1. Trang chủ
  2. » Tất cả

Biện pháp nâng cao năng lực sư phạm cho sinh viên

73 15 0
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Biện pháp nâng cao năng lực sư phạm cho sinh viên
Trường học Đại học Thể dục thể thao Bắc Ninh
Chuyên ngành Giáo dục thể chất
Thể loại Đề tài nghiên cứu khoa học
Năm xuất bản 2023
Thành phố Bắc Ninh
Định dạng
Số trang 73
Dung lượng 492,5 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

MỞ ĐẦU PAGE MỞ ĐẦU Hiệu quả của quá trình giáo dục phụ thuộc phần lớn vào trình độ năng lực sư phạm của người giáo viên Người thầy có đầy đủ kiến thức chuyên môn mới đáp ứng được một nửa nhiệm vụ của.

Trang 1

MỞ ĐẦU

Hiệu quả của quá trình giáo dục phụ thuộc phần lớn vào trình độ năng lực

sư phạm của người giáo viên Người thầy có đầy đủ kiến thức chuyên môn mới đáp ứng được một nửa nhiệm vụ của mình nếu thiếu phần quan trọng có tính tất yếu đó là năng lực sư phạm, năng lực truyền đạt kiến thức tới người học mặt khác năng lực sư phạm của người thầy luôn phải được nâng cao và hoàn thiện phù hợp với qui luật phát triển của xã hội Đó chính là mục tiêu đổi mới đào tạo của các trường có chuyên ngành sư phạm nhằm nâng cao năng lực sư phạm cho sinh viên trong quá trình đào tạo để nhanh chóng thích ứng với các yêu cầu từ thực tế

Trong những năm gần đây, trường Đại học thể dục thể thao Bắc Ninh đãkhông ngừng đổi mới nhằm nâng cao chất lượng đào tạo từ khâu tuyển sinh đầuvào đến việc tăng cường đầu tư cơ sở vật chất phục vụ cho giảng dạy và tậpluyện Đặc biệt là Nhà trường thường xuyên tổ chức các hội thảo, thực hiện các

đề tài nghiên cứu khoa học nhằm đổi mới chương trình, cải tiến phương tiện,phương pháp dạy học để trước hết, từng bước nâng cao chất lượng đào tạo củaNhà trường và giúp cho sinh viên sau khi ra trường có được vốn kiến thứcchuyên môn và các kỹ năng sư phạm tốt nhất phục vụ cho quá trình công tác Do

đó việc nâng cao năng lực sư phạm cho sinh viên của trường là một trong nhữngnhiệm vụ cấp bách có ý nghĩa khoa học và thực tiễn cao đối với sự phát triển củaNhà trường

Cầu lông được đưa vào chương trình giáo dục phổ thông như một môn thểthao tự chọn, trong những năm tới lực lượng giáo viên, hướng dẫn viên môn Cầulông sẽ cần rất nhiều Như vậy yêu cầu cao về các kỹ năng sư phạm của ngườigiáo viên, hướng dẫn viên môn Cầu lông là rất cần thiết Đối với các sinh viênđang học tập tại trường, việc học tập nâng cao năng lực chuyên môn được quantâm nhiều hơn do đa số các sinh viên mới vào trường bắt đầu làm quen với mônCầu lông nên việc rèn luyện các kỹ thuật, chiến thuật được chú trọng nhiều

Trang 2

hơn là việc rèn luyện nâng cao năng lực sư phạm, truyền đạt các kiến thức tớingười học Tuy nhiên chúng ta lại chưa nhận thấy được việc nâng cao năng lực

sư phạm mới chính là việc làm cần thiết để giúp sinh viên có được những vốnkiến thức ra trường để làm nghề, để truyền đạt một cách hiệu quả nhất các kiếnthức chuyên môn đã học cho học sinh

Trên thực tế, đã có không ít các nhà khoa học, các nhà chuyên môn nghiêncứu một số vấn đề liên quan đến giải pháp nhằm nâng cao năng lực sư phạm chohọc sinh trên các khía cạnh đặc trưng của vùng miền, các trường, các môn thểthao khác nhau… Nhìn chung kết quả nghiên cứu của các công trình này cónhững giá trị khoa học và thực tiễn nhất định, đáng ghi nhận Tuy nhiên, cho đếnnay ở môn Cầu lông chưa có tác giả nào đề cập nghiên cứu

Xuất phát từ những vấn đề nêu trên, chúng tôi tiến hành nghiên cứu đề tài:

“Nghiên cứu biện pháp nâng cao năng lực sư phạm thực hành cho sinh viên chuyên sâu Cầu lông ngành GDTC trường đại học TDTT Bắc Ninh”.

* Nhiệm vụ nghiên cứu:

- Nhiệm vụ 1: Đánh giá thực trạng năng lực sư phạm thực hành của sinh

viên chuyên sâu Cầu lông ngành GDTC trường Đại học thể dục thể thao BắcNinh

- Nhiệm vụ 2: Lựa chọn, ứng dụng và đánh giá hiệu quả các biện pháp

nâng cao năng lực sư phạm thực hành cho sinh viên chuyên sâu Cầu lông ngànhGDTC trường Đại học thể dục thể thao Bắc Ninh

Trang 3

Chương 1 TỔNG QUAN CÁC VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU

1.1 Vị trí, vai trò của người giáo viên nói chung và người giáo viên thể dục thể thao nói riêng trong nền giáo dục hiện đại

Trong hai thập kỷ vừa qua, cùng với quá trình cách tân và phát triển hệthống giáo dục, nhiều nước trên giới coi trọng tâm đến vấn đề đào tạo và bồidưỡng giáo viên nói chung và giáo viên thể dục nói riêng Công tác này được coinhư là một nhiệm vụ then chốt, đảm bảo cho sự thành công của quá trình cáchtân và phát triển giáo dục và qua đó có tác dụng thúc đẩy sự phát triển xã hội.Trong quá trình giải quyết vấn đề này, tùy thuộc vào đặc trưng của mỗi nước vềchế độ chính trị - xã hội; trình độ phát triển kinh tế; truyền thống văn hóa giáodục…mà mỗi nước đều có những quan niệm, giải pháp và mối quan tâm đến cáckhía cạnh khác nhau của vấn dề đào tạo và bồi dưỡng giáo viên

Trong xã hội nông nghiệp truyền thống, người thầy được xem như làngười cha và có vị trí rất quan trọng trong đời sống cộng đồng làng xã Đối vớibất cứ một cá nhân nào trong xã hội, muốn trưởng thành và thành đạt trong xãhội, ngoài sự nuôi dạy của gia đình cần đến sự dạy bảo của người thầy Ông cha

đã nói: “Không thầy đố mày làm nên” Đây là sự đúc kết và khẳng định vai trò

to lớn và cá nhân trong đời sống xã hội nói chung và hoạt động lao động nghềnghiệp nói riêng bên cạnh sự nuôi dạy của gia đình và quá trình tự rèn luyện củabản thân Điều cần lưu ý là ngay từ thời xa xưa, vai trò của người thầy giáokhông chỉ đóng khung trong hoạt động dạy học và giáo dục mà còn có vị trí vàvai trò quan trọng trong đời sống cộng đồng

Tuy nhiên, với trình độ phát triển xã hội còn lạc hậu, khoa học - kỹ thuậtchưa phát triển và đặc biệt là phương pháp dạy học thụ động (truyền thụ kinhnghiệm sách vở) trong nhà trường truyền thống người thầy giáo chiếm vị trítrung tâm trong quá trình giáo dục Mọi hoạt động giáo dục dều xuất phát từ

Trang 4

người thầy và họ là nguồn chủ yếu không muốn nói là duy nhất mà người học cóthể có để tiếp thu mở rộng vốn tri thức và hiểu biết của mình về tự nhiên và xãhội cũng như trong lao động nghề nghiệp Trong điều kiện đó, chức năng truyềnthụ đơn thuần tri thức, kinh nghiệm trở thành chức năng cơ bản của người thầytrong mô hình nhà trường truyền thống.

Xã hội hiện đại với quá trình công nghiệp hóa và tin học hóa, dưới tácđộng trực tiếp và mạnh mẽ của các cuộc cách mạng khoa học - công nghệ đãlàm thay đổi cơ bản đời sống xã hội từ cơ sở kinh tế đến kiến trúc thượng tầng.Trong xã hội hiện đại, vai trò, vị trí và chức năng của nhà trường nói chung vàngười thầy giáo nói riêng đã có những thay đổi to lớn và căn bản Cùng với quátrình mở rộng quy mô và các loại hình giáo dục - đào tạo, đội ngũ giáo viênngày càng đông đảo và trở thành một tầng lớp lao động trí óc chiếm tỷ lệ đáng

kể trong lực lượng lao động xã hội và có tác dụng mạnh mẽ đến quá trình pháttriển giáo dục, kinh tế xã hội và khoa học - kỹ thuật của mỗi quốc gia Cơ cấuđội ngũ giáo viên ngày càng đa dạng về loại hình và trình độ được đào tạo Đãxuất hiện nhiều loại hình giáo viên mới phù hợp với những thay đổi về chứcnăng, nhiệm vụ và nội dung giáo dục - đào tạo trong nhà trường Điều đặc biệtđáng quan tâm là trong quá trình giáo dục ở nhà trường hiện đại, vị trí, vai tròngười giáo viên có những thay đổi căn bản Vị trí trung tâm trong quá trình dạyhọc đang chuyển dần từ người giáo viên sang người học sinh với yêu cầu giáodục và đào tạo những thế hệ kế tiếp để trở thành những con người năng động vàsáng tạo, thích ứng với những biến đổi nhanh chóng trên tất cả các lĩnh vực củacuộc sống hiện đại Sự tiến bộ nhanh chóng của cuộc cách mạng khoa học -công nghệ và cùng với nó là quá trình sử dụng rộng rãi các phương tiện thôngtin đại chúng (báo chí, truyền thanh, truyền hình ) đã phá vỡ tính duy nhất vàđộc tôn về nguồn tri thức của người thầy giáo trong nhà trường truyền thống.Nền giáo dục hiện đại, một mặt đòi hỏi phải đổi mới căn bản quá trình giáo dục

và dạy học trong nhà trường, mặt khác đặt ra những yêu cầu mới về công tác

Trang 5

đào tạo, bồi dưỡng giáo viên trình độ cần được đào tạo, vốn tri thức - kỹ năng vàphương pháp dạy học, năng lực hoạt động về xã hội và quản lý

Sự thay đổi cơ bản về vị trí, vai trò, chức năng của người giáo viên trongquá trình đào tạo đã làm thay đổi cơ bản những quan niệm về người giáo viêntrong nền giáo dục hiện đại Người giáo viên không chỉ có nhiệm vụ truyền thụkiến thức đơn thuần tuy rằng chức năng này vẫn cần thiết ở các mức độ thíchhợp mà còn có nhiệm vụ dạy cho học sinh cách học, cách thu nhận và xử lý cáckiến thức, các tình huống trong thực tiễn đời sống đa dạng Trên cơ sở đó, chứcnăng của người giáo viên là tổ chức điều khiển các hoạt động giáo dục và dạyhọc, để hướng tới mục đích hình thành những nhân cách con người đáp ứngnhững yêu cầu của xã hội trong từng giai đoạn phát triển cụ thể của lịch sử Nói cách khác, người giáo viên trong nền giáo dục hiện đại không chỉđược coi là người truyền thụ những kiến thức được coi là chính thống có sẵn màphải là người đề xướng, thiết kế nội dung và phương pháp dạy nhằm làm thayđổi những thị hiếu, hứng thú người học, là người giúp cho học sinh biết cáchhọc, cách tự rèn luyện

Nếu như chức năng dạy học và giáo dục là chức năng cơ bản của ngườigiáo viên thì chức năng nghiên cứu - phát triển ngày càng trở nên là một trongnhững chức năng quan trọng của người giáo viên trong xã hội hiện đại.Những thay đổi thường xuyên và nhanh chóng vốn tri thức và kinh nghiệm loàingười không chỉ đòi hỏi người giáo viên phải thường xuyên học hỏi, tiếp cận vànắm bắt chúng để mở rộng vốn tri thức và năng lực nghề nghiệp của mình màđồng thời chính họ với tư cách là một tầng lớp tri thức cần nghiên cứu khoa học

và tổng kết kinh nghiệm và lao động nghề nghiệp phù hợp với từng lĩnh vựcchuyên môn của mình Hơn nữa, chính công tác nghiên cứu và phát triển củangười giáo viên có tác động trực tiếp quá trình nâng cao trình độ và năng lựcnghề nghiệp của họ

Cũng như các loại hình lao động nghề nghiệp khác, lao động sư phạm củangười giáo viên được thực hiện ở những vị trí, môi trường hoạt động khác nhau

Trang 6

như lớp học, phòng thí nghiệm, phòng thực hành, với nhiều hình thức tổ chứckhác nhau: lớp, nhóm học sinh, từng cá nhân và vì vậy nó đòi hỏi người giáoviên phải có những tri thức và kỹ năng nhất định về công tác tổ chức và quản lýđào tạo Các kiến thức và năng lực tổ chức quản lý các hoạt động sư phạm,nghiên cứu khoa học – công nghệ, hoạt động nghề nghiệp và hoạt động xã hộicủa người giáo viên là một nhân tố quan trọng phản ánh trình độ và năng lực củangười giáo viên.

Quá trình liên kết ngày càng chặt chẽ giữa nhà trường và xã hội; giữa họctập và lao động sản xuất, các loại hình hoạt động xã hội, hoạt động lao động sảnxuất trực tiếp của người giáo viên đang càng trở nên phong phú và đa dạng.Nhưng hoạt động trên đòi hỏi người giáo viên phải thường xuyên mở rộng các trithức mới về xã hội, nâng cao và phát triển năng lực hoạt động sản xuất và kinh tếđáp ứng các nhu cầu thực tiễn của xã hội Các hoạt động này góp phần nâng cao

vị trí xã hội và cải thiện đáng kể đời sống vật chất và tinh thần của giáo viên

Theo tổng kết của UNESSCO, trong nền giáo dục hiện đại, vai trò củangười giáo viên đã có thay đổi theo các phương hướng lớn sau đây:

- Đảm nhận nhiều chức năng khác hơn so với trước, có trách nhiệm nặnghơn trong việc lựa chọn nội dung dạy học và giáo dục

- Chuyển mạnh từ chỗ truyền thụ kiến thức sang tổ chức việc học của họcsinh, sử dụng đến mức tối đa những nguồn tri thức trong xã hội

- Coi trọng hơn việc cá biệt hóa trong học tập, thay đổi tính chất trong quan

hệ thầy trò

- Yêu cầu sử dụng rộng rãi hơn những phương tiện dạy học hiện đại, do đó

có yêu cầu trang bị thêm các kiến thức, kỹ năng cần thiết

- Yêu cầu hợp tác rộng rãi và chặt chẽ hơn với các giáo viên cùng trường,thay đổi cấu trúc trong mối quan hệ giữa các giáo viên với nhau

- Yêu cầu thắt chặt hơn mối quan hệ với cha me học sinh và cộng đồng, gópphần nâng cao chất lượng cuộc sống

- Yêu cầu giáo viên tham gia các hoạt động rộng rãi trong và ngoài nhà trường

Trang 7

- Giảm bớt và thay đổi kiểu uy tín truyền thống trong quan hệ với học sinhnhất là đối với học sinh lớn và cha mẹ học sinh.

Những thay đổi này đòi hỏi phải nâng cao chất lượng đào tạo giáo viên,đặc biệt phải coi trọng hơn việc bồi dưỡng thường xuyên với nhiều hình thức đadạng và có hệ thống các tri thức và kỹ năng cần thiết cho hoạt động nghề nghiệpcủa họ Khuyến cáo 21 điểm về chiến lược phát triển giáo dục hiện đại của tổchức UNESCO cũng chỉ rõ: “Thầy giáo phải được đào tạo để trở thành nhữngnhà giáo dục nhiều hơn là những chuyên gia truyền đạt kiến thức”, và đặc biệt là

“các chương trình đào tạo giáo viên cần triệt để sử dụng các thiết bị và phươngpháp dạy học mới nhất”

Có thể nói rằng, trong bất cứ một giai đoạn nào của quá trình phát triển giáodục nói riêng và xã hội nói chung, vai trò, vị trí của người thầy giáo luôn luônđược coi trọng Nhưng thay đổi trong nhiệm vụ và chức năng của người thầy giáotrong quá trình giáo dục và dạy học của nhà trường hiện đại không làm giảm vaitrò, vị trí của người giáo viên trong xã hội mà trái ngược lại nó càng nâng cao vàkhẳng định vai trò và vị trí của họ trong tiến trình phát triển của xã hội

1.2 Khái quát về năng lực sư phạm và đánh giá năng lực sư phạm

Trong quá trình đổi mới giáo dục đại học nói chung và đổi mới phương phápdạy học ở bậc đại học nói riêng, việc rèn luyện nghiệp vụ sư phạm phải được coitrọng là một trọng khâu quan trọng nhất Ở đây, rèn luyện nghiệp vụ sư phạmbao gồm cả năng lực chuyên môn (kiến thức khoa học cơ bản) và năng lực sưphạm Bởi vậy, việc trang bị hệ thống tri thức chuyên môn và việc rèn luyện taynghề, rèn luyện kỹ năng sư phạm, giáo dục nghệ thuật làm thầy là những vấn đềcực kỳ quan trọng, cần phải được tiến hành đồng thời trong suốt 4 năm học ởtrong các nhà trường hiện nay

Theo quan điểm của Nguyễn Đình Chỉnh cho rằng: "Năng lực sư phạm là

tổ hợp những thuộc tính tâm lý mang tính phức tạp cao của người giáo viên, đáp ứng yêu cầu cao của hoạt động đào tạo và giúp họ có khả năng thực hiện có kết quả những hoạt động đào tạo học sinh" Cũng theo quan điểm của tác giả khi đề

Trang 8

cập đến khái niệm năng lực sư phạm đã nhấn mạnh đến các thuộc tính tâm lýcủa năng lực, những tác giả đã nói thêm rằng năng lực sư phạm là tổ hợp của tríthức, kỹ năng và các phẩm chất của nghề sư phạm Người giáo viên muốn cónăng lực sư phạm, họ không chỉ nắm được một số tri thức cơ bản về chuyênmôn nghiệp vụ của mình mà còn phải có những kỹ năng, kỹ xảo tương ứng, cóthái độ đúng đối với công việc, có sức khoẻ, có các phẩm chất ý chí, các thuộctính nhân cách phù hợp được thể hiện trong hoạt động dạy học và giáo dục.

Theo quan điểm của tác giả Trần Bá Hoàng cho rằng: "Năng lực sư phạm

là khả năng thực hiện hoạt động giảng dạy và giáo dục có kết quả cao" Tác giả

đồng nhất năng lực sư phạm với khả năng, ưu điểm của định nghĩa này đơn giản

dễ hiểu, tuy nhiên chưa phản ánh hết được nội hàm của năng lực sư phạm

Tác giả Nguyễn Mậu Loan cho rằng: "Năng lực sư phạm là một bộ phận hợp thành trong cấu trúc nhân cách của nhà giáo dục Sự hình thành và phát triển của năng lực sư phạm trước hết phải dựa trên nền tảng nâng cao nhân cách chung của người thầy giáo" Từ đó ta hiểu, năng lực sư phạm là khả năng

tác động và hiệu quả của sự tác động đó đến người khác (học sinh) trong hoạtđộng giáo dục Còn nếu căn cứ vào định nghĩa chung về năng lực, chúng ta hiểunăng lực sư phạm là tổ hợp các thuộc tính nhân cách đáp ứng được yêu cầu củahoạt động sư phạm, đảm bảo hoạt động này đạt hiệu quả cao Trong định nghĩanày mặc dù tác giả đánh giá đúng vai trò của năng lực sư phạm, là điều kiện đểhoạt động sư phạm đạt hiệu quả, tuy nhiên hạn chế của định nghĩa này là tác giả

đã đồng nhất năng lực với khả năng

Tóm lại, từ những quan điểm của tác giả nêu trên cho thấy: Năng lực sư phạm là tổ hợp các thuộc tính tâm lý độc đáo của nhân cách, đáp ứng yêu cầu của hoạt động dạy học và giáo dục, đảm bảo cho hoạt động dạy học và giáo dục đạt kết quả cao.

Để đánh giá hoạt động giảng dạy của giáo viên đạt chất lượng và hiệu quảcần phải đưa ra các mục tiêu và tiêu chí rõ ràng, đầy đủ Phải đánh giá tổng thểcác hoạt động trong quá trình giảng dạy của người giáo viên về tri thức, nănglực sư phạm, về thái độ nghề nghiệp của người giáo viên Kết hợp đánh giá cả

Trang 9

định lượng và định tính, kết hợp đánh giá kết quả, thành tích học tập của sinhviên, của tập thể lớp để có được một kết quả đánh giá khách quan, chính xácnhằm khích lệ giáo viên có thể tự đánh giá, điều chỉnh bản thân trong suốt quátrình giảng dạy.

1.3 Năng lực sư phạm của người giáo viên thể dục thể thao

1.3.1 Năng lực sư phạm của người giáo viên thể dục thể thao

Các nhà tâm lý học thường chia cấu trúc nhân cách của người giáo viênthành 4 khối là;

- Thứ nhất: Thế giới quan niềm tin tin lý tưởng XHCN, lương tâm đạođức và trình độ văn hoá chung cao

- Thứ hai: Thái độ tích cực đối với hoạt động sư phạm, chí hướng và xuhướng sư phạm

- Thứ ba: Tri thức, kỹ năng, kỹ xảo nghề nghiệp sư phạm

- Thứ tư: Năng lực sư phạm là một điều kiện để hiện thực hoá nhân cách

sư phạm

Theo GS.TS Phạm Minh Hạc phân chia năng lực sư phạm thành ba nhóm:

- Các năng lực thuộc về nhân cách (gắn liền với thái độ, với học sinh)

- Các năng lực dạy học (gắn liền với truyền đạt thông tin cho học sinh)

- Các năng lực tổ chức giao tiếp (gắn liền với chức năng tổ chức, giao tiếp

và giáo dục theo nghĩa hẹp)

Tất cả các năng lực kể trên là chung cho giáo viên các bộ môn Ngoài racòn có những năng lực sư phạm chuyên biệt, gắn liền với việc giảng dạy từng bộmôn Cấu trúc năng lực sư phạm của người giáo viên được chia thành các nhómsau đây:

- Nhóm năng lực chung, bao gồm:

+ Năng lực hiểu biết rộng

+ Năng lực hiểu sinh viên trong quá trình giảng dạy

Trang 10

+ Năng lực nghiên cứu khoa học

- Nhóm năng lực dạy học, bao gồm:

+ Năng lực soạn bài giảng

+ Năng lực dạy học trên lớp

+ Tổ chức cho sinh viên thực hiện các hoạt động học tập

+ Diễn đạt nội dung dạy học bằng ngôn ngữ

+ Sử dụng các phương tiện dạy học hiện đại

+ Biểu diễn thí nghiệm, thực nghiệm

+ Bao quát lớp

+ Thực hiện đúng phân phối thời gian

+ Giải quyết tình huống phát sinh trong giờ dạy

+ Ra câu hỏi bài tập kiểm tra trên lớp

+ Vốn từ phong phú, ngôn ngữ chính xác, mật độ thông tin lớn

+ Diễn đạt sáng sủa mạch lạc, giản dị

+ Cường độ nói đủ lớn, tốc độ nói hợp lý, giọng nói biểu cảm

- Nhóm năng lực giáo dục, bao gồm:

+ Năng lực tổ chức

+ Năng lực vạch dự án phát triển nhân cách

+ Năng lực ứng xử sư phạm

+ Năng lực giao tiếp

* Nhóm năng lực giảng dạy: Những kỹ năng này bao gồm hàng loạt

những kỹ năng phục vụ cho lựa chọn và vận dụng nội dung học, chế biến thiết

kế tài liệu cho phù hợp với các nhiệm vụ dạy học, phù hợp với trình độ pháttriển của học sinh, giúp lựa chọn và vận dụng các phương pháp dạy học, cácnguyên tắc dạy học và hình thức tổ chức dạy học có liên quan đến các môn học

Đó là kỹ năng: Xác định mục tiêu, nhiệm vụ dạy học thuộc phạm vi môn học, sử

Trang 11

dụng các nguồn tài liệu, soạn bài và lên lớp, tổ chức các dạng học tập, đặc biệt làdạng học tập độc lập của học sinh, bồi dưỡng học sinh kém và học sinh giỏi, chếtạo và sử dụng phương tiện dạy học, phân tích đánh giá tri thức kỹ năng, kỹ xảocủa học sinh Bản thân hệ thống thực hành phải tạo ra những kỹ năng giảng dạy

có đầy đủ những đặc điểm của một quy trình công nghệ, đáp ứng các tiêu chuẩnchính xác về các mặt "kỹ thuật học" cho phép nghiên cứu và tổ chức việc tậpluyện của học sinh, sinh viên theo những bước của một quá trình lao động có kỹthuật Do vậy, nhiệm vụ xây dựng quy trình cần được giải quyết trên hai cấp độ:Cấp độ mô hình lý thuyết và cấp độ mô hình cụ thể Ở cấp độ mô hình lý thuyết,quy trình cần phản ánh khái quát về đối tượng và hình ảnh chung về tiến trìnhtạo ra đối tượng đó, làm cơ sở cho việc nhận thức các đối tượng mới Ở cấp môhình cụ thể, với tư cách một bản hướng dẫn tự thao thác (angrit) quy trình cần cóthể vận dụng những hữu hiệu cho từng loại hình (thực hành bộ môn hay thực tậpgiảng dạy) với các mức độ yêu cầu khác nhau, ở cấp độ này cần xác định chođược:

- Mỗi sinh viên phải chuẩn bị những kỹ năng giảng dạy nào

- Qua mỗi năm học, những kỹ năng giảng dạy đó cần đạt đến trình độ nàoQua đây nhằm giải quyết được mâu thuẫn giữa tri thức lý thuyết với thựctiễn dạy học, biến tri thức lý thuyết thành năng lực thực tiễn công nghệ một cách

có hiệu quả Mặt khác về mặt thực tiễn có thể tiến tới quy hoạch hoá các hìnhthức thực hành, thực tập giảng dạy cho sinh viên, giúp cho việc chỉ đạo, đánhgiá của giáo viên cũng như tự đánh giá của sinh viên được thống nhất và có hiệuquả

* Nhóm năng lực giáo dục:

Như chúng ta đã biết, trường sư phạm không thể củng cố những đơnthuốc cho tất cả các tình huống của nhà trường phổ thông Đặc biệt điều nàykhông thể làm được trong lĩnh vực giáo dục, vì giáo dục là một quá trình hoạtđộng hết sức phức tạp đa dạng nhiều sự kiện, nhiều kế hoạch và đầy mâu thuẫn.Nhưng việc được thiết kế một cách logic và được chương trình hoá hệ thống đónhằm đạt được sự vận động hữu hiệu có thể cho phép khắc phục được tính thụ

Trang 12

động của sinh viên trong luyện tập nhờ vào sự phân hoá và cá biệt hoá các hànhđộng luyện tập của họ Nhưng các hành động thực hành giáo dục đều là nhữngthực tế sinh động nên những thực tế này phải dựa trên những phương pháp nhấtđịnh Mà như ta biết, mỗi phương pháp thực chất chỉ là một cách tiếp cận về một

số hay một trình độ nhất định của đối tượng Đây chính là tính phiến diện củaphương pháp nghiên cứu trong quá trình phản ánh hiện thực khách quan màngười làm công tác giáo dục cần phải nhận thức được ra một phương pháp giáodục là một cách đặc thù nhằm tổ chức các mối liên hệ giữa ba thành tố: Trò chơi

- tri thức - thầy Phương pháp có thể nhấn mạnh đến thành tố này hay thành tốkhác, song tổng thể cả hai thành tố mới quy định phạm vi giáo dục

Nếu ta quan tâm đến học sinh là quan tâm đến việc học và động cơ họccủa học sinh Nếu nhấn mạnh đến tri thức và cách cấu trúc tri thức để truyền đạttức là chú ý về mặt lý luận dạy học Nếu quan tâm đến giáo viên và các hoạtđộng của họ là quan tâm đến giáo dục học Ba lĩnh vực đó có mối liên hệ ràngbuộc nhau Tập trung quá đáng vào một trong ba lĩnh vực sẽ phá vỡ phạm vi tácđộng của giáo dục Trong thực tế, khi biết quy trình giáo dục cụ thể sinh viênthường không xuất phát từ các khó khăn của học sinh mà họ thường xuất phát từnhững lý luận về mặt giáo dục mà chưa chú ý đến đặc điểm về sự phát triểnlôgíc của quá trình học Kết cục sinh viên dễ dàng thay thế nhiệm vụ tổ chứchoạt động, giáo dục học sinh bằng lập kế hoạch cho hành động thuyết trình củamình, tìm cách thuyết giáo những tài liệu đã nắm được trong các giáo trình giáodục học Như vậy, trong thời gian sinh viên thử nghiệm tay nghề của mình, họthường nghĩ đến thành công hay thất bại của bản thân mình nhiều hơn là lo nghĩđến thành công hay thất bại của học sinh Nên trong quá trình đó, dù người sinhviên có ý đồ như thế nào, cũng vẫn bám vào các mô hình dạy học cổ truyềnnhất, các phương pháp dạy học cổ truyền nhất chứ ít có sinh viên thực hiện ý đồđổi mới của mình

* Năng lực sư phạm của người giáo viên TDTT

Theo quan điểm của một số tác giả cho rằng, năng lực sư phạm của giáoviên TDTT không phải tự nhiên mà có, mà được hình thành trong quá trình rèn

Trang 13

luyện kỹ năng và năng lực sư phạm được đặt vào vị trí số 1 Trong các trường sưphạm TDTT Vấn đề rèn luyện nghiệp vụ sư phạm cho sinh viên phải được tiếnhành có chương trình, có kế hoạch phải được đổi mới liên tục mới có kết quảtốt Nhiều tác giả và nhà giáo dục khác như: Nguyễn Quang Uẩn, Trần TrọngThuỷ, Trần Hữu Luyến cho rằng năng lực sư phạm của sinh viên được hìnhthành theo các con đường chủ yếu như:

- Thông qua hoạt động học tập các tri thức khoa học chuyên ngành, trithức về tâm lý, giáo dục và phương pháp giảng dạy bộ môn của chính ngườisinh viên, qua hoạt động có tính chất độc lập, tự giác, tích cực chủ động, saymê,sáng tạo của họ Đây là một trong những con đường quan trọng và cơ bản

- Khi người sinh viên đã tiếp thu được một hệ thống tri thức về chuyênmôn và nghiệp vụ cần thiết, họ phải biến những tri thức đó thành năng lực thựctiễn ngay trong khi họ đang ngồi trên ghế nhà trường bằng cách thông qua cáchình thức tổ chức học tập, sinh hoạt trong và ngoài nhà trường như: những giờ

tự chuẩn bị giáo án, những giờ tập giảng, điều khiển buổi sinh hoạt lớp hoặcsinh hoạt chi đoàn, những buổi tổ chức thi đấu thể thao của trường Những hoạtđộng đó là con đường nâng cao chất lượng lĩnh hội các kiến thức sư phạm rènluyện khả năng ứng dụng kiến thức kỹ thuật, lý luận vào thực tế tạo nên một thái

độ "nghi vấn" tích cực đối với những kiến thức đã học

- Một con đường gần gũi với hoạt động thực tiễn giảng dạy của sinh viên

đó là con đường thông qua các hoạt động thựuc hành, thực tập sư phạm ở cáctrường phổ thông Con đường này đã rạo ra được nguồn hứng thú trực tiếp đốivới nghề, tình yêu đối với trẻ em và tinh thần trách nhiệm được nâng cao lênmột bước đáng kể Bởi trong quá trình thực tập sư phạm dường như diễn ra một

sự thôi thúc, một sự "thích nghi hoá" các tác phẩm của người sinh viên cho phùhợp với yêu cầu của hoạt động sư phạm và những thiếu sót được giải quyết mộtphần hoặc toàn bộ Và để có kế hoạch rèn luyện trực tiếp theoba con đường cóliên quan hữu cơ với nhau, cần thiết và không thể thiếu một con đường nào Nóluôn luôn quy định nhau, tạo điều kiện thuận lợi cho nhau phát triển, cái này làmtiền đề cho sự phát triển của cái kia và ngược lại

Trang 14

Như vậy, vấn đề hình thành và phát triển cao năng lực sư phạm cho giáosinh cần đặc biệt chú ý khâu tập luyện Trong quy trình tập luyện, người giáoviên hướng dẫn cần vạch rõ ràng các biện pháp tổ chức, được thiết kế sao chomỗi bước tập luyện (đặc biệt là thao tác mẫu và tập theo mẫu) được hợp lý,thống nhất giữa các hành động tập luyện (vận dụng, đối chiếu tự kiểm tra) củasinh viên.

1.3.2 Cấu trúc năng lực sư phạm của người giáo viên TDTT

Thầy giáo nói chung và thầy giáo thể dục nói riêng cần có nhân cách nghềnghiệp cao: chuyên môn giỏi, tay nghề vững vàng, tâm huyết với nghề và hếtmực yêu thương học sinh Suy cho cùng, sự khác nhau giữa nghề này với nghềkia là ở chỗ, tính chất của lao động và cách thức (phương pháp) làm ra sản phẩm

ấy Nghề thầy giáo tạo nên nhân cách học sinh, tài sản vô giá của bất cứ quốcgia nào, thông qua năng lực của sư phạm của người thầy giáo

GDTC là một quá trình giáo dục, đặc trưng của nó thể hiện ở việc giảngdạy các động tác (bao gồm trang bị các tri thức về TDTT, rèn luyện các kỹ năng

và hình thức các kỹ xảo vận động) và phát triển thể lực Mục đích lớn nhất củaquá trình này là duy trì và phát triển sức khoẻ thể lực cho người tập luyện, giáodục xây dựng thói quen vận động suốt đời cho học sinh Muốn vậy hoạt độngGDTC phải tuân thủ các nguyên tắc giáo dục con người mới toàn diện, hệ thốngtích cực tự giác, theo lứa tuổi

Hình thức GDTC phải có thính hấp dẫn, dễ tập, dễ kiểm tra hiệu quả tácdụng của bài tập

Từ tính chất trên nhiều nhà lý luận và nghiên cứu GDTC đã phân tích cácđặc điểm lao động của giáo viên và giáo dục thể chất:

Giáo viên GDTC cũng như các nhà sư phạm khác, hoạt động trong môitrường giáo dục nên có đặc điểm lao động chung của nhà giáo dục

Tuy nhiên, đối tượng tác động của giáo viên thể dục là con người, phầnlớn ở lứa tuổi thanh thiếu niên, đối tượng có tâm hồn rất phong phú, tâm sinh lýrất đa dạng Sản phẩm lao động của người giáo viên không phải là sản phẩm vật

Trang 15

chất thông thường mà là những tri thức khoa học về kỹ năng và kỹ xảo, vềphương pháp tập luyện sức khoẻ, thể lực phát triển và yêu đời, tự tin trong cuộcsống được hình thành trong mỗi học sinh Chăm sóc sức khoẻ, phát triển thểchất, bồi dưỡng nhân cách trong quá trình tập luyện TDTT vừa là nghĩa vụ vùa

là vinh dự của giáo viên GDTC

Học sinh vừa là đối tượng của hoạt động giáo dục, vừa là chủ thể củahoạt động nhận thức, giữ vai trò trung tâm trực tiếp quyết định đến sự hìnhthành và phát triển các phẩm chất nhân cách của chính mình Do vậy, họ có mốiliên hệ tình cảm và kính trọng đối với giáo viên TDTT Kết quả GDTC khôngchỉ phụ thuộc vào phẩm chất và năng lực của người giáo viên mà còn phụ thuộcvào trình độ, hứng thú, động cơ tập luyện của chính học sinh cũng như mối quan

hệ đồng cảm tâm lý giữa thầy và trò

Chuẩn mực đánh giá năng lực lao động của người giáo viên TDTT rấtphức tạp, theo G.I Khazainov (1988) có 10 chỉ số là:

1 Hiểu biết tường tận về nội dung và phương pháp thực hiện nội dunggiảng dạy, giáo dục huấn luyện

2 Biết diễn đạt các nội dung bài giảng, bài tập một cách dễ hiểu, hấp dẫn

3 Xác lập kế hoạch giảng dạy, huấn luyện chính xác, hợp lý, phù hợpnhiệm vụ giảng dạy, học tập

4 Tổ chức tốt hoạt động nhận thức của học sinh, sinh viên

5 Tổ chức công việc giảng dạy, giáo dục, huấn luyện hợp lý

6 Kết hợp giảng dạy với giáo dục trong giờ học

7 Bao quát được học sinh trong giờ lên lớp, văn hoá trong giao tiếp chânthành, độ lượng

8 Biết khai thác tính tích cực vận động của học sinh

9 Biết sử dụng tốt học cụ, dụng cụ tập luyện

10 Xác định chính xác hướng nhiệm vụ sư phạm và thực hiện liên kết cácnhiệm vụ trong quá trình giảng dạy, giáo dục, huấn luyện

Trang 16

Tóm lại: Muốn dạy tốt người giáo viên phải giáo dục và rèn luyện chính

bản thân mình, làm gương cho học sinh noi theo về rèn luyện thân thể và thànhtích thể thao

Phương tiện lao động của người giáo viên TDTT không chỉ là trí tuệ, màcòn là vận động thể lực thông qua các bài tập Môi trường lao động của giáoviên là sân bãi, nhà tập, hồ bơi trong mọi điều kiện thời tiết khí hậu

Trình độ khoa học, nghiệp vụ, ngôn ngữ, phương pháp đặc biệt là kiếnthức về y sinh học, tâm lý giáo dục học có ý nghĩa rất lớn trong cấu trúc nhâncách của người giáo viên Giáo viên TDTT phải biết các luật lệ thi đấu, tổ chứccác Hội thao đồng diễn TDTT mang tính chất văn hoá thể chất

Nếu xét theo quan điểm tổ chức các hoạt động, các lực lượng GDTC thìlao động của người giáo viên thể dục phải được thực hiện trên ba phạm vi: Cánhân, tập thể và xã hội Quan điểm GDTC có sự kết hợp nhà trường với gia đình

và xã hội đòi hỏi cao năng lực quan hệ giao tiếp Giao lưu trong thiđấu thể thaotrên phạm vi rộng và đa dạng đòi hỏi giáo viên GDTC là nhà tổ chức quản lýlãnh đạo đội thể thao giỏi

Yếu tố tích cực vận động, sức khoẻ, thể lực rất cần cho nhà giáo GDTCnếu thể lực giảm sút, năng lực làm mẫu động tác bị hạn chế, tính năng động sángtoạ trên sàn tập bị giảm sút sức khoẻ, thể lực tác động mạnh mẽ đến tâm tư vàtình cảm nghề nghiệp của giáo viên thể dục, đặc biệt là giáo viên nữ, vì vậy giáoviên thể dục phải không ngừng rèn luyện sức khoẻ, nâng cao trình độ thể thao đểđảm bảo nhiệm vụ chuyên môn nghiệp vụ là gương cho học sinh, sinh viên

Để làm tốt chức năng giảng dạy, người giáo viên thể dục phải có nhữngphẩm chất và năng lực riêng như thế giới quan khoa học, có trình độ chuyênmôn TDTT sâu, nghiệp vụ giảng dạy huấn luyện vững vàng, có trình độ văn hoáchung rộng và phương pháp tư duy biện chứng phù hợp với đặc điểm và đốitượng bộ môn mình phụ trách Đồng thời giáo viên còn cần phải có một số phẩmchất tâm lý đặc trưng về trí tuệ, tình cảm nghề nghiệp và ý chí vượt khó cao,năng động quyết đoán Tất cả những đặc điểm có liên quan mật thiết với nhau

Trang 17

tạo thành cấu trúc thống nhất với yêu cầu của hoạt động sư phạm GDTC củangười giáo viên TDTT.

Sự phát triển của kỹ năng sư phạm giảng dạy huấn luyện, tổ chức thi đấuthể thao phụ thuộc vào việc tích luỹ kinh nghiệm và tri thức tìm tòi và sáng tạophương pháp mới, cụ thể hoá và mở rộng phạm vi ứng dụng kiến thức khoa họcvào thực tiễn Quá trình này gắn liền với động cơ và hứng thú nghề nghiệpTDTT của mỗi người giáo viên thể dục

Qua phân tích đặc điểm lao động sư phạm của giáo viên TDTT có quy tụthành những nhóm nhiệm vụ xã hội và năng lực sư phạm của người giáo viênTDTT như sau:

* Thứ nhất: Dạy học lý thuyết và thực hành giáo dục thể chất

Quá trình dạy học chủ yếu là quá trình lên lớp thực hành, lý thuyết huấnluyện đội tuyển Công việc lên lớp đòi hỏi người giáo viên phải có năng lựctruyền đạt sử dụng ngôn ngữ, ứng xử sư phạm, thuyết phục cảm hoá, năng lựcthị phạm, trực quan, năng lực sử dụng các phương pháp tập luyện, phương phápdạy học theo tổ, nhóm; Phát hiện được sai lầm thường mắc cũng như sai lầmmang tính cá biệt của học sinh, phải biết phát hiện học sinh giỏi, kém nhờ nănglực dự báo trong tuyển chọn năng khiếu của giáo viên thể dục thể thao Đồngthời người giáo viên thể dục thể thao cũng phải biết sử dụng các phương phápsửa chữa động tác sai một cách hiệu quả; Giáo viên phải có năng lực sử dụng hệthống các bài tập bổ trợ nhằm hình thành những kỹ năng, kỹ xảo động tác phùhợp với đặc điểm tâm sinh lý từng lứa tuổi giới tính và đặc điểm sức khoẻ củalứa tuổi học đường để có kế hoạch giáo dục ý thức kỷ luật, ý chí vượt khó chohọc sinh trong giờ học

Năng lực biểu đạt ngôn ngữ của giáo viên là một yêu cầu bắt buộc trongquá trình lên lớp lý thuyết và thực hành Thuật ngữ phải chính xác và dễ hiểu,giàu hình tượng, lời nói diễn cảm kết hợp với cử chỉ, thái độ và ngữ điệu sao chophù hợp với nội dung, khẩu lệnh dứt khoát tạo được sự xúc động mạnh mẽ trongquá trình tập luyện của học sinh

Trang 18

Để đạt được yêu cầu trên đây công tác đào tạo về sư phạm phải được cụthể hoá ở các nội dung trong chương trình.

* Thứ hai: Tổ chức các hoạt động giáo dục ngoại khoá

Ngoài công tác giảng dạy chuyên môn thể dục thể thao, người giáo viênthể dục thể thao còn cần phải có năng lực tổ chức và giáo dục học sinh bằng cáchoạt động ngoài hoạt động dạy học như hoạt động tập luyện TDTT, hoạt độngngày hội văn hoá thể thao, Hội khoẻ Phù Đổng, du lịch sức khoẻ và sinh thái

Tổ chưc các hoạt động ngoại khoá là đặc thù nghề nghiệp của người giáoviên TDTT, năng lực tổ chức các hoạt động du lịch, tham quan, giáo dục truyềnthống nhất là những cuộc thi đấu thể thao là một công cụ không chỉ bồi dưỡng

có tâm huyết với nghề nghiệp mới thúc đẩy người giáo viên vươn lên tìm tòisáng tạo, cải tiến phương pháp nhằm làm tốt trọng trách của mình Đó chính lànhân sinh quan của người giáo viên TDTT

Những xu hướng nêu trên chính là nguồn động lực mạnh mẽ thúc đẩytính tích cực nghề nghiệp của người giáo viên thể dục, giúp họ vượt qua mọi thửthách cuộc sống để hoàn thành tốt nhiệm vụ nâng cao dân trí, đào tạo nhân lực

và bồi dưỡng nhân tài TDTT cho đất nước và xã hội

Tấm gương toả sáng về đức và tài, tính gương mẫu trong công tác và cuộcsống cũng là thành phần trong cấu trúc năng lực sư phạm của người giáo viênTDTT

* Thứ ba: Không ngừng học tập nâng cao trình độ chuyên môn nghiệp vụ

Người giáo viên thể dục không những chỉ có trình độ kỹ thuật vững vàng

về tiên tiến về một số môn TDTT chủ yếu trong nhà trường, có kỹ năng, kỹ xảothể hiện các kỹ thuật đó trong thực tiễn, mà còn nắm vững cơ sở khoa học tựnhiên và khoa học xã hội của TDTT như giải phẫu sinh lý TDTT, sinh cơ, sinhhoá TDTT, tâm lý giáo dục TDTT, lý luận và phương pháp bộ môn, sức khoẻhọc các tri thức khoa học liên quan đến TDTT khác Nắm vững những phươngpháp giảng dạy thực hành các kỹ năng, kỹ xảo vận động của những môn thể thao

Trang 19

trong nhà trường, các môn thi đấu thể thao đồng diễn Hội khoẻ Phù Đổng, đồngthời các kiến thức biên soạn các giáo án giảng dạy học sinh Những yêu cầu nàythuộc nhóm gọi là nền tảng trong cấu trúc năng lực sư phạm của giáo viênTDTT

* Thứ tư: Thiết kế biên soạn kế hoạch chương trình tiến trình, tài liệu giảng dạy, soạn giáo án, bài giảng, bài tập thể dục thể thao, Đại học thể dục thể thao.

Năng lực truyền đạt, chuyển giao các tư tưởng, tình cảm, các tri thức khoahọc thuộc lĩnh vực TDTT đến với học sinh bằng con đường trực tiếp và giánhoạt động tuyên truyền, tổ chức cá hoạt động TDTT trong và ngoài nhà trường.Điều đó còn thể hiện khả năng tư duy kế hoạch trong quá trình tổ chức giáo dụctrong các mối quan hệ xã hội

Năng lực thiết kế, chương trình kế hoạch và điều khiển các hoạt độnggiảng dạy, giáo dục thi đấu thể thao có quy mô toàn trường đòi hỏi tập thể thầy

và trò cùng tham gia Chẳng hạn thiết kế chương trình khai mạc Họi khoẻ PhùĐổng, chương trình đồng diễn, phải có kiến thức âm nhạc, văn hoá, nghệ thuật

Tổ chức thi đấu phải nắm vững luật thiđấu để sắp xếp lịch thi chòp điều kiện của

cơ sở, thiết kế các chương trình thể thao cả năm học để tham gia các cuộc thiđấu là một yêu cầu rất thực tiễn ở các nhà trường Giáo dục nói chung và TDTTnói riêng luôn luôn phát triển không ngừng, do đó đòi hỏi người giáo viên phải

có kế hoạch học tập cập nhật kién thức mới tức là phải có ý thức nghiên cứu,học tập, tích luỹ kinh nghiệm, có óc quyết định kiểm tra đôn đốc để phát hiện vàđiều chỉnh kế hoạch

* Thứ năm: Tổ chức điều hành thi đấu thể thao

Đây là năng lực bao gồm tổng hợp nhiều phẩm chất cả tri thức chuyênmôn nghiệp vụ sư phạm và giáo dục chính trị tư tưởng, văn hoá, đạo đức Hơnnữa xây dựng kế hoạch tổ chức một giải thể thao đòi hỏi năng lực tổ chức điềuhành rất nhiều mặt như một hoạt động văn hoá xã hội phục vụ nhiệm vụ chínhtrị cho nên năng lực này là tích hợp của nhiều nhóm năng lực cần được trang bị

Trang 20

trong suốt quá trình những năm học cuối khoá và trong thời gian thực tập củasinh viên sư phạm.

Như vậy có thể thấy rằng, là một người giáo viên thì làm bất cứ việc gìcũng phải có tâm, trí và lực mà nội lực bao giờ cũng giữ vai trò quyết định Dođói đòi hỏi người giáo viên thể dục với tư cách là nhà giáo dục, phải biết "luyệntâm, dục trí, dưỡng thân", nhằm tạo nên sự hài hoà giữa thể chất cường tráng vàtinh thần phong phú, giữa trí tuệ cao rộng và tâm hồn trong sáng Muốn vậy đòihỏi người giáo viên phải có một năng lực sư phạm tốt Để có được năng lực sưphạm tốt thì người giáo viên phải được hình thành ngay từ khi còn là sinh viên

Vì vậy yêu cầu xây dựng cấu trúc nghiệp vụ sư phạm cho sinh viên là một điềuhết sức cần thiết và cấp bách để từng bước nâng cao chất lượng giáo dục đào tạogiáo viên GDTC

Tóm lại: Qua nghiên cứu quan điểm của các nhà sư phạm, các nhà khoa

học giáo dục về những vấn đề năng lực sư phạm của người giáo viên TDTT, tanhận thức được nội dung cấu trúc năng lực sư phạm, các con đường hình thànhnăng lực sư phạm cho sinh viên TDTT, cho phép rút ra một số nhận định sauđây:

1 Các tác giả trong và ngoài nước đều cho rằng: Năng lực sư phạm là tổ hợp các phẩm chất đảm bảo cho quá trình dạy học và giáo dục đạt kết quả cao Những năng lực đó mang tính bộ phận riêng lẻ của mỗi công trình nghiên

cứu chưa sắp xếp theo nhóm, chức năng và nhiệm vụ sư phạm vì đây là hoạtđộng phức tạp (vừa dạy học vừa huấn luyện, vừa tổ chức giáo dục, vừa giáodục), đặc biệt năng lực sư phạm thực hành của giáo viên TDTT, có ít tài liệu đềcập, nhất là năng lực sư phạm cho sinh viên chuyên sâu Cầu lông trường Đạihọc, Cao đẳng sư phạm TDTT nói chung, trường Đại học TDTT Bắc Ninh nóiriêng còn ít được quan tâm nghiên cứu

2 Hoạt động dạy học của giáo viên TDTT không thể tách rời các nhiệm

vụ sư phạm nói chung, nhưng nó cũng chứa đựng các nét đặc thù là sư phạmgiáo dục đào tạo về mặt thể chất, tinh thần của con người Nâng cao năng lực sưphạm cho sinh viên là chủ đề được một số tác giả và bộ môn giáo dục học

Trang 21

nghiên cứu Các tác giả đã cho rằng năng lực sư phạm của người giáo viênTDTT công tác trong hệ thống giáo dục thể chất trường học biểu hiện ở cácphạm trù sau:

- Năng lực dạy lý thuyết thực hành các môn TDTT trong chương trìnhGDTC nội và ngoại khoá

- Năng lực thao tác truyền thụ kiến thức dễ hiểu và gợi tính sáng tạo củasinh viên

- Thị phạm (làm mẫu) động tác

- Năng lực tổ chức các hoạt động TDTT nội và ngoại khoá

- Năng lực tổ chức thi đấu thể thao trọng tài các giải thi đấu thể thao

- Năng lực giao tiếp sư phạm và xử lý trạng huống sư phạm bất lợi

- Có nhân cách sư phạm như: yêu ngành, nghề, nắm vững đối tượng cónhân sinh quan, lý tưởng về TDTT, thực sự là tấm gương cho học sinh noi theo

- Có kiến thức lý luận và phương pháp về giáo dục thể chất, các kiến thứckhoa học liên ngành sinh lý - giải phẫu, tâm lý… tạo thành năng lực "học vấn

sử dụng các dụng cụ, phương tiện bổ trợ kỹ thuật trong quá trình giảng dạy tạitrường, theo chúng tôi là một trọng những yêu cầu thiết yếu có ý nghĩa khoa họcthực tiễn trong điều kiện giảng dạy ngày nay Những vấn đề phân tích và tổnghợp trên đây có thể coi là cơ sở về phương pháp luận và định hướng nghiên cứuvấn đề tìm giải pháp nâng cao năng lực sư phạm cho giáo sinh TDTT trong điềukiện thực tiễn hiện nay

Trang 22

Chương 2 PHƯƠNG PHÁP VÀ TỔ CHỨC NGHIÊN CỨU

2.1 Phương pháp nghiên cứu

Để giải quyết các nhiệm vụ nêu trên, trong quá trình nghiên cứu, đề tài đã

sử dụng các phương pháp nghiên cứu sau:

2.1.1 Phương pháp phân tích và tổng hợp tài liệu

Sử dụng phương pháp này là việc thông qua quá trình tham khảo các tàiliệu chung và chuyên môn có liên quan đến vấn đề tổ chức, quản lý giờ học giáodục thể chất cho sinh viên, vấn đề nâng cao năng lực sư phạm thực hành chosinh viên… Việc sử dụng phương pháp này trong quá trình nghiên cứu là phục

vụ chủ yếu cho việc giải quyết các nhiệm vụ nghiên cứu của đề tài Các tài liệuchuyên môn có liên quan được lấy từ các nguồn tài liệu khác nhau, nhằm tìmhiểu các luận cứ khoa học phù hợp với thực tiễn của Việt Nam, những cơ sở lýluận về mục tiêu, nhiệm vụ đường lối phát triển ngành thể dục thể thao và côngtác giáo dục thể chất trong trường học, và những vấn đề liên quan đến việc nângcao năng lực sư phạm thực hành cho sinh viên Ngoài ra cũng thông qua cácnguồn tài liệu, đề tài đã tiến hành xác định cơ sở khoa học lựa chọn các giảipháp chuyên môn nhằm nâng cao năng lực sư thực hành phạm cho đối tượngnghiên cứu

Khi sử dụng phương pháp nghiên cứu này chúng tôi đã tham khảo nhiềunguồn tư liệu khác nhau, chủ yếu là các nguồn tư liệu thuộc thư viện trường Đạihọc TDTT Bắc Ninh, Trường đại học sư phạm Hà Nội Các tài liệu tham khảo làcông trình nghiên cứu của tác giả trong nước, công trình nghiên cứu của các tácgiả nước ngoài đã được dịch sang tiếng Việt, hoặc là các tạp chí chuyên ngành,các kỷ yếu của các Hội nghị khoa học TDTT… cũng như các tài liệu mang tính

lý luận phục vụ mục đích nghiên cứu của đề tài Danh mục các tài liệu trên đượctrình bày trong "Danh mục tài liệu tham khảo"

2.1.2 Phương pháp phỏng vấn

Trang 23

Là phương pháp được sử dụng trong quá trình tham khảo ý kiến cácchuyên gia về lĩnh vực nghiên cứu của đề tài, bao gồm:Xác định những năng lực

cơ bản của người giáo viên TDTT, xác định các yếu tố ảnh hưởng đến năng lực

sư phạm; xác định động cơ và nhu cầu tập luyện; xác định lựa chọn và xây dựngcác giải pháp chuyên môn nhằm nâng cao năng lực sư phạm cho sinh viên…

Đối tượng được phỏng vấn của đè tài bao gồm: Các cán bộ quản lý và cácgiáo viên có thâm niên công tác lâu năm hiện đang làm công tác quản lý tại trườngđại học TDTT Bắc Ninh, Phòng Giáo dục thị xã Từ Sơn, các trường Phổ thôngtrung học và các trường Trung học cơ sở trên địa bàn thị xã Từ Sơn, đây là nhữngcán bộ trực tiếp theo dõi chuyên môn, quản lý các giáo viên thể dục tại các nhàtrường

Kết quả của việc sử dụng phương pháp nghiên cứu này được chúng tôitrình bày ở phần kết quả nghiên cứu của đề tài

2.1.3 Phương pháp quan sát sư phạm

Là phương pháp nhận thức đối tượng nghiên cứu trong quá trình giáo dục,giáo dưỡng mà không làm ảnh hưởng đến quá trình đó, hay nói một cách khác

đó là phương pháp tự giác có mục đích một hiện tượng giáo dục nào đó để thulượm những số liệu, tài liệu, sự kiện cụ thể đặc trưng cho quá trình diễn biến củahiện tượng đó

Chính vì vậy, khi tiến hành quan sát, tiếp cận với đối tượng nghiên cứucủa đề tài đã tiến hành quan sát ghi nhận các dấu hiệu sư phạm từ cả 2 phía:người dạy và người học để làm cơ sở đánh giá năng lực sư phạm cho đối tượngnghiên cứu

Đối tượng được lựa chọn quan sát sư phạm là các giáo viên (người dạy)

và sinh viên Cầu lông Khoa SPTD trường đại học TDTT Bắc Ninh thông quaquan sát cơ bản (quan sát có chương trình, kế hoạch, có ghi chép), quan sát bêntrong (quan sát trực tiếp khi người thầy tham gia giảng dạy trong giờ học thựchành ); quan sát công khai (quan sát khi người học và người dạy biết có ngườiquan sát và nội dung quan sát)

Nội dung tiến hành quan sát bao gồm:

Trang 24

- Tổng thời gian giờ học thực hành.

- Quan sát quá trình vận động trong giờ học thực hành của sinh viên nhằmxác định thời gian vận động của buổi tập

- Quan sát phương pháp, phương tiện, cách thức tổ chức buổi tập được sửdụng trong giờ học thực hành của giáo viên

- Quan sát quá trình tập luyện của sinh viên

Các nội dung quan sát được sử dụng trên đây nhằm mục đích xác địnhthực trạng năng lực sư phạm và đánh giá năng lực sư phạm của sinh viên,phương pháp, phương tiện và cách thức tổ chức giờ học của giáo viên, trên cơ sở

đó đề xuất một số giải pháp chuyên môn nhằm nâng cao năng lực sư phạm chođối tượng nghiên cứu

2.1.4 Phương pháp kiểm tra sư phạm

Trong quá trình nghiên cứu, đề tài tiến hành tổ chức kiểm tra sư phạm.Mục đích của quá trình này nhằm tìm hiểu thực trạng năng lực sư phạm của đốitượng nghiên cứu thông qua việc đánh giá chất lượng giờ dạy (thực tập giáo án)

và chất lượng giờ dạy trong quá trình thực tập sư phạm của sinh viên tại nămhọc thứ ba

Quá trình tổ chức kiểm tra sư phạm được tiến hành tại thời điểm kết thúcnăm học Đối tượng kiểm tra sư phạm của đề tài tài là sinh viên chuyên sâu Cầulông khóa 46 ngành SPTD

Trong quá trình nghiên cứu chúng tôi đã tiến hành sử dụng hệ thống cáctiêu chí đánh giá năng lực sư phạm đã xác định Trên cơ sở đó xác định thựctrạng năng lực sư phạm của sinh viên Cầu lông theo các tiêu chí và tiêu chuẩn

đã xác định Kết quả các lần tra được chúng tôi trình bày ở phần kết quả nghiêncứu của đề tài

2.1.5 Phương pháp thực nghiệm sư phạm

Là phương pháp được sử dụng trong quá trình nghiên cứu của đề tài đểđánh giá hiệu quả của một số giải pháp chuyên môn nhằm nâng cao năng lực sư

Trang 25

phạm cho đối tượng nghiên cứu mà quá trình nghiên cứu đề tài đã lựa chọn vàxây dựng.

Tuy nhiên, các giải pháp chuyên môn ứng dụng khoa học quản lý thường

có tính định hướng và hiệu quả của nó phải qua thời gian khá lâu dài và phụthuộc vào các yếu tố khác, đồng thời do phạm vi nghiên cứu của đề tài, nêntrong quá trình thực nghiệm, đề tài chỉ có thể tổ chức thực nghiệm được một sốgiải pháp chuyên môn có chọn lọc trong các biện pháp đề xuất mà trong điềukiện đề tài có thể thực hiện được

Trong quá trình nghiên cứu của đề tài, chúng tôi tiến hành sử dụngphương pháp thực nghiệm so sánh song song và thực nghiệm tự so sánh trên đốitượng nghiên cứu Trong quá trình thực nghiệm sư phạm, các đối tượng nghiêncứu và các đối tượng thực hiện của đề tài được tham gia học tập các môn họctrong chương trình đào tạo cử nhân ngành SPTD xây dựng theo quy định củatrường đại học TDTT Bắc Ninh

Đối tượng thực nghiệm sư phạm của đề tài là 28 sinh viên chuyên sâu Cầulông khóa đại học 46, ngành SPTD Đối tượng đang học năm thứ 3 tại trường.Đối tượng này được ứng dụng các giải pháp chuyên môn nhằm nâng cao nănglực sư phạm mà quá trình nghiên cứu của đề tài đã lựa chọn Sau khi được ứngdụng các giải pháp chuyên môn, số sinh viên này sẽ tham gia thực tập sư phạm,giảng dạy môn học thể dục, Cầu lông tại các trường phổ thông

Thời gian tổ chức thực nghiệm sư phạm được tiến hành từ tháng 9/2012đến tháng 05/2013 tương ứng với 01 năm học , trong thời gian này sinh viêncủa nhà trường đi thực tập sư phạm lần 1 tại các trường THCS trên địa bàn thị

xã Từ Sơn Khi xác định hiệu quả của các biện pháp nhằm nâng cao năng lực sưphạm dã lựa chọn, đề tài căn cứ vào kết quả thực tập sư phạm, kết quả kiểm trađánh giá nội dung thực tập giáo án theo quy định trong chương trình giảng dạycủa nhà trường

Trước khi tiến hành thực nghiệm sư phạm, chúng tôi tiến hành kiểm tra,đánh giá xếp loại trình độ chuyên môn và năng lực sư phạm (căn cứ vào kết quảhọc tập các môn, kết quả thực tập giáo án trong chương trình học tập), từ đó làmcăn cứ để so sánh kết quả kiểm tra đánh giá trước và sau thực nghiệm

Trang 26

2.1.6 Phương pháp toán học thống kê

Phương pháp này được sử dụng trong việc phân tích và xử lý các số liệuthu thập được trong quá trình nghiên cứu của đề tài Trong quá trình xử lý các sốliệu đề tài, các tham số và các công thức toán thống kê truyền thống được trìnhbày trong cuốn: "Đo lường thể thao", "Phương pháp toán học thốngkê trongTDTT", các tham số đặc trưng chúng tôi quan tâm là:

So sánh khi bình phương (2)

Trong đó: - Qi: Tần số quan sát

- Li: Tần số lý thuyết

2.2 Tổ chức nghiên cứu.

2.2.1 Thời gian nghiên cứu.

Đề tài được nghiên cứu từ tháng 10/2011 đến tháng 11/2013 và được chialàm 4 giai đoạn:

+ Giai đoạn 1: Từ tháng 10/2011 đến tháng 11/2011: Xác định tên đề tài,

xây dựng đề cương nghiên cứu, bảo vệ đề cương

Trang 27

2.2.2 Đối tượng nghiên cứu.

Là biện pháp nâng cao năng lực sư phạm thực hành cho sinh viên chuyên sâuCầu lông ngành GDTC trường Đại học thể dục thể thao Bắc Ninh

2.2.3 Địa điểm nghiên cứu.

Trường Đại học TDTT Bắc Ninh, Từ Sơn, Bắc Ninh.

Trang 28

Chương 3 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ BÀN LUẬN 3.1 Đánh giá thực trạng năng lực sư phạm thực hành của sinh viên chuyên sâu Cầu lông ngành GDTC Trường Đại học thể dục thể thao Bắc Ninh.

Để giải quyết nhiệm vụ trên, đề tài tiến hàn theo các bước sau:

- Nghiên cứu xác định cấu trúc năng lực sư phạm thực hành của người giáo viênthể dục hiện nay

- Thực trạng năng lực sư phạm của sinh viên chuyên sâu Cầu lông ngành GDTCtrường Đại học TDTT Bắc Ninh thông qua hoạt động thực tập sư phạm lần 2.- Thực trạng về trình độ năng lực sư phạm cơ bản của sinh viên Cầu lông ngànhGDTC trường Đại học TDTT Bắc Ninh (Theo sự tự đánh giá của sinh viên nămcuối - k45)

- Tìm hiểu những nguyên nhân dẫn đến ảnh hưởng nâng cao năng lực sư phạmthực hành cho sinh viên chuyên sâu Cầu lông ngành GDTC trường đại họcTDTT Bắc Ninh

3.1.1 Nghiên cứu xác định cấu trúc năng lực sư phạm thực hành của người giáo viên thể dục hiện nay.

Qua quá trình nghiên cứu các tài liệu về lý luận nghiệp vụ sư phạm nói

chung và lý luận nghiệp vụ sư phạm TDTT nói riêng, đồng thời trao đổi với một

số các giảng viên của trường Đại học TDTT Bắc Ninh và các trường Đại học sưphạm TDTT, chúng tôi đưa ra các kỹ năng sau:

1.Kỹ năng tổ chức và quản lý giờ học

7.Kỹ năng nghiên cứu khoa học

8.Kỹ năng biên soạn kế hoạch, tiến trình, giáo án giảng dạy

Trang 29

14.Kỹ năng tạo tác phong nhà sư phạm.

15.Kỹ năng kiểm tra, đánh giá kết quả học tập của học sinh

16.Kỹ năng cảm hoá học sinh

17.Kỹ năng giảng giải, phân tích kỹ thuật động tác

18.Kỹ năng bảo hiểm, giúp đỡ và sơ cứu chấn thương

19.Kỹ năng tổ chức, trọng tài thi đấu

Trong số các kỹ năng thu thập được, để xác định đâu là những kỹ năng cơbản đối với người giáo viên thể dục trong nhà trường phổ thông hiện nay.Chúng tôi tiến hành phỏng vấn 19 kỹ năng trên Đối tượng phỏng vấn là 30 giáo

viên trường đại học TDTT Bắc Ninh Với câu hỏi chúng tôi đưa ra là: Theo thầy (cô) trong số các kỹ năng sư phạm sau đây, nhưng kỹ năng nào là cơ bản đối với người giáo viên TDTT trong nhà trường phổ thông hiện nay?

Sau khi tổng hợp, chúng tôi thu được kết quả trình bày ở bảng 3.1

Trang 30

Bảng 3.1:Kết quả phỏng vấn giáo viên trường Đại học TDTT Bắc Ninh về những kỹ năng sư phạm cơ bản của người giáo viên TDTT (n =30)

Số phiế u

Tỷ lệ (%)

8 Kỹ năng biên soạn kế hoạch, tiến trình, giáo án giảng dạy 28 93,3

15 Kỹ năng kiểm tra, đánh giá kết quả học tập của học sinh 29 96,6

17 Kỹ năng giảng giải, phân tích kỹ thuật động tác 26 86,6

18 Kỹ năng bảo hiểm, giúp đỡ và sơ cứu chấn thương 13 43,3

Trang 31

Qua két quả bảng 3.1 cho thấy: Có 9 kỹ năng có số phiếu lựa chọn caonhất với tỉ lệ lựa chọn đạt trên 80 % Đó là những kỹ năng:

1.Kỹ năng tổ chức và quản lý giờ học

2.Kỹ năng làm mẫu ( thị phạm) động tác

3.Kỹ năng phát hiện những sai lầm thường mắc và đưa ra biện pháp sửa chữa4.Kỹ năng biên soạn kế hoạch, tiến trình, giáo án giảng dạy

5.Kỹ năng sử dụng bài tập, dụng cụ bổ trợ dẫn dắt( phương tiện dạy học)

6.Kỹ năng sử dụng các phương pháp giảng dạy

7.Kỹ năng kiểm tra, đánh giá kết quả học tập của học sinh

8.Kỹ năng giảng giải, phân tích kỹ thuật động tác

9.Kỹ năng tổ chức, trọng tài thi đấu

Như vậy, qua phỏng vấn chúng tôi xác định được 9 kỹ năng sư phạm thựchành được coi là cơ bản đối với người giáo viên thể dục trong nhà trường phổthông hiện nay

3.1.2 Thực trạng năng lực sư phạm của sinh viên chuyên sâu Cầu lông ngành GDTC trường Đại học TDTT Bắc Ninh thông qua hoạt động thực tập

a Về cơ sở vật chất tại các trường thực tập:

Cơ sở vật chất các trường thực tập được trang bị phần lớn là chưa đầy đủ,chất lượng dụng cụ chỉ đạt ở mức độ khá và trung bình chủ yếu là các dụng cụ

cũ, lạc hậu, sân bãi tập luyện không đủ tiêu chuẩn và có nhiều trường lấy ngaysân trường làm nơi học thể dục

+Nguyên nhân:

- Do các trường chưa có sự quan tâm đến môn thể dục, vẫn còn xem đây

là môn phụ nên mức độ đầu tư còn hạn chế

Trang 32

- Do giáo viên giảng dạy ít quan tâm đến chuyên môn, ngại sử dụng dụng

cụ nên không đề nghị bổ sung thay thế kịp thời

b.Về mức độ quan tâm của giáo viên trực tiếp tham gia hướng dẫn thực tập tại cơ sở sở:

Phần lớn các giáo viên hướng dẫn thực tập của các trường phổ thông đềurất nhiệt tình, tuy nhiên một số cơ sở có giáo viên hướng dẫn chưa thực sự quantâm đến hoạt động thực tập sư phạm của sinh viên, còn phó mặc cho sinh viênthực tập tự tìm hiểu và thực hiện

+Nguyên nhân:

- Do cơ sở thiếu giáo viên có kinh nghiệm hướng dẫn

- Do năng lực chuyên môn của giáo viên hướng dẫn hạn chế

c Về phong trào hoạt động TDTT và hoạt động Đoàn, Đội tại cơ sở thực tập:

Điều kiện để tổ chức các hoạt động ngoại khoá, hoạt động Đoàn, Độikhông thuận lợi là ảnh hưởng không nhỏ đến việc phát động các phong trào tậpthể, sinh viên thực tập sẽ phải mất rất nhiều thời gian để ổn định cũng như khơidậy các hoạt động trong khi thời gian thực tập phổ thông hạn chế

+Nguyên nhân:

- Do nhà trường tại cơ sở chưa thực sự quan tâm

- Do cơ sở vật chất, kinh phí đầu tư còn hạn chế

d Về việc bố trí thời gian biểu trong ngày cho môn học thể dục:

Tại nhiều trường phổ thông việc sắp xếp thời gian biểu cho môn học chưahợp lý, nhiều lớp phải học thể dục vào tiết 5 buổi sáng và tiết 1 buổi chiều, đây

là khoảng thời gian mà sự tập trung chú ý cũng như khả năng vận động thể lựccủa học sinh còn bị hạn chế

Trang 33

e Sự hỗ trợ chuyên môn của giáo viên chỉ đạo thực tập của trường đại học TDTT Bắc Ninh:

Trong quá trình thực tập sư phạm tại các trường phổ thông, địa điểm thựctập phân tán xa nhau, nên nhiều khi sự hỗ trợ của giáo viên chỉ đạo thực tậpkhông đến kịp thời

+Nguyên nhân:

- Do nhiều đoàn thực tập không có giáo viên chuyên môn chỉ đạo thực tập

vì vậy nhiều lúc sinh viên muốn hỏi những vấn đề về chuyên môn không biếthỏi ai

+ Đề xuất:

- Cần kiến nghị với các Sở giáo dục - đào tạo phối hợp, tăng đầu tư cơ sởvật chất, tài liệu chuyên môn cho các trường phổ thông, tiến tới xây dựng cáctrường phổ thông thành các cơ sở thực hành

- Cần có kiến nghị các trường phổ thông phân công những giáo viên giỏi,

có kinh nghiệm để hướng dẫn sinh viên thực tập, tạo điều kiện thuận lợi vềkhông gian, phương tiện để giáo sinh phát huy hết năng lực chuyên môn củamình

- Nâng cao vị thế của môn học thể dục tại các cơ sở, tăng cường theo dõikiểm tra, đánh giá, sắp xếp thời khoá biểu cho môn học thể dục một cách hợp lý,khoa học

3.1.2.2 Kết quả các năng lực sư phạm của sinh viên qua phiếu đánh giá kết qủa thực tập sư phạm của giáo viên thể dục các trường phổ thông thị xã Từ Sơn.

Đa số các giáo viên thể dục của các trường phổ thông đã từng có sinhviên khoa SPTD trường Đại học TDT Bắc Ninh về thực tập là những ngườitrực tiếp hướng dẫn về chuyên môn nghiệp vụ cho sinh viên trong quá trình họkiến tập ở đó vì vậy ý kiến đánh giá của họ được chúng tôi rất quan tâm Đểtìm hiểu sự đánh giá của họ về vấn đề này, chúng tôi đã tiến hành phỏng vấn

Trang 34

32 giáo viên đang giảng dạy tại các trường THPT và THCS tại thị xã Từ Sơntheo mức độ đánh giá như sau:

Trang 35

Bảng 3.2: Két quả phỏng vấn giáo viên thể dục trong các trường phổ thông về năng lực sư phạm thực hành của sinh viên ngành GDTC

trường Đại học TDTT Bắc Ninh (n=32)

Mức độ đánh giá

Điểm

Rất tốt(4 điểm)

Tốt(3 điểm)

Trung bình(2điểm)

Yếu( 1điểm)

Kỹ năng phát hiện những sai

lầm thường mắc và đưa ra biện

pháp sửa chữa

0 0 5 15,6 11 34,3 16 50,0 1,65

4 Kỹ năng biên soạn kế hoạch,

tiến trình, giáo án giảng dạy 6 18,7 10 31,2 12 7,5 4 12,5 2,565

7 Kỹ năng kiểm tra, đánh giá kết

quả học tập của học sinh 0 0 2 6,2 13 40,6 17 53,1 1,53

8 Kỹ năng giảng giải, phân tích

kỹ thuật động tác 5 15,6 7 21,8 16 50,0 4 12,5 2,40

9 Kỹ năng tổ chức, trọng tài thi đấu 32 100 0 0 0 0 0 0 4,00

Trang 36

Qua bảng 3.2 cho thấy: Kết quả đánh giá của giáo viên thể dục cáctrường phổ thông đã từng tham gia hướng dẫn thực tập cho các sinh viênnghành GDTC trường Đại học TDTT Bắc Ninh đạt được theo đánh giá vềnăng lực sư phạm thực hành( điểm trung bình chung theo cách quy ước củachúng tôi với các mức tương ứng như sau: Rất tốt: 4 điểm, Tốt: 3 điểm, Trungbình: 2 điểm, yếu: 1điểm ), cụ thể các kỹ năng đó là:

* Những kỹ năng đạt loại rất tốt:

- Kỹ năng tổ chức, trọng tài thi đấu

* Những kỹ năng đạt loại tốt:

- Kỹ năng làm mẫu ( thị phạm) động tác

* Những kỹ năng đạt loại trung bình:

- Kỹ năng tổ chức và quản lý giờ học

- Kỹ năng sử dụng bài tập,dụng cụ bổ trợ dẫn dắt( phương tiện dạy học)

- Kỹ năng biên soạn kế hoạch ,tiến trình,giáo án giảng dạy

- Kỹ năng giảng giải, phân tích kỹ thuật động tác

* Những kỹ năng đạt loại yếu:

- Kỹ năng phát hiện những sai lầm thường mắc và đưa ra biện pháp sửa

- Kỹ năng sử dụng các phương pháp giảng dạy

- Kỹ năng kiểm tra, đánh giá kết quả học tập của học sinh

3.1.3 Thực trạng về trình độ năng lực sư phạm cơ bản của sinh viên Cầu lông ngành GDTC trường Đại học TDTT Bắc Ninh.

Để tìm hiểu vấn đề này, chúng tôi đã tiến hành phỏng vấn 30 sinh viênchuyên sâu Cầu lông khóa đại 45 ngành GDTC trường Đại học TDTT BắcNinh Kết quả phỏng vấn được trình bày ở bảng 3.3

Ngày đăng: 04/02/2023, 22:40

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Nguyễn Như An (1992), "Phương pháp đánh giá và tự đánh giá bài soạn và bài giảng của giáo viên", Nghiên cứu giáo dục (số 8), Tr12 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phương pháp đánh giá và tự đánh giá bài soạn và bài giảng của giáo viên
Tác giả: Nguyễn Như An
Năm: 1992
2. Nguyễn Như An (1996), Phương pháp dạy học Giáo dục học(Tập 1), NXB Đại học Quốc gia Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phương pháp dạy học Giáo dục học(Tập 1)
Tác giả: Nguyễn Như An
Nhà XB: NXB Đại học Quốc gia Hà Nội
Năm: 1996
3. Hoàng Anh - Vũ Kim Thanh (1997), Giao tiếp sư phạm, Nxb Giáo dục, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giao tiếp sư phạm
Tác giả: Hoàng Anh, Vũ Kim Thanh
Nhà XB: Nxb Giáo dục
Năm: 1997
4. Lê Khánh Bằng (1992), "Các phương pháp và biện pháp cải tiến phương pháp dạy học ở Đại học", Tạp chí khoa học Giáo dục, (số 25), Tr17 - 20 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Các phương pháp và biện pháp cải tiến phương pháp dạy học ở Đại học
Tác giả: Lê Khánh Bằng
Nhà XB: Tạp chí khoa học Giáo dục
Năm: 1992
5. Phan Thanh Bình (1992), "Cần chuẩn bị tốt kỹ năng cơ bản về dạy học và công tác chủ nhiệm lớp cho sinh viên sư phạm", Tạp chí nghiên cứu Giáo dục, (số 8), Tr14 - 16 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Cần chuẩn bị tốt kỹ năng cơ bản về dạy học và công tác chủ nhiệm lớp cho sinh viên sư phạm
Tác giả: Phan Thanh Bình
Năm: 1992
6. Nguyễn Quang Chương (2004), Nghiên cứu một số giải pháp nâng cao năng lực sư phạm cho sinh viên Thể dục trường Cao đẳng Sư phạm Sơn La, Luận văn thạc sĩ giáo dục học Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghiên cứu một số giải pháp nâng cao năng lực sư phạm cho sinh viên Thể dục trường Cao đẳng Sư phạm Sơn La
Tác giả: Nguyễn Quang Chương
Năm: 2004
7. Chỉ thị 36CT-TW của Ban Bí thư Trung ương Đảng ngày 23/04/1994 về công tác TDTT trong giai đoạn mới Sách, tạp chí
Tiêu đề: Chỉ thị 36CT-TW của Ban Bí thư Trung ương Đảng ngày 23/04/1994 về công tác TDTT trong giai đoạn mới
Năm: 1994
8. Nguyễn Đình Chỉnh - Phạm Trung Thanh (1999), "Kiến tập và thực tập sư phạm", Nxb Giáo dục Hà Nội, Tr12 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Kiến tập và thực tập sư phạm
Tác giả: Nguyễn Đình Chỉnh, Phạm Trung Thanh
Nhà XB: Nxb Giáo dục Hà Nội
Năm: 1999
9. Nguyễn Đình Chỉnh (1997), Hình thành kỹ năng nghề nghiệp cho giáo sinh - một yêu cầu cấp bách của đổi mới giáo dục, Tạp chí đại học và giáo dục chuyên nghiệp Sách, tạp chí
Tiêu đề: Hình thành kỹ năng nghề nghiệp cho giáo sinh - một yêu cầu cấp bách của đổi mới giáo dục
Tác giả: Nguyễn Đình Chỉnh
Nhà XB: Tạp chí đại học và giáo dục chuyên nghiệp
Năm: 1997
10. Trịnh Dân (1980), Nâng cao chất lượng toàn diện công tác thực tập sư phạm thường xuyên của sinh viên khoa tâm lý giáo dục, Luận văn đại học Sư phạm Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nâng cao chất lượng toàn diện công tác thực tập sư phạm thường xuyên của sinh viên khoa tâm lý giáo dục
Tác giả: Trịnh Dân
Nhà XB: Sư phạm Hà Nội
Năm: 1980
11. Nguyễn Hữu Dũng (1995), Hình thành kỹ năng sư phạm cho sinh viên sư phạm Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Hình thành kỹ năng sư phạm cho sinh viên sư phạm Hà Nội
Tác giả: Nguyễn Hữu Dũng
Năm: 1995
12. Phạm Văn Đồng (1970), Công tác giáo dục và người thầy giáo XHCN (trang 16), Nxb Sự thật Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Công tác giáo dục và người thầy giáo XHCN
Tác giả: Phạm Văn Đồng
Nhà XB: Nxb Sự thật Hà Nội
Năm: 1970
13. Hà Thị Đức (1998), Vấn đề rèn luyện kỹ năng sư phạm cho sinh viên cơ sở lý luận và giải pháp, Hội thảo khoa học ngành tâm lý, Nxb Giáo dục Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Vấn đề rèn luyện kỹ năng sư phạm cho sinh viên cơ sở lý luận và giải pháp
Tác giả: Hà Thị Đức
Nhà XB: Nxb Giáo dục Hà Nội
Năm: 1998
14. Bùi Ngọc Hồ (1994), Hỏi đáp về thực tập sư phạm, Nxb Đại học Sư phạm thành phố Hồ Chí Minh Sách, tạp chí
Tiêu đề: Hỏi đáp về thực tập sư phạm
Tác giả: Bùi Ngọc Hồ
Nhà XB: Nxb Đại học Sư phạm thành phố Hồ Chí Minh
Năm: 1994
15. Lê Văn Hồng ,Lê Ngọc Lan , Nguyễn Văn Thành (2001), Tâm lý học lứa tuổi và tâm lý học sư phạm Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tâm lý học lứa tuổi và tâm lý học sư phạm
Tác giả: Lê Văn Hồng, Lê Ngọc Lan, Nguyễn Văn Thành
Năm: 2001
16. Lê Văn Hồng (1975), Một số vấn đề năng lực sư phạm của người giáo viên XHCN, Nxb Giáo dục, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Một số vấn đề năng lực sư phạm của người giáo viên XHCN
Tác giả: Lê Văn Hồng
Nhà XB: Nxb Giáo dục
Năm: 1975
17. Nguyễn Thị Hiền (2002), Thiết kế chương trình rèn luyện nghiệp vụ sư phạm thường xuyên cho sinh viên trường Cao đẳng Sư phạm Vĩnh Phúc, Luận văn thạc sĩ giáo dục học Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thiết kế chương trình rèn luyện nghiệp vụ sư phạm thường xuyên cho sinh viên trường Cao đẳng Sư phạm Vĩnh Phúc
Tác giả: Nguyễn Thị Hiền
Năm: 2002
18. Nguyễn Toán , Phạm Danh Tốn (2006), Lý luận và phương pháp TDTT, Nxb TDTT Sách, tạp chí
Tiêu đề: Lý luận và phương pháp TDTT
Tác giả: Nguyễn Toán, Phạm Danh Tốn
Nhà XB: Nxb TDTT
Năm: 2006
19. Nguyễn Đức Văn (2000) , Phương pháp thống kê trong TDTT, Nxb TDTT Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phương pháp thống kê trong TDTT
Tác giả: Nguyễn Đức Văn
Nhà XB: Nxb TDTT Hà Nội
Năm: 2000
20. Lê Văn Xem (2005), Tâm lý học TDTT, Phần yêu cầu nhân cách nhà giáo GDTC, Nxb Đại học Sư phạm Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tâm lý học TDTT, Phần yêu cầu nhân cách nhà giáo GDTC
Tác giả: Lê Văn Xem
Nhà XB: Nxb Đại học Sư phạm Hà Nội
Năm: 2005

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w