1. Trang chủ
  2. » Thể loại khác

Vai trò yếu tố tả, tả nội tâm, nghị luận văn tự Lập dàn ý

17 10 0
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Vai trò yếu tố tả, tả nội tâm, nghị luận trong văn tự sự
Trường học Trường Trung Học Cơ Sở Hòa Lạc
Chuyên ngành Văn học
Thể loại Bài luận
Năm xuất bản 2024
Thành phố Hòa Lạc
Định dạng
Số trang 17
Dung lượng 6,54 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Sống trong xã hội phong kiến đầy rẫy bất công, chứng kiến nhiều oan khuất của những người phụ nữ, cụ Nguyễn Du đã viết nên danh tác bằng tất cả lòng ngưỡng mộ và cảm thương sâu sắc cho n

Trang 1

THCS HÒA LẠC - TUẦN 10, TIẾT 51

Trang 2

I HỆ THỐNG KIẾN THỨC

1 Vai trò của yếu tố tả, tả nội tâm, nghị luận trong văn tự sự.

2 Lập dàn ý

- Mở bài: Giới thiệu tác giả, tác phẩm, đoạn trích, nhân vật

Thúy Kiều

- Thân bài: Kể lại diễn biến sự việc trong đoạn trích

(tự sự + miêu tả + miêu tả nội tâm + nghị luận)

+ 6 câu đầu: hình ảnh thiên nhiên, tâm trạng của Kiều

+ 8 câu tiếp theo: tâm trạng nhớ người thân: Kim Trọng, cha

mẹ.

+ 8 câu tiếp theo: hình ảnh thiên nhiên, tâm trạng của Kiều

- Kết bài:

+ Cảm nghĩ về giá trị nội dung, nghệ thuật.

+ Suy nghĩ về số phận người phụ nữ trong xã hội phong kiến, so sánh với hình ảnh người phụ nữ trong xã hội ngày nay.

Trang 3

*CHUYỂN GIAO NHIỆM VỤ

+ Tổ 1: Luyện nói MB, phần 1 của đoạn trích “Trước lầu tấm lòng”

+ Tổ 2: Luyện nói phần 2 của đoạn trích “Tưởng

người người ôm”

+ Tổ 3: Luyện nói phần 3 của đoạn trích “Buồn

trông ngồi”

+ Tổ 4: Luyện nói phần KB, giá trị nội dung, nghệ thuật của đoạn trích

Trang 4

Goethe - nhà đại tư tưởng người Đức-từng phát biểu

một câu nói rất sâu sắc: “ Chỉ những công cuộc nào vì cảnh

ngộ mà làm nên mới lâu bền được ” Truyện Kiều của đại thi

hào Nguyễn Du quả thật là một tác phẩm làm nên từ cảnh

ngộ Sống trong xã hội phong kiến đầy rẫy bất công, chứng kiến nhiều oan khuất của những người phụ nữ, cụ Nguyễn

Du đã viết nên danh tác bằng tất cả lòng ngưỡng mộ và cảm thương sâu sắc cho những bóng hồng tài sắc vẹn toàn mà bạc mệnh Truyện Kiều kể về cuộc đời đầy trắc trở, nỗi đau đớn đoạn trường của nàng Kiều tài sắc, từ đó lên án hiện thực

đau lòng của xã hội phong kiến đương thời Trong tác phẩm,

Từ một thiếu nữ tài sắc sống trong cảnh "êm đềm trước rủ

màn che", sau khi tự nguyện bán mình để cứu cha, Kiều rơi vào tay Mã Giám Sinh và Tú Bà mụ chủ lầu xanh Do chưa

ép được Kiều tiếp khách làng chơi, Tú Bà đưa Kiều ra ở lầu Ngưng Bích để xoa dịu và thực hiện âm mưu mới

Trang 5

Lầu Ngưng Bích thật thơ mộng, nhưng lại hoang vắng đến rợn người Ngồi trên lầu cao, Thúy Kiều nhìn phía trước chỉ thấy núi non trùng điệp, ngẩng lên phía trên là vầng trăng như sắp chạm đầu, nhìn xuống phía dưới là những đoạn cát vàng trải dài vô tận, lác đác như “bụi hồng” nhỏ bé Cả một không gian mênh mông, hoang vắng không một bóng người Thúy Kiều càng thấy cô đơn, trơ trọi Trong cái không gian rợn ngợp và thời gian dài dặc, quẩn quanh "mây sớm đèn

khuya" gợi vòng tuần hoàn khép kín của thời gian, tất cả như giam hãm con người, như khắc sâu thêm nỗi đơn côi khiến Thúy Kiều càng thấy "bẽ bàng" chán ngắt, buồn tủi Thúy Kiều đau buồn, xấu hổ, tủi thẹn với thiên nhiên, với lòng

mình, với những người thân yêu Thúy Kiều chẳng biết tâm

sự cùng ai Sớm và khuya, ngày và đêm Thúy Kiều thui thủi một mình nơi đất khách quê người, chỉ còn biết làm bạn với mây và đêm

Trang 6

Tổ 2: Luyện nói phần 2 của đoạn trích “Tưởng người người ôm”

Trang 9

Thúy Kiều nhớ tới Kim Trọng, nhớ tới quãng

thời gian hạnh phúc bên nhau, nhớ đến những lời thề nguyền dưới ánh trăng vằng vặc Thúy Kiều dường như đắm chìm trong tâm trạng nhớ nhung Thúy Kiều thương Kim Trọng đang mong chờ mình vô vọng,

không biết Thúy Kiều đã lỗi hẹn xưa.Nhưng thương chàng rồi lại thương mình Thương mình bơ vơ bên trời góc bể, càng nuối tiếc mối tình đầu, càng hiểu

rằng tấm son mà Thúy Kiều dành cho chàng Kim

chẳng bao giờ nguôi ngoai Không chỉ vậy mà tấm

son đã bị hoen ố của Thúy Kiều đến khi nào mới rửa cho được Thúy Kiều đau đớn xót xa.ân hận, tủi hổ.

Trang 10

Lão Lai Tử giả làm con trẻ

Trang 11

Rồi Thúy Kiều nhớ đến cha mẹ, thương cha mẹ ngày

ngày tựa cửa ngóng trông, thương cho cha me ngày càng già, day dứt không được ở cận kề chăm sóc Nỗi xót thương da

diết và day dứt trong Thúy Kiều khôn nguôi vì không thể quạt nồng, ấp lạnh, phụng dưỡng song thân khi già yếu Nơi quê nhà giờ chắc tất cả đã đổi thay Cha mẹ thì mỗi người thêm

một già yếu mà Thúy Kiều thì chẳng thể ở bên chăm sóc Giờ đây khoảng cách không gian giữa Thúy Kiều và cha mẹ xa

xôi diệu vợi Buồn biết bao khi phải dấn thân vào nơi vô định Buồn biết bao khi phải mãi mãi xa cách người yêu Buồn biết bao khi có cha, mẹ mà không được phụng dưỡng sớm hôm Một nỗi buồn mênh mông như đè nặng, bao quanh lấy Thúy Kiều Nhìn đâu Thúy Kiều cũng thấy buồn, cảnh vật dù có

đổi thay nhưng nỗi buồn của Thúy Kiều thì như cố định Thúy Kiều cảm nhận được những gì sẽ đến với mình như một định mệnh không sao thoát ra được

Trang 12

Thúy Kiều nhớ thương cha mẹ, quê hương mong ước

có ngày đoàn tụ và trông ra cửa bể lúc chiều hôm Không

gian mênh mông và thời gian buồn bã Giữa khung cảnh ấy chỉ có một con thuyền vô định và hiện hữu với cánh buồm thấp thoáng xa xa như một ảo ảnh Cảnh càng làm Thúy

Kiều buồn nhớ về cha mẹ, quê nhà xa cách, nỗi cô đơn và

khát khao sum họp Cánh hoa trôi man mác trên ngọn nước mới sa gợi trong lòng Thúy Kiều nỗi buồn về thân phận trôi nổi của Thúy Kiều không biết rồi sẽ bị trôi dạt, bị vùi dập ra sao Thúy Kiều đau đớn cho thân phận của mình và đưa mắt nhìn bãi cỏ trước lầu.Cả nội cỏ trải ra mênh mông một màu vàng úa gợi tới sự héo tàn, buồn bã Màu xanh nhàn nhạt trải dài từ mặt đất tới chân mây không phải màu xanh của sự

sống của hy vọng mà chỉ gợi nỗi chán ngán vô vọng vì cuộc sống vô vị, tẻ nhạt, cô quạnh này không biết bao giờ mới kết

Trang 13

thúc Cảnh mờ mịt cũng giống như tương lai mờ mịt, thân phận nội cỏ hoa héo của Thúy Kiều Và Thúy Kiều nghe con sóng nổi lên ầm ầm sau cơn gió m thanh của tiếng

sóng "ầm ầm" dữ dội va vào vách đá như đang ở dưới ngay dưới "ghế ngồi" của Thúy Kiều Thúy Kiều lo sợ, kinh hãi trước sóng gió, bão táp của cuộc đời này sắp đổ xuống đầu mình

Trang 14

Kiều ở lầu Ngưng Bích là một trong những đoạn miêu

tả nội tâm nhân vật thành công nhất của Truyện Kiều, đặc biệt là bằng bút pháp tả cảnh ngụ tình Đoạn thơ cho thấy cảnh ngộ cô đơn, buồn tủi và tấm lòng thủy chung, hiếu

thảo của Thúy Kiều Với đoạn thơ trên, Nguyễn Du đã đạt đến trình độ biện chứng tâm hồn Nhà thơ thấu hiểu con

người đến tận thẳm sâu tiềm thức, làm lộ rõ sự vận động

bên trong tâm hồn đớn đau, khổ nhục của Thúy Kiều trong những ngày đầu lưu lạc phải chịu nhiều khổ nhục, đắng cay Lời thơ xiết mạnh vào từng giác quan người đọc, khiến

người đọc càng thêm cảm thương cho số kiếp bèo dạt mây trôi của thiếu nữ tài sắc vẹn toàn mà bất hạnh, từ đó làm

toát lên tấm lòng cảm thương vô hạn của tác giả đối với

kiếp người nhỏ bé trong xã hội phong kiến vốn tồn tại nhiều bất công

Trang 15

- Vai trò của yếu tố miêu tả, tả nội tâm, nghị luận trong văn tự sự?

 Vai trò của yếu tố tả, tả nội tâm, nghị luận trong văn

tự sự:

+ Gợi hình

+ Thể hiện tâm trạng nhân vật

+ Bài văn tự sự có tính triết lí

CỦNG CỐ

Trang 16

- Nêu dàn ý khái quát của bài văn tự sự có kết hợp miêu

tả, tả nội tâm, nghị luận?

CỦNG CỐ

*Dàn ý

- Mở bài: Giới thiệu tác giả, tác phẩm, đoạn trích, nhân vật

- Thân bài: Kể lại diễn biến sự việc trong đoạn trích

(tự sự + miêu tả + miêu tả nội tâm + nghị luận)

- Kết bài: Cảm nghĩ về giá trị nội dung, nghệ thuật.

Trang 17

HƯỚNG DẪN TỰ HỌC, CHUẨN BỊ BÀI

* Tự học: Hiểu được vai trò của các yếu tố tả, tả nội tâm,

nghị luận trong văn tự sự

* Chuẩn bị bài: Tổng kết về từ vựng (I, II, V, VI,

VII)/122

+ Tổ 1: I Từ đơn, từ phức

+ Tổ 2: II Thành ngữ

+ Tổ 3: V Từ đồng âm

+ Tổ 4: VI Từ đồng nghĩa và VII Từ trái nghĩa

Ngày đăng: 04/02/2023, 17:07

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w