẫn nhau, không có biểu thị riêng tuyệt đối Ví dụ, động tác giữ cung chủ yếu đòi hỏi sức mạnh tối đa, nhưng vẫn chứa đựng yếu tố sức mạnh bền bỉ khi thực hiện Mối quan hệ giữa sức mạnh, sức nhanh và sức bền có thể được biểu diễn qua sơ đồ thể hiện sự tương tác chặt chẽ giữa các tố chất này trong quá trình vận động.

Hình 1 Sơ đồ tương tác giữa các tố chất vận động.

Thông qua sơ đồ tương tác giữa các tố chất vận động, chúng ta xác định các luận điểm cốt lõi trong quá trình giáo dục tố chất thể lực chung và chuyên môn cho vận động viên Điều này giúp xây dựng nền tảng vững chắc để nâng cao hiệu quả đào tạo và phát triển năng lực vận động viên toàn diện.

Trong lĩnh vực huấn luyện thể lực cho các vận động viên trẻ, có nhiều quan điểm khác nhau; tuy nhiên, theo công trình "Hệ thống huấn luyện thể thao hiện đại" của N.G Ozolin (1980), hệ thống các quan điểm của tác giả này là toàn diện nhất Ông nhấn mạnh rằng quá trình huấn luyện thể lực nhằm củng cố các hệ thống trong cơ thể, nâng cao chức năng của chúng, và phát triển các tố chất vận động như sức nhanh, sức mạnh, sức bền, mềm dẻo và khéo léo Chuẩn bị thể lực cho vận động viên gồm có hai phần chính: chuẩn bị thể lực chung và chuẩn bị thể lực chuyên môn [35].

- Chuẩn bị thể lực chung là nền tảng cho việc nâng cao thể lực chuyên môn.

- Chuẩn bị thể lực chuyên môn cần thiết phải chia làm 2 phần:

Cơ sở lý luận của việc huấn luyện tố chất thể lực chuyên môn cho VĐV Khiêu vũ thể thao theo các giai đoạn của quá trình huấn luyện

1.3.1 Những cơ sở của phương pháp huấn luyện tố chất thể lực chuyên môn VĐV Khiêu vũ thể thao lứa tuổi 12 - 13

1.3.1.1 Cơ sở phương pháp giáo dục sức mạnh:

Sức mạnh là khả năng con người vượt qua lực cản bên ngoài nhờ sức nỗ lực của cơ bắp, đóng vai trò then chốt trong các môn thể thao và khiêu vũ thể thao Đặc biệt, huấn luyện thể lực nhằm nâng cao sức mạnh là yếu tố không thể thiếu, cần nghiên cứu và áp dụng các phương pháp phù hợp để phát triển tốt nhất khả năng này Hiệu quả của quá trình huấn luyện được đánh giá dựa trên trọng lượng nâng, số lần lặp lại, số buổi luyện tập và nhịp độ bài tập, giúp tối ưu hóa kết quả và tiến bộ của vận động viên.

Sự phát triển tố chất sức mạnh ở trẻ em phụ thuộc vào quá trình hình thành và phát triển của hệ thống xương, cơ và dây chằng, gọi chung là bộ máy vận động Điều này cho thấy rằng khả năng phát triển sức mạnh của trẻ chịu ảnh hưởng trực tiếp bởi sự hoàn thiện của các cấu trúc cơ thể liên quan đến hệ vận động Việc chăm sóc và thúc đẩy phát triển bộ máy vận động sẽ góp phần nâng cao tố chất sức mạnh tự nhiên của trẻ Tiến trình này đóng vai trò then chốt trong việc phát triển thể lực toàn diện, đáp ứng các yêu cầu vận động ngày càng cao của trẻ trong giai đoạn phát triển.

Trong quá trình phát triển của cơ thể, nhờ vào sự hoàn thiện điều hòa thần kinh và sự thay đổi cấu tạo cùng bản chất hoá học của các cơ, khối lượng cơ bắp biến đổi đáng kể Từ 04 đến 20 tuổi, khối lượng cơ bắp tăng gấp khoảng 7 lần, trong khi sức mạnh tối đa của các nhóm cơ cũng tăng từ 9 đến 14 lần Sự tăng trưởng lực lượng của các nhóm cơ không đều nhau, dẫn đến tỷ lệ sức mạnh giữa các nhóm cơ thay đổi theo từng lứa tuổi, với các nhóm cơ duỗi thân mình, đùi, co bàn chân, cẳng tay, cổ tay phát triển yếu hơn so với các nhóm khác Nguyên tắc phát triển cho thấy, sức mạnh của các nhóm cơ duỗi thường phát triển nhanh hơn so với các cơ co, đặc biệt là các cơ hoạt động nhiều sẽ có tốc độ phát triển nhanh hơn.

Sức mạnh cơ bắp phát triển với nhịp độ nhanh trong giai đoạn 13 - 15, đến

16 - 18 Các năm sau đó sức mạnh phát triển chậm lại (nếu không có tập luyện).

Các năng lực sức mạnh nói chung và trong Khiêu vũ thể thao nói riêng được phân thành 3 hình thức chính:

- Năng lực sức mạnh tối đa: Là sức mạnh cao nhất mà VĐV có thể thực hiện được khi co cơ tối đa.

- Năng lực sức mạnh nhanh: Là khả năng khắc phục lực cản với tốc độ co cơ cao của VĐV.

- Năng lực sức mạnh bền: Là khả năng chống lại mệt mỏi của VĐV khi hoạt động sức mạnh kéo dài.

Sức mạnh bột phát là khả năng thể hiện trị số sức mạnh lớn nhất trong khoảng thời gian ngắn nhất, đóng vai trò quan trọng trong các loại sức mạnh đặc biệt Dạng sức mạnh này giúp thể hiện sức mạnh đỉnh cao trong thời gian ngắn, góp phần tạo ra ảnh hưởng lớn và vượt trội so với các dạng sức mạnh thông thường Sức mạnh bột phát là yếu tố then chốt trong việc xác định khả năng chiến đấu tối đa của một cá nhân trong các tình huống đòi hỏi sức mạnh nhanh chóng và mạnh mẽ.

Trong quá trình giáo dục tố chất sức mạnh, nhiệm vụ quan trọng là phát triển toàn diện sức mạnh và nâng cao khả năng vận dụng trong các hình thức vận động khác nhau như thể thao và lao động Giáo dục sức mạnh nhằm thúc đẩy sự căng cơ tối đa, huy động tối đa số sợi cơ tham gia hoạt động để nâng cao hiệu quả của quá trình tập luyện và thi đấu Những nhiệm vụ cụ thể gồm tạo điều kiện để phát triển sức mạnh toàn diện, tăng cường khả năng hoạt động cơ bắp tối đa và nâng cao khả năng ứng dụng sức mạnh trong các hoạt động hàng ngày và thể thao.

1 Tiếp thu và hoàn thiện khả năng thực hiện các hình thức gắng sức cơ bản: Tĩnh lực và động lực, sức mạnh đơn thuần và sức mạnh tốc độ, khắc phục và nhượng bộ.

2 Phát triển cân đối về sức mạnh của tất cả các nhóm cơ của hệ vận động.

3 Phát triển năng lực sử dụng hợp lý sức mạnh trong những điều kiện khác nhau [26].

Trong huấn luyện sức mạnh có các khuynh hướng [34]:

- Khắc phục trọng lượng chưa tới giới hạn với số lần lặp lại cực hạn.

- Sử dụng trọng lượng tối đa và gần tối đa.

- Sử dụng căng thẳng đẳng trường (các bài tập tĩnh).

1.3.1.2 Cơ sở của phương pháp giáo dục sức nhanh:

Sức nhanh là đặc điểm chức năng của con người, phản ánh khả năng thực hiện các động tác nhanh chóng và chính xác Nó đóng vai trò quan trọng trong việc xác định thời gian phản ứng vận động, giúp cải thiện hiệu quả thực hiện các nhiệm vụ đòi hỏi tốc độ cao Hiểu rõ về sức nhanh góp phần nâng cao năng lực vận động và tối ưu hóa hiệu suất trong các hoạt động thể chất.

Khi đánh giá các biểu hiện của sức nhanh người ta phân biệt:

- Thời gian tiềm tàng của phản ứng vận động.

- Tốc độ của một cử động đơn.

Các biểu hiện của sức nhanh thường độc lập với nhau, đặc biệt liên quan đến các chỉ số phản ứng vận động Thông thường, các chỉ số phản ứng vận động không có mối tương quan chặt chẽ với tốc độ động tác, cho thấy chúng phản ánh các khả năng tốc độ khác nhau Việc kết hợp ba chỉ số này giúp đánh giá toàn diện các biểu hiện của sức nhanh Năng lực tốc độ của con người mang tính chất chuyên biệt rõ ràng, thể hiện qua các chỉ số đo lường khác nhau.

Tốc độ là một tố chất vận động đặc trưng bởi thời gian phản ứng vận động, tần số động tác và tốc độ của từng động tác Trong hoạt động thể lực, tốc độ thường thể hiện một cách tổng quát, đóng vai trò quan trọng trong hiệu quả vận động và thành tích thể thao.

Thời gian phản ứng có thể đo được ở lứa tuổi 16 - 18 gần bằng người lớn (0,11- 0, 25 giây) Sự phát triển thời gian phản ứng xảy ra không đồng đều: từ

Ở độ tuổi từ 9 đến 11, thời gian phản ứng giảm nhanh, trong khi các năm sau, đặc biệt là từ 14 đến 18 tuổi, thời gian phản ứng giảm chậm lại Tập luyện thể thao giúp giảm đáng kể thời gian phản xạ, nâng cao khả năng phản ứng nhanh chóng của cơ thể ở các độ tuổi này.

Tốc độ của động tác đơn lẻ cũng biến đổi rõ rệt, trong quá trình phát triển

Ở độ tuổi 13-14, khả năng vận động gần như đạt mức của người lớn, tuy nhiên từ 16-18 tuổi, hiệu suất lại giảm xuống và tăng trở lại trong nhóm tuổi 20-30 Tập luyện tốc độ của các động tác đơn lẻ giúp phát triển khả năng vận động tốt hơn Ngoài ra, tần số thực hiện động tác trong 10 giây tại khớp khuỷu đạt mức 04, cho thấy sự cải thiện trong khả năng kiểm soát và phản xạ của cơ thể.

- 17 tuổi tăng lên gấp 03 lần ở tuổi 11- 12, tần số đạp xe lực kế (không tải) trung bình 20 lần/10 giây tăng lên 33 lần ở tuổi 17 - 18 [41], [52].

1.3.1.3 Cơ sở của phương pháp giáo dục sức bền.

Sức bền là khả năng của cơ thể chống lại mệt mỏi trong quá trình thực hiện các hoạt động, đặc biệt là các hoạt động thể chất Trong lĩnh vực giáo dục thể chất, mệt mỏi thể lực do hoạt động cơ bắp gây ra đóng vai trò chính và ảnh hưởng lớn đến hiệu suất tập luyện Các phương pháp giáo dục sức bền nhằm nâng cao khả năng chống mệt mỏi, giúp cải thiện thể lực và sức chịu đựng của cơ thể trong các hoạt động vận động.

Phương pháp nâng cao khả năng ưa khí là một phần quan trọng trong quá trình giáo dục thể chất và huấn luyện thể thao Để nâng cao khả năng ưa khí hiệu quả, cần giải quyết ba nhiệm vụ chính: tập trung vào cải thiện chức năng hệ thống hô hấp, tăng cường khả năng vận động của các cơ quan hô hấp, và phát triển khả năng trao đổi khí trong cơ thể Những chiến lược này giúp nâng cao thể năng và thể lực của vận động viên một cách bền vững.

+ Nâng cao mức hấp thụ ôxy tối đa của cơ thể.

Phát triển khả năng duy trì mức hấp thụ oxy trong thời gian dài là yếu tố quan trọng để nâng cao hiệu quả hoạt động hô hấp Đồng thời, việc làm cho quá trình hô hấp nhanh chóng bước vào trạng thái hoạt động với năng suất cao giúp cải thiện hiệu suất thể chất và khả năng thích nghi của cơ thể trong các hoạt động vận động kéo dài.

- Phương pháp nâng cao khả năng yếm khí: Để nâng cao khả năng yếm khí cần giải quyết 2 nhiệm vụ:

+ Nâng cao khả năng chức phận của cơ chế phốt phocrêatin (CP).

+ Hoàn thiện cơ chế glucôphân [9], [19]

Trong quá trình huấn luyện, trình tự tác động ưu tiên bắt đầu từ việc phát triển khả năng hô hấp, tiếp theo là khả năng sử dụng glucôphân, và cuối cùng là khả năng sử dụng năng lượng của phản ứng CP, phù hợp với các giai đoạn của chương trình tập luyện thể thao Đối với các buổi tập riêng lẻ, quá trình này thường được thực hiện theo trình tự ngược lại để tối ưu hóa hiệu quả đào tạo.

Các quan điểm về bài tập thể chất trong huấn luyện tố chất thể lực chuyên môn cho VĐV Khiêu vũ thể thao

1.4.1 Khái niệm về bài tập thể chất Để đạt hiệu quả của giáo dục thể chất người ta sử dụng nhiều phương tiện giáo dục thể chất Các phương tiện này bao gồm các bài tập thể chất (còn gọi là bài tập TDTT), các yếu tố của tự nhiên, môi trường như nước, ánh nắng mặt trời, khí hậu, thời tiết, các yếu tố vệ sinh Trong đó bài tập thể chất được coi là phương tiện chủ yếu và chuyên biệt của giáo dục thể chất Bài tập thể chất là hành động vận động được lựa chọn nhằm giải quyết các nhiệm vụ giáo dục thể chất [43] Là phương tiện giáo dục thể chất, bài tập thể chất được thực hiện bằng sự vận động cơ bắp một cách tích cực Nói cách khác, bài tập thể chất là sự vận động tích cực của cơ thể con người, phù hợp với qui luật giáo dục thể chất.

1.4.2 Bài tập thể chất phát triển tố chất thể lực chuyên môn

Bài tập thể chất là phương tiện huấn luyện chủ yếu trong các môn thể thao, phù hợp với yêu cầu đặc thù của từng môn Các bài tập được thực hiện lặp lại nhiều lần để phát triển toàn diện thể lực chung và thể lực chuyên môn cho từng môn thể thao Nội dung huấn luyện thể lực phân chia thành các loại bài tập phát triển thể lực toàn diện và bài tập mang tính chuyên môn phù hợp với môn thể thao cụ thể Phương pháp thực hiện các bài tập thể lực rất đa dạng, tác dụng đến một hoặc nhiều tố chất thể lực, tùy theo mục đích của huấn luyện viên.

Bài tập thể chất gồm các thành phần và quá trình cơ bản xảy ra trong cơ thể khi tập luyện, quyết định tác dụng của bài tập đối với người tập Các quá trình này phức tạp, đa dạng và có thể xem xét từ các góc độ tâm lý, sinh lý, sinh hoá Từ góc độ sinh lý học, bài tập thể thao gây biến đổi trong hoạt động chức năng của cơ thể, giúp cơ thể chuyển sang mức hoạt động cao hơn so với khi nghỉ ngơi, từ đó hoàn thiện khả năng chức năng Ngoài ra, còn có các biến đổi sinh lý trước và sau khi tập luyện, và các biến đổi này kích thích quá trình hồi phục, thích nghi của cơ thể, góp phần nâng cao khả năng chức năng và phát triển cấu trúc cơ thể Hiểu rõ bản chất của bài tập thể dục thể thao giúp nhà sư phạm xác định hướng đi, tác dụng của bài tập phù hợp với các nhiệm vụ giáo dục và giáo dưỡng đã đề ra.

Bài tập TDTT có đặc điểm nổi bật là dựa trên hoạt động vận động có ý thức, được điều khiển bởi các trung tâm thần kinh ở vỏ não Những hành vi vận động này mang tính chủ đích, liên quan đến các quá trình tâm lý như biểu tượng về động tác, tư duy và cảm xúc Do đó, bài tập TDTT không chỉ tác động tới cơ thể mà còn ảnh hưởng đến nhân cách và tâm lý của người tập, thể hiện sự kết hợp giữa hoạt động thân thể và tâm lý một cách thống nhất.

1.4.3 Bài tập thể chất phát triển tố chất thể lực chuyên môn cho VĐV Khiêu vũ thể thao

Phương pháp huấn luyện hiện đại nổi bật với việc tập trung vào lượng vận động lớn để đạt thành tích xuất sắc trong thể thao Tuy nhiên, để thực hiện hiệu quả phương pháp này, vận động viên cần có nền tảng thể lực vững vàng Huấn luyện với lượng vận động lớn đóng vai trò quan trọng trong việc nâng cao thành tích vận động viên, nhưng phải được thực hiện dựa trên trình độ thể lực phù hợp để đảm bảo an toàn và hiệu quả cao nhất.

Trình độ thể lực cao giúp phát triển tố chất thể lực chuyên môn và nâng cao khả năng nắm vững kỹ thuật thể thao Thể lực chuyên môn đóng vai trò quan trọng trong việc duy trì phong độ thi đấu tốt của vận động viên trong các cuộc thi lớn Ngoài ra, thể lực chuyên môn là yếu tố thiết yếu của năng lực thể thao thi đấu và góp phần vào sức khỏe tổng thể của con người [31].

Theo các chuyên gia và HLV Khiêu vũ thể thao hàng đầu, các bài tập huấn luyện thể lực cho vận động viên Khiêu vũ thể thao cần thiết để nâng cao sức bền và khả năng phản xạ Việc xây dựng chương trình tập luyện phù hợp giúp cải thiện kỹ năng vận động, đồng thời phòng ngừa chấn thương trong quá trình thi đấu Tập trung vào các bài tập tăng cường cơ bắp, linh hoạt và sức mạnh là yếu tố quan trọng để đạt thành tích cao trong bộ môn này.

1.4.3.1 Các bài tập nhằm phát triển sức bền

Khiêu vũ thể thao là môn thể thao biểu diễn ngắn, thường từ 1 phút 30 giây đến 2 phút, nhưng thi đấu gồm 3 vòng: vòng loại, bán kết và chung kết Trong mỗi vòng, vận động viên (VĐV) thực hiện 5 điệu múa theo sở trường của mình, tổng cộng phải biểu diễn tới 30 lần trong suốt cuộc thi Do đó, kỹ năng bền bỉ và sức chịu đựng của VĐV được rèn luyện qua các buổi tập cuối buổi, bằng cách liên tục thực hiện các bài biểu diễn để nâng cao thể lực.

1.4.3.2 Các bài tập nhằm phát triển sức mạnh Đối với môn Khiêu vũ thể thao, đặc thù sức mạnh ở cơ chân, hông được đặc biệt chú trọng Các bài tập thường được sử dụng như: Nhóm bài tập Squat; Đá chân liên tục hay Plank [30]

1.4.3.3 Các bài tập phát triển sức nhanh

Các bài tập phổ biến như nâng cao đùi tại chỗ, đứng lên ngồi xuống, đá chân cao liên tục, bật duỗi cổ chân với tốc độ nhanh và thời gian kéo dài, cùng nhảy dây chụm chân giúp cải thiện khả năng vận động và tăng cường sức mạnh chân Những bài tập này thường được sử dụng để nâng cao khả năng thể lực, giảm thiểu chấn thương và thúc đẩy quá trình phục hồi sau chấn thương hoặc nâng cao hiệu quả tập luyện Thực hiện đều đặn các bài tập này là cách hiệu quả để duy trì sức khỏe thể chất và nâng cao hiệu suất thể thao.

1.4.3.3 Các bài tập nhằm phát triển sự mềm dẻo và khéo léo.

Các bài tập sử dụng dụng cụ dây cao su, xoạc ngang, xoạc dọc, uốn cầu, ngồi thẳng chân gập đầu gối giúp nâng cao khả năng linh hoạt và thể lực Ngoài ra, các bài tập kỹ thuật bước trong các điệu nhảy như cha-cha-cha, valse cũng đóng vai trò quan trọng trong việc phát triển kỹ năng vận động và phối hợp movement một cách nhẹ nhàng và uyển chuyển.

Từ những kết quả phân tích và tổng hợp nêu trên, có thể đi đến một số nhận xét sau:

Huấn luyện thể lực chuyên môn cho VĐV các môn thể thao, đặc biệt là môn Khiêu vũ thể thao, yêu cầu xem xét nhiều yếu tố như y sinh, sức nhanh, sức mạnh, sức bền và khả năng khéo léo Do đặc thù của môn tập luyện này đòi hỏi VĐV phải sở hữu đầy đủ các tố chất vận động cùng với các đặc tính y sinh phù hợp Việc đánh giá trình độ thể lực chuyên môn và huấn luyện tố chất thể lực cho VĐV Khiêu vũ thể thao trẻ cần xác định chính xác mức độ ảnh hưởng của từng nhóm nhân tố này đến thành tích của VĐV.

Các chuyên gia đều nhấn mạnh rằng quá trình huấn luyện VĐV kéo dài nhiều năm và được chia thành các giai đoạn khác nhau Đối với VĐV ở lứa tuổi 12-13, đây là giai đoạn huấn luyện ban đầu, trong đó nhiệm vụ chính là hoàn thiện kỹ năng, phát triển khả năng nghe nhạc phối hợp và nâng cao thể lực chung, trong đó thể lực chuyên môn đóng vai trò thứ yếu Khi huấn luyện VĐV Khiêu vũ thể thao ở độ tuổi này, cần chú ý đặc biệt đến đặc điểm tâm sinh lý và tố chất thể lực của lứa tuổi để đảm bảo sự phát triển toàn diện.

Thành tích thể thao, đặc biệt là Khiêu vũ thể thao, đều dựa trên nền tảng phát triển tốt về tố chất thể lực Trong đó, thể lực chuyên môn đóng vai trò quan trọng để đảm bảo phù hợp với xu hướng phát triển của Khiêu vũ thể thao hiện đại Việc nâng cao thể lực giúp tăng lượng vận động trong quá trình tập luyện và thi đấu, từ đó nâng cao thành tích và duy trì phong độ ổn định cho các vận động viên.

Các bài tập thể chất đóng vai trò quan trọng trong việc phát triển thể lực chuyên môn cho vận động viên Khiêu vũ thể thao Việc xác định các loại bài tập phù hợp dựa trên lý luận chung về bài tập thể chất giúp nâng cao hiệu quả tập luyện và thi đấu Đặc điểm hoạt động vận động của môn Khiêu vũ thể thao trong tập luyện và thi đấu là cơ sở để lựa chọn phương tiện, phương pháp giảng dạy và huấn luyện thể lực phù hợp Việc thiết kế chương trình tập luyện dựa trên đặc điểm của đối tượng nghiên cứu đảm bảo sự phát triển toàn diện về thể lực chuyên môn của vận động viên.

PHƯƠNG PHÁP VÀ TỔ CHỨC NGHIÊN CỨU

KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ BÀN LUẬN

Ngày đăng: 04/02/2023, 22:49

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w