1. Trang chủ
  2. » Tất cả

Giáo trình hoá học môi trường

145 12 0
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Giáo trình Hoá học môi trường
Tác giả Nhóm tác giả
Người hướng dẫn P. Hoàng Thị Tươi
Trường học Trường Cao đẳng Công nghiệp Nam Định
Chuyên ngành Công nghệ môi trường
Thể loại Giáo trình
Năm xuất bản 2018
Thành phố Nam Định
Định dạng
Số trang 145
Dung lượng 1,68 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Cấu trúc

  • CHƯƠNG 1. CÁC VẤN ĐỀ CHUNG (7)
    • 1.1. Mục đích và ý nghĩa môn học (7)
    • 1.2. Một số khái niệm, định nghĩa (7)
      • 1.2.1. Môi trường và sự ô nhiễm môi trường (7)
      • 1.2.2. Hệ sinh thái và cân bằng sinh thái (9)
      • 1.2.3. Cân bằng vật chất và cân bằng năng lượng trong môi trường (9)
      • 1.2.4. Phản ứng hoá học và cân bằng hoá học trong môi trường (12)
    • 1.3. Cơ sở hoá học của môi trường (13)
      • 1.3.1. Các thành phần môi trường và đặc trưng của chúng: Khí quyển - Thuỷ quyển - Địa quyển - Sinh quyển (13)
      • 1.3.2. Sự xuất hiện các nguyên tố trong quá trình phát triển hoá địa (15)
      • 1.3.3. Sự tiến triển hoá học của các thành phần môi trường (15)
    • 1.4. Quá trình tiến triển của sự sống trên Trái đất (19)
  • CHƯƠNG 2. HÓA HỌC CỦA KHÍ QUYỂN (21)
    • 2.1. Cấu trúc và thành phần của khí quyển (21)
      • 2.1.1. Cấu trúc của khí quyển (21)
        • 2.1.1.1 Tầng đối lưu (0)
      • 2.1.2. Thành phần khí quyển (24)
    • 2.2. Phản ứng quang hoá trong khí quyển (28)
      • 2.2.1. Khái niệm về quang hoá sinh thái (28)
      • 2.2.2. Đặc điểm của phản ứng quang hoá (28)
      • 2.2.3. Một số phản ứng quang hoá điển hình trong khí quyển (31)
    • 2.3. Phản ứng hoá học trong khí quyển (36)
      • 2.3.1. Đặc điểm của phản ứng hoá học (36)
      • 2.3.2. Một số phản ứng hoá học điển hình trong khí quyển (37)
    • 2.4. Một số chất hoá học gây ô nhiễm khí quyển (37)
      • 2.4.1. Các chất hoá học ô nhiễm dạng bụi hay sol khí (38)
      • 2.4.2. Khí SO 2 và các hợp chất của lưu huỳnh (41)
      • 2.4.3. Các oxit cacbon (43)
      • 2.4.4. Các hợp chất Nitơ (44)
      • 2.4.5. Các hợp chất hữu cơ (45)
      • 2.4.6. Ozone và các khói quang hoá (47)
    • 2.5. Hoá học của một số hiện tƣợng ô nhiễm khí quyển (50)
      • 2.5.1. Hiện tƣợng mƣa axit (50)
      • 2.5.2. Hiệu ứng nhà kính (52)
      • 2.5.3. Hiện tƣợng suy giảm tầng Ozone (55)
  • CHƯƠNG 3. HÓA HỌC MÔI TRƯỜNG ĐẤT (58)
    • 3.1. Thành phần cấu trúc của địa quyển (58)
    • 3.2. Thành phần hoá học của địa quyển (59)
      • 3.2.1. Các thành phần vô cơ (59)
      • 3.2.2. Nước và khí (60)
      • 3.2.3. Các thành phần hữu cơ (60)
      • 3.2.4. Các chất dinh dƣỡng vĩ mô và vi mô (62)
      • 3.2.5. Tính chất của địa quyển (64)
    • 3.3. Các quá trình phong hoá trong môi trường đất (66)
      • 3.3.1. Quá trình hoà tan và kết tinh (0)
      • 3.3.2. Quá trình của cacbonat hoá (0)
      • 3.3.3. Quá trình thuỷ phân (0)
      • 3.3.4. Quá trình oxy hoá khử (70)
    • 3.4. Chu trình N, P, K trong đất (71)
      • 3.4.1. Chu trình của nitơ trong đất (71)
      • 3.4.3. Chu trình của kali trong đất (74)
    • 3.5. Các chất thải và sự ô nhiễm môi trường đất (75)
      • 3.5.1. Ô nhiễm do chất thải công nghiệp (75)
      • 3.5.2. Ô nhiễm do chất thải nông nghiệp (76)
      • 3.5.3. Ô nhiễm do chất thải đô thị (79)
      • 3.5.4. Ô nhiễm do chất thải dầu mỏ (79)
      • 3.5.5. Ô nhiễm do các chất hoá học khác (80)
  • CHƯƠNG 4. HÓA HỌC CỦA MÔI TRƯỜNG NƯỚC (82)
    • 4.1. Nước và vòng tuần hoàn của nước (82)
      • 4.1.1. Vai trò của nước (82)
      • 4.1.2. Vòng tuần hoàn của nước trong môi trường (83)
    • 4.2. Các thành phần hoá học và sinh học của thuỷ quyển (84)
      • 4.2.1. Thành phần hoá học (84)
      • 4.2.2. Thành phần sinh học (86)
    • 4.3. Một số phản ứng hoá học trong nước (89)
      • 4.3.1. Axit và Bazơ và ý nghĩa của độ pH (89)
      • 4.3.2. Cân bằng hệ H 2 O-CO 2 -H 2 CO 3 (93)
      • 4.3.3. Quá trình hidrat hoá, thuỷ phân các hợp chất hoá học trong nước (94)
      • 4.3.4. Quá trình hoà tan và kết tủa (98)
      • 4.3.5. Phản ứng oxy hoá -khử (101)
      • 4.3.6. Phản ứng tạo phức chất (104)
      • 4.3.7. Phản ứng tạo hệ keo trong môi trường nước (107)
      • 4.3.8. Phản ứng quang hoá trong môi trường nước (108)
      • 4.3.9. Phản ứng xúc tác vi sinh trong môi trường nước (109)
    • 4.4. Ô nhiễm nước và các chất gây ô nhiễm nước (110)
      • 4.4.1. Khái niệm về ô nhiễm nước (110)
      • 4.4.2. Ô nhiễm do nước thải (111)
      • 4.4.3. Ô nhiễm do các chất hữu cơ (114)
      • 4.4.4. Ô nhiễm do dầu mỏ (118)
      • 4.4.5. Ô nhiễm do các chất vô cơ (121)
      • 4.4.6. Ô nhiễm do các chất phóng xạ (125)
    • 4.5. Một số thông số cơ bản đánh giá chất lượng nước (129)
      • 4.5.1. Một số thông số cơ bản đánh giá chất lượng nước cấp (129)
      • 4.5.2. Một số thông số cơ bản đánh giá chất lượng nước thải (129)
    • 4.6. Một số tiêu chuẩn chất lượng môi trường nước (138)
      • 4.6.1. Quy chuẩn kỹ thuật quốc gia về chất lượng nước mặt (140)
      • 4.6.2. Quy chuẩn kỹ thuật quốc gia về chất lượng nước ngầm (142)
      • 4.6.3. Quy chuẩn kỹ thuật quốc gia về nước thải sinh hoạt (142)
      • 4.6.4. Quy chuẩn kỹ thuật quốc gia về nước thải công nghiệp (143)

Nội dung

Có thể hiểu một cách cụ thể hơn: Ô nhiễm môi trường là những tác động làm thay đổi môi trường tự nhiên thông qua sự thay đổi các thành phần vật lý, hóa học, các nguồn năng lượng, mức độ

Trang 1

(Ban hành theo Quyết định số 481/QĐ-CĐCNNĐ-ĐT ngày 27 tháng 6 năm 2017

của Hiệu trưởng trường Cao đẳng Công nghiệp Nam Định)

Nam Định, Năm 2018

Trang 2

TUYÊN BỐ BẢN QUYỀN

Tài liệu này thuộc loại sách giáo trình nên các nguồn thông tin có thể được phép dùng nguyên bản hoặc trích dùng cho các mục đích về đào tạo và tham khảo Mọi mục đích khác mang tính lệch lạc hoặc sử dụng với mục đích kinh doanh thiếu lành mạnh sẽ bị nghiêm cấm

LỜI GIỚI THIỆU

Trái Đất ngôi nhà chung của mọi người và của tất cả các sinh vật trên hành tinh nhổ bé này đang bị suy thoái trầm trọng, tài nguyên thiên nhiên bị khai thác cạn kiệt, hệ sinh thái bị mất cân bằng, dân số tăng nhanh, chất lượng cuộc sống bị suy giảm Hậu quả ghê gớm là hạn hán, lủ lụt, băng tan, đói nghèo gia tăng, mtía axit, dịch bệnh lan tràn, tầng ozon bị suy giảm Cả nhân loại đã tỉnh ngộ và lên tiếng "Hãy cứu lấy Trái Đất", "Hãy xây dựng nền công nghệ sạch", "Hãy phát triển bền vững" Bảo vệ môi trường, giữ lấy Trái Đát là nhiệm vụ của tất cả các quôc gia trên thế giới, là trách nhiệm của mọi tô chức xã hội và là nghĩa vụ của mọi thành viên các cộng đồng Giáo dục môi trường cho mọi người, nhất là các thế hệ trẻ trong các trường học có một ý nghĩa vô cùng quan trọng

Hóa học môi trường là một môn khoa học đa ngành bao gồm hóa học, vật lí học, khoa học về sự sông, nông học, y học, sức khồe cộng đong và các ngành về công nghệ sạch

Vì vậy việc xây dựng chương trình và giáo trinh về giáo dục môỉ trường trong các cấp học, bậc học đã được Nhà nước ta, các bộ, ngành có liên quan và các nhà trường quan tâm

Trong ngành Công Nghệ Môi Trường, cô Hoàng Thị Tươi đã dành nhiều công sức nghiên cứu, giảng dạy, biên soạn giáo trình " Hóa học môi trường"

Trong quá trình biên soạn Bài giảng này, mặc dù đã cố nhiều cố gắng nhưng

không tránh khỏi những thiếu sót Nhóm tác giả rất mong nhận được sự đóng góp ý kiến của các thầy, cô giáo và các bạn học sinh, sinh viên cùng đông đảo bạn đọc để

Bài giảng ngày càng hoàn thiện hơn

Xin chân thành cám ơn

… , ngày… tháng… năm 2017 Chủ biên soạn : Hoàng Thị Tươi

Trang 3

MỤC LỤC

CHƯƠNG 1 CÁC VẤN ĐỀ CHUNG 1

1.1 Mục đích và ý nghĩa môn học 1

1.2 Một số khái niệm, định nghĩa 1

1.2.1 Môi trường và sự ô nhiễm môi trường 1

1.2.2 Hệ sinh thái và cân bằng sinh thái 3

1.2.3 Cân bằng vật chất và cân bằng năng lượng trong môi trường 3

1.2.4 Phản ứng hoá học và cân bằng hoá học trong môi trường 6

1.3 Cơ sở hoá học của môi trường 7

1.3.1 Các thành phần môi trường và đặc trưng của chúng: Khí quyển - Thuỷ quyển - Địa quyển - Sinh quyển 7

1.3.2 Sự xuất hiện các nguyên tố trong quá trình phát triển hoá địa 9

1.3.3 Sự tiến triển hoá học của các thành phần môi trường 9

1.4 Quá trình tiến triển của sự sống trên Trái đất 13

CHƯƠNG 2 HÓA HỌC CỦA KHÍ QUYỂN 15

2.1 Cấu trúc và thành phần của khí quyển 15

2.1.1 Cấu trúc của khí quyển 15

2.1.1.1 Tầng đối lưu 15

2.1.2 Thành phần khí quyển 18

2.2 Phản ứng quang hoá trong khí quyển 22

2.2.1 Khái niệm về quang hoá sinh thái 22

2.2.2 Đặc điểm của phản ứng quang hoá 22

2.2.3 Một số phản ứng quang hoá điển hình trong khí quyển 25

2.3 Phản ứng hoá học trong khí quyển 30

2.3.1 Đặc điểm của phản ứng hoá học 30

2.3.2 Một số phản ứng hoá học điển hình trong khí quyển 31

2.4 Một số chất hoá học gây ô nhiễm khí quyển 31

2.4.1 Các chất hoá học ô nhiễm dạng bụi hay sol khí 32

2.4.2 Khí SO2 và các hợp chất của lưu huỳnh 35

2.4.3 Các oxit cacbon 37

2.4.4 Các hợp chất Nitơ 38

Trang 4

2.4.5 Các hợp chất hữu cơ 39

2.4.6 Ozone và các khói quang hoá 41

2.5 Hoá học của một số hiện tượng ô nhiễm khí quyển 44

2.5.1 Hiện tượng mưa axit 44

2.5.2 Hiệu ứng nhà kính 46

2.5.3 Hiện tượng suy giảm tầng Ozone 49

CHƯƠNG 3 HÓA HỌC MÔI TRƯỜNG ĐẤT 52

3.1 Thành phần cấu trúc của địa quyển 52

3.2 Thành phần hoá học của địa quyển 53

3.2.1 Các thành phần vô cơ 53

3.2.2 Nước và khí 54

3.2.3 Các thành phần hữu cơ 54

3.2.4 Các chất dinh dưỡng vĩ mô và vi mô 56

3.2.5 Tính chất của địa quyển 58

3.3 Các quá trình phong hoá trong môi trường đất 60

3.3.1 Quá trình hoà tan và kết tinh 60

3.3.2 Quá trình của cacbonat hoá 62

3.3.3 Quá trình thuỷ phân 62

3.3.4 Quá trình oxy hoá khử 64

3.4 Chu trình N, P, K trong đất 65

3.4.1 Chu trình của nitơ trong đất 65

3.4.3 Chu trình của kali trong đất 68

3.5 Các chất thải và sự ô nhiễm môi trường đất 69

3.5.1 Ô nhiễm do chất thải công nghiệp 69

3.5.2 Ô nhiễm do chất thải nông nghiệp 70

3.5.3 Ô nhiễm do chất thải đô thị 73

3.5.4 Ô nhiễm do chất thải dầu mỏ 73

3.5.5 Ô nhiễm do các chất hoá học khác 74

CHƯƠNG 4 HÓA HỌC CỦA MÔI TRƯỜNG NƯỚC 76

4.1 Nước và vòng tuần hoàn của nước 76

4.1.1 Vai trò của nước 76

Trang 5

4.1.2 Vòng tuần hoàn của nước trong môi trường 77

4.2 Các thành phần hoá học và sinh học của thuỷ quyển 78

4.2.1 Thành phần hoá học 78

4.2.2 Thành phần sinh học 80

4.3 Một số phản ứng hoá học trong nước 83

4.3.1 Axit và Bazơ và ý nghĩa của độ pH 83

4.3.2 Cân bằng hệ H2O-CO2-H2CO3 87

4.3.3 Quá trình hidrat hoá, thuỷ phân các hợp chất hoá học trong nước 88

4.3.4 Quá trình hoà tan và kết tủa 92

4.3.5 Phản ứng oxy hoá -khử 95

4.3.6 Phản ứng tạo phức chất 98

4.3.7 Phản ứng tạo hệ keo trong môi trường nước 101

4.3.8 Phản ứng quang hoá trong môi trường nước 102

4.3.9 Phản ứng xúc tác vi sinh trong môi trường nước 103

4.4 Ô nhiễm nước và các chất gây ô nhiễm nước 104

4.4.1 Khái niệm về ô nhiễm nước 104

4.4.2 Ô nhiễm do nước thải 105

4.4.3 Ô nhiễm do các chất hữu cơ 108

4.4.4 Ô nhiễm do dầu mỏ 112

4.4.5 Ô nhiễm do các chất vô cơ 115

4.4.6 Ô nhiễm do các chất phóng xạ 119

4.5 Một số thông số cơ bản đánh giá chất lượng nước 123

4.5.1 Một số thông số cơ bản đánh giá chất lượng nước cấp 123

4.5.2 Một số thông số cơ bản đánh giá chất lượng nước thải 123

4.6 Một số tiêu chuẩn chất lượng môi trường nước 132

4.6.1 Quy chuẩn kỹ thuật quốc gia về chất lượng nước mặt 134

4.6.2 Quy chuẩn kỹ thuật quốc gia về chất lượng nước ngầm 136

4.6.3 Quy chuẩn kỹ thuật quốc gia về nước thải sinh hoạt 136

4.6.4 Quy chuẩn kỹ thuật quốc gia về nước thải công nghiệp 137

Trang 6

TÀI LIỆU THAM KHẢO

1 Đặng Đình Bạch (2006), Giáo trình hóa học môi trường, NXB Khoa học kỹ

thuật

2 Lê Văn Cát (1999), Cơ sở hóa học và kỹ thuật xử lý nước, NXB Thanh niên

3 Đặng Kim Chi (2000), Hóa học môi trường, NXB Giáo dục

4 Lê Văn Khoa (2002), Khoa học môi trường, NXB Giáo dục

5 Lương Đức Phẩm (2007), Công nghệ xử lý nước thải bằng biện pháp sinh học,

NXB Giáo dục

6 Dieke Postma (2005), Geochemistry, groundwater and pollution 2 nd edition,

A.A Balkema Publishers

7 Dejene Ayele Tessema , Environmental Chemistry, African Virtual university

8 http://vea.gov.vn/vn/vanbanphapquy/tcmt

Trang 7

1

CHƯƠNG 1 CÁC VẤN ĐỀ CHUNG Mục tiêu: Sinh viên trình bày được các khái niệm cơ bản về môi trường, ô

nhiễm môi trường, hệ sinh thái, các phản ứng hóa học và cân bằng hóa học trong môi trường; Hiểu được cơ sở hóa học của môi trường

1.1 Mục đích và ý nghĩa môn học

Hóa học môi trường là một môn khoa học tổng hợp về các hiện tượng hóa học trong môi trường Nghĩa là nó tập trung nghiên cứu về nguồn gốc các phản ứng, các quá trình vận chuyển, tác động của các hình thái hóa học cơ bản trong môi trường nước, khí, đất cùng với ảnh hưởng các hoạt động của con người lên những môi trường này

Hóa học môi trường cung cấp những kiến thức cơ bản về ảnh hưởng của các hình thái hóa học đối với môi trường, giúp hiểu rõ bản chất các hiện tượng hóa học xảy ra xung quanh chúng ta và đưa ra những giải pháp tích cực nhằm ngăn chặn những tác động có hại tới môi trường

Hóa học môi trường mô tả các quá trình hóa học cơ bản có sự liên hệ chặt chẽ với các lĩnh vực khoa học khác như hóa sinh, hóa địa, hóa học nước, hóa học phân tích, hóa học hữu cơ và vô cơ cũng như với các ngành khoa học kỹ thuật khác như sinh học, địa chất, y học, khoa học nông nghiệp Hóa học môi trường đề cập tới môi trường như là một không gian phản ứng mà thành phần và tính chất trong đó có thể thay đổi qua các quá trình hóa học

Hóa học môi trường có nhiệm vụ nghiên cứu, mô tả và mô hình hóa các quá trình hóa học trong môi trường, cũng như nghiên cứu động học, nhiệt động học, các cơ chế phản ứng và mối quan hệ của chúng với các thành phần môi trường

1.2 Một số khái niệm, định nghĩa

1.2.1 Môi trường và sự ô nhiễm môi trường

Môi trường là tập hợp tất cả các thành phần của thế giới vật chất bao quanh,

có khả năng tác động đến sự tồn tại và phát triển của mỗi sinh vật

Môi trường bao gồm các yếu tố tự nhiên và yếu tố vật chất nhân tạo có quan

hệ mật thiết với nhau, bao quanh con người, có ảnh hưởng tới đời sống, sản xuất, sự tồn tại, phát triển của con người và thiên nhiên (Điều 3, Luật bảo vệ môi trường

của Việt Nam 2005)

Môi trường thiên nhiên bao gồm các yếu tố tự nhiên như vật lý, hóa học, sinh học và tồn tại khách quan ngoài ý muốn của sinh vật (con người)

Trang 8

2

Sinh vật và môi trường xung quanh luôn có quan hệ tương hỗ với nhau về vật chất và năng lượng, thông qua các thành phần môi trường như khí quyển, thủy quyển, địa quyển và sinh quyển cùng các hoạt động của hệ Mặt trời

Các thành phần của môi trường trong tự nhiên không tồn tại ở trạng thái tĩnh mà luôn có sự vận động, chuyển hóa hướng tới trạng thái cân bằng để bảo đảm

sự sống trên Trái đất phát triển ổn định

Ô nhiễm môi trường là những tác động làm thay đổi các thành phần môi

trường, tạo nên sự mất cân bằng trạng thái môi trường, gây ảnh hưởng xấu tới sinh vật và môi trường tự nhiên Có thể hiểu một cách cụ thể hơn: Ô nhiễm môi trường

là những tác động làm thay đổi môi trường tự nhiên thông qua sự thay đổi các thành phần vật lý, hóa học, các nguồn năng lượng, mức độ bức xạ, độ phổ biến của sinh vật Những thay đổi này ảnh hưởng trực tiếp đến con người qua con đường thức ăn, nước uống và không khí, hoặc ảnh hưởng gián tiếp tới con người do thay đổi các điều kiện vật lý, hóa học và suy thoái môi trường tự nhiên

Chất gây ô nhiễm là những chất không có trong tự nhiên hoặc vốn có trong

tự nhiên nhưng nay có hàm lượng lớn hơn và gây tác động có hại cho môi trường

tự nhiên, cho con người cũng như sinh vật sống Chất ô nhiễm có thể là do các hiện tượng tự nhiên sinh ra gây ô nhiễm trong một phạm vi nào đó của môi trường (ví

dụ núi lửa, cháy rừng, bão lụt, ) hoặc do các hoạt động của con người gây nên (ví

dụ như các hoạt động sản xuất công nghiệp, giao thông vận tải, sinh hoạt đô thị, )

Có thể phân loại chất ô nhiễm theo phương thức mà nó xuất hiện trong môi trường, gồm: Chất ô nhiễm sơ cấp là những chất ô nhiễm xâm nhập vào môi trường trực tiếp từ nguồn sinh ra nó (ví dụ SO2 sinh ra do quá trình đốt nhiên liệu

có chứa S) và chất ô nhiễm thứ cấp là những chất ô nhiễm tạo thành từ những chất

ô nhiễm sơ cấp trong điều kiện tự nhiên của môi trường (ví dụ SO3, H2SO4 tạo thành từ SO2, O2 và hơi nước trong khí quyển)

Lưu trình của chất gây ô nhiễm là quá trình trong đó chất ô nhiễm đi từ nguồn sinh chất ô nhiễm đến các bộ phận của môi trường Ví dụ như lưu trình của chì (Pb) trong xăng đi vào cơ thể người gây độc hại như sau:

Pb(C2H5)4 + O2 Ống xả khí PbCl2 + PbBr2 (khí quyển)

Người Thực phẩm PbCl2 + PbBr2 (trong đất) Hình thái hóa học là các dạng khác nhau của các chất hóa học (vô cơ, hữu

cơ, kim loại) có trong môi trường Việc phân loại hình thái hóa học của chất ô nhiễm là rất quan trọng vì có thể đối với cùng một nguyên tố, hình thái này độc hơn hình thái khác, hình thái này bền trong môi trường hơn hình thái kia Ví dụ

Trang 9

, l, ml) hay trên một đơn vị khối lượng (g, kg, tấn) Ngoài ra cũng có thể biểu thị nồng độ chất ô nhiễm theo tỉ lệ phần thể tích như phần triệu ppm (part per million) hay phần tỷ thể tích ppb (part per bilion) ở điều kiện tiêu chuẩn là 0oC và 1 at

1.2.2 Hệ sinh thái và cân bằng sinh thái

Sinh thái (Ecology) là mối quan hệ tương hỗ giữa một cơ thể sống hoặc một quần thể sinh vật với các yếu tố môi trường xung quanh Sinh thái học là khoa học nghiên cứu mối quan hệ giữa các thành phần sinh thái với môi trường tồn tại của chúng Sinh thái học là khoa học cơ sở cho công tác quản lý tài nguyên thiên nhiên

và bảo vệ môi trường

Hệ sinh thái (Ecosystem) là đồng tổ hợp một quần thể sinh vật với môi

trường vật lý xung quanh nơi mà quần thể đó tồn tại, trong đó các sinh vật, môi trường tương tác với nhau để tạo thành chu trình vật chất và sự chuyển hóa năng lượng Nói cách khác, hệ sinh thái bao gồm các loài sinh vật sống ở một vùng địa

lý tác động qua lại với nhau và với môi trường xung quanh tạo nên các chuỗi, lưới thức ăn và các chu trình sinh địa hóa

Cân bằng sinh thái là trạng thái trong đó các thành phần sinh thái ở điều

kiện cân bằng tương đối và cấu trúc toàn bộ hệ không bị thay đổi Dưới tác động của các yếu tố làm thay đổi chất lượng môi trường, trạng thái ổn định này có thể bị thay đổi Trạng thái cân bằng này là trạng thái cân bằng động mà các hệ sinh thái

tự nhiên có khả năng tự điều chỉnh để phục hồi trở lại trạng thái ban đầu khi bị ảnh hưởng của một yếu tố nào đó (yếu tố vô sinh, yếu tố hữu sinh và yếu tố con người)

1.2.3 Cân bằng vật chất và cân bằng năng lượng trong môi trường

a) Vòng tuần hoàn vật chất toàn cầu

Hầu như mọi vật chất đều tham gia các vòng tuần hoàn, chúng chuyển động theo nhiều phương thức khác nhau, với những tốc độ khác nhau giữa khí quyển, thủy quyển và địa quyển cũng như sinh quyển

Những vòng tuần hoàn vật chất như vậy là những vòng tuần hoàn tái tạo sinh học, dựa trên cơ sở quá trình sống trên Trái đất luôn diễn ra Tất cả các vật thể sống đều cần C, H, O, N cũng như các nguyên tố P, S, Ca, K, Mg, Na, Cl và những nguyên tố này luôn tham gia trong các chu kỳ tuần hoàn Ví dụ C trong vỏ Trái đất ở dạng than và CaCO3 nhưng cũng có thể tồn tại ở trong tảo và các sinh vật biển, có thể là nguyên tố vĩ mô hoặc vi mô

Trang 10

4

Ở mô hình này, trước hết có thể coi tổng lượng vật chất của một chất nào đó tham gia vào thành phần môi trường cũng chính là lượng nó sẽ ra khỏi thành phần

đó theo định luật bảo toàn vật chất và năng lượng

Khi lượng vào lớn hơn lượng ra, ta có quá trình lưu giữ, ngược lại khi lượng vào nhỏ hơn lượng ra thì ta có sự tiêu tán Vật chất luôn nằm trong quá trình vận động, khi thì tồn tại ở nguồn chứa, khi thì nằm trong quá trình thải loại

Những nguyên tố hoặc hợp chất tham gia vòng tuần hoàn đều có thời gian tồn tại trong các thành phần môi trường Thời gian lưu của chúng rất khác nhau đối với từng nguyên tố hay hợp chất, do khả năng phản ứng hoặc không tham gia phản ứng với các nguyên tố hoặc hợp chất khác Đối với một nguyên tố, thời gian lưu của nó ở các thành phần môi trường cũng khác nhau

Ví dụ đối với oxy, thời gian lưu trong khí quyển là 1 năm, trong thủy quyển

là 100 năm, trên bề mặt ngoài Trái đất là 100 năm, còn trong địa quyển là trên 1 triệu năm

Bảng 1.1 Thời gian lưu của C, O, N trong vòng tuần hoàn thực phẩm [3]

Nguyên tố Thành phần môi trường Thời gian lưu, năm

b) Cân bằng năng lượng của Trái đất

Các vòng tuần hoàn vật chất và các tổ chức sống hoạt động được là do có các quá trình trao đổi năng lượng giữa chúng Mặt trời là nguồn năng lượng khổng

lồ và gần như vĩnh viễn đối với Trái đất Hàng năm Mặt trời đưa xuống Trái đất một nguồn năng lượng khoảng 5,51.1024 J dưới dạng các tia tử ngoại, tia hồng ngoại và tia tử kiến

Qua quá trình phân tán và phản xạ, 30,5% năng lượng Mặt trời đưa xuống Trái đất bị quay trở lại Trong số này có khoảng 85% phản xạ từ khí quyển (bị phân tán và ngăn cản bởi mây, các thành phần khí và hơi) và 15% phản xạ từ bề mặt Trái đất Trong phần năng lượng tia còn lại (3,83.1024 J/năm) có 2,48.1024

J/năm (45% tổng năng lượng tia Mặt trời) sẽ được đại dương và mặt đất hấp thụ, số còn lại 1,35.1024J/năm, chiếm 24,5% tổng năng lượng do các thành phần của khí

Trang 11

5

quyển thu nhận Tương tác của các tia với các chất trong khí quyển (ozone, oxy )

sẽ lọc hết các tia tử ngoại (bước sóng < 290nm) nguy hiểm đối với con người và chỉ cho các tia còn lại đi tới bề mặt Trái đất

Năng lượng Mặt trời đi đến Trái đất làm nóng khí quyển, thủy quyển và mặt đất, cũng như làm bay hơi nước và qua đó vận chuyển năng lượng đi vào khí quyển Sự vận chuyển nhiệt (do bốc hơi nước) từ bề mặt đất vào khí quyển có ý nghĩa rất lớn đối với các đại dương và tạo nên dòng vận chuyển nhiệt đối lưu Để cân bằng với dòng năng lượng bên ngoài, mặt đất sẽ phản xạ lại những tia hồng ngoại sóng dài (tia nhiệt) vào vũ trụ

Hình vẽ biểu thị giá trị gần đúng của dòng năng lượng trong hệ thống Trái đất – khí quyền

Hình 1.1 Cân bằng năng lượng của Trái đất (1024 J/năm) [3]

Quá trình vận chuyển nhiệt ở đại dương và trong khí quyển sẽ giúp tạo ra sự phân bố ổn định năng lượng nhiệt trên bề mặt Trái đất, làm cho nhiệt độ bề mặt của Trái đất chỉ dao động trong một phạm vi hẹp (-90oC ÷ 60oC) Nhiệt độ trung bình của bề mặt Trái đất vào khoảng 14oC

Một phần năng lượng tia đi vào Trái đất được sử dụng cho quá trình tổng hợp quang học với CO2 tạo thành hydrocacbon (sinh khối) và nguồn năng lượng này được giữ lại ở dạng năng lượng hóa học Để cố định 1g C trong cây trồng theo phản ứng tổng hợp dưới đây:

Trang 12

6

việc cố định chúng Những hợp chất của C dưới dạng than, dầu mỏ, khí đốt là nguồn chứa và tích tụ năng lượng Mặt trời từ hàng triệu năm nay Tổng lượng các hợp chất chứa C ước tính khoảng 8.109 Mt (106t) Người ta giả thiết rằng chỉ cần 1% nguồn C của Trái đất được sử dụng trong kỹ thuật phù hợp với phản ứng sản xuất năng lượng nhân tạo sau:

C + O2 → CO2 ∆H = -391 kJ/mol

thì đã thu được 2,6.1021J Năng lượng này ít hơn rất nhiều so với lượng năng lượng phát xạ mỗi ngày từ Mặt trời và qua đó có thể thấy rằng việc tìm nguồn năng lượng thích hợp trong tương lai sẽ là năng lượng mặt trời

1.2.4 Phản ứng hoá học và cân bằng hoá học trong môi trường

Phản ứng hóa học là quá trình chuyển đổi vật chất, các liên kết hóa học trong chất phản ứng thay đổi và tạo ra chất mới (sản phẩm) Quá trình này luôn kèm theo

1 sự thay đổi năng lượng và tuân theo định luật bảo toàn năng lượng Phản ứng hóa học kết thúc khi có sự cân bằng hóa học hay các chất phản ứng đã được chuyển đổi hoàn toàn Phản ứng hóa học có thể diễn ra "tức thời", không yêu cầu cung cấp năng lượng ban đầu, hoặc "không tức thời", yêu cầu năng lượng ban đầu (dưới nhiều dạng như nhiệt, ánh sáng hay năng lượng điện) Thông thường, phản ứng hóa học liên quan đến việc di chuyển của electron trong việc tạo thành hoặc phá vỡ các liên kết hóa học

Các phản ứng hóa học và những hiện tượng kèm theo trong môi trường rất phong phú do tính đa dạng của tạp chất, sự biến động (cân bằng) của một cấu tử phụ thuộc vào điều kiện môi trường, kèm theo sự trao đổi chất liên tục với môi trường xung quanh Ví dụ trong khí quyển CO2 tồn tại ở trạng thái khí còn trong môi trường nước nó tồn tại ở dạng H2CO3, HCO3

-, CO3 2- Hàm lượng các cấu tử trên phụ thuộc vào pH và nhiệt độ môi trường nước, pH càng cao xu hướng dịch chuyển cân bằng về ion cacbonat càng lớn Trong môi trường nước tự nhiên có chứa các ion kim loại với các muối có độ tan khác nhau (CaCO3, MgCO3, Na2CO3 ) thì hình ảnh của thế cân bằng giữa H2CO3, HCO3

- Phản ứng thủy phân, hidrat hóa

- Quá trình hòa tan và kết tủa

- Phản ứng oxy hóa khử

- Phản ứng tạo phức

- Phản ứng tạo keo

- Phản ứng quang hóa

Trang 13

7

Các phản ứng này trong các môi trường sẽ được trình bày cụ thể ở phần sau: các phản ứng trong khí quyển (mục 2.2, 2.3), các phản ứng trong môi trường đất (mục 3.3), các phản ứng trong môi trường nước (mục 4.3)

1.3 Cơ sở hoá học của môi trường

1.3.1 Các thành phần môi trường và đặc trưng của chúng: Khí quyển - Thuỷ quyển - Địa quyển - Sinh quyển

Khí quyển đóng vai trò quan trọng trong việc giữ cân bằng nhiệt lượng của Trái đất thông qua quá trình hấp thụ tia tử ngoại phát xạ từ Mặt trời đến và phản xạ tia nhiệt từ mặt đất lên

Thành phần chủ yếu của khí quyển ở gần bề mặt Trái đất gồm N2, O2, CO2, hơi nước và một số khí khác như Ar, He với hàm lượng rất nhỏ

Khí quyển là nguồn cung cấp O2 và CO2 cần thiết cho sự sống trên Trái đất, cung cấp N2 cho quá trình cố định đạm ở thực vật hay sản xuất phân đạm cho nông nghiệp Hơn nữa, khí quyển còn là môi trường để vận chuyển nước từ đại dương vào đất liền, tham gia vào quá trình tuần hoàn nước

Hóa học khí quyển là cơ sở để hiểu biết về nguồn gốc, quá trình biến đổi và hình thành các chất trong khí quyển

b) Thủy quyển

Thủy quyển bao gồm tất cả các dạng nguồn nước có trên Trái đất, gồm đại dương, biển, hồ, sông, suối, các nguồn chứa băng đá ở hai cực Trái đất và cả nguồn nước ngầm Thủy quyển có khối lượng ước tính vào khoảng 1,38.1021

kg (0,03% tổng

khối lượng Trái đất) [3]

97% nước của Trái đất là nước mặt (biển, đại dương) có hàm lượng muối cao, không thích hợp cho nhu cầu sinh hoạt của con người Khoảng 2% nước thuộc dạng băng đá nằm ở hai cực Trái đất Chỉ có 1% nước của Trái đất kể trên được con người sử dụng

Hóa học môi trường nước là cơ sở để hiểu biết về nguồn gốc, quá trình vận chuyển, đặc tính và hình thái hóa học của các chất trong nước

c) Địa quyển

Trang 14

8

Địa quyển là lớp vỏ rắn ngoài của Trái đất, có bề sâu từ 0 đế 100km Thành phần của địa quyển gồm đất và các khoáng chất xuất hiện trong lớp phong hóa của Trái đất Thực chất địa quyển là tổ hợp phức tạp của các chất khoáng, chất hữu cơ, không khí và nước Trong địa quyển, đất là thành phần quan trọng nhất

Trong quá trình phát triển của mình, con người đã khai thác các tài nguyên trong địa quyển để làm nguyên liệu phục vụ cho đời sống và thải trả lại địa quyển nhiều chất thải rắn, chất thải lòng độc hại làm ô nhiễm đất

Bảng 1.2 Diện tích, thể tích, khối lượng của các thành phần môi trường [3]

Khác với khí quyển, địa quyển và thủy quyển, với sinh quyển không có giới hạn rõ rệt vì nó nằm trong cả ba thành phần môi trường kể trên và không hoàn toàn liên tục, vì sự sống chỉ tồn tại và phát triển trong những điều kiện nhất định

Trang 15

Trong khí quyển, thủy quyển và địa quyển của Trái đất, có 82 nguyên tố có hạt nhân bền vững và 11 nguyên tố tiếp theo có số thứ tự từ 83 đến 94 là những đồng vị phóng xạ Ngoài ra còn có trên 30 nguyên tố phóng xạ với những chu kỳ bán phân hủy hoàn toàn khác nhau Nhờ những tác động nhân tạo đối với các hạt nhân, tới nay con người đã có thể chế tạo được khoảng 1000 hạt nhân phóng xạ với

độ bền khác nhau Từ những nguyên tố hóa học có trên Trái đất và các liên kết nhiều mặt đa dạng của chúng mà vũ trụ, môi trường tự nhiên và con người chúng

ta tạo thành

1.3.3 Sự tiến triển hoá học của các thành phần môi trường

a) Sự hình thành sơ bộ các nguyên tố trong sự phát triển hóa địa [3]

Trước hết phải nói đến sự phân hủy các thành phần dễ bay hơi (nitơ, khí trơ ) trên bề mặt Trái đất Nhiệt độ ở thời kỳ đầu chỉ cho các nguyên tố như nguyên tử hydro, heli và phân tử của chúng được hình thành Sau đó nhiệt độ Trái đất tăng dần lên và xuất hiện các phân tử khí nặng hơn (NH3, CH4, CO, N2, O2) Khí quyển của Trái đất hồi đó được tạo thành là do kết quả của quá trình sinh khí

từ những chất rắn qua một quá trình mà ngày nay còn thấy trong những hoạt động của núi lửa và thành phần hóa học của chúng bao gồm H2, các khí trơ, N2, H2O,

CO, CO2, NH3, CH4, H2S Những nguyên tố có liên kết phân tử dễ bay hơi sẽ tạo thành những phân tử mới như CH4, CO, CO2 hoặc cacbonat, trong khi một số nguyên tố khác (Mg, Al, Si) trong vũ trụ và trên Trái đất có xu hướng kết hợp với oxy thành các liên kết oxy có nhiệt độ sôi cao hơn

Qua quá trình lạnh dần của Trái đất, các liên kết oxy của các nguyên tố có điện tích dương lớn sẽ hình thành Lưu huỳnh biến đổi thành sunfit, silic thành oxit silic và silicat Các kim loại tạo thành oxit và sunfit kim loại Ngoài ra còn một số kim loại có điện tích lớn sẽ tham gia quá trình oxy hóa khử có thể thấy rõ điều này qua quá trình khử sắt trong hệ Fe/Fe+2: Fe ↔ Fe+2 + 2e-

Sắt nóng chảy chuyển động với khối lượng riêng lớn xung quanh tâm điểm của Trái đất sẽ khử các nguyên tố với thế khử dương và tạo thành hợp kim với kim loại có ít khả năng phản ứng (Ni, Au, Pt ) Các oxit và sunfit tụ tập ở vòng ngoài Kết quả là sau hàng triệu năm dần dần hình thành các lớp chủ yếu của vỏ Trái đất,

Trang 16

là một hỗn hợp khoáng kim loại mà người ta có thể dùng nó để sản xuất kim loại một cách kinh tế nhất Quặng được hình thành do hàng loạt các quá trình khác nhau Tùy theo đặc tính hóa học mà có thể coi chúng được hình thành từ ba quá trình cơ bản sau:

- Quá trình biến đổi của nhiệt độ

- Quá trình phong hóa và vận chuyển

- Quá trình khử

Quá trình hình thành quặng do biến đổi của nhiệt độ có thể kể tới sự kết tinh

từ các đá nóng chảy ở khoảng nhiệt độ từ 1500oK tới 4000oK, quá trình bay hơi, quá trình thủy nhiệt, trong đó dung dịch lỏng ở điều kiện áp suất và nhiệt độ cao tác động tới quá trình vận chuyển và sau khi làm lạnh sẽ tác động tới sự tách các mạng tinh thể tạo thành quặng cũng như các hợp chất vốn ở trạng thái từ tính hoặc lắng nằm ở phần sau của vỏ cứng Trái đất do nhiệt độ và áp suất cao sẽ được biến đổi thành các thành phần của quặng

Ví dụ quá trình biến đổi của FeO thành FeCO3 hay Fe3O4 trong điều kiện nhiệt độ xác định khi có mặt của CaCO3 như sau: trước tiên CaCO3 phân hủy thành

Trang 17

Quá trình hình thành quặng do phong hóa có thể là các quá trình xảy ra

dưới những thay đổi thành phần và được giải thích bởi các yếu tố vật lý, hóa học

và sinh học, ví dụ như ở những vùng mưa nhiều thì ảnh hưởng của nước chứa nhiều CO2 và O2 là lớn nhất Do phong hóa và do quá trình hòa tan trong nước mưa

và nước trong đất mà các nguyên tố được tách khỏi đá, đó là các hợp chất dễ hòa tan (kim loại kiềm) Phần còn lại sẽ là các kim loại ít hòa tan Nhờ quá trình phong hóa mà xuất hiện các mỏ boxit ở những vùng nhiệt nóng ẩm Do tác động phong hóa mà hàng loạt các ion được giải phóng, tan theo nước chảy ra đại dương và tích

tụ ở đó

Quá trình khử có ý nghĩa đối với sự vận chuyển và các biến đổi các kim loại

tạo thành quặng trong vỏ cứng Trái đất (Cu, Fe, Mn) cũng như các biến đổi vi sinh của sunfat thành sunfit và tách kim loại nặng từ các quặng sunfit

c) Sự tiến triển của hóa học - sinh học

Ở giai đoạn đầu của sự tiến triển của Trái đất, khí quyển hầu như chưa hình thành và Trái đất còn ở dạng lỏng Do quá trình lạnh dần mà các khí do núi lửa và các hoạt động trong lòng Trái đất sinh ra được vận chuyển lên bề mặt của Trái đất

Vì lúc đó sắt nóng chảy chưa hoàn toàn đọng ở nhân Trái đất nên những khí sinh ra

sẽ tham gia phản ứng với sắt, oxit sắt và silicat, tạo thành H2, hơi nước, CO và một lượng nhỏ CO2, N2 H2S tất cả tạo thành tiền khí quyển Oxy lúc đó tiêu hao để phản ứng với sắt nóng chảy, khoáng và các khí có tính khử vì vậy áp suất riêng phần của O2 ở khí quyển Trái đất cách đây 2,5 tỷ năm thực tế gần bằng 0

Nhiệt độ bề mặt Trái đất so với nhiệt độ bên trong của nó là tương đối thấp do

đó tác động tới việc làm lạnh khí và đẩy nhanh chuyển dịch cân bằng của nhiều phản ứng hóa học Hơi nước trong khí quyển ngưng tụ và qua đó xuất hiện dạng tiền thủy quyển Các oxit cacbon CO2 và CO qua quá trình hydro hóa được khử thành CH4theo các phản ứng:

CO2 + 4H2 ↔ CH4 + 2H2O

Trang 18

12

CO+ 3H2 ↔ CH4 + H2OCũng tương tự các phản ứng trên, nitơ được khử thành NH3 và tạo nên cân bằng amôn – axit – bazơ:

ly dưới tác dụng của tia cực tím Do đó hàm lượng oxy lúc đó rất thấp (0,1% so với lượng oxy trong khí quyển ngày nay) Do ít tham gia vào các phản ứng quang hóa, lượng nitơ vẫn tiếp tục tăng và trở thành thành phần chính của khí quyển

Có điều cần lưu ý rằng, các nguyên tố sinh học (C, H, N, O, P, S) và năng lượng cho quá trình tổng hợp các liên kết sinh học đó không phụ thuộc vào việc các cacbon và nitơ tham gia phản ứng tạo thành CH4 và NH3 Dường như những phân tử sinh học quan trọng đã xuất hiện từ quá trình tổng hợp các đơn sinh và sự tiến triển của vũ trụ, các đơn sinh này ở giai đoạn này đã tập hợp thành một lượng lớn (formaldehyt và axit xianic) Formaldehyt (H-CHO) và axit xianic (HCN) là những phân tử nhỏ nhất chứa C, H, O hoặc C, H, N Vì chúng là dạng chung của nhiều hợp chất hydrocacbon (CH2O)n nên có thể coi chúng là hợp chất polyme của các phân tử formandehyt và kết quả các polyme này trong môi trường kiềm (CaCO3, CaO, NH3)

sẽ hình thành phân tử đường với 6 nguyên tử cacbon Sản phẩm phản ứng sẽ là ribozơ, deoxyribozơ, galactozơ, fructozơ, manozơ

Hầu như tất cả các hợp chất quan trọng trong sinh học đều là những hợp chất

đa phân tử Các aminoaxit là những axitcacbon với amin ở vị trí α và trong các hợp chất hydrocacbon người ta thấy có nhiều nhóm OH Điều đó chứng tỏ rằng các phân tử sinh học ở giai đoạn sơ khai đã có xu hướng tạo thành các phân tử phức tạp hơn như việc tạo thành các polyme đa ngưng tụ hay sản phẩm của các phản ứng dây chuyền

Trong các phản ứng polyme hóa, đa ngưng tụ thường xuất hiện H2O và chiều của phản ứng có thể do dư nước mà quay ngược lại Nếu quá trình ở nhiệt độ cao, nước bị bay hơi và tách khỏi hệ sẽ giúp phản ứng theo chiều thuận nhanh hơn

Sự phát triển của Trái đất cũng như sự tiến triển của hóa học đã diễn ra theo quá trình nóng chảy sắt trong nhân Trái đất Nhưng có những khí tạo thành ở vùng núi do hoạt động của núi lửa đi vào khí quyển lại không tiếp xúc với sắt lỏng Nó

Trang 19

13

xuất hiện ở trạng thái oxy hóa cao, chứa H2O, CO2, SO2 và một ít N2, H2 Những hỗn hợp này luôn thay đổi và khác nhiều so với hỗn hợp khí ngày nay Nhiều thành phần chính kể trên chỉ tồn tại trong khí quyển một thời gian ngắn và sau đó ngưng

tụ với nước tạo thành các oxit, axit dễ bay hơi rồi tiếp tục phản ứng với đá kiềm của vỏ cứng Trái đất tạo thành các muối kiềm Ví dụ:

CaSiO3 + CO2 ↔ CaCO3 + SiO2

1.4 Quá trình tiến triển của sự sống trên Trái đất

Bản chất sống là hệ thống các thành phần nguyên tử có khả năng tái sản xuất

và phát sinh một cách chọn lựa trong môi trường Về ý nghĩa nhiệt động thì bản chất sống là một dạng đặc biệt của hệ thống mở cấu trúc phân tán, có thể tồn tại cân bằng nhiệt động và được đánh giá qua trạng thái động có trật tự cao Đối với

sự xuất hiện của sự sống có rất nhiều giả thiết được đưa ra dựa trên sự tiến triển của Trái đất

Thế giới sinh học ngày nay của chúng ta là kết quả của một sự tiến triển kéo dài hơn 4 tỉ năm Con đường từ một đơn vị nguyên tử (N=100

) qua bậc phân tử (N=101 ÷ 102) tới phân tử sinh học (N=102 ÷ 104), nguyên tố hệ thống (N=104 ÷

106), tế bào (N=1010 ) tới sinh vật (N=1020) là rất phức tạp đến mức đáng ngạc nhiên Rõ ràng tính chất của một sinh vật được tạo nên bởi hàng loạt tính chất các nguyên tử của nó

Sự tiến triển của sự sống có thể phân thành bốn giai đoạn:

- Tiến triển hóa học

- Tiến triển tiền sinh học

- Tiến triển sinh học

- Tiến triển xã hội

Tiến triển hóa học của sự sống là quá trình hình thành các phân tử phức tạp, các phân tử đơn sinh và các phân tử đa sinh đều được sinh ra từ các vật thể đơn giản của thời kỳ tiền khí quyển hoặc thời kỳ tiền thủy quyển xa xưa theo hướng liên kết hóa học qua việc sử dụng nguồn năng lượng xuất hiện trên Trái đất trước kia

Sơ đồ dưới đây mô tả các bước của giai đoạn tiến triển hóa học của sự sống:

Axit amin N-Heterocyclen Đường

Mỡ

- Phóng điện

Trang 20

14

Tiến triển tiền sinh học là quá trình tự hình thành hệ thống từ các đại phân tử sinh học Những phân tử sinh học quan trọng nhất là những axit nucleic và protein Các axit nucleic tổng hợp được hình thành từ rất nhiều các hạt nhân khác nhau như: axit đeoxyribônuclein (ADN) và axit ribônuclein (ARN) ở trong trạng thái tích lũy thông tin, chuyển giao và điều khiển sự tổng hợp của protein Những protein hình thành từ nhiều nhất là 20 axit amin có vai trò như chất mang có tính chất và cấu trúc sinh học quyết định Những chất này thể hiện những hoạt động đặc trưng cho bản chất sự sống

Tiến triển sinh học là quá trình phát triển đa dạng của bản chất sự sống tồn tại trên Trái đất Nó bắt đầu từ sự phát triển của các vi khuẩn vô cơ, vi khuẩn tổng hợp quang học, vi khuẩn xyano, vi khuẩn hiếu khí rồi tiếp tục đến xuất hiện của tảo đơn bào, tảo đa bào,

Tiến triển xã hội là sự tiến triển của con người từ động vật đến xã hội loài người ngày nay, được đánh dấu bằng sự phát triển của từng thời kỳ của Trái đất cùng với quá trình trao đổi năng lượng dị thể trong khoảng 3,9.109 năm Trong quá trình tiến triển xã hội, nhận thức của con người cũng như của xã hội loài người đối với môi trường chịu ảnh hưởng rất lớn bởi sự tiến triển của hóa học, sinh học và tiến dần tới một xã hội ngày càng văn minh hơn

Trang 21

2.1 Cấu trúc và thành phần của khí quyển

2.1.1 Cấu trúc của khí quyển

Khí quyển là lớp vỏ khí bao quanh Trái đất Ranh giới phân chia giữa khí quyển và khoảng không gian bên ngoài không rõ ràng Độ cao của lớp vỏ khí này

có thể từ 500-1000 km từ mặt đất, tuy nhiên 99% khối lượng của khí quyển lại tập trung ở lớp khí chỉ cách mặt đất 30 km

Khí quyển được cấu tạo bởi nhiều chất khác nhau Trong khí quyển có khoảng 50 hợp chất hóa học, gồm cả những hạt bụi lơ lửng (bụi, phấn hoa, vi khuẩn, vi rút, ) Thành phần và hàm lượng các chất có mặt trong khí quyển tùy thuộc vào điều kiện địa lý, khí hậu và phân bố theo độ cao Càng lên cao, áp suất càng giảm, ở độ cao 100 km, áp suất khí quyển chỉ bằng một phần triệu (3×10-7 at)

áp suất ở bề mặt Trái đất (1 at) Nhiệt độ thay đổi trong khoảng từ -92° đến 1200°C Khối lượng tổng cộng của khí quyển ước khoảng 5×1015 tấn, tức vào khoảng một phần triệu khối lượng Trái đất

Căn cứ vào sự thay đổi nhiệt độ theo độ cao, người ta chia khí quyển thành

4 tầng: tầng đối lưu (troposhere), tầng bình lưu (stratosphere), tầng trung lưu (mesosphere), tầng nhiệt lưu (thermosphere)

2.1.1.1 Tầng đối lưu

Tầng đối lưu (troposphere) chiếm khoảng 70% khối lượng khí quyển, ở độ

cao từ 0 đến 11 km, càng lên cao nhiệt độ càng giảm Độ cao của tầng đối lưu có thể thay đổi khoảng vài km, tùy thuộc vào các yếu tố, nhiệt độ, bề mặt đất (khoảng 8 km ở hai cực, 18 km ở vùng xích đạo) Tầng này quyết định khí hậu của Trái đất, thành phần chủ yếu là N2, O2, CO2 và hơi nước Khí trong khí quyển tập trung chủ yếu ở tầng đối lưu, với khối lượng khoảng 4,12.1015 tấn so với tổng khối lượng khí trong khí quyển là 5,15.1015

tấn Mật độ không khí và nhiệt độ trong tầng đối lưu không đồng nhất Mật độ không khí giảm rất nhanh theo độ cao (hàm

số mũ) Nếu không bị ô nhiễm, thì nhìn chung thành phần của khí quyển ở tầng đối lưu khá đồng nhất, do có dòng đối lưu liên tục của các khối không khí trong tầng Tầng đối lưu là một vùng xoáy, do có sự mất cân bằng trong tốc độ sưởi ấm và làm lạnh giữa vùng xích đạo và ở hai đầu cực

Trang 22

16

Phần trên cùng của tầng đối lưu có nhiệt độ thấp nhất (vào khoảng -56°C)

được gọi là đỉnh tầng đối lưu hoặc lớp dừng (tropopause), đánh dấu sự kết thúc xu

hướng giảm nhiệt theo độ cao trong tầng đối lưu, và bắt đầu có sự tăng nhiệt độ Ở đỉnh tầng đối lưu do nhiệt độ rất thấp, hơi nước bị ngưng tụ và đông đặc nên không thể thoát khỏi tầng khí quyển thấp Nếu không có đỉnh tầng đối lưu, đóng vai trò như tấm chắn rất hữu hiệu, hơi nước có thể bay lên các tầng khí quyển bên trên và

sẽ bị phân tích dưới tác dụng của bức xạ tử ngoại có năng lượng lớn Hydro tạo thành do phản ứng phân tích sẽ thoát khỏi khí quyển (hầu hết hydro và heli vốn có trong khí quyển đã thoát khỏi khí quyển theo con đường này)

Hình 2.1 Các thành phần của khí quyển và sự thay đổi nhiệt độ theo độ cao

trong khí quyển

2.1.1.2 Tầng bình lưu

Tầng bình lưu (stratosphere) ở độ cao từ 11 đến 50 km, nhiệt độ tăng theo

độ cao, từ -56°C đến khoảng -2°C Thành phần chủ yếu của tầng này là O3, ngoài

ra còn có N2, O2 và một số gốc hóa học khác

Phía trên đỉnh tầng đối lưu và phần dưới của tầng bình lưu là tầng ozone, nhiệt độ trong tầng này gần như không đổi Ozone ở vùng này đóng một vai trò

Trang 23

2.1.1.3 Tầng trung lưu

Tầng trung lưu (tầng trung gian, mesosphere) ở độ cao từ 50 km đến 85 km,

nhiệt độ giảm theo độ cao, từ -2°C đến -92°C, do không có nhiều các phần tử hóa học hấp thụ tia tử ngoại, đặc biệt là ozone Thành phần hóa học chủ yếu trong tầng này là các gốc tự do O2+, NO+ được tạo thành do oxy và nitơ oxit hấp thụ bức xạ tử ngoại xa

2.1.1.4 Tầng nhiệt lưu

Tầng nhiệt lưu (tầng nhiệt, tầng ion, thermosphere), ở độ cao từ 85 đến trên

500 km Nhiệt độ trong tầng này tăng từ -92°C đến 1200°C Trong tầng này, do tác dụng của bức xạ Mặt trời, nhiều phản ứng hóa học xảy ra với oxy, ozone, nitơ, nitơ oxit, hơi nước, CO2 , chúng bị phân tách thành nguyên tử và sau đó ion hóa thành các ion O2

+

, O+, O, NO+, e-, CO3

2-, NO2 -

, NO3 -

, và nhiều hạt bị ion hóa phản xạ sóng điện từ sau khi hấp thụ bức xạ Mặt trời ở vùng tử ngoại xa (UV-C,  < 290 nm)

Ngoài các tầng trên, người ta còn có khái niệm tầng điện ly hay tầng ngoài (exosphere) và tầng ion (ionosphere)

Tầng ngoài bao quanh Trái đất ở độ cao lớn hơn 800 km, có chứa các ion oxy O+ (ở độ cao < 1500 km), heli He+ (< 1500 km) và hydro H+ (> 1500 km) Một phần hydro ở tầng này có thể tách ra và đi vào vũ trụ (khoảng vài nghìn tấn/năm) Mặt khác, các dạng plasma do Mặt trời phát ra và bụi vũ trụ (khoảng 2 g/km2) cũng

đi vào khí quyển Trái đất Nhiệt độ của tầng này tăng rất nhanh đến khoảng 1700°C

Tầng ion là khái niệm dùng để chỉ phần khí quyển ở độ cao từ 50 km trở lên, trong vùng này không khí có chứa nhiều ion Sự có mặt của các ion trong vùng này

đã được biết đến từ năm 1901, khi người ta phát hiện ra hiện tượng phản xạ của sóng radio của lớp khí quyển tầng cao

Giới hạn trên của khí quyển và đoạn chuyển tiếp vào vũ trụ rất khó xác định, cho tới nay, người ta mới ước đoán khoảng 500 - 1000 km

Trang 24

18

2.1.2 Thành phần khí quyển

Nitơ, oxy và cacbon dioxit là 3 yếu tố sinh thái quan trọng của khí quyển

Nitơ là chất khí khá trơ về mặt hóa học, nó hầu như không tham gia các phản

ứng hóa học ở điều kiện thường Ở nhiệt độ cao, hoặc trong tia lửa điện, nitơ tác dụng với oxy tạo thành NO, tác dụng với hydro tạo thành NH3 Một số vi sinh vật trong tự nhiên có thể vượt qua được hàng rào năng lượng cao để phá vỡ liên kết bền vững trong phân tử nitơ, tạo thành các hợp chất của nitơ, cung cấp các chất dinh dưỡng cần thiết cho như cầu phát triển của thực vật trong tự nhiên

Oxy là chất khí quan trọng trong khí quyển đối với động vật trên cạn cũng

như với động vật dưới nước Oxy là chất khí có hoạt tính hóa học cao, vì vậy, trong khí quyển, oxy tham gia vào nhiều phản ứng, tạo thành nhiều sản phẩm khác nhau Nồng độ oxy trong khí quyển nguyên thủy rất thấp, sau đó tăng dần qua các kỷ nguyên địa chất, chủ yếu do quá trình quang hợp Do sự điều chỉnh tự nhiên mà nồng độ oxy trong khí quyển hiện nay hầu như luôn được giữ ổn định ở khoảng 21% Các chuyển hóa của oxy trong khí quyển sẽ được trình bày chi tiết hơn trong mục 2.3

Mặc dù có nồng độ rất bé (0,0314% theo thể tích), nhưng cacbon dioxit là

một thành phần quan trọng trong khí quyển Cacbon dioxit đóng vai trò là nguồn cung cấp nguyên liệu cacbon để tổng hợp các hợp chất hữu cơ, thành phần cơ thể sinh vật, thông qua quá trình quang hợp Ngoài ra, CO2 còn hấp thụ bức xạ sóng dài chuyển chúng thành nhiệt sưởi ấm bề mặt Trái đất Nếu không có quá trình này (“hiệu ứng nhà kính”, xem mục 2.5.2), nhiệt độ trung bình bề mặt Trái đất sẽ chỉ còn khoảng -18°C

Thành phần khí quyển sạch khô chưa bị ô nhiễm gồm những chất cơ bản như trong bảng sau:

Trang 25

C chứa 7,3 gH2O/m3 Hàm lượng nước của phần khí quyển phía dưới tùy theo vị trí địa lý mà dao động từ 10,5 – 15g/kg Những thay đổi có tính địa phương và thời gian của thành phần khí quyển là kết quả của các quá trình tự nhiên (núi lửa, thiên tai) và nhân tạo (sản xuất năng lượng, công nghiệp) Do việc sản xuất năng lượng nhân tạo mà hàm lượng CO2

của khí quyển trong vòng 100 năm nay đã tăng từ 0,029% v/v lên 0,035% v/v, điều này cũng tương tự như đối với CO, các hợp chất N và S

Những biến đổi hóa học hoặc quang hóa, các quá trình vận chuyển và phân tán hay tích tụ có ý nghĩa đáng kể đối với việc tách các chất hóa học ra khỏi một vùng khí quyển Quá trình tích tụ có thể xảy ra theo 3 cách:

- Lắng (đối với hạt có đường kính d > 10 um)

- Tích tụ khô (hấp phụ hoặc hấp thụ khí hoặc hơi bởi các pha rắn hoặc lỏng trên bề mặt Trái đất như thực vật, đất, nước, )

- Tích tụ ướt (mưa rơi, màng chứa khí và hơi, sau đó là kết tủa) hoặc rửa (rửa có lẫn khí và do mưa rơi xuống rồi kết tủa)

Ngoài ra có một thành phần quan trọng khác trong khí quyển, đó là các cấu tử không phải dạng khí mà là hạt lơ lửng và bụi Đường kính của chúng khoảng 10-6 đến 10-1 mm và dao động trong phạm vi rộng từ kích thước phân tử tới các hạt kích thước lớn (lắng nhanh) Các hạt này sinh ra trong quá trình tự nhiên và nhân tạo Ước tính khối lượng bụi sinh ra trung bình hàng năm trong khí quyển Trái đất được đưa ra ở bảng 2.2 với các phần tử hạt có kích thước d > 10um Những chất nhiễm bẩn không phải dạng khí này được thu hồi do lắng hoặc ngưng tụ ở bề mặt Trái đất

Trang 26

Nguồn thiên nhiên

Nguồn nhân tạo

Nguồn trực tiếp (khói và bụi, )

3

250

(khối lượng riêng không khí 1g/cm 3 ở 0 o C và 0,1 Mpa)

Những hạt có d = 0,1 – 1um có nồng độ cực đại trong lớp khí ở độ cao 18km

so với bề mặt Trái đất Chúng là một phần của những chất từ thủa sơ khai, sinh ra

do hoạt động của núi lửa và chứa các hạt amonisunfat được tạo thành do oxy hóa

SO2 trong khí quyển và sau đó được trung hòa bởi NH3 Thời gian lưu trung bình của các hạt này ở tầng trung gian là 5 – 10 năm, ở tầng bình lưu là 0,5 – 5 năm, lớn hơn thời gian lưu ở tầng đối lưu 0,01 – 0,1 năm Các hạt có đường kính 0,02 –

Trang 27

Sự tạo thành ozone gắn liền với sự có mặt của các tia tử ngoại cũng như của một chất có mang năng lượng tham gia phản ứng M nào đó có khả năng nhận năng lượng, nên vùng tạo thành chính của ozone là tầng bình lưu phía trên (< 35km) của vùng nhiệt đới

Trang 28

22

Đối với vùng xích đạo thì nồng độ cực đại của ozone là ở lớp có chiều cao vào khoảng 25km so với mặt đất Ở nơi xa xích đạo, tầng ozone có nồng độ cực đại tích tụ ở lớp có chiều cao thấp hơn (15 – 20km) vì dòng không khí chuyển động vận chuyển ozone trong phản ứng quang học ở vùng cực ít hơn ở vùng xích đạo

Trong quá trình phát triển sự sống trên Trái đất, khả năng hấp thụ của N2, O2

và đặc biệt là ozone ở vùng phổ có bước sóng  < 300 nm có ý nghĩa quyết định Mặt khác, nhờ tính hấp thụ của N2 và O2 với các tia ( < 180 nm) trong tầng nhiệt

mà những tia tử ngoại nguy hiểm giảm tác hại lên khí hậu của Trái đất

2.2 Phản ứng quang hoá trong khí quyển

2.2.1 Khái niệm về quang hoá sinh thái

Quá trình quang hóa là hàng loạt những phản ứng hóa học xảy ra trong đó năng lượng cần thiết cho phản ứng được chuyển đến nhờ các sóng điện từ (vùng tia

tử ngoại và vùng khả kiến) Các phân tử và nguyên tử hấp thụ các photon nên chuyển sang trạng thái kích thích có hoạt tính phản ứng cao hơn trạng thái cơ bản ban đầu

Quang hóa sinh thái là một ngành khoa học nghiên cứu quá trình hóa học với sự tham gia của các chất hóa học trong môi trường tự nhiên và được thực hiện trực tiếp hoặc gián tiếp nhờ năng lượng Mặt trời

2.2.2 Đặc điểm của phản ứng quang hoá

Phản ứng quang hóa có một số nguyên tắc cơ bản sau:

- Phản ứng quang hóa chỉ xảy ra với các phần tử có khả năng hấp thụ các photon mà nó gặp

- Mỗi photon được hấp thụ có thể kích hoạt chỉ với một phần tử duy nhất ở quá trình quang hóa đầu tiên

- Các phân tử hấp thụ photon có khả năng hình thành phản ứng nhiệt, phản ứng huỳnh quang hoặc phân hủy liên kết cũ tạo thành liên kết mới

Các phản ứng quang hóa đóng một vai trò quan trọng trong thành phần khí quyển cũng như trong quá trình ô nhiễm môi trường khí quyển Những phản ứng này phản ánh tác động của sóng điện tử lên vật chất

Một phản ứng quang hóa được chia làm hai giai đoạn, giai đoạn một là giai đoạn khơi mào, chất tham gia phản ứng hấp thụ bức xạ điện từ (một photon) thích hợp, chuyển lên trạng thái kích hoạt, là trạng thái có khả năng tham gia phản ứng mạnh mẽ:

A + hν → A*

Trang 29

23

Trong đó: A: có thể là phân tử, nguyên tử hay ion

A*: chỉ trạng thái kích hoạt của A, là một hình thái hóa học mới so với A

h: hằng số Planck ν: tần số sóng ánh sáng

hν biểu thị photon của ánh sáng Giai đoạn hai là khi A*

tham gia vào các phản ứng tiếp theo, có thể kể đến một số loại phản ứng như sau:

- Phản ứng tỏa nhiệt: Các phân tử ở trạng thái kích hoạt trả lại năng lượng

dư dưới dạng năng lượng nhiệt:

A* → A + E E: Năng lượng được giải phóng

Phân tử bị kích thích mất năng lượng dư của mình cho nguyên tử hay phân

tử trung gian Nguyên tử này có khả năng chuyển đổi năng lượng lớn, ngay sau đó lại giải phóng năng lượng dưới dạng nhiệt để trở về trạng thái ban đầu:

A* + M → A + M*

M* → M + E

- Phản ứng phát xạ: năng lượng dư của phân tử bị mất dưới dạng các sóng

điện từ Khi bước sóng của các tia điện từ này nằm trong dải nhìn thấy của quang phổ thì các phản ứng này được gọi là phản ứng phát quang:

A* → A + hν

- Phản ứng trao đổi năng lượng liên phân tử: Năng lượng của các phân tử bị

kích thích được chuyển cho phân tử khác, làm cho phân tử mới trở nên ở trạng thái

bị kích hoạt:

A* + M → A + M*

- Phản ứng trao đổi năng lượng nội phân tử: năng lượng được trao đổi ngay

trong phân tử làm biến đổi các phân tử từ trạng thái kích hoạt này sang trạng thái kích hoạt khác:

A* → A*‘

- Ion hóa: Nếu năng lượng do photon cung cấp cho phân tử đủ lớn thì các

điện tử không chỉ bị đẩy ra quỹ đạo ngoài mà còn có khả năng bị đẩy ra ngoài phạm vi ảnh hưởng của liên kết phân tử, trở thành các điện tử tự do và biến các phân tử ở trạng thái bị kích hoạt trở thành các ion:

Trang 30

24

A* → A+ + e-

- Phản ứng hóa học: Các phân tử bị kích hoạt trở thành các phần tử có hoạt

tính cao, rất dễ tham gia phản ứng hóa học, tạo thành các hợp chất mới trong khí quyển Các phản ứng quang hóa hóa học là các phản ứng quan trọng nhất trong khí quyển và thường có các dạng chủ yếu sau:

+ Liên kết quang hóa: Các phân tử ở trạng thái kích hoạt liên kết với các phân tử khác mà nó gặp, tạo thành các hợp chất mới mà không cần đến sự có mặt của xúc tác hay điều kiện về nhiệt độ, áp suất

NO2* → NO + O + Đồng phân tự phát: Năng lượng dư trong các phân tử ở trạng thái kích hoạt làm thay đổi liên kết trong phân tử, tạo ra các đồng phân Ví dụ o – nitrobenzaldehyt chuyển thành o – nitrozobenzoic axit:

Phản ứng này được ứng dụng trong việc làm xạ quang kế để đo tia điện từ Năng lượng của tia nhìn thấy hoặc tia cực tím thường đạt tới giá trị trung bình của liên kết hóa học Vì vậy khi một phân tử hấp thụ photon ở vùng phổ điện tử này, các liên kết hóa học có thể bị phá vỡ Nếu biết được năng lượng của một liên kết hóa học nào đó, có thể dự báo được phản ứng quang hóa sẽ xuất hiện từ một bước sóng điện từ xác định nào đó

 = Trong đó:

: Độ dài bước sóng, nm

Trang 31

25

N: hằng số Avogadro, có giá trị bằng 6,01.1023 mol-1

h: Hằng số Planck, có giá trị bằng 6,63.10-34 J.s

c: vận tốc ánh sáng C = 3,00.108 m/s

E: Năng lượng liên kết J/mol

Ví dụ nếu biết liên kết O – H có năng lượng liên kết E = 464 kJ/mol thì năng lượng để phá vỡ liên kết này trong phân tử nước sẽ tương đương với năng lượng của tia điện từ có bước sóng là:

Với bước sóng này tia ánh sáng nằm ở vùng phổ của tia cực tím

Ở tầng trên của khí quyển, tia tử ngoại với bước sóng  < 290 nm sẽ liên quan đến các phản ứng quang hóa Trong tầng đối lưu, những tia tử ngoại có  <

400 nm có thể tham gia phản ứng quang hóa

Bảng 2.4 cho biết năng lượng liên kết trung bình của một số liên kết hóa học đơn giản với độ dài bước sóng tương ứng có thể tạo nên phản ứng quang hóa

Bảng 2.4 Năng lượng liên kết mol trung bình ED của các liên kết hóa học đơn

giản [3]

Liên kết ED, kJ/mol Độ dài sóng photon tương ứng,

nm H-H

H-C H-N H-O H-Cl H-Br H-I C-C N-N O-O Cl-Cl C-N C-O

2.2.3 Một số phản ứng quang hoá điển hình trong khí quyển

Các phản ứng quang hóa cơ bản xảy ra trong môi trường bao gồm:

- Phản ứng quang hóa sinh ra oxy nguyên tử:

Trang 32

Gốc hoạt hóa hydroperoxyl HOO* có thể quay lại tráng thái hydro peroxit bằng phản ứng oxy hóa NO:

NO + HOO* → NO2 + HO*

- Các phản ứng phân ly quang hóa trong khí quyển:

H2O2 + hν ( < 350 nm) → 2 HO* HNO2 + hν → HO* + NO

CH2O + hν ( < 335 nm) → H* + CHO HOOH + hν ( < 350 nm) → 2HO*

H3COOH + hν ( < 350 nm) → H3CO* + HO Một số phản ứng với các hợp chất hữu cơ Đó là các phản ứng quan trọng trong việc phát sinh các chất ô nhiễm thứ cấp trong khí quyển Dưới đây chỉ giới thiệu một số phản ứng cơ bản:

+ Phản ứng của các hydrocacbon:

RH + O + O2 → ROO* + HO*

RH + HO* + O2 → ROO* + H2O + Phản ứng của các aldehyt với HO* kích hoạt:

Trang 33

27

+ Phản ứng của các aldehyt với O2 dưới tác dụng của ánh sáng:

+ Phản ứng của hydrocacbon mạch vòng với O2 và HO* kích hoạt:

Thông thường các phản ứng quang hóa không chỉ xảy ra trong khí quyển mà còn xảy ra cả trong thủy quyển và trong hệ thống sinh học giữa các thành phần hoàn toàn khác nhau Mặt khác, phản ứng quang hóa của các thành phần này có thể xảy ra song song hoặc theo kiểu dây chuyển, tùy thuộc vào đặc tính của chúng trong môi trường

Ví dụ: Một số chuyển hóa cơ bản của oxy giữa khí quyển, địa quyển, thủy quyển và sinh quyển được trình bày trong hình 2.3

Trang 34

28

Hình 2.3 Trao đổi oxy giữa khí quyển, địa quyển, thủy quyển và sinh quyển

Trong tầng đối lưu, oxy đóng một vai trò quan trọng trong các quá trình xảy

ra trên bề mặt Trái đất Oxy tham gia vào các phản ứng tạo ra năng lượng, như quá trình đốt nhiên liệu hóa thạch:

CH4 (khí thiên nhiên) + 2O2 → CO2 + 2H2O

Vi sinh vật hiếu khí sử dụng oxy của khí quyển để phân hủy các chất hữu cơ Một số quá trình phong hóa oxy hóa xảy ra dưới tác dụng của oxy, ví dụ:

4FeO + O2 → 2Fe2O3Bên cạnh các quá trình tiêu thụ oxy, trong khí quyển oxy được tái tạo nhờ quá trình quang hợp:

CO2 + H2O + hν → {CH2O} + O2

Các nhà khoa học cho rằng, hầu như toàn bộ lượng oxy có trong khí quyển là sản phẩm của quá trình quang hợp Lượng cacbon được cố định trong các sản phẩm

Trang 35

29

hữu cơ do quá trình quang hợp trước đây tạo ra, hiện đang phân tán trong tự nhiên chủ yếu dưới dạng các hợp chất humic, chỉ một phần nhỏ lượng cacbon này chuyển thành các loại nhiên liệu hóa thạch Vì vậy, mặc dù ngày nay việc đốt nhiên liệu hóa thạch tiêu tốn một lượng lớn oxy, nhưng nguy cơ sử dụng hết oxy trong khí quyển là hoàn toàn không thể xảy ra

Do có mật độ không khí rất thấp và tác động của các bức xạ gây ion hóa, nên

ở các lớp không khí trên cao, oxy không chỉ tồn tại ở dạng O2 mà còn ở các dạng khác như: oxy nguyên tử O, oxy phân tử ở trạng thái kích thích O2* và ozone O3

Dưới tác dụng của tia tử ngoại ( < 290 nm) O2 bị phân tích thành oxy nguyên tử:

O2 + hν → O + O

Do phản ứng này nên ở độ cao 400 km (thuộc tầng nhiệt lưu) chỉ còn khoảng 10% oxy trong khí quyển tồn tại dưới dạng phân tử O2 Do có chứa nhiều oxy nguyên tử nên phân tử lượng trung bình của không khí ( kk) ở độ cao 80 km nhỏ hơn kk trên bề mặt Trái đất (28,97 g/mol); vì vậy, người ta chia khí quyển thành

hai vùng: homosphere là vùng khí quyển ở độ cao thấp có kk đồng nhất;

heterosphere là vùng khí quyển trên cao có  kk không đồng nhất

Bên cạnh nguyên tử oxy O, trong khí quyển c.n tồn tại dạng nguyên tử oxy ở trạng thái kích thích O* Dạng O* được tạo thành từ các phản ứng sau:

O3 + hn ( = 290-320 nm) → O2 + O*

O + O + O → O2 + O*

O* bức xạ ra ánh sáng có các bước sóng 636, 630 và 558 nm (thuộc vùng khả kiến) Bức xạ này là một trong những nguyên nhân gây ra hiện tượng phát

sáng của khí quyển (airglow - hiện tượng bức xạ liên tục sóng điện từ yếu của khí

quyển Bức xạ này tuy rất yếu ở vùng khả kiến nhưng lại có thành phần hồng ngoại khá mạnh)

Ion oxy O+ có thể đã được sinh ra trong khí quyển do ánh sáng tử ngoại tác dụng lên oxy nguyên tử:

O + hν → O+ + e ion O+ có mặt rất phổ biến ở một số vùng trong tầng ion Một số ion khác có chứa oxy là O2

Trang 36

30

Trong đó M là các phân tử khác như N2 hoặc O2 đóng vai trò tác nhân hấp thụ năng lượng do phản ứng tạo ozone giải phóng ra Ozone có mặt nhiều nhất trong khí quyển ở độ cao từ khoảng 15 đến 35 km, nồng độ ozone cực đại trong

vùng này có thể đạt đến 10 ppm Vùng có chứa nhiều ozone này được gọi là tầng

ozone, có khả năng hấp thụ mạnh bức xạ tử ngoại vùng 220 - 330 nm, bảo vệ sự

sống trên Trái đất

2.3 Phản ứng hoá học trong khí quyển

2.3.1 Đặc điểm của phản ứng hoá học

Các thành phần trong khí quyển không chỉ tham gia phản ứng quang hóa mà còn tham gia các phản ứng hóa học thuần túy xảy ra dưới những điều kiện dị thể (ở

bề mặt phân chia các pha của một hệ không đồng nhất hay đồng thể trong pha đồng nhất) Năng lượng cần thiết để tiến hành các phản ứng giữa những thành phần chính trong tầng đối lưu nhiều khi quá lớn Ngược lại, phản ứng của các chất tạo thành do kết quả trực tiếp hay gián tiếp của các quá trình quang hóa trong khí quyển (các gốc H, O, OH, H2O hoặc các chất phản ứng O2, O nguyên tử) với các chất trong khí quyển yêu cầu năng lượng hoạt hóa rất nhỏ

Xét một phản ứng của chất A:

aA + bX → R trong đó:

Trong đó a, b là bậc của phản ứng theo A và X

Nhiều kết quả nghiên cứu cho rằng, phản ứng hóa học ở điều kiện khí quyển được coi là phản ứng bậc 1 và ta có:

rA = -dNA/dt = k’ NA với k’ = k.NX

Thời gian trong đó nồng độ chất A từ giá trị ban đầu NA0 đạt tới giá trị cuối

NA được gọi là thời gian lưu tuổi thọ trung bình của chất A trong khí quyển:

t = 1/k lnNA

Thời gian lưu khi chất A tham gia đồng thời nhiều quá trình:

tA = Ai

Trang 37

31

2.3.2 Một số phản ứng hoá học điển hình trong khí quyển

Dưới đây là một loạt những phản ứng hóa học thường xảy ra trong khí quyển và giá trị trung bình hằng số tốc độ của chúng (bảng 2.5) Việc tính thời gian lưu ở tầng đối lưu của một số nguyên tố phụ thuộc nhiều vào dao động tuần hoàn của nồng độ các gốc và sự phụ thuộc vào nhiệt độ của hằng số cân bằng cũng như khả năng kết hợp của gốc với chất tham gia phản ứng ở nồng độ đã cho

Bảng 2.5 Hằng số tốc độ của một số phản ứng hóa học trong tầng đối lưu

2.4 Một số chất hoá học gây ô nhiễm khí quyển

Khí quyển Trái đất có thể có quá trình tự làm sạch để cân bằng giữa quá trình ô nhiễm tự nhiên và trạng thái ổn định ở một mức độ ô nhiễm bình thường

Nhưng các hoạt động của con người trước hết là kết quả của quá trình chuyển hóa và các quá trình nhiệt độ cao và trung bình (sản xuất năng lượng) dẫn việc tăng qúa trình trao đổi chất trong khí quyển; qua đó mà giới hạn của quá trình

Trang 38

32

tự làm sạch tự nhiên bị vượt quá giới hạn và kết quả là có sự thay đổi trong môi trường

Sự phát xạ (emission) là việc sinh ra chất ô nhiễm trong khí quyển, có thể do

tự nhiên và nhân tạo

Bức xạ (immision) là sự xâm nhập của chất ô nhiễm vào hệ sinh thái và gây tác động lên các yếu tố sinh học và phi sinh học Tác động bức xạ có thể xảy ra ở

xa nơi phát xạ do quá trình vận chuyển vật chất

Các chất ô nhiễm không khí có thể phân loại thành: hạt bụi với kích thước keo (bụi và sol khí) và khí với kích thước phân tử

2.4.1 Các chất hoá học ô nhiễm dạng bụi hay sol khí

Bụi là những chất ở dạng rắn hay lỏng có kích thước nhỏ, nhờ sự vận động của không khí trong khí quyển mà nó có thể phân tán trong một diện rộng Bụi được đặc trưng bằng thành phần hóa học, thành phần khoáng cũng như phân bố kích thước hạt Bụi do hoạt động nhân tạo sinh ra từ các quá trình sản xuất công nghiệp và sinh hoạt của con người

Bảng 2.6 Nguồn gốc và thành phần của bụi

Sản xuất năng lượng Bụi tro, bồ hóng SiO2, 2CaO.2SiO2, CaO, CaSO4,

CaCO3, cacbon, Ca(AlO2)2

Luyện kim

quặng Công nghiệp hóa chất Bụi công nghiệp Sunphat, clorit, photphat, Ca, oxit

kim loại, nhựa Công nghiệp xây

Công nghiệp thủy

bụi thức ăn gia súc Phân bón, thuốc trừ sâu

Hàng năm trên thế giới con người thải vào khí quyển khoảng 200 triệu tấn bụi Sol khí là hỗn hợp những hạt keo lơ lửng phân tán trong không khí với kích thước dp

Trang 39

- Hạt có 0,3 < dp < 3 um xuất hiện do quá trình kết hợp của những hạt nhỏ hơn Chúng chuyển động theo qui luật Brawn và đườc tách khỏi khí nhờ mưa rơi hoặc rửa nước Thời gian lưu của chúng thường nhỏ hơn thời gian hợp thành những hạt lớn hơn

- Hạt có d > 3 um xuất hiện trước hết, do sự phân tán cơ học (phân ly nhỏ) của những hạt lớn và được thu hồi lại qua quá trình lắng

Hình 2.4 Kích thước hạt bụi trong khí quyển [3]

Thành phần hóa học của sol khí và bụi phụ thuộc nhiều vào kích thước trung bình của hạt Các oxit SiO2, Al2O3 và CaO là những thành phần chính trong các hạt này Ở một số vùng sol khí có kích thước nhỏ (dp < 3um) chứa 25 – 50% (NH4)2SO4 được tạo thành do phản ứng trung hòa trong khí quyển như sau:

Trang 40

34

Tác hại ô nhiễm của bụi và sol khí là ở chỗ chúng có khả năng tạo hợp chất với một số kim loại hiếm Nồng độ của chúng được xác định bởi áp suất hơi bão hòa của các hợp chất tương ứng Một số kim loại như Cd, Pb, Zn, Cu, Sb thường tích tụ trong các hạt nhỏ (dp ≤ 0,25 um), những kim loại khác (Fe, Mn, Cr) tích tụ trong những hạt lớn hơn

Bụi và sol khí là phường tiện chính để chứa kim loại nặng trong khí quyển Bảng 2.7 đưa ra nguồn gốc và tác hại của các kim loại này

Bụi và sol khí gây ô nhiễm khí quyển, ảnh hưởng tới cân bằng sinh thái, là nguồn gốc gây nên sương mù, cản trở phản xạ cùa tia mặt trời Bụi và sol khí làm nhiễm độc các cơ quan sinh học và những phần phi sinh học khác nhau do ảnh hưởng hóa học và cơ học của chúng Ô nhiễm bụi dẫn tới thay đổi pH ở phần trên

bề mặt Trái đất (tro bụi có tính kiềm) và tích tụ các chất độc (kim loại nặng, hợp chất hydrocacbon thơm ngưng tụ ) trên bề mặt thực vật cây trồng Con người phản ứng với chất độc dạng bụi như ăn mòn da, mắt và cơ quan hô hấp, gây bệnh bụi phổi và nó còn liên kết với các nguồn khác (khí axit, hydrocacbon) tạo thành khói mù

Bảng 2.7 Nguồn gốc và ảnh hưởng của một số kim loại trong khí quyển [3]

cao

Rối loạn trao đổi chất, hại thận, hại men tiêu hóa

kinh

Ngày đăng: 04/02/2023, 19:51

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm