Vì vậy, đặc tính thị trường nội địa là đặc biệt quan trọng trong việc hình thành các đặc tính sản phẩm và tạo ra những áp lực để phát triển sản phẩm mới hoặc cải tiến chất lượng sản phẩm
Trang 1TRƯỜNG CAO ĐẲNG CÔNG NGHIỆP NAM ĐỊNH
GIÁO TRÌNH
NGHIỆP VỤ KINH DOANH THƯƠNG MẠI 1
NGÀNH/ NGHỀ: KINH DOANH THƯƠNG MẠI &DỊCH VỤ
TRÌNH ĐỘ: TRUNG CẤP
Ban hành kèm theo Quyết định số: 609 /QĐ- CĐCNNĐ ngày 01 tháng 8 năm 2018
của Hiệu trưởng trường Cao đẳng Công nghiệp Nam Định
Nam Định, năm 2018
Trang 2BỘ CÔNG THƯƠNG
TRƯỜNG CAO ĐẲNG CÔNG NGHIỆP NAM ĐỊNH
GIÁO TRÌNH
NGHIỆP VỤ KINH DOANH THƯƠNG MẠI 1
NGÀNH/ NGHỀ: KINH DOANH THƯƠNG MẠI &DỊCH VỤ
(Lưu hành nội bộ)
CHỦ BIÊN: PHẠM BÍCH THỦY
Nam Định, năm 2018
Trang 3LỜI GIỚI THIỆU
Nước ta đang bước vào thời kỳ công nghiệp hóa, hiện đại hóa nhằm đưa Việt Nam trở thành nước công nghiệp văn minh, hiện đại
Trong sự nghiệp cách mạng to lớn đó, công tác đào tạo nhân lực luôn giữ vai trò quan trọng Báo cáo Chính trị của Ban Chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản Việt Nam tại Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ IX đã chỉ rõ: “Phát triển giáo dục và đào tạo là một trong những động lực quan trọng thúc đẩy sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa, là điều kiện để phát triển nguồn lực con người – yếu tố cơ bản để phát triển xã hội, tăng trưởng kinh tế nhanh
và bền vững”
Quán triệt chủ trương, Nghị quyết của Đảng và Nhà nước và nhận thức đúng đắn về tầm quan trọng của chương trình, giáo trình đối với việc nâng cao chất lượng đào tạo, trường Cao đẳng Công nghiệp Nam Định đã tổ chức biên soạn chương trình, giáo trình trong các trường Trung học chuyên nghiệp (THCN) Nam Định Trên cơ sở chương trình khung của Bộ Giáo dục và Đào tạo ban hành và những kinh nghiệm rút ra từ thực tế đào tạo, Sở Giáo dục và Đào tạo đã chỉ đạo các trường THCN tổ chức biên soạn chương trình, giáo trình một cách khoa học, hệ thống và cập nhật những kiến thức thực tiễn phù hợp với đối tượng học sinh THCN Nam Định
Bộ giáo trình này là tài liệu giảng dạy và học tập trong trường Cao đẳng Công nghiệp Nam Định cho học sinh THCN ngành Kinh doanh thương mại và dịch vụ, đồng thời là tài liệu tham khảo hữu ích cho các trường có đào tạo các ngành kỹ thuật – nghiệp vụ và đông đảo bạn đọc quan tâm đến vấn đề hướng nghiệp
Dù đã hết sức cố gắng nhưng chắc chắn không tránh khỏi thiếu sót, bất cập Chúng tôi mong nhận được những ý kiến đóng góp của bạn đọc để từng bước hoàn thiện bộ giáo trình trong các lần tái bản sau
Trang 4MỤC LỤC
LỜI GIỚI THIỆU 1
MỤC LỤC 2
Bài 1 4
TỔNG QUAN VỀ KINH TẾ NGOẠI THƯƠNG 4
1.1 Các khái niệm cơ bản về ngoại thương 4
1.1.1 Khái niệm 4
1.1.2 Điều kiện ra đời và tồn tại ngoại thương 4
1.2 Đối tượng và nội dung nghiên cứu 4
1.2.1 Đối tượng nghiên cứu 4
1.2.2 Nội dung nghiên cứu 5
1.3 Phương pháp nghiên cứu 5
CÂU HỎI ÔN TẬP 6
Bài 2 7
NHỮNG VẤN ĐỀ CƠ BẢN 7
VỀ PHÁT TRIỂN NGOẠI THƯƠNG 7
2.1 Những lợi ích của ngoại thương 7
2.1.1 Nguồn gốc của lợi ích do ngoại thương đem lại 7
2.1.2 Quan điểm của các học thuyết thương mại quốc tế về lợi ích của ngoại thương 7
2.1.3 Nhận xét về giả thiết và sự vận dụng của lý thuyết cổ điển về thương mại quốc tế 13
2.1.4 Ngoại thương trong nền kinh tế mở quy mô nhỏ 14
2.1.5 Lý thuyết lợi thế cạnh tranh quốc gia 14
2.2 Chức năng, nhiệm vụ của ngoại thương 16
2.2.1 Chức năng 16
2.2.2 Nhiệm vụ của ngoại thương 17
2.3 Mối quan hệ giữa ngoại thương và các lĩnh vực quan trọng của nền kinh tế 20
2.3.1 Ngoại thương với sản xuất 20
2.3.2 Ngoại thương với tiêu dùng 21
2.3.3 Ngoại thương với việc thu hút vốn đầu tư nước ngoài và đầu tư ra nước ngoài 22
CÂU HỎI ÔN TẬP 23
Bài 3 24
CƠ CHẾ QUẢN LÝ XUẤT NHẬP KHẨU 24
3.1 Một số vấn đề cơ bản về cơ chế quản lý xuất nhập khẩu 24
3.1.1 Khái niệm 24
3.1.2 Sự cần thiết khách quan của quản lý Nhà nước đối với hoạt động xuất nhập khẩu 25
3.2 Mục tiêu và nội dung của chính sách thương mại 25
3.2.1 Mục tiêu của chính sách thương mại 25
3.2.2 Nội dung của các chính sách thương mại Việt Nam 25
CÂU HỎI ÔN TẬP 27
Bài 4 28
CHÍNH SÁCH KHUYẾN KHÍCH XUẤT KHẨU 28
4.1 Vai trò của xuất khẩu đối với quá trình phát triển kinh tế 28
4.1.1 Xuất khẩu tạo nguồn vốn chủ yếu cho nhập khẩu phục vụ CNH đất nước 28
Trang 54.1.2 Xuất khẩu đóng góp vào việc chuyển dịch cơ cấu kinh tế, thúc đẩy sản xuất
phát triển 28
4.1.3 Xuất khẩu có tác động tích cực tới việc giải quyết công ăn việc làm và cải thiện đời sống nhân dân 30
4.1.4 Xuất khẩu là cơ sở để mở rộng và thúc đẩy các quan hệ kinh tế đối ngoại, nâng cao vị trí và vai trò của nước ta trên trường quốc tế 30
4.2 Mục tiêu, nhiệm vụ, chính sách và phương hướng xuất khẩu 30
4.2.1 Mục tiêu 35
4.2.2 Nhiệm vụ 35
4.2.3 Phương hướng phát triển nguồn hàng xuất khẩu trong thời gian tới 35
4.3 Những biện pháp, chính sách đẩy mạnh và hỗ trợ xuất khẩu 36
4.3.1 Nhóm biện pháp liên quan đến tổ chức nguồn hàng, cải biến cơ cấu xuất khẩu 36
4.3.2 Nhóm biện pháp tài chính tín dụng 45
4.3.3 Nhóm biện pháp thể chế và tổ chức 52
4.4 Quản lý xuất khẩu 52
4.4.1 Lý do phải quản lý xuất khẩu 52
4.4.2 Các công cụ chính quản lý xuất khẩu 53
CÂU HỎI ÔN TẬP 57
Bài 5 58
CHÍNH SÁCH VÀ CÁC CÔNG CỤ 58
QUẢN LÝ ĐIỀU HÀNH NHẬP KHẨU 58
5.1 Vai trò và nhiệm vụ của nhập khẩu 58
5.1.1 Vai trò 58
5.1.2 Nhiệm vụ của nhập khẩu 58
5.2 Những nguyên tắc và chính sách nhập khẩu 59
5.2.1 Những nguyên tắc 59
5.2.2 Chính sách nhập khẩu 60
5.3 Công cụ quản lý nhập khẩu và điều hành nhập khẩu 61
5.3.1 Thuế nhập khẩu 61
5.3.2 Công cụ phi thuế quan (Non tariff Mesure) 70
CÂU HỎI ÔN TẬP 77
Bài 6 78
HIỆU QUẢ KINH TẾ THƯƠNG MẠI 78
6.1 Khái niệm và phân loại hiệu quả kinh tế thương mại 78
6.1.1 Khái niệm 78
6.1.2 Phân loại hiệu quả kinh tế thương mại 78
b Hiệu quả của chi phí bộ phận và chi phí tổng hợp 79
6.2 Hệ thống chỉ tiêu đánh giá hiệu quả kinh tế thương mại và phương pháp xác định 80
6.2.1 Tiêu chuẩn hiệu quả kinh tế thương mại 80
6.2.2 Hệ thống chỉ tiêu hiệu quả kinh tế thương mại 80
CPKD 82
Do liên kết thì doanh thu xuất khẩu bằng chi phí nhập khẩu nên 83
6.3 Biện pháp nâng cao hiệu quả kinh tế thương mại 83
CÂU HỎI ÔN TẬP 85
Trang 6Bài 1
TỔNG QUAN VỀ KINH TẾ NGOẠI THƯƠNG
Mục tiêu
- Trình bày được khái niệm và nội dung của ngoại thương
- Xác định được điều kiện tồn tại của ngoại thương
1.1 Các khái niệm cơ bản về ngoại thương
1.1.1 Khái niệm
Có nhiều khái niệm khác nhau về ngoại thương nhưng xét về đặc trưng thì ngoại thương là việc mua bán hàng hoá và dịch vụ qua biên giới quốc gia Theo cách định nghĩa này ngoại thương được xem như chiếc cầu nối giữa cung và cầu hàng hoá dịch vụ của thị trường trong và ngoài nước về số lượng, chất lượng, thời gian sản xuất Trong nhiều trường hợp trao đổi hàng hoá dịch vụ được đi kèm với trao đổi các yếu tố sản xuất (lao động, vốn), nhất là ngoại thương trong điều kiện hội nhập hiện nay
Các nhà kinh tế học định nghĩa ngoại thương như là một công nghệ khác để sản xuất hàng hoá dịch vụ (thậm chí cả yếu tố sản xuất) Như vậy ngoại thương được hiểu như là một quá trình sản xuất gián tiếp
Hoạt động ngoại thương bao gồm hoạt động xuất khẩu và nhập khẩu Mục tiêu chính của ngoại thương là nhập khẩu chứ không phải là xuất khẩu Xuất khẩu để nhập khẩu, nhập khẩu là nguồn lợi chính từ ngoại thương
Các hình thức của ngoại thương:
- Xuất khẩu – Nhập khẩu hàng hoá hữu hình, dịch vụ
- Xuất khẩu – Nhập khẩu hàng hoá vô hình (bằng phát minh sáng chế, công nghệ sản xuất , …)
- Gia công thuê cho nước ngoài và thuê nước ngoài gia công
- Tái xuất khẩu và chuyển khẩu
- Xuất khẩu tại chỗ (hàng hoá chưa vượt ra khỏi biên giới của một quốc gia như việc mua bán hàng hoá, dịch vụ với khu chế xuất)
1.1.2 Điều kiện ra đời và tồn tại ngoại thương
Ngoại thương ra đời và phát triển là do:
Sự ra đời tồn tại và phát triển của kinh tế hàng hoá – tiền tệ và sự xuất hiện của
tư bản thương nghiệp
Sự ra đời của Nhà nước và sự phát triển của phân công lao động quốc tế giữa các nước
1.2 Đối tượng và nội dung nghiên cứu
1.2.1 Đối tượng nghiên cứu
Là môn kinh tế ngành được hiểu như là một tổ hợp cơ cấu tổ chức thực hiện chức năng mở rộng, giao lưu hàng hoá dịch vụ với nước ngoài Đối tượng nghiên cứu của môn học bao gồm:
Các quan hệ kinh tế trong lĩnh vực buôn bán của một nước với các nước ngoài
Cụ thể: nghiên cứu sự hình thành, cơ chế vận động, quy luật và xu hướng vận động của
Trang 7hoạt động ngoại thương nói chung và chủ yếu là của Việt Nam Từ đó xây dựng cơ sở khoa học cho việc tổ chức quản lý và kích thích sự phát triển ngoại thương của nước ta
Quan hệ mua bán luôn vận động theo những quy luật và có tính quy luật nên môn học sẽ nghiên cứu các quy luật đó
Nghiên cứu kinh tế nói chung và ngoại thương nói riêng là nghiên cứu lý luận các vấn đặt ra trong thực tiễn và trở lại phục vụ vụ cho việc giải quyết các vấn đề của thực tiễn
1.2.2 Nội dung nghiên cứu
Kinh tế ngoại thương là môn học kinh tế ngành nghiên cứu khảo sát đường lối, chính sách, đúc kết kinh nghiệm trong hoạt động thực tiễn ngoại thương Việt nam, đặc biệt những kinh nghiệm phong phú trong hoạt động ngoại thương trong những năm qua
Ở đây chúng ta cần phân biệt quy luật kinh tế với chính sách kinh tế
- Quy luật kinh tế mang tính chất khách quan tồn tại và phát huy tác dụng không phụ thuộc vào ý muốn chủ quan của con người Khác với quy luật tự nhiên là nó phát huy tác dụng thông qua hoạt động của con người liên quan trực tiếp đến lợi ích kinh tế trong từng phương thức sản xuất
- Chính sách kinh tế được xây dựng trên cơ sở nhận thức các quy luật kinh tế là sản phẩm chủ quan Nếu chính sách kinh tế giải quyết đúng đắn các lợi ích kinh tế thì chúng phát huy tác dụng tích cực đến toàn bộ quá trình tái sản xuất, mở rộng giao lưu kinh tế với nước ngoài ngược lại sẽ kìm hãm sự phát triển
Các quy luật kinh tế và lợi ích kinh tế được biểu hiện trong từng chính sách kinh
tế, mức độ như thế nào phụ thuộc vào năng lực nhận thức và vận dụng quy luật kinh tế trong toàn bộ quá trình từ khi hình thành chính sách đến khi tổ chức thực hiện chính sách trong đời sống hàng ngày
1.3 Phương pháp nghiên cứu
Kinh tế ngoại thương là khoa học kinh tế, là khoa học về sự lựa chọn các cách thức hoạt động phù hợp với quy luật kinh tế, xu thế phát triển của thời đại nhằm đạt hiệu quả kinh tế – xã hội tối ưu Khi nghiên cứu và học tập môn học này cần có phương pháp thích hợp:
- Nhận thức khoa học: từ quan sát hiện tượng cụ thể biểu hiện là các quá trình
kinh tế rồi dùng phương pháp trừu tượng để tìm ra bản chất và tính quy luật của sự phát triển (Hay nói cách khác là từ quan sát hiện tượng cụ thể đến tư duy trừu tượng khát quát tìm ra bản chất, quy luật của hiện tượng)
- Nghiên cứu ngoại thương cần có quan điểm hệ thống và toàn diện
- Quá trình hình thành và phát triển các quan hệ buôn bán luôn gắn liền với hoàn
cảnh lịch sử nhất dịnh do đó phải có quan điểm lịch sử
- Các kết luận khoa học đều được rút ra từ nghiên cứu thực tế và ngược lại được
kiểm nghiệm thường xuyên để hoàn thiện Do đó khi nghiên cứu phải gắn lí luận với thực tế Lí luận phải xuất phát từ thực tế và trở lại chỉ đạo thực tế Nếu lí luận tách rời
thực tế sẽ trở thành lí luận suông Nếu không có lí luận chỉ đường thì hoạt động thực tế
sa vào mù quáng
Trang 8CÂU HỎI ÔN TẬP Câu 1.1: Trình bày điều kiện ra đời của hoạt động ngoại thương
Câu 1.2: Trình bày đối tượng và nội dung nghiên cứu của kinh tế ngoại thương Câu 1.3: Trình bày nội dung phương pháp nghiên cứu kinh tế ngoại thương
Trang 9Bài 2
NHỮNG VẤN ĐỀ CƠ BẢN
VỀ PHÁT TRIỂN NGOẠI THƯƠNG
Mục tiêu
- Trình bày được nội dung của các học thuyết về ngoại thương
- Xác định được nguồn gốc của lợi ích ngoại thương, vai trò nhiệm vụ của ngoại thương
2.1 Những lợi ích của ngoại thương
2.1.1 Nguồn gốc của lợi ích do ngoại thương đem lại
Thứ nhất, do có sự khác nhau giữa các vùng trên thế giới về khí hậu, điều kiện thiên nhiên và các nguồn lực khác dẫn đến một quốc gia có lợi thế trong việc sản xuất một số mặt hàng và bất lợi trong việc sản xuất một số mặt hàng khác
Người ta cho rằng nguồn lực không thể di chuyển giữa các quốc gia như là:
- Các nguồn lực tự nhiên: Đất đai, khí hậu, …
- Con người: Cả về số lượng và chất lượng tuy chỉ mang tính tương đối
- Cơ sở hạ tầng: Giao thông, bưu chính, điện, …
Thứ hai, do sự giảm chi phí nhờ chuyên môn hoá sản xuất
Trước đây người ta cho rằng nguồn gốc thứ nhất có ý nghĩa quan trong hơn tuy nhiên người ta lại chú trong nguồn gốc thứ hai hơn
2.1.2 Quan điểm của các học thuyết thương mại quốc tế về lợi ích của ngoại thương
a Lý thuyết trao đổi thuần tuý
* Giả thiết và điều kiện thương mại
Lý thuyết trao đổi thuần túy chủ yếu tập trung nghiên cứu thuần túy quá trình trao đổi mà không đề cập đến vấn đề sản xuất Mô hình được xây dựng trên cơ sở các giả thiết
- Các cá nhân không phải tiến hành sản xuất mà vẫn có sản phẩm trao đổi hoặc trao đổi được thiên phú cho một khối lượng hàng hóa
- Có hai cá nhân tham gia vào quan hệ trao đổi
- Mỗi chủ thể tham gia vào trao đổi có một loại hàng hóa riêng Các chủ thể gặp nhau và có ý định trao đổi sản phẩm với nhau câu hỏi đầu tiên đặt ra là tỷ lệ trao đổi là bao nhiêu (hay còn gọi là điều kiện thương mại “Term of Trade”)
Trên thực tế điều kiện thương mại (T0T) được biểu diễn bằng một tỷ số
B
A T
P
P T
Câu hỏi đặt ra là làm thế nào để xác định được điều kiện thương mại?
Trang 10* Các nhân tố ảnh hưởng đến điều kiện thương mại
- Sở thích: Trong trao đổi mỗi bên phải mong muốn có sản phẩm của người khác
và sẵn sàng từ bỏ một số sản phẩm của họ để có được hàng hóa khác Trong trường hợp này mỗi chủ thể trao đổi đều muốn tiêu dùng sản phẩm một cách đa dạng hơn Vì vậy có một động lực thúc đẩy họ trao đổi sản phẩm Tuy nhiên tỷ lệ trao đổi là bao nhiêu còn phụ thuộc vào nhiều yếu tố khác
- Rủi ro: Trong tình huống trên mỗi chủ thể trao đổi đều không có khái niệm rõ ràng về sở thích Giả sử cả hai chủ thể tham gia trao đổi đều chưa bao giờ dùng sản phẩm của chủ thể kia Để giảm bớt rủi ro mỗi người cần được dùng thử miễn phí sản phẩm của người khác trước khi có thoả thuận trao đổi Chẳng hạn, sau khi dùng thử một chủ thể không thích sản phẩm của người kia và quyết định không trao đổi do vậy rủi ro ảnh hưởng lơn đến việc xác định điều kiện thương mại
- Sự khan hiếm: Mức độ sẵn có tương đối của hai loại hàng hóa có thể ảnh hưởng đến điều kiện thương mại Giả sử một chủ thể (A) đưa ra thị trường một số lượng sản phẩm nhiều hơn so với chủ thể B thì tỷ lệ trao đổi sẽ khác đi so với trường hợp các chủ thể đưa ra thị trường cùng số lượng sản phẩm
- Kích thước (số lượng): Mỗi người trong quan hệ trao đổi đều hy vọng sẽ nhận được nhiều hơn lượng sản phẩm mà họ phải từ bỏ tuy nhiên nếu sản phẩm A lớn hơn sản phẩm B thì điều kiện thương mại sẽ khác đi
- Chất lượng: Giả sử chất lượng sản phẩm A tốt hơn chất lượng sản phẩm B số lượng, những cách thức mà sản phẩm có thể được sử dụng cũng có thể bị ảnh hưởng bởi chất lượng và do vậy ảnh hưởng đến điều kiện thương mại
- Sự nỗ lực: Dù chũng ta đã đề cập mô hình trao đổi thuần tuý không có sản xuất nhưng người ta phải có những nỗ lực nhất định để thu hoạch số sản phẩm thiên phú Sự khó khăn, những nỗ lực để có được sản phẩm sẽ ảnh hưởng đến việc xác định điều kiện thương mại (T0T)
- Sự thuyết phục: Nghệ thuật thuyết phục có thể đóng một vai trò quan trọng trong việc xác định điều kiện thương mại Càng có tài thuyết phục các chủ thể có nhièu
cơ hội để nhận được nhiều sản phẩm từ chủ thể mới Trong trường hợp như vậy sự khác nhau trong khả năng thuyết phục sẽ ảnh hưởng đến điều kiện thương mại
- Mong muốn về quan hệ trong tương lai: Nếu mỗi chủ thể trong quan hệ trao đổi không muốn tiếp tục các quan hệ trao đổi trong tương lai thì khả năng diễn giải một cách sai lệch về sản phẩm của người khác là có thể xảy ra, tuy nhiên nếu người ta mong muốn kéo dài quan hệ mua bán thì những lý lẽ không trung thực sẽ giảm đi
- Chính sách của Chính phủ: Nếu Chính phủ đánh thuế cao hay trường phạt những hành vi lưa đào trong quan hệ mua bán sẽ ảnh hưởng đến hành vi của các chủ thể trong quan hệ (điều kiện thương mại)
- Đạo đức: Sự thành thật của các chủ thể trong kinh doanh ảnh hưởng đến xác định điều kiện thương mại
- Sự áp đặt: Có thể một chủ thể phải trao đổi một cách không tự nguyện có thểdo
sự áp đặt hay cưỡng bức Chẳng hạn, chủ thể A đe doạ chủ thể B và do vậy chủ thể B phải tiến hành trao đổi không tự nguyện và có thể phải cung cấp sản phẩm của mình mà không nhận được bất kỳ một sản phẩm khác
Trang 11* Mô hình thương mại thuần tuý với hai chủ thể
Giả sử sau quá trình thương lượng các chủ thể đồng ý trao đổi 3 sản phẩm A lấy 3 sản phẩm B Khi đó điều kiện thương mại là ToT =1A/1B Sau quá trình trao đổi các chủ thể đều có hai sản phẩm để tiêu dùng Nếu việc trao đổi là tự nguyện thì cả hai chủ thể đều hy vọng có lợi hơn sau quá trình trao đổi Lý thuyết trao đổi thuần tuý cho răng, thương mại không phải là quan hệ được mất mà là quan hệ đôi bên cùng có lợi Khi cả hai bên tự nguyện trao đổi với nhau chắc chắn cả hai cùng có lợi
* Mô hình trao đổi thuần túy với ba chủ thể trao đổi
Giả sử có chủ thể thứ 3 tham gia vào thị trường nơi A và B đang tiến hành trao đổi và mang đến thị trường cùng loại sản phẩm B Như vậy số lượng sản phẩm B trên thị trường sẽ tăng lên dồi dào hơn so với sản phẩm A Sự thay đổi về mức độ khan hiếm tương đối sẽ ảnh hưởng đến điều kiện thương mại Trong trường hợp này có hai chủ thể
B và C phải cạnh tranh với nhau, A sẽ nhận được nhiều sản phẩm B hơn Vì vậy A trở nên có lợi hơn Tuy nhiên nếu cả ba chủ thể cùng tham gia thị trường một cách tự nguyện, thì điều rõ ràng là cả ba chủ thể đều trở nên tốt hơn sau quá trình trao đổi
Dù đơn giản mô hình trao đổi thuần tuý có thể giúp chúng ta nhận ra một số nguyên lý cơ bản sau:
- Tự do thương mại và cạnh tranh hoàn hảo không phải lúc nào cũng đem lại điều kiện thương mại tốt nhất mà mọi người đều mong đợi
- Thương mại có tác động đối với việc phân phối lại thu nhập Cụ thể càng nhiều người bán một loại sản phẩm thì lợi ích người bán càng bị thu hẹp lại và càng nhiều người mua một loại sản phẩm thì lợi ích người mua càng bị thu hẹp
- Lý thuyết trao đổi thuần tuý đưa ra các nhân tố ảnh hưởng đến điều kiện thương mại có ý nghĩa lớn trong việc hướng dẫn các nhà kinh doanh tổ chức đàm phán và giao
dịch trong kinh doanh
b Quan niệm của các học giả trọng thương (mercantilims)
Ra đời trong thời kỳ tích luỹ TBCN đây là nền tảng trong suốt thể kỷ 16-17 và suy đồi vào thế kỷ 18
Tư tưởng chủ yếu là thúc đẩy hoạt động xuất khẩu và hạn chế nhập khẩu để đem lại nhiều vàng cho nền kinh tế
Chính sách:
- Thực hiện ngoại thương qua các công ty độc quyền của Nhà nước
- Xuất khẩu đạt càng cao càng tốt Hạn chế xuất khẩu nguyên vật liệu và bán thành phẩm hướng đến xuất khẩu thành phẩm
- Nhập khẩu tạo ra những biện pháp để hạn chế nhập khẩu ở mức tối thiểu ưu tiên nhập khẩu nguyên liệu so với thành phẩm
- Khuyến khích chở hàng bằng tàu của nước mình (Hà Lan) vừa bán được hàng vừa thu được phí vận tải và bảo hiểm
Vai trò của Nhà nước được đề cao, có vai trò bảo hộ nền kinh tế trong nước
Có một số khái niệm:
- Cán cân thương mại thuận sai chỉ Xuất khẩu > Nhập khẩu hàm ý có lợi
Trang 12- Cán cân thương mại nghịch sai chỉ Xuất khẩu < Nhập khẩu hàm ý bất lợi
Tuy nhiên nghịch sai trong ngắn hạn có lợi:
- Bổ sung yếu tố đầu vào cho nền sản xuất trong nước
- Giảm sản xuất hàng hoá đầu vào
- Tạo môi trường cạnh tranh cho hàng hoá trong nước và thúc đẩy hàng hoá trong nước phát triển
Nghịch sai trong dài hạn không có hiệu quả cao Cụ thể:
- Hàng nhập khẩu tràn vào trong nước gây khó khăn cho nền sản xuất nội địa và
có thể bị “bóp chết”
- Cán cân thương mại bị thâm hụt gây nợ nhiều làm cho nền kinh tế trong nước phụ thuộc vào nước ngoài và bị chèn ép
VN phấn dấu đến năm 2010 Xuất khẩu 62 tỷ $ và Nhập khẩu 57 tỷ $
c Quan điểm của Adam Smith (Lý thuyết về lợi thế tuyệt đối)
Ra đời thế kỷ 18
Tư tưởng: Ông cho rằng sự giàu có của một quốc gia phụ thuộc vào số hàng hoá dịch vụ sẵn có hơn là sự phụ thuộc vào vàng Do dó mỗi nước nên tập trung vào sản xuất những sản phẩm có lợi thế tuyệt đối và đem trao đổi với các nước khác
Nước A được coi là có lợi thế tuyệt đối hơn nước B trong việc sản xuất một mặt hàng nào đó nếu cùng với một đơn vị nguồn lực thì nước A sản xuất được nhiều hàng hoá hơn nước B
Ở đây ông đề cập đến việc chuyên môn hóa sản xuất Ví dụ người thợ may không khi nào hì hục đóng đôi giày mà thường đi mua ở người thợ giày và người thợ giày cũng không tự may mà sẽ ngờ anh thợ may may hộ Người nông dân cũng không tự làm hai việc trên mànhờ vào thợ giày và thợ may Mọi người đều có lợi khi chăm chú vào công việc của mình tạo ra và mua sản phẩm khác cần dùng
Nhờ chuyên môn hoá các nước có thể gia tăng hiệu quả do:
- Người lao động lành nghề hơn khi lặp đi lặp lại một công việc nào đó
- Người lao động không phải mất thời gian chuyển từ việc sản xuất sản phẩm này sang sản xuất sản phẩm khác
- Do làm một công việc lâu dài người lao động sẽ nảy sinh sáng kiến, đề suất những phương pháp làm việc tốt hơn
Ví dụ: Cùng một đơn vị nguồn lực VN và HQ sẽ sản xuất vải và lúa gạo như sau:
Lúa gạo Vải
Chuyển một đơn vị nguồn lực của VN sang sản xuất lúa gạo và một đơn vị nguồn lực của HQ sang sản xuất vải ta thấy
Trang 13Lúa gạo Vải
Những lợi ích này nhờ chuyên môn hoá sản xuất mang lại sẽ khiến lợi ích ngoại thương trở thành hiện thực
d Quan điểm của David Ricardo ( Lý thuyết về lợi thế so sánh)
Tư tưởng: Tất cả các nước đều thu được lợi khi tham gia vào thương mại quốc tế Tức là kể cả các nước có lợi thế tuyệt đối về một sản phẩm nào hay có lợi thế tuyệt đối
về tất cả các sản phẩm hay có bất lợi tuyệt dối về tất cả các sản phẩm
Ông giải thích điều này bằng quy luật lợi thế so sánh Ông đưa ra 5 giả thiết:
- Thế giới chỉ có hai quốc gia và chỉ sản xuất hai loại sản phẩm
- Lao động là yếu tố duy nhất và có thể di chuyển trong phạm vi của một nước nhưng không di chuyển được giữa các quốc gia
- Công nghệ sản xuất của hai nước là như nhau
- Chi phí sản xuất cố định và không có chi phí vận tải
- Thương mại hoàn toàn tự do giữa hai nước
Ví dụ: VN và HQ có 100 đơn vị nguồn lực để sản xuất vải và lúa gạo Mỗi nước dùng một nửa đơn vị nguồn lực của mình để sản xuất mỗi loại
Việt Nam Hàn Quốc Tổng Đvị nguồn lực để sản
xuất 1 đvị sản phẩm Lúa gạo
Không có ngoại thương Lúa gạo 16.6 8.3 24.9
Có ngoại thương & VN
sản xuất đủ gạo Lúa gạo
Có ngoại thương & HQ
sản xuất đủ vải Lúa gạo
VN có lợi thế tuyệt đối về cả hai loại hàng nhưng VN có lợi thế tương đối trong sản xuất lúa gạo và HQ có lợi thế tương đối trong sản xuất vải vì
VN 1kiện vải = 4/3 tấn gạo
HQ 1kiện vải = 5/6 tấn lúa gạo
Trang 14Hạn chế của lý thuyết lợi thế so sánh:
- Chỉ mới thấy được yếu tố cung của sự trao đổi chứ chưa nhận thấy được yếu tố cầu
- Chưa xét tới hàng rào thương mại và các hình thức can thiệp ở thị trường khác
- Chưa tính đến chi phí giao dịch
- Chưa xét tới sự chuyển dịch lao động quốc tế
e Quan điểm của John Stuart Mill (Lý thuyết về giá trị quốc tế, mối tương quan của cầu) SGK tr 30
Ra đời thế kỷ thứ 19
David Ricardo chỉ đề cập đến yếu tố cung còn S.Mill bổ sung yếu tố cầu Ông bàn đến giá trị quốc tế hay tỷ lệ trao đổi giữa các sản phẩm Thay vì so sánh phí tổn nhân công của hai quốc gia ông lại so sánh sản phẩm sản xuất ra của hai quốc gia khi sử dụng đầu vào là nhân công như nhau (tức là ông đã dựa vào NSLĐ)
Ví dụ: Cùng đầu vào là 300 ngày công số sản phẩm được sản xuất ra ở Anh và Bồ Đào Nha là:
BĐN có lợi thế tuyệt đối trong sản xuất rượu và vải nhưng có lợi thế so sánh về sản xuất rượu còn Anh có lợi thế so sánh trong sản xuất vải Chúng ta đi xác định tỷ lệ trao đổi
Nếu không có thương mại ở Bồ Đào Nha 100 thùng rượu đổi 75 kiện vải (tỷ lệ 100/75=4/3) và ở Anh 100 thùng rượu đổi được 120 kiện vải (tỷ lệ 100/120=5/6)
Nếu có thương mại cả hai nước chỉ chấp nhận trao đổi trong tỷ lệ 5/6<TL<4/3
Giả sử tỷ lệ trao dổi là 100 thùng rượu lấy 95 kiện vải và cầu ở Anh là bội của
100 thùng rượu và của Bồ Đào Nha là bội của 95 kiện vải thì tương quan sẽ cân bằng xuất khẩu đủ cho nhập khẩu
Nhưng ngược lại nếu Anh chỉ mua 800 thùng rượu thì với số xuất khẩu ấy Bồ Đào Nha sẽ chỉ mua được 760 kiện vải Muốn nhập khẩu thêm 190 kiện vải Bồ Đào Nha phải chấp nhận đổi nhiều hơn 100 / 95 Lúc này Anh thấy lợi hơn và mua nhièu hơn và
Bồ Đào Nha cũng bằng lòng trao đổi trong khả năng xuất khẩu của mình
Trang 15Theo lý thuyết H-O sản xuất cần phải phối hợp nhiều yếu tố theo những tỷ lệ khác nhau Cung các yếu tố khác nhau tất yếu dẫn đến giá cả của các yếu tố khác nhau là khác Và có sự khác biệt về công nghệ sản xuất các sản phẩm
Tư tưởng của lý thuyết này là các nước nên xuất khẩu sản phẩm có số lượng lớn các nhân tố sản xuất sẵn có và nhập khẩu các sản phẩm bao hàm phần lớn các nhân tố sản xuất trong nước khan hiếm
Hạn chế của học thuyết này:
- Cho rằng có sự dịch chuyển linh hoạt trong phạm vi quốc gia nhưng lại không dịch chuyển được trong phạm vi quốc tế
- Có sự cạnh tranh hoàn hảo trong các thị trường hàng hoá và thị trường các yếu
tố sản xuất ở hai quốc gia đó
- Chưa xét tới chi phí vận tải, thuế nhập khẩu và các trở ngại khác đối với tự do thương mại
2.1.3 Nhận xét về giả thiết và sự vận dụng của lý thuyết cổ điển về thương mại quốc tế
- Lý thuyết cổ điển đặt ra giả thiết về việc giá trị được xác định bởi một yếu tố duy nhất là nhân công
- Giả thiết về việc làm đầy đủ không phải là giả thiết có giá trị
Ví dụ lợi thế so sánh Ricardo giả thiết luật sư giỏi bận suốt thời gian nhưng nếu ta nới lỏng giả thiết này cho rằng ông ta không bận suốt ngày và vẫn có thẻ làm công việc của thư ký mà không từ bỏ thu nhập cao của người luật sư Thực tiễn các quốc gia còn tồn tại nạn thất nghiệp
- Các lý thuyết cổ điển đều cho rằng mục tiêu của các quốc gia là phải đảm bảo tính hiệu quả của sản xuất song trong nhiều trường hợp các quốc gia vẫn theo đuổi nhiều mục tiêu khác ngoài tính hiệu quả
Ví dụ các nước có nhiều nguồn tài nguyên họ hạn chế nhập khẩu để sử dụng tài nguyên mặc dù chúng không được sử dụng có hiệu quả Hay nhiều nước theo đuổi mục tiêu chung là tính hiệu quả của sản lượng làm ra nhưng có một số nước không theo đuổi mục tiêu này vì có thể họ bất lợi về kỹ thuật hay có sự dao động về giá
- Chưa xét đến chi phí vận chuyển
- Giả thiết về tính linh động của tài nguyên là không thực tiễn
Ví dụ một công nhân ngành dệt may không thể dễ dàng chuyển tới làm việc trong ngành vũ trụ không gian
- Trao đổi dịch vụ chưa được đề cập đến
- Các lý thuyết đều thiết xót trong việc đề cập đến những lợi ích của ngoại thương
Ví dụ: Đa dạng hoá sản phẩm sẽ phân tán độ rủi ro
Tính hiệu quả nhờ quy mô
Thúc đẩy cạnh tranh làm cho sản xuất trong nước phát triển
Sự hợp lý hoá trong sản xuất và phân phối
Tăng tốc độ phong phú về sản phẩm và có lợi hơn trong tiêu dùng và sản xuất
Trang 162.1.4 Ngoại thương trong nền kinh tế mở quy mô nhỏ
Nước nhỏ phải chấp nhận giá cho cả hàng xuất khẩu và nhập khẩu
Nếu giá thị trường thế giới > giá thị trường nội địa nên xuất khẩu và ngược lại giá thị trường thế giới < giá thị trường nội địa nên nhập khẩu
2.1.5 Lý thuyết lợi thế cạnh tranh quốc gia
Năm 1990 Micheal Porter cho xuất bản kết quả công trình nghiên cứu lý thuyết
“Lợi thế cạnh tranh quốc gia” mà ông đã tiến hành nghiên cứu tại hơn 100 công ty hàng đầu ở 10 quốc gia khác nhau
Như các học thuyết khác lý thuyết của ông chỉ định hướng để giải thích động thái thương mại đã và đang diễn ra Lý thuyết giải thích tại sao một quốc gia lại có những thành công quốc tế ở một số ngành công nghiệp nhất định: tại sao Nhật Bản lại thành công trong lĩnh vực sản xuất ô tô; Thụy Sỹ lại thành công trong lĩnh vực chế tạo công cụ nhỏ và được phẩm; Mỹ thành công trong lĩnh vực hoá học Tuy nhiên, lý thuyết chưa trả lời được một cách đầy đủ những câu hỏi này
Theo lý thuyết có 4 nhóm yếu tố hình thành nên môi trường đó là:
- Các yếu tố sản xuất
- Điều kiện nhu cầu: Đặc điểm nhu cầu nội địa đối với sản phẩm
- Các ngành công nghiệp liên quan hoặc hỗ trợ
- Chiến lược công ty, cấu trúc thị trường và mức độ cạnh tranh
Bốn nhóm yếu tố này tạo nên hình thoi, nên được gọi là mô hình hình thoi Theo
lý thuyết thì các hãng trong một quốc gia sẽ thành công ở những lĩnh vực mà các yếu tố của hình thoi là thuận lợi Các yếu tố này có mối quan hệ tác động qua lại lẫn nhau và mang tính hệ thống trong việc tạo ra khả năng cạnh tranh cho một công ty
Các yếu tố sản xuất: Lý thuyết đưa ra một hệ thống có tính thang bậc các yếu tố sản xuất Hệ thống này phân biệt các yếu tố sản xuất cơ bản (Điều kiện khí hậu, tài nguyên thiên nhiên, vị trí địa lý ) và các yếu tố sản xuất mới (Cơ sở hạ tầng, trình độ lao
động, khả năng nghiên cứu và phát triển,bí quyết công nghệ) Không giống các yếu tố
Các ngành CN hỗ trợ và liên quan
Các yếu tố
sản xuất
Nhu cầu nội địa
CL công ty; cấu trúc thị trường &
mức độ cạnh tranh
Trang 17sản xuất cơ bản, các yếu tố sản xuất mới là kết quả đầu tư của chính phủ, các công ty và các cá nhân Các yếu tố cơ bản có thể tạo ra những lợi thế ban đầu và kết quả của nó là cung cấp khả năng đầu tư để mở rộng và phát triển các yếu tố sản xuất mới Và ngược lại
sự hạn chế của các yếu tố sản xuất cơ bản có thể tạo ra áp lực để phát triển các yếu tố sản xuất mới
Nhu cầu nội địa: Lý thuyết lợi thế cạnh tranh nhấn mạnh rằng nhu cầu đóng một
vai trò quan trong trong việc tạo ra động lực để nâng cao khả năng cạnh tranh Vì vậy, đặc tính thị trường nội địa là đặc biệt quan trọng trong việc hình thành các đặc tính sản phẩm và tạo ra những áp lực để phát triển sản phẩm mới hoặc cải tiến chất lượng sản phẩm.Ví dụ trong trường hợp Nhật Bản: Kiến thức, sự hiểu biết của người tiêu dùng và nhu cầu ở trình độ cao của thị trường đã thúc đẩy ngành công nghiệp camera NB sản xuất ra những sản phẩm mới có chất lượng cao và tính năng ưu việt Hay nhu cầu của người dân bán đảo Scandovania đã giúp (Nokia) Phần Lan hay Ericsson (Thụy Điển) tập trung phát triển công nghệ điện thoại di động
Các ngành công nghiệp liên quan và hỗ trợ: Lợi thế cạnh tranh của một quốc
gia trên một ngành công nghiệp phụ thuộc vào sự hiện diện của các ngành công nghiệp liên quan và các ngành công nghiệp hỗ trợ Ví dụ: sự phát triển mạnh mẽ của ngành sản xuất thép đã giúp Thụy Điển có điều kiện thuận lợi trong các ngành chế tạo các sản phẩm sử dụng thép hay với công nghệ hàng đầu trên lĩnh vực bán dẫn Mỹ thành công trên lĩnh vực công nghiệp chế tạo máy tính và các sản phẩm điện tử tân tiến khác
Chiến lược công ty, cấu trúc thị trường và mức độ cạnh tranh: Sự khác nhau
giữa các quốc gia có thể được thể hiện ở triết lý kinh doanh, yếu tố này có thể đóng vai trò tích cực hoặc tiêu cực trong việc tạo ra lợi thế cạnh tranh của quốc gia.Ví dụ ở Mỹ các nhà lãnh đạo đi lên từ lĩnh vực tài chính nên chiến lược của công ty thường thiếu tập trung vào lĩnh vực kỹ thuật mà tập trung quá mức vào lĩnh vực tài chính Ở Nhật Bản và Đức người lãnh đạo xuất thân từ lĩnh vực kỹ thuật nên chiến lược thường tập trung vào khía cạnh kỹ thuật Điều này có thể giải thích tại sao các công ty của Mỹ bị mất đi lợi thế cạnh tranh ở một số ngành công nghiệp mà vấn đề quản lý quy trình sản xuất và thiết kế sản phẩm đóng vai trò quan trọng như công nghiệp chế tạo ôtô
Ngoài ra lý thuyết cũng chỉ ra mức độ cạnh tranh cao và liên tục trên thị trường nội địa của một ngành công nghiệp sẽ tạo ra khả năng cạnh tranh lâu dài và ổn định của ngành đó trên thị trường thế giới Sự canh tranh mạnh mẽ trên thị trường nội địa buộc các doanh nghiệp phải thường xuyên tìm cách nâng cao hiệu quả sản xuất, đổi mới, nâng cao chiến lược sản phẩm và đầu tư phát triển các yếu tố sản xuất mới Điều đó góp phần tạo ra lợi thế cạnh tranh cho quốc gia trên lĩnh vực công nghiệp này
Sự hiện diện của bốn nhóm yếu tố này sẽ có tác động tích cực trong việc tạo ra khả năng cạnh tranh cho một ngành công nghiệp Lý thuyết cũng chỉ ra rằng chính phủ
có thể đến 4 nhóm yếu tố này Ví dụ các yếu tố sản xuất mới có thể được tạo ra và phát triển bằng các chính sách trợ cấp, tín dụng và giáo dục Theo lý thuyết này quốc gia nên tập trung sản xuất và xuất khẩu những sản phẩm mà bốn nhóm yếu tố trên là thuận lợi nhất
Nhận xét lý thuyết chủ nghĩa thực tế: Lý thyết chỉ ra những lợi ích do thương
mại đem lại
Thứ nhất, là do sự khác biệt về công nghệ
Thứ hai, là sự khác biệt về mức độ sẵn có của các yếu tố sản xuất
Trang 18Thứ ba, là tính kinh tế nhờ quy mô và kinh nghiệm
Thứ tư, là chính sách của chính phủ và chiến lược của công ty
2.2 Chức năng, nhiệm vụ của ngoại thương
2.2.1 Chức năng
Chức năng là một phạm trù kinh tế và mang tính khách quan được hình thành trên
cơ sở sự phát triển của lực lượng sản xuất và trình độ phân công lao động xã hội
Nhiệm vụ là sự quy định cụ thể cong việc phải làm trong từng thời kỳ nhất định
và được xác định trên cơ sở chức năng và phụ thuộc vào điều kiện kinh tế xã hội của
Tạo vốn cho quá trình mở rộng vốn đầu tư trong nước
Chuyển hoá giá trị sử dụng làm thay đổi cơ cấu vật chất của tổng sản phẩm xã hội
và thu nhập quốc dân được sản xuất trong nước và thích ứng với nhu cầu tiêu dùng trong nước
GDP = C + I + G + NX
C: Tiêu dùng I: Đầu tư
G: Mua hàng của Chính phủ NX: Xuất khẩu ròng (= XK - NK)
NNP = GNP – Khấu hao (Thu nhập quốc dân ròng phản ánh phúc lợi kinh tế)
NI = NNP- Thuế gián thu
Thu nhập quốc dân phản ánh mọi người trong nền kinh tế kiếm được bao nhiêu thu nhập
Góp phần nâng cao hiệu quả của nền kinh tế bằng việc tạo ra môi trường thuận lợi cho sản xuất và kinh doanh
Tạo môi trường thuận lợi cho quá trình cung cấp các yếu tố đầu vào
Tạo môi trường thuận lợi cho quá trinhg giải quyết các yếu tố đầu ra
Cung cấp các phương tiện sản xuất hiện đại
- Thứ hai, với tư cách là một lĩnh vực kinh tế ngoại thương có chức năng sau:
Thông qua mua bán hàng hoá để nối liền một cách hữu cơ theo kế hoạch giữa thị trường trong nước và thị trường nước ngoài để thoả mãn nhu cầu của sản xuất, của nhân dân về hàng hoá, dịch vụ theo cả số lượng, chất lượng, mặt hàng, địa điểm thời gian, … phù hợp với chi phí thấp nhất
Việc thay đổi các hình thái giá trị của hàng hoá thông qua ngoại thương không những là phương tiện và điều kiện để thực hiện giá trị sử dụng mà còn tạo khả năng tái sản xuất mở rộng giá trị sử dụng
Trang 19Ví dụ: xuất khẩu gạo thu về ngoại tệ dùng để mua máy móc thiết bị phục vụ cho nông nghiệp tức là nó quay lại phục vụ cho tái sản xuất
2.2.2 Nhiệm vụ của ngoại thương
a Căn cứ để xác định
Căn cứ vào chức năng của ngoại thương đó là lưu thông hàng hoá giữa trong
nước với nước ngoài Chức năng lưu thông đối ngoại quyết định tính chất đặc thù của ngoại thương so với các ngành khác Đối tượng phục vụ của ngoại thương là thị trường nội địa và thị trường nước ngoài nhiệm vụ của nó phải phục vụ cho yêu cầu phát triển kinh tế trong nước
Đặc điểm kinh tế xã hội cơ bản của nước ta Nước ta đang trong quá trình chuyển
từ một nền sản xuất nhỏ phổ biiến đi lên chủ nghĩa xã hội Đây cũng là khó khăn của nước ta trong việc tham gia thị trường thế giới tạo tiền đề cho phát triển sản xuất hàng hoá ở nước ta
Nền kinh tế nước ta là nền kinh tế hàng hoá nhiều thành phần Các thành phần kinh tế tham gia vào quá trình sản xuất và lưu thông vừa hợp tác vừa cạnh tranh Điều này đòi hỏi phải có hình thức tổ chức quản lý và chính sách phù hợp với sự phát triển của mối quan hệ đó
Bối cảnh quốc tế: Bối cảnh quốc tế có nhiều thay đổi tác động sâu sắc đến nước ta
vừa tạo thời cơ cũng như thách thức cho nền kinh tế nước ta
- Thuận lợi:
Chúng ta đã đặt quan hệ thương mại với hơn 160 nước
Chúng ta chuẩn bị gia nhập WTO nên
Có cơ hội tiếp xúc nhiều nước
Cơ chế thuận lợi cho việc xuất khẩu hàng VN có lợi thế
Cơ chế giải quyết tranh chấp trong thương mại được bình đẳng
WTO đòi hỏi minh bạch luật pháp
Là nước đang phát triển có thu nhập thấp nên được ưu tiên
- Khó khăn: Mặt trái của toàn cầu hoá, trong cuộc đua này phần thắng thường nghiêng về các nước phát triển, nước giàu ngày càng giàu thêm Nguồn vay, viện trợ bên ngoài giảm mạnh đặc biệt từ khi Liên Xô sụp đổ sự ưu đãi có được do quan hệ với các nước Xã hội chủ nghĩa trước đây không còn nữa Nợ nước ngoài phải trả hàng năm tăng lên… Thêm vào đó là sự bùng nổ cách mạng khoa học kỹ thuật tạo khó khăn cho nền sản xuất nhỏ của nước ta do chưa tiếp cận được với những công nghệ mới, thiết bị tiên tiến nên năng suất lao động thấp, chất lượng khó cạnh tranh với sản phẩm trên thị trường quốc tế
Nhiệm vụ, mục tiêu phát triển kinh tế trong thời kỳ tới: Đảng và Nhà nước ta đã
xác định nhiệm vụ của chúng ta trong thơi gian tới là ổn định và phát triển kinh tế – xã hội, ổn định đời sống nhân dân đưa đất nước thoát khỏi tình trạng nghèo, kém phát triển, tiến hành công nghiệp hoá hiện đại hoá đất nước, củng cố quốc phòng an ninh, tạo ra môi trường thuận lợi đưa đất nước phát triển phát triển nhanh hơn vào thế kỷ 21
b Nhiệm vụ chủ yếu của ngoại thương
Trang 20Thứ nhất, nâng cao hiệu quả kinh doanh, thúc đẩy quá trình CNH đất nước
Ngoại thương tạo ra nhiều cơ hội cho các doanh nghiệp tham gia kinh doanh trên thị trường thế giới Khi tham gia vào trao đổi hàng hoá trên thị trường thế giới chúng ta phải chấp nhận nguyên tắc của cạnh tranh trên thị trường, điều đó đòi hỏi hoạt động ngoại thương phải tính toán lỗ lãi giảm chi phí, nâng cao chất lượng nghĩa là phải hiệu quả Đồng thời cần đổi mới cơ chế quản lý tháo bỏ những ràng buộc cản trở trong hoạt động ngoại thương và thực tế chúng ta đã có được những cơ chế quản lý phù hợp hơn
Ngoại thương có nhiệm vụ tìm kiếm những đầu vào mới cho công nghiệp và tiêu thụ những sản phẩm của công nghiệp làm ra
Ngoại thương được sử dụng như một công cụ thúc đẩy quá trình liên kết kinh tế trong nước với nước ngoài Nó không chỉ gắn liền kinh tế trong nước với kinh tế thế giới
để tranh thủ lợi thế do ngoại thương và phân công lao động quốc tế đem lại đó là hoạt động xuất nhập khẩu, chuyển giao công nghệ, vốn từ ngoài vào nước ta mà còn thúc đẩy kinh tế trong nước phát triển
Thứ hai, ngoại thương góp phần giải quyết những vấn đề kinh tế – xã hội quan
trọng của đất nước: vốn, việc làm, công nghệ, sử dụng tài nguyên có hiệu quả
Nghị quyết của Đảng ta nhấn mạnh nhiệm vụ quan trọng của hoạt động ngoại thương là tạo vốn và kỹ thuật nước ngoài cho sự phát triển kinh tế xã hội của đất nước,
sử dụng tốt hơn nguồn lao động và tài nguyên của đất nước tăng giá trị ngày công và tăng thu nhập quốc dân tạo lợi thế so sánh trong phân công lao động quốc tế
Vốn: thu hút vốn (đặc biệt là vốn trong nước) thông qua hiệu quả của hoạt động kinh doanh ngoại thương, bên cạnh đó là thu hút vốn đầu tư nước ngoài Chunga ta có thể hiểu là nếu kinh doanh ngoại thương có hiệu quả sẽ tạo nguồn vốn tái đầu tưcho phát triển kinh tế đất nước cũng như thu hút vốn đầu tư nước ngoài
Ở các nước đang phát triển việc tạo vốn và sử dụng có hiệu quả nguồn vốn trở thành mối quan tâm và ưu tiên hàng đầu trong thời kỳ công nghiệp hóa và chính sách đối ngoại Qua nghiên cứu các nước đang phát triển thuộc châu Á – Thái Bình Dương cho ta thấy những nền kinh tế tăng trưởng nhanh như Đài Loan, Hàn Quốc thời kỳ đầu công nghiệp hoá vốn nước ngoài chiếm 30 – 40% tổng giá trị đầu tư, sau đó nhờ tích luỹ trong nước tăng tỷ lệ này giảm xuống còn 10 – 20% tuy nhiên về số lượng tuyệt đối vẫn lớn Còn những nền kinh tế có tỷ lệ vốn nước ngoài thấp (An Độ, Trung Quốc khoảng 10% tổng giá trị đầu tư) tỷ lệ tăng trưởng thấp hơn hẳn so với những nền kinh tế có tỷ lệ vốn nước ngoài cao
Việc tích luỹ vốn trong nước từ tiết kiệm trở thành nguồn tích luỹ lớn nhất vì vậy chính sách lãi suất tiết kiệm và việc phân bổ, sử dụng nguồn tiết kiệm trở thành công cụ ngày càng được các nước coi trọng đặc biệt Việt Nam huy động được 25% GDP cho tích luỹ tài sản (các nước công nghiệp mới 30 – 35% GNP)
Việc tạo vốn và sử dụng vốn có hiệu quả là yếu tố có tác động mạnh nhất tới quá trình tăng trưởng kinh tế ở các nước đang phát triển trong giai đoạn đầu CNH
Giải quyết việc làm là một nhiệm vụ hết sức khó khăn Ở nước ta thực trạng không có việc làm hoặc việc làm không đầy đủ chiếm 20% lực lượng lao động Thực tế cho thấy ngoại thương tạo nhiều công ăn việc làm, tạo nhiều ngành mới để thu hút lao động, gia tăng hàm lượng chế biến trong các sản phẩm xuất khẩu
Trang 21Thông qua ngoại thương chúng ta tạo ra những mối quan hệ với nước ngoài tiến hành xuất khẩu lao động Những năm trước đây chúng ta thường xuất khẩu lao đông sang các nước xã hội chủ nghĩa như Nga và các nước Đông Âu, Đức, Tiệp Khắc còn ngày nay chúng ta xuất khẩu lao động nhiều sang Hàn Quốc, Đài Loan, Nhật…
- Sử dụng tài nguyên có hiệu quả:
Phải sử dụng các nguồn tài nguyên trong nước vào những ngành sản xuất trong nước để tạo ra những thành phẩm có hàm lượng công nghệ cao hơn cho xuất khẩu
Yêu cầu mức độ tỷ lệ nội địa hoá đối với các công ty có vốn đầu tư nước ngoài, cho các sản phẩm xuất khẩu Ví dụ trong sản xuất và nhập khẩu xe máy NN sử dụng hình thức IKD và CKD
- Khoa học công nghệ
Thực trạng phát triển khoa học công nghệ ở nước ta:
+ Trình độ thấp kém và tụt hậu xa so với các nước tiên tiến từ 50 – 100 năm
+ Tiềm lực khoa học công nghệ còn kém: tỷ lệ các nhà khoa học, kỹ sư nghiên cứu phát triển 4người/10000 dân và chủ yếu hoạt động trong các lĩnh vực phi sản xuất
+ Nguồn vốn giành cho KHCN hạn hẹp
+ Cơ chế quản lý khoa học còn nhiều bất cập
Nhiệm vụ của ngoại thương là làm sao chuyển giao được các công nghệ tiên tiến cuả nước ngoài thông qua các quan hệ ngoại thương Thị trường nguồn có thể cung cấp các công nghệ cao là Nhật, Mỹ, …
Kinh nghiệm thực tế cho thấy các nước đối với các nước đang phát triển giai đoạn đầu tăng đầu tư thu hút lao động hơn là đầu tư cho công nghệ mới nhưng giai đoạn tiếp theo khi giá lao động giảm thì đầu tư cho công nghệ mới là tất yếu
Đối với nước ta phát triển công nghệ là mục tiêu quan trọng vừa là mục tiêu trước mắt vừa là mực tiêu lâu dài của quá trình công nghiệp hoá Trong thời gian đầu chúng ta tăng thu nhập đạt tăng trưởng cao nhờ khai thác tài nguyên thiên nhiên sẵn có và nguồn lao động dồi dào nhưng về lâu dài yếu tố quyết định thành công là công nghệ Chúng ta cần chuyển giao công nghệ từ nước ngoài vào, áp dụng vào điều kiện cụ thể của nước ta
mà ngoại thương là ngành tiên phong trong phát triển công nghệ
Để thực hiện được nhiệm vụ này ngoại thương cần có chính sách, biện pháp đúng đắn phù hợp trong từng giai đoạn và từng lĩnh vực
Thứ ba, đảm bảo sự thống nhất giữa kinh tế – chính trị trong hoạt động ngoại
thương
Đảm bảo sự thống nhất giữa kinh tế – chính trị là một nguyên tắc chủ yếu trong việc tổ chức và quản lý có hiệu quả hoạt động kinh tế đối ngoại nói chung và hoạt động ngoại thương nói riêng của Nhà nước
Quan điểm của Đảng ta là chúng ta muốn làm bạn với tất cả các nước trong cộng đồng thế giới phấn đấu vì hoà bình, độc lập và phát triển Làm bạn ở đây không chỉ là
về chính trị mà còn là hợp tác làm ăn cùng có lợi
Xu hướng hợp tác kinh doanh lâu dài là xu hướng phát triển trong những năm gần đây giữa các quốc gia Họ coi trọng sự hợp tác làm ăn kinh tế, phát triển quan hệ giữa
Trang 22các nước tốt hơn Nhưng thế giới ngày nay cũng nhiều mâu thuẫn và những nhân tố bất
ổn thù hằn nhau Nước ta cũng phải mở rộng quan hệ với các nước vì lợi ích cơ bản và lâu dài của mình Phát triển kinh tế là vấn đề cốt lõi của sự vận động về chính trị, an ninh Phát triển kinh tế ổn định và cải thiên đời sống nhân dân là điều kiện ổn định chính trị Thực tế ổn định chính trị là điều kiện để buôn bán hợp tác đầu tư Vì vậy trong quan
hệ ngoại thương Nhà nước và các doanh nghiệp không chỉ quan tâm đến kết quả kinh tế
mà cả kết quả chính trị
- Việc tiến hành các hoạt động ngoại thương phải dựa trên sự tính toán một cách toàn diện các yếu tố hình thành và xu hướng phát triển kinh tế chính trị trong nước và quốc tế
- Phải tuân thủ theo sự quản lý thống nhất của Nhà nước vì:
+ Nhà nước là người duy nhất được ban hành các chính sách và giải thích các chính sách ngoại thương
+ Chính Phủ thông qua các cơ quan chức năng của mình khảo sát hoạt động ngoại thương của các doanh nghiệp hoạt động trong lĩnh vực này nhằm đảm bảo cho các hoạt động của họ phù hợp với mục tiêu đề ra
+ Các địa phương, các ngành, các doanh nghiệp phải phối hợp với nhau trong việc hoàn thành các mục tiêu chung đã vạch ra
+ Chính sách và các hoạt động ngoại thương trong thực tiễn phải vận động cùng chiều với chính sách đối ngoại của Nhà nước
Ngoài ra chúng ta có thể nêu thêm một vài nhiệm vụ nữa như phải luôn đổi mới
và hoàn thiện cơ chế quản lý ngoại thương nhằm nâng cao hiệu quả hoạt động ngoại thương hoặc nhiệm vụ của ngoại thương phải phục vụ cho an ninh, quốc phòng …
2.3 Mối quan hệ giữa ngoại thương và các lĩnh vực quan trọng của nền kinh tế
2.3.1 Ngoại thương với sản xuất
Ngoại thương ra đời là kết quả của sản xuất phát triển, đồng thời ngoại thương lại
là tiền đề cho sự phát triển của sản xuất
- Sản xuất với ngoại thương:
Sản xuất tác động đến nhập khẩu: khi sản xuất phát triển thì nhu cầu về các yếu tố đầu vào tăng lên do đó nhu cầu nhập khẩu sẽ tăng
Sản xuất tác động đến xuất khẩu: quá trình sản xuất của xã hội diễn ra theo chu kỳ: sản xuất – phân phối – trao đổi – tiêu dùng Sự phát triển của sản xuất tạo ra một lượng hàng hoá ngày càng lớn, với chất lượng cao, giá rẻ hơn nên tạo điều kiện cho xuất khẩu
- Ngoại thương với sản xuất:
Ngoại thương tạo điều kiện đảm bảo các yếu tố đầu vào, đầu ra của quá trình sản xuất, giúp chuyển dịch cơ cấu sản phẩm theo hướng có lợi cho quá trình sản xuất tiếp theo
Ngoại thương tạo vốn cho việc mở rộng đầu tư cho sản xuất: tái đầu tư trong nước và thu hút đầu tư nước ngoài
Ngoại thương tạo ra môi trường cạnh tranh cho hàng sản xuất trong nước Khi tham gia vào kinh doanh ở thị trường thế giới chúng ta phải chấp nhận những quy tắc
Trang 23của thị trường dòi hỏi chúng ta phải nâng cao hiệu quả quá trình sản xuất để đủ sức cạnh tranh với hàng hoá trên thị trường thế giới
Ngoại thương tạo điều kiện tiếp thu KHCN, nâng cao năng lực sản xuất trong nước Đây là lợi ích do ngoại thương đem lại và là nhiệm vụ quan trong của ngoại thương Thực trạng về KHCN của nức ta còn nhiều yếu kém do đó cần tranh thủ KHCN của đối tác mới giúp cho nền sản xuất – nền kinh tế của chúng ta phát triển nhanh trong thời gian tới
Ngoại thương giúp phân bổ sử dụng các nguồn lực trong nước một cách có hiệu quả hơn Lợi ích do ngoại thương đem lại đó là nhờ lợi thế tuyệt đối, lợi thế tương đối …
do đó chúng ta sẽ khai thác lợi thế của mình
Ngoại thương tạo ra những yếu tố thúc đẩy nhất định đối với một số ngành công nghiệp vốn không có cơ hội phát triển nào khác Tức là ngoại thương tạo lập những ngành công ngệ mới mà nếu trong điều kiện đóng cửa thì ngành công nghệ đó hoàn toàn không có điều kiện và cơ hội để phát triển Ví dụ trong CNCB lương thực, thực phẩm tạo ra nhu cầu phát triển ngành công nghiệp sản xuất thiết bị chế biến
Ngoại thương giúp chính phủ có thêm nguồn thu để hỗ trợ cho phát triển sản xuất nguồn thu chủ yếu đó là thuế nhập khẩu, thuế xuất khẩu và thuế thu nhập của các doanh nghiệp tham gia xuất nhập khẩu
2.3.2 Ngoại thương với tiêu dùng
Tiêu dùng là mục đích chính của sản xuất là yếu tố của quá trình tái sản xuất, chịu tác động của sản xuất có ảnh hưởng mạnh mẽ đến sản xuất Tiêu dùng chính là quá trình tái sản xuất sức lao động do đó thoả mãn tiêu dùng vừa là mục đích vừa là yêu cầu của tái sản xuất
- Sự tác động của tiêu dùng đối với ngoại thương: Tiêu dùng phát triển là nhân tố thúc đẩy hoạt động ngoại thương phát triển để đầu tư tốt nhất nhu cầu tiêu dùng Vì ngày nay nền kinh tế trị trường các doanh nghiệp tự do kinh doanh và đời sống con người cũng ngày càng phát triển mức sống cao hơn do đó nhu cầu cũng phát triển nên ngoại thương là điều kiện tạo cơ sở thoả mãn những nhu cầu đó
- Sự tác động của ngoại thương đến tiêu dùng
+ Ngoại thương nhập khẩu trực tiếp hàng tiêu dùng mà trong nước chưa sản xuất được hoặc sản xuất chưa đủ Ngoại thương phục vụ nhu cầu đa dạng của người dùng, tuy nhiên không thể bị động theo người tiêu dùng mà phải tác tộng mạnh mẽ đến tiêu dùng
để cơ cấu tiêu dùng phù hợp với cơ cấu sản xuất
+ Ngoại thương nhập khẩu những tư liệu sản xuất cần thiết để phục vụ cho việc sản xuất hàng hoá tiêu dùng trong nước
Đối với một số ngành chúng ta chưa có đủ tư liệu sản xuất hay công nghệ cho sản xuất do đó thông qua hoạt động ngoại thương chúng ta sẽ nhập khẩu về để phục vụ cho quá trình sản xuất nhằm sản xuất hàng hoá đáp ứng nhu cầu tiêu dùng của xã hội, dân cư
+ Ngoại thương có thể tạo ra những biến đổi trong nhu cầu tiêu dùng xã hội Cùng với việc thu nhập của người dân ngày càng cao hơn người tiêu dùng phát sinh những nhu cầu mới hoặc có những yêu cầu cao hơn về cả số lượng, chất lượng, giá cả hàng tiêu dùng từ đó thúc đẩy phát triển công nghệ sản xuất hàng tiêu dùng tại chỗ, thúc
Trang 24ép sản xuất trong nước phải phát triển thể để đáp ứng những đòi hỏi ngày càng cao của người tiêu dùng
+ Ngoại thương tạo ra thu nhập lớn hơn cho những người hoạt động trong lĩnh vực kinh doanh hàng hoá xuất nhập khẩu tạo điều kiện tái đầu tư mở rộng sản xuất, mở rộng tiêu dùng
+ Ngoại thương hướng dẫn tiêu dùng cho người dân vào những đòi hỏi hợp lý, phù hợp với cuộc sống tiêu dùng cụ thể trong từng giai đoạn
Ngoại thương cần phải giải quyết các vấn đề đặt ra
2.3.3 Ngoại thương với việc thu hút vốn đầu tư nước ngoài và đầu tư ra nước ngoài
Trước đây có những quan điểm cho rằng các yếu tố sản xuất hầu như không chi phối trên phạm vi quốc tế nhưng thực tế ngày nay việc di chuyển các yếu tố sản xuất ra nước ngoài được thực hiện khá phổ biến để sử dụng nguồn lực có hiệu quả hơn
- Ngoại thương với đầu tư
+ Ngoại thương với việc thu hút vốn đầu tư nước ngoài
Khi thu hút đầu tư nước ngoài bên cạnh việc tăng vốn đầu tư còn kèm theo việc chuyển giao công nghệ, kỹ thuật sản xuất tân tiến sẽ nâng cao năng lực sản xuất trong nước và năng lực xuất khẩu
+ Ngoại thương với việc đầu tư ra nước ngoài chủ yếu là tìm cách để tiếp cận được với các nguồn lực, nguyên liệu rẻ, tìm nơi tiêu thụ hàng hoá
Ví dụ: Các nước đầu tư vào Việt Nam chính là họ tiếp cận với nguồn nhân công dồi dào của Việt Nam và đối với một số lĩnh vực họ tiếp cận được với nguồn tài nguyên phong phú của chúng ta
- Đầu tư với ngoại thương
+ Tạo điều kiện cho sự phát triển mối quan hệ nhờ đầu tư để đẩy mạnh xuất khẩu + Tăng cường sự trao đổi giữa nước chủ đầu tư và nước nhận đầu tư về một số mặt hàng như: Các bộ phận rời, các sản phẩm bổ sung, các thiết bị cho công trình, các chi nhánh
+ Trong nhiều trường hợp việc đầu tư ra nước ngoài dẫn đến gia tăng tái nhập khẩu nhưng các công ty vẫn gia tăng xuất khẩu sang các cơ sở ở nước ngoài của họ
Ví dụ: Nokia ở Phần Lan họ có đầu tư ra rất nhiều nước và ở Trung Quốc là cơ sở rất lớn sản xuất hàng xuất khẩu cho thị trường Châu âu, Châu á sản xuất hay lắp ráp sản phẩm hoàn chỉnh để tận dụng nhân công rẻ mà chất lượng vẫn đảm bảo cho tổng sản phẩm rẻ phát triển khả năng cạnh tranh
Trang 25CÂU HỎI ÔN TẬP
Câu 2.1: Trình bày nội dung của các học thuyết về ngoại thương
Câu 2.2: Trình bày nguồn gốc của lợi ích do ngoại thương đem lại
Câu 2.3: Hãy nêu các nhiệm vụ của ngoại thương Nhiệm vụ nào là quan trọng
nhất? Vì sao?
Câu 2.4: Trình bày nội dung mối quan hệ giữa ngoại thương và các lĩnh vực quan
trọng của nền kinh tế
Trang 26Bài 3
CƠ CHẾ QUẢN LÝ XUẤT NHẬP KHẨU
Mục tiêu
- Trình bày được mục tiêu nội dung của chính sách thương mại
- Xác định được cơ chế tác động của chính sách thương mại
3.1 Một số vấn đề cơ bản về cơ chế quản lý xuất nhập khẩu
Nền kinh tế chỉ huy vận hành theo cơ chế kế hoạch hóa tập trung Nền kinh tế thị trường vận hành theo cơ chế thị trường Nền kinh tế hỗn hợp vận hành theo cơ chế thị trường có sự quản lý của Nhà nước
Ứng với mỗi cơ chế kinh tế nhất định có một cơ chế quản lý kinh tế phù hợp Cơ chế quản lý kinh tế là khái niệm dùng để chỉ phương thức mà qua đó Nhà nước tác động vào nền kinh tế để định hướng nền kinh tế tự vận động nhằm tới các mục tiêu đã định
Cơ chế quản lý kinh tế gồm những nội dung sau:
- Cơ chế kinh tế là phương thức tự vận động của nền kinh tế là biểu tượng của nhân tố khách quan
- Cơ chế quản lý kinh tế là phương thức tác động của Nhà nước nhằm định hướng nền kinh tế, nó mang tính chất chủ quan
- Nhà nước tác động vào nền kinh tế thông qua cơ chế kinh tế chứ không thể tác động trực tiếp vào nền kinh tế
Cơ chế quản lý kinh tế là khái niệm dùng để chỉ phương thức mà qua đó Nhà nước tác động vào nền kinh tế để định hướng nền kinh tế tự vận động nhằm tới những mục tiêu đã định, là phương thức tác động của Nhà nước và các quy luật vận động của các quy luật kinh tế trong nền kinh tế Như vậy co chế quản lý kinh tế tự điều chỉnh theo quy luật vận hành của quy luật kinh tế
Hoạt động ngoại thương được quản lý theo cơ chế quản lý xuất nhập khẩu
Cơ chế quản lý xuất nhập khẩu được hiểu là phương thức mà qua đó nhà nước tác động có định hướng theo những điều kiện nhất định đến các đối tượng tham gia hoạt động xuất nhập khẩu nhằm đảm bảo sự tự vận động của hoạt động xuất nhập khẩu hướng đến các mục tiêu kinh tế xã hội nhất định
Cơ chế quản lý kinh tế và cơ chế quản lý xuất nhập khẩu được xây dựng và ban hành trên cơ sở nhận thức và vận dụng các quy luật khách quan của nền kinh tế thị trường Cơ chế quản lý xuất nhập khẩu phải tuân theo quy luật thị trường có sự quản lý thống nhất của Nhà nước và ra đời là đòi hỏi khách quan Việc xây dựng, điều chỉnh đòi hỏi mang tính khách quan và nghệ thuật (Khách quan là phải tuân theo quy luật thị
Trang 27trường, Nghệ thuật là phải nắm bắt đúng quy luật kinh tế và tác động tích cực của nó trong điều kiện kinh tế xã hội của đất nước, quốc tế)
3.1.2 Sự cần thiết khách quan của quản lý Nhà nước đối với hoạt động xuất nhập khẩu
Là yêu cầu khách quan, là do:
- Sự tác động của quy luật kinh tế trong nền kinh tế thị trường ở phạm vi quốc gia
và quốc tế mang tính chất trực tiếp, Nó làm cho nền kinh tế năng động, sản xuất kinh doanh có hiệu quả Nhưng cũng có một số nhược điểm như do chạy theo lợi nhuận có thể sẽ không tạo ra cơ cấu sản phẩm tối ưu cho xã hội; không bảo vệ môi trường, an ninh
xã hội; gây đầu cơ tích trữ, buôn lậu Do đó cần thiết phải có sự can thiệp của nhà nước
để điều chỉnh điều tiết phụcvụ nhân dân
- Trong hội nhập khu vực, quốc tế sản xuất mang tính chất quốc tế hóa, trình độ
xã hội hóa sản xuất cao để chủ động hội nhập và tranh thủ lợi ích do hội nhập mang lại
và không làm tổn hại lợi ích dân tộc do đó đòi hỏi phải có sự quản lý của nhà nước
- Mỗi doanh nghiệp hoạt động kinh doanh xuất nhập khẩu hướng tới những mục tiêu kinh tế cụ thể nên để định hướng cho sự phát triển tránh rủi ro tạo điều kiện cho doanh nghiệp Nhà nước, hỗ trợ để các doanh nghiệp thực hiện chiến lược kinh doanh của minh
- Việc mua bán hàng hóa dịch vụ trên thị trường Thế giới liên quan đến nhiều yếu
tố như kinh tế chính trị, luật pháp để tránh bất lợi trong kinh doanh tạo điều kiện phát triển ổn định lâu dài hạn chế tác động xấu đòi hỏi có sự quản lý của Nhà nước
3.2 Mục tiêu và nội dung của chính sách thương mại
3.2.1 Mục tiêu của chính sách thương mại
Chính sách thương mại là một hệ thống các quy định công cụ và biện pháp thích hợp mà Nhà nước áp dụng để điều chỉnh các hoạt động thương mại trong và ngoài nước
ở những thời kỳ nhất định nhằm đạt được các mục tiêu đã đề ra trong chiến lược phát triển kinh tế xã hội
Chính sách thương mại là một bộ phận của chính sách kinh tế xã hội của Nhà nước, nó có quan hệ chặt chẽ và phục vụ cho sự phát triển kinh tế xã hội của đất nước
Nó tác động mạnh mẽ đến quá trình tái sản xuất, chuyển dịch cơ cấu kinh tế của đất nước, đến quy mô và phương thức tham gia của nền kinh tế mỗi nước vào phân công lao động quốc tế và thươngmại quốc tế
Chính sách thương mại có vai trò trong việc khai thác triệt để lợi thế của nền kinh
tế trong nước, phát triển các ngành sản xuất và dịch vụ đến quy mô tối ưu
Như vậy nhiệm vụ của chính sách thương mại có thể thay đổi qua mỗi thời kỳ nhưng đều có mục tiêu chung là điều chỉnh các hoạt động thương mại theo hướng phục
vụ sự nghiệp phát triển kinh tế xã hội của đất nước Mục tiêu của chính sách thương mại xuất phát từ mục tiêu chiến lược phát triển kinh tế của Đảng và Nhà nước bảo đảm thực hiện thắng lợi các mục tiêu ấy
3.2.2 Nội dung của các chính sách thương mại Việt Nam
- Chính sách thương nhân
- Chính sách thị trường
- Chính sách mặt hàng
Trang 28- Chính sách đầu tư phát triển thương mại
+ Chính sách quản lý thương mại nội địa
+ Chính sách quản lý thương mại quốc tế
Trang 29CÂU HỎI ÔN TẬP Câu 3.1: Trình bày được mục tiêu nội dung của chính sách thương mại
Câu 3.2: Xác định được cơ chế tác động của chính sách thương mại
Trang 30Bài 4
CHÍNH SÁCH KHUYẾN KHÍCH XUẤT KHẨU
Mục tiêu
- Trình bày được vai trò của xuất khẩu đối với quá trình phát triển kinh tế
- Xác định được mục tiêu, nhiệm vụ, chính sách và phương hướng xuất khẩu
- Trình bày được những biện pháp, chính sách đẩy mạnh và hỗ trợ xuất khẩu
- Xác định được lý do và các công cụ chính quản lý xuất khẩu
4.1 Vai trò của xuất khẩu đối với quá trình phát triển kinh tế
4.1.1 Xuất khẩu tạo nguồn vốn chủ yếu cho nhập khẩu phục vụ CNH đất nước
CNH đất nước theo những bước đi thích hợp là con đường tất yếu để khắc phục tình trạng nghèo và chậm phát triển của nước ta Để CNH cần đòi hỏi một số vốn lớn Câu hỏi đặt ra là chúng ta phải huy động vốn từ đâu? Các nguồn vốn chúng ta có thể huy động được:
- Đầu tư nước ngoài: Hiệu quả của vốn đầu tư nước ngoài còn thấp tuy nhiên năm
2001 – 2002 đầu tư nước ngoài đã có dâu hiệu ấm dần lên
- Vay nợ, viện trợ: Thông thường sẽ kèm theo những điều kiện nhất định Theo
Bộ Tài chính thì chỉ số an toàn cho các khoản vay phải trả là < 50% GDP hoặc < 50% Giá trị xuất khẩu Tuy nhiên vay thì phải trả
- Thu từ hoạt động dịch vụ, du lịch: Nguồn này đóng góp vốn rất ít cho CNH
- Thu từ xuất khẩu là quan trọng nhất và nhằm thỏa mãn nhu cầu nhập khẩu tư liệu sản xuất phục vụ công nghiệp hóa hiện đại hóa đất nước Thực tiễn xuất khẩu và nhập khẩu có quan hệ mật thiết với nhau vừa là kết quả vừa là tiền đề của nhau, đẩy mạnh xuất khẩu là để tăng cường nhập khẩu, tăng nhập khẩu để mở rộng và tăng cường khả năng xuất khẩu Chính vì vậy trong kinh doanh phải luôn kết hợp xuất khẩu và nhập khẩu, kết hợp trong sản xuất trong kinh doanh
+ 86 – 90 xuất khẩu chiếm 3/4 tổng các nguồn ngoại tệ thu được
+ 91 – 95 xuất khẩu chiếm 2/3………
+ 96 – 2000 xuất khẩu chiếm1/2………
- Sức lao động (thu từ xuất khẩu lao động)
+ Thời kỳ 91 – 99 thu được 75 nghìn USD
+ Năm 2000 thu được 500 triệu USD
4.1.2 Xuất khẩu đóng góp vào việc chuyển dịch cơ cấu kinh tế, thúc đẩy sản xuất phát triển
a Chuyển dịch cơ cấu về ngành, vùng và thành phần kinh tế
Chúng ta nghiên cứu xu hướng chuyển dịch cơ cấu kinh tế trên thế giới
- Đối với các nước đang phát triển:
Xu hướng chuyển dịch theo hướng CNH chuyển từ ngành có giá trị gia tăng thấp sang những ngành có giá trị gia tăng cao hơn Hay nói cách khác là tăng tỷ trọng các ngành công nghiệp, dịch vụ và giảm tỷ trọng các ngành nông lâm thuỷ sản
Trang 31- Đối với các nước phát triển
Có xu hướng tăng tỷ trọng ngành dịch vụ Đó là do cầu dịch vụ lớn hơn cầu công nghiệp VD: Ở Mỹ cơ cấu Nông nghiệp 2%
Công nghiệp 25%
Dịch vụ 73%
Việt Nam chuyển dịch cơ cấu kinh tế thời kỳ 1997 – 2001 (%)
Xuất khẩu có vai trò tác động đến sự thay đổi chuyển dịch cơ cấu kinh tế ngành theo hướng sử dụng có hiệu quả nhát lợi thế của đất nước Tham gia thị trường thế giới phải chấp nhận quy luật cạnh tranh nên phải khai thác lợi thế để tạo sức cạnh tranh Xuất khẩu làm sản lượng sản xuất mở rộng như vậy là khai thác lợi thế tính hiệu quả nhờ quy
mô sẽ kích thích sự tăng trưởng kinh tế
b Xuất khẩu coi thị trường và đặc biệt là thị trường Thế giới là hướng quan trọng để thúc đẩy sản xuất, tổ chức sản xuất
- Xuất khẩu tạo điều kiện cho các ngành khác có cơ hội phát triển thuận lợi Đẩy mạnh xuất khẩu được xem như một yếu tố quan trọng kích thích sự tăng trưởng kinh tế Xuất khẩu cho phép mở rộng quy mô sản xuất, nhiều ngành nghề mới ra đời phục vụ cho xuất khẩu gây phản ứng dây truyền giúp các ngành kinh tế khác phát triển theo, tổng sản phẩm xã hội tăng và nền kinh tế phát triển nhanh có hiệu quả
VD: Chiến lược đẩy mạnh xuất khẩu ngành may tạo điều kiện phát triển ngành bông vải,ngành dệt, thuốc nhuộm, ngành phụ liệu may phục vụ công nghiệp may, thiết
- Xuất khẩu tạo khả năng mở rộng thị trường tiêu thụ, góp phần cho sản xuất phát triển và ổn định Xuất khẩu hướng tới thị trường thế giới rộng lớn tạo khả năng tiêu thụ lớn sẽ góp phần phát triển sản xuất do khai thác triệt để tính hiệu quả nhờ quy mô làm sản lượng sản xuất của quốc gia sẽ tăng Một nền công nghiệp không liên hệ cạnh tranh với thị trường bên ngoài thường không tạo động lực cho sự cải tiến
Mở cửa phát triển hướng về xuất khẩu có thể phát triển công nghiệp non trẻ trở thành công ty có khả năng cạnh tranh trên thị trường thế giới bằng việc mở rộng thị trường và đưa ra sản phẩm và quy trình sản xuất phù hợp với nhu cầu thị trường về các loại sản phẩm khác nhau ở các quốc gia khác nhau
- Xuất khẩu tạo ra những tiền đề kinh tế và kỹ thuật nhằm mở rộng khả năng cung cấp đầu vào và năng cao năng lực sản xuất trong nước Xuất khẩu tạo vốn, kỹ thuật,
Trang 32công nghệ từ ngoài vào tạo ra năng lực sản xuất mới Xuất khẩu có vai trò kích thích đổi mới trang thiết bị và công nghệ sản xuất Bởi vì để đáp ứng yêu cầu cao của thi trường thế giới về quy cách chất lượng sản phẩm thì một mặt sản xuất phải đổi mới trang thiệt
bị công nghệ mặt khác người lao động phải nâng cao trình độ tay nghề
Thực tiễn ở ngành may mặc hoặc may da xuất khẩu sau những năm mất đi thị trường Đông Âu và Liên Xô cho thấy muốn tìm thị trường mới ở các nước tư bản đòi hỏi các xí nghiệp phải thay đổi máy móc trang thiết bị
Trước đây khi chúng ta chưa thực hiện xuất khẩu gạo máy móc xay xát gạo của ta rất thô sơ gạo không cần đánh bong, sàng lọc tấm… thì nay xuất khẩu gạo để đủ tiêu chuẩn cần hệ thống máy xay xát theo hướng hiện đại hóa
- Thông qua xuất khẩu hàng hoá của Việt Nam đượch tham gia vào cuộc cạnh tranh trên thị trường Thế giới về chất lượng, giá cả buộc các doanh nghiệp VN phải luôn đổi mới hoạt động sản xuất để đáp ứng nhu cầu thị trường và nâng cao năng lực cạnh tranh của hàng VN
4.1.3 Xuất khẩu có tác động tích cực tới việc giải quyết công ăn việc làm và cải thiện đời sống nhân dân
Tác động của xuất khẩu đến đời sống bao gồm rất nhiều mặt Cụ thể:
- Xuất khẩu thu hút lao động vào làm việc trong ngành sản xuất hàng xuất khẩu
và có thu nhập không thấp
- Mở rộng khả năng tiêu dùng nhờ xuất khẩu tạo nguồn vốn cho nhập khẩu vật phẩm tiêu dung thiết yếu cải thiện đời sống nhân dân (vượt qua đường giới hạn khả năng sản xuất)
4.1.4 Xuất khẩu là cơ sở để mở rộng và thúc đẩy các quan hệ kinh tế đối ngoại, nâng cao vị trí và vai trò của nước ta trên trường quốc tế
Xuất khẩu và quan hệ kinh tế đối ngoại có tác động qua lại phụ thuộc lẫn nhau Xuất khẩu và kinh tế đối ngoại làm cho nền kinh tế nước ta gắn chặt với phân công lao động Thông thường hoạt động xuất khẩu ra đời sớm hơn hoạt động kinh tế đối ngoại khác
- Xuất khẩu tạo điều kiện thúc đẩy quan hệ đối ngoại phát triển VD xuất khẩu và công nghệ sản xuất hàng xuất khẩu tạo điều kiện thúc đẩy quan hệ tín dụng, đầu tư, vận tải, … nhờ khả năng xuất khẩu dầu thô và gạo của chúng ta lớn mà nhiều nước muốn thiết lập quan hệ buôn bán và đầu tư với chúng ta
- Các chính sách quan hệ kinh tế đối ngoại tạo điều kiện tiền đề cho mở rộng xuất khẩu Tóm lại đẩy mạnh xuất khẩu là định hướng phát triển có tính chất chiến lược để đưa nước ta thành nước công nghiệp mới
4.2 Mục tiêu, nhiệm vụ, chính sách và phương hướng xuất khẩu
Hiện trạng xuất khẩu của Việt Nam
Chúng ta đã nghiên cứu ở chương 3 ngoại thương qua các thời kỳ Chúng ta có thể nhận thấy hiện trạng xuất khẩu của ta như sau:
- Tuy tốc độ xuất khẩu tăng nhanh song quy mô còn rất nhỏ bé chưa đủ đáp ứng nhu cầu NK của nền kinh tế
Trang 33- Kim ngạch xuất khẩu hàng năm đều gia tăng trừ năm 1991 giảm do thị trường Đông Âu và Liên Xô có biến động Có sự gia tăng đó là do:
+ Chủ trương chính sách đúng đắn của Nhà nước và biện pháp (Thuế, vốn, trợ cấp …) hỗ trợ là động lực làm xuất khẩu tăng cao
+ Chính sách đa phương hóa, đa dạng hóa đã mở rộng thị trường đẩy mạnh xuất khẩu
+ Gia nhập Asean tham gia AFTA nên một số mặt hàng xuất khẩu giảm thuế làm xuất khẩu gia tăng
+ Doanh nghiệp đầu tư công nghệ, trình độ quản lý, tay nghề làm cho sản phẩm
có tính cạnh tranh dáp ứng được yêu cầu của thị trường thế giới
+ Thêm vào đó là mức khởi điểm xuất khẩu của Việt Nam là quá thấp
Năm 1998 tốc độ tăng thấp hơn do khủng hoảng tài chính tiền tệ Đông Nam Á và đồng Yên phá giá mạnh Tuy nhiên tốc độ và quy mô tăng trưởng xuất khẩu chưa đáp ứng được yêu cầu của công cuộc tăng kim ngạch xuất khẩu/GDP khoảng 30%
Theo WTO một nước có nền ngoại thương tương đối phát triển thì kim ngạch xuất khẩu/ng: 170$/năm Việt Nam năm 1999 là 151$/ng/năm đạt khoảng 89,18%
- Cơ cấu xuất khẩu rất chậm chạp phần lớn xuất khẩu hàng hóa nguyên liệu ở dạng sơ chế còn thể hiện sự yếu kém của nền kinh tế, nặng về hàng hoá ở dạng sơ chế
1991 – 1995 Cơ cấu Hàng nông lâm thuỷ sản 49%
Công nghiệp nhẹ và tiểu thủ công nghiệp 20%
Công nghiệp nặng, khoáng sản 30,7%
1996 – 2000 Nông lâm thuỷ sản 35,6%
Công nghiệp nặng - tiểu thủ công nghiệp 35,4%
CN nặng và khoáng sản 29%
- Sức cạnh tranh của hàng hoá Việt Nam còn yếu Nguyên nhân:
+ Công nghiệp sản xuất lạc hậu, không đồng bộ
+ Hàng hoá xuất khẩu chủ yếu là hàng thô và nguyên liệu được thu gom từ nhiều vùng lãnh thổ khác nhau dẫn đến chất lượng giảm, không đồng đều
+ Các doanh nghiệp Việt Nam mới bắt đầu tham gia hoạt động kinh doanh trên thị trường thế giới trong điều kiện thị trường thế giới đã được phân chia và phân công lao động quốc tế đã được xác lập tương đối ổn định
- Kim ngạch xuất khẩu thấp nhưng có quá nhiều doanh nghiệp tham gia vào hoạt động xuất nhập khẩu dẫn đến tăng hàng hóa nhập khẩu và bán lẻ hàng hóa xuất khẩu tạo điều kiện cho thương nhân nước ngoài chèn ép giá
- Cơ cấu thị trường trong những năm gần đây đã được mở rộng và đa dạng hoá
Thị trường Châu Á luôn là thị trường chính của Việt Nam (chiếm trên 70%)
trong đó các nước xung quanh Việt Nam chiếm 45%
Thời kỳ 1991 – 1995 chiếm 80%
Tuy nhiên chúng ta gặp một số bất lợi ở thị trường này:
Trang 34- Hàng Việt Nam chịu sức ép cạnh tranh lớn khó xam nhập vì cơ cấu hhàng hóa xuất khẩu và tiêu thụ của các nước trong khu vực khá tương tự nhau
- Hiệu quả kinh doanh xuất khẩu mang lại thấp vì đây là thị trường trung gian Các nước Châu Á trong đó có các nước Asean rất coi trọng thị trường ngoài khu vực
Ví dụ: Năm 1992 xuất khẩu sang Mỹ của Singapore là 22%
Malayxia 26%
Thái Lan 26%
Đài Loan 30%
Trung quốc 28%
Việt Nam năm 1993 chỉ 0.17%
+ ASEAN, AFTA 2005 chiếm 18% Đây là thị trường quan trọng của Việt Nam
là đầu cầu để VN đi vào các thị trường khác
+ Nhật Bản 1991 – 1995: chiếm 30% kim ngạch xuất khẩu của Việt Nam Trong nhiều năm trước đây là thị trường quan trọng của VN chỉ đứng sau Liên Xô NB chiếm gần 25% kim ngạch xuất khẩu, 10% kim ngạch nhập khẩu Năm 1991 – 1995 chiếm 7.4% chủ yếu là sản phẩm dầu thô, tôm, áo khoác nam, quần âu nam, áo len, cá mực, than không khói, café, chè, hóa chất, …
Nhật Bản là thị trường xuất khẩu hàng dệt may phi hạn ngạch lớn nhất Việt Nam
NB là chủ đầu tư FDI lớn thứ 4 sau Singapore, Đài Loan và Hồng Kông NB là chủ tài trợ ODA song phương lớn nhất cho VN
NB là cường quốc kinh tế lớn nhất châu Á việc duy trì và phát triển mối quan hệ với NB có ý nghĩa chiên lược trong đường lối hoạt động kinh tế đối ngoại của VN
+ Trung quốc: 1986: 340 triệu USD
1999: 859 triệu USD
2001: 1,5 tỷ USD
Nhưng chủ yếu là buôn bán qua con đường tiểu ngạch đó là do:
Giá cả thay đổi nhanh
Có nhiều cơ sở sản xuất của Trung Quốc gần biên giới nên họ muốn xuất khẩu qua con đường tiểu ngạch
Lợi nhuận chỉ đem lại cho bản thân các cá nhân
+ CA – FTA (China Asean Free Trade Area)
Khu vực mậu dịch tự do Asean TQ
Thị trường Liên Xô và Đông Âu: Đây là thị trường truyền thống của ta trước
năm 1990
Thời kỳ 1975 – 1989 chiếm 44.1% kim ngạch xuất khẩu của chúng ta
1991: 11% kim ngạch xuất khẩu
1998: 2% kim ngạch xuất khẩu
Quan hệ với thị trường Nga chúng ta có những thuận lợi
Trang 35Hệ thống pháp lý đã được khai thông
Nhu cầu XNK của 2 nước hài hoà
Thị trường Nga là thị trường mở không áp dụng hạn ngạch
Tuy nhiên cũng có một số khó khăn
Hàng Việt Nam ở thị trường này cạnh tranh kém cả về giá và chất lượng khác với trước đây chúng ta coi LX là thị trường “dễ tính”
Thuế nhập khẩu và VAT ở Nga cao và Nga xếp VN vào nhóm nước khá phát triển như Singapore, Đài Loan, Hồng Kông nên hàng của VN nhập khẩu vào Nga bị đánh thuế cao
Chi phí vận tải tới nội địa lớn dẫn đến P hàng Việt Nam cao
Các doanh nghiệp Nga đều thiếu vốn mà lãi suất ngân hàng thì cao Hoạt động kinh tế ngầm của Nga rất phát triển (khoảng 25% GDP) mà nhà nước không kiểm soát được cho nên dễ gặp rủi ro trong thanh toán, rủi ro gặp lừa đảo ( Thị trường này có mức
độ rủi ro cao Thị trường các ngân hàng thương mại áp dụng nhiều luật pháp ngặt nghèo trong nhập khẩu)
Hàng VN xuất khẩu sang Nga là hàng công nghiệp nhẹ, nông lâm sản, hàng thủ công mỹ nghệ: mây, tre, lá
Các DN VN nên chú ý đến thị trường Nga vì:
- Nga có tiềm lực thương mại quốc tế dù nước này tiếp tục gặp khủng hoảng nhưng kim ngạch xuất nhập khẩu của Nga với Thế giới vẫn rất lớn
- Nga là thị trường truyền thống và cả 2 nước đang cần đến những sản phẩm của nhau
- Mở rộng buôn bán với thị trường Nga được Đảng và chính phủ cả hai nước quan tâm
- Chính phủ Nga khuyến khích các doanh nghiệp nước ngoài đưa hàng hóa vào Nga để kinh doanh trực tiếp
- Cộng đồng người Việt làm ăn tại Nga khá đông, làm ăn phát đạt sẽ là cầu nói quan trọng trong việc thúc đẩy quan hệ buôn bán giữa hai nước
Dự báo năm 2010 XK sang Nga chiếm 4% và năm 2020 là 5%
EU:
Quan hệ VN – EU khôi phục gần đây và phát triển mạnh mẽ Nguyên nhân do hàng loạt sự kiện ở Liên Xô và Đông Âu VN muốn thoát khỏi tình trạng hẫng hụt do mất thị trường truyền thống, EU trở thành mục tiêu quan trọng của VN trong khuynh hướng xuất khẩu Hiệp điịnh thương mại VN – EU ký kết 7/ 1995 đã mở ra nhiều cơ hội cho chúng ta
Thuận lợi: hiện nay đồng Euro tăng giá
Được hưởng ưu đãi thuế quan nên sản phẩm có thuận lợi cạnh tranh về P
Nhiều hàng thuỷ sản được công nhận
1990: Kim ngạch 2,5 tỷ USD
2001: Kim ngạch 4,3 tỷ USD chiếm 19,7% kim ngạch xuất khẩu
Trang 36Khó khăn
Xuất khẩu chủ yếu là hàng gia công
Gặp phải sự cạnh tranh rất quyết liệt
Sức mua của người dân giảm do mất giá của đồng Euro trong những năm mới sử dụng Đay là thị trường “khó tính”
Muốn xâm nhập vào thị trường EU thì các doanh nghiệp Việt Nam phải thực hịên những biện pháp sau:
- Đầu tư vào kỹ thuật va công nghệ của sản xuất để nâng cao chất lượng sản phẩm
có như vậy mới thỏa nãm được những yêu cầu của thị trường này
- Cần tìm hiểu chế độ thuế quan ưu đãi GSP (Generalized Systerm Preference) của EU giành cho VN để tận hưởng ưu đãi này Cụ thể là đối với các nước đang phát triển sẽ được hưởng quy chế tối huệ quốc MFN (Most Favoured Nation)
Dự báo kim ngạch xuất khẩu sang EU năm 2010 chiếm 15%
Còn XK sang Châu Âu là 23% vào năm 2010 và 20% năm 2020
Thị trường Bắc Mỹ (chủ yếu Mỹ)
Nhập khẩu hàng năm của Mỹ trên 1000 tỷ USD Chúng ta đã ký hiệp định thương mại Việt - Mỹ và bắt đầu có hiệu lực tạo điều kiện cho hoạt động ngoại thương phát triển Saong khi tham gia kinh doanh trên thị trường này đòi hỏi phải có nghiên cứu thị trường cẩn thận và thận trọng khi xâm nhập thị trường này Chúng ta cần rút kinh nghiệm về cụ kiện cá da trơn và tôm
Mặt hàng xuất khẩu của Việt Nam sang thị trường mỹ là café, gạo, dầu thô, giày dép, thủy sản, dệt may
Thị trường Châu Phi và Nam Mỹ:
Do vị trí địa lý rất xa Việt Nam nên chi phí vận tải lớn
1999: < 1% kim ngạch xuất khẩu
2001: thị trường Châu Phi được coi là thị trường có sự ổn định về chính trị, từng bước thoát ra khỏi đói nghèo
Mặt hàng chủ yếu xuất khẩu sang thị trường này là gạo với nhu cầu khoảng 10 triệu tấn/năm
Trang 374.2.2 Nhiệm vụ
Tham gia vào hoạt động ngoại thương là để khai thác những lợi thế của đất nước nhưng quan trọng là biến những lợi thế đó thành hiện thực đó là điều còn nhiều khó khăn khi mà trình độ phát triển kinh tế đất nước còn thấp, thu nhập bình quân/người ở mức thấp (>300$ - 400$/ng/năm), nạn thất nghiệp, thiếu vốn, tham nhũng, hệ thống ngân hàng hoạt động kém hiệu quả, … Vậy để đưa VN sánh vai với các nước trong khu vực nhiệm vụ của xuất khẩu là:
- Đẩy mạnh xuất khẩu tham gia lành mạnh tình hình tài chính quốc gia: Đảm bảo cân đối trong thanh toán, cân đối cán cân thương mại, giảm tình hình nhập siêu
- Xuất khẩu để đảm bảo nhập khẩu phục vụ công nghiệp hóa đất nước và cuộc cách mạng khoa học kỹ thuật
- Phải ra sức khai thác có hiệu quả mọi nguồn lực của đất nước Khai thác lợi thế tuyệt đối, lợi thế tương đối để kích thích các ngành kinh tế phát triển
- Xuất khẩu để góp phần tăng tích lũy vốn, mở rộng xuất khẩu tăng thu nhập cho nền kinh tế
- Xuất khẩu cải thiện từng bước đời sống nhân dân thông qua việc tạo công ăn việc làm, tăng thu nhập cho nhân dân
- Phải tiến hành đánh giá các nguồn lực và đánh giá cả ưu điểm và nhược điểm
- Hoạt động xuất khẩu có nhiệm vụ phát triển quan hệ kinh tế đối ngoại với tất cả các nước nhất là các nước trong khu vực Đông Nam Á, nâng cao uy tín của Việt Nam trên trường quốc tế, thực hiện tốt chính sách đối ngoại của Đảng và Nhà nước là đa dạng hóa thị trường và đa phương hóa quan hệ kinh tế tăng cường hợp tác khu vực
Xuất khẩu phải đánh thức được tiềm lực còn đang ngủ quên:
Mở rộng hàng xuất khẩu, tăng hàm lượng chế biến, xuất khẩu lao động, tạo hàng xuất khẩu mới để tận dụng tiềm năng về vị trí điạ lý, khai thác đánh bắt xa bờ
- Nâng cao khối lượng, kim ngạch xuất khẩu
- Tạo ra những mặt hàng lớn, nhiều hàng xuất khẩu chủ lực đáp ứng được những đòi hỏi của thị trường trên thế giới và của khách hàng về số lượng, chất lượng có sức hấp dẫn và k/n cạnh tranh cao
4.2.3 Phương hướng phát triển nguồn hàng xuất khẩu trong thời gian tới
Căn cứ
Phương hướng
Phải dựa lợi thế của đất nước để phát triển kinh tế đối ngoại của Việt Nam:
Trang 38- Việt Nam có vị trí địa lý thuận lợi nằm trong vùng Đông Nam Á có tốc độ tăng trưởng kinh tế cao nhất thế giới và nằm trên tuyến đường giao lưu hàng hải quốc tế
- So với nhiều nước thì nước ta thuộc loại có tài nguyên phong phú về đất đai, khoáng sản; thiên nhiên ưu đãi
- Nguồn lao động là thế mạnh của Việt Nam Đây là lợi thế cơ bản của VN để thu hút vốn đầu tư nước ngoài và xuất khẩu các ngành hàng sử dụng nhiều nhân công như: dệt may, chế biến nông lâm thủy sản, lắp ráp sản phẩm điện, điện tử, …
- Sau nhiều năm xây dựng đất nước, kinh tế quốc doanh thành phần chủ đạo đã tạo cơ sở vật chất kinh tế to lớn đặt nền tảng cho phát triển kinh tế của cả nước nói chung, cho ngành kinh tế đối ngoại nói riêng
Tuy nhiên khi phát triển kinh tế đối ngoại chúng ta cần lưu ý những hạn chế của chúng ta bao gồm:
- Diện tích đất canh tác tính bình quân đầu người là 0,1 ha và tính trên lao động là 2ha là mức thấp so với nhiều nước trên thế giới
- Tuy khí hậu nhiệt đới là một ưu đãi lớn của thiên nhiên nhưng chúng ta phải thường xuyên có lụt bão, sâu bọ
- Tài nguyên nước ta nhiều nhưng phân bố rải rác như dầu mỏ ở phái Nam, quặng phần lớn ở miền Bắc và không đủ lớn để trở thành mặt hàng chiến lược như dầu mỏ ở các nước Trung Cận Đông
- Vị trí địa lý thuận lợi nhưng cơ sở hạ tầng yếu kém, các hải cảng ít và nhỏ
- Trình độ quản lý của cán bộ và tay nghề của công nhân còn thấp, tệ nạn xã hội
và hệ thống luật phấp cơ chế chính sách không rõ rang, thiếu đồng bộ và hay thay đổi làm cản trở quá trình đổi mới kinh tế
- Công nghệ trang thiết bị còn yếu ở trình độ thấp, hàng hóa chưa có tính cạnh tranh trên thị trường quốc tế
Tóm lại, Việt Nam có nhiều điều kiện thuận lợi để phát triển hoạt động kinh tế đối ngoại đưa VN phát triển hòa nhập với nền kinh tế thế giới Tuy nhiên còn nhiều thách thức, khó khăn trở ngại cho tiến trình này, việc đề ra một đường lối phát triển hoạt động kinh tế đối ngoại cho phép khai thác triệt để những lợi thế, hạn chế tối thiểu những trở ngại mang tính chất cấp bách và thiết thực
4.3 Những biện pháp, chính sách đẩy mạnh và hỗ trợ xuất khẩu
Trong quá trình thực hiện chiến lược phát triển hướng ngoại thì đẩy mạnh xuất khẩu trở thành phương hướng chủ yếu của chính sách ngoại thương
Các biện pháp đẩy mạnh xuất khẩu có thể chia thành 3 nhóm:
Nhóm 1: biện pháp liên quan đến tổ chức nguồn hàng, cải biến cơ cấu xuất khẩu Nhóm 2: nhóm biện pháp tài chính
Nhóm 3: nhóm biện pháp thể chế tổ chức
4.3.1 Nhóm biện pháp liên quan đến tổ chức nguồn hàng, cải biến cơ cấu xuất khẩu
a Xây dựng các mặt hàng chủ lực
Trang 39Dù có chính sách đa dạng hoá mặt hàng xuất khẩu, nghĩa là một nước không chỉ chuyên vào xuất khẩu một vài sản phẩm nhưng các quốc gia đều có chính sách xây dựng những mặt hàng chủ lực, những con chủ bài của nhà ngoại thương
Người ta chia mặt hàng xuất khẩu thành 3 loại
- Hàng xuất khẩu chủ lực
- Hàng xuất khẩu quan trọng: không chiếm tỷ trọng lớn trong kim ngạch xuất khẩu nhiều đối với từng địa phương, từng thị trường có vị trí quan trọng
- Hàng xuất khẩu thứ yếu: gồm nhiều loại, kim ngạch xuất khẩu nhỏ
Các quan điểm về mặt hàng xuất khẩu chủ lực trên thế giới
Quan điểm 1: Là những mặt hàng có kim ngạch lớn chiếm trên 25% tổng kim
ngạch xuất khẩu (Brunây)
Quan điểm 2: là mặt hàng mà sản xuất ra phần lớn để xuất khẩu (Ấn Độ)
Quan điểm 3: là mặt hàng có kim ngạch xuất khẩu lớn do có vị trí quy định trong
Kim ngạch xuất khẩu có thị trường ngoài nước và điều kiện sản xuất trong nước thuận lợi
Ở Việt Nam hàng xuất khẩu chủ lực là loại hàng xuất khẩu có thị trường tương đối ổn định, có điều kiện sản xuất trong nước thuận lợi và có hiệu quả nên chiếm tỷ trọng lớn trong kim ngạch xuất khẩu và có vị trí quyết định trong cơ cấu hàng xuất khẩu
Nếu quan niệm hàng xuất khẩu chủ lực là hàng có giá trị kim ngạch xuất khẩu trên 100 triệu$ bởi chúng phản ánh khả năng chiếm lĩnh thị trường thế giới của hàng hóa của nước ta thì năm 1991 nước ta chỉ có 4 mặt hàng XK chủ lực( Dầu thô, Thủy sản, Gạo, Dệt may) đến năm 2001 chúng ta có 18 mặt hàng chiếm 81,1% kim ngạch XK
Các mặt hàng XK chủ lực của VN thời kỳ 1991 –2001 Hàng CN XK chủ lực: Dầu thô, Thủy sản, Gạo, Dệt may, Cà phê, Giày dép, Cao su, Linh kiện điển tử, Thủ công mỹ nghệ, Hạt điều, Than đá, Điện tử, Rau quả, Xe đạp và phụ tùng xe đạp, sản
phẩm gỗ, Dây điện và dây cáp điện, Sữa và sản phẩm sữa
5 mặt hàng XK chủ lực từng tồn tại gần chục năm nay nhưng đến năm 2001 không còn như: Cao su, than đá, hạt điều, lạc nhân, hạt tiêu
3 mặt hàng mới nhưng đã khẳng định vị trí của mình là linh kiện điện tử, rau quả, thủ công mỹ nghệ
4 mặt hàng có tính bền vững cao là dầu thô, dệt may, da và giả da, gạo
2 mặt hàng XK chủ lực tỏ ra có sức bật lớn là thủy sản và linh kiện điện tử
Các điều kiện để một mặt hàng được gọi là hàng xuất khẩu chủ lực (trang 233)
- Cầu: Có thị trường ổn định, cạnh tranh được trên thị trường đó
Điều kiện dự đoán thị trường trong tương lai đó là mặt hàng có nhu cầu tăng theo dân số hoặc là nhu cầu tăng theo thu nhập
- Cung: Có nguồn lực để tổ chức sản xuất và sản xuất với chi phí thấp để thu được lợi nhuận trong kinh doanh
- Xuất khẩu hàng đó phải có hiệu quả
Trang 40 Quá trình hình thành:
Thâm nhập -> cạnh tranh -> đứng vững -> chuyển đổi cơ cáu sản xuất trong nước -> tăng lợi nhuận
Quá trình hình thành mặt hàng xuất khẩu chủ lực ở Việt Nam
1992: Chúng ta có 4 mặt hàng: gạo, thuỷ sản, may mặc và dầu thô
1993 – 1994: Thêm giầy dép, cà phê, cao su, hạt điều
1995 – nay: Thêm rau quả, thủ công mỹ nghệ, linh kiện điện tử, than đá
Chỉ tiêu đánh giá hiệu quả sản xuất hàng công nghiệp XK chủ lực thời kỳ 2001 – 2010
- Thường xuyên đóng góp lớn cho giá trị tăng thêm ngành công nghiệp và tốc độ tăng giá trị công nghiệp hàng năm
- Có khả năng chiếm lĩnh thị phần lớn trên thị trường thế giới
- Sử dụng nhiều nguồn nhân lực trong nước
- Sử dụng nhiều nguồn tài nguyên tại chỗ, nguyên liệu sản xuất tại chỗ
- Đạt giá trị tăng them cao trên một đồng vốn tài sản cố định, trên một đồng vốn tài sản lưu động
- Đạt trình độ tiêu chuẩn quốc tế về chất lượng và bảo vệ môi trường
- Đạt mức thu nhập cao cho một lao động
- Thị trường thế giới có khả năng tăng cầu đối với hàng công nghiệp đó
- Nước ta có khả năng tăng xuất khẩu đối với hàng công nghiệp đó
Chỉ tiêu 2 là quan trọng nhất đó là thị trường thế giới không phải là thị trường nội địa nên cần phải có được thông tin về một số loại thị trường đang có nhu cầu đối với hàng công nghiệp của chúng ta
Trong hội nhập kinh tế quốc tế VN cần phải cắt giảm thuế (WTO, AFTA) giá hàng hóa rẻ đi tạo điều kiện cho thương mại phát triển Tham gia WTO các nước cắt giảm 40% thuế suất đưa mức thuế trung bình giảm 50% còn 3% trong vòng 10 năm tới làm lượng hàng hóa buôn bán trên thế giới tăng 12% (từ năm 2005) GDP toàn cầu tăng bình quân 235 tỷ $/năm AFTA kim ngạch XK của ASEAN tăng bình quân 1,5 – 5% như Singapore tăng 1,5%, Thái lan tăng 5% Dù thực hiện được 4 năm kim ngạch XK của ASEAN đã tăng 41 tỷ $/1993; 57,5 tỷ $/1994 và 69 tỷ năm 1995 Việt Nam cũng gặp khó khăn trong cạnh tranh trên thị trường thế giới chúng ta có lợi thế lao động nên hàng hóa rẻ hơn nhưng hội nhập giá hàng hóa rẻ đi cạnh tranh sẽ yếu đi Muốn sản xuất trong nước các quốc gia phải đẩy mạnh XK để mở rộng cầu đây là ưu thế của quá trình hội nhập kinh tế quốc tế
Ý nghĩa của mặt hàng xuất khẩu chủ lực
- Mở rộng quy mô sản xuất trong nước và chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng công nghiệp hoá, mở rộng và làm phong phú thị trường nội địa
- Tăng nhanh kim ngạch xuất khẩu
- Tạo điều kiện giữ vững ổn định thị trường xuất khẩu và nhập khẩu