56 MỤC LỤC MỞ ĐẦU 1 Chương 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ NÂNG CAO NĂNG LỰC QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC VỀ KINH TẾ CHO CÁN BỘ, CÔNG CHỨC CẤP XÃ 8 1 1 Các quan niệm về năng lực và năng lực quản lý nhà nước về ki[.]
Trang 1Chương 1:CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ NÂNG CAO NĂNG
LỰC QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC VỀ KINH TẾ CHO CÁN BỘ, CÔNGCHỨC CẤP XÃ 1.1 Các quan niệm về năng lực và năng lực quản lý nhà nước về kinh tế củacán bộ, công chức cấp xã 1.2 Những nhân tố tác động đến nâng cao năng lực quản lư nhà nước về kinh
tế cho cán bộ, công chức cấp xã 1.3 Kinh nghiệm của một số địa phương về nâng cao năng lực QLNN vềkinh tế cho đội ngũ cán bộ, công chức cấp xã
Chương 2: THỰC TRẠNG NĂNG LỰC QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC VỀ
KINH TẾ CỦA CÁN BỘ, CÔNG CHỨC CẤP XÃ TRÊN ĐỊA BÀNHUYỆN LẠC SƠN, TỈNH HÒA BÌNH 2.1 Khái quát về điều kiện tự nhiên, kinh tế - văn hoá – xă hội huyện Lạc Sơn 2.2 Thực trạng nâng cao năng lực quản lý nhà nước về kinh tế cho đội ngũcán bộ công chức cấp xã trên địa bản huyện Lạc Sơn 2.3 Những nhận xét cơ bản về nâng cao năng lực quản lý nhà nước vềkinh tế cho đội ngũ CBCC cấp xã trên địa bàn huyện Lạc Sơn giaiđoạn 2010 - 2016
Chương 3: GIẢI PHÁP NÂNG CAO NĂNG LỰC QUẢN LÝ NHÀ
NƯỚC VỀ KINH TẾ CHO CÁN BỘ, CÔNG CHỨC CẤP XÃ TRÊNĐỊA BÀN HUYỆN LẠC SƠN, TỈNH HÒA BÌNH 3.1 Dự báo tình hình và phương hướng nâng cao năng lực QLNN về kinh tếcho đội ngũ cán bộ, công chức cấp xă trên địa bàn huyện Lạc Sơn 3.2 Những giải pháp chủ yếu nhằm nâng cao năng lực QLNN về kinh tế chođội ngũ CBCC cấp xă trên địa bàn huyện lạc sơn, tỉnh Hòa Bình giai đoạn
2017 - 2020 KẾT LUẬN
Trang 2DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO
MỞ ĐẦU
1 Lý do chọn đề tài
Cấp xã là cấp chính quyền gần dân, trực tiếp thực hiện và bảo đảm trênthực tế việc phát huy quyền làm chủ của nhân dân trong quản lý nhà nước,Quyền và lợi ích hợp pháp của nhân dân có được tôn trọng và bảo đảm thựchiện hay không, trước hết phải được thể hiện ở hoạt động của chính quyềncấp xã, mà thông qua đó là năng lực quản lý nhà nước của cán bộ, công chức(CBCC) cấp xã Chủ tịch Hồ Chí Minh đã nhấn mạnh: “Cấp xã là cấp gầngũi dân nhất, là nền tảng của hành chính Cấp xã làm được việc thì mọi côngviệc đều xong xuôi” [12,tr.371]
Cán bộ, công chức cấp xã có vị trí, vai trò quan trọng trong hệ thống cơquan nhà nước, là nguồn nhân lực trực tiếp tổ chức, vận hành bộ máy nhànước Hiện nay, nước ta đang thực hiện chủ trương cải cách hành chính, nhằmxây dựng một nền hành chính dân chủ, trong sạch, vững mạnh, từng bướchiện đại, trong đó xây dựng đội ngũ cán bộ, công chức cấp xã là một nội dungquan trọng
Trong thời kỳ đổi mới, hội nhập quốc tế hiện nay, cán bộ, công chứccấp xã là một trong những nguồn nhân lực nòng cốt trong quản lý và tổ chứcthực hiện các công việc của Nhà nước; Hệ thống các cơ quan nhà nước hoạtđộng có hiệu lực, hiệu quả hay không phụ thuộc vào năng lực, trách nhiệmcủa đội ngũ cán bộ, công chức Do vậy, việc xây dựng, nâng cao năng lựcquản lý nhà nước về kinh tế cho đội ngũ cán bộ, công chức có phẩm chấtchính trị vừa có trình độ chuyên môn và kỹ năng nghề nghiệp cao có tinh thầntrách nhiệm, tận tụy, có đạo đức trong sạch, liêm khiết khi thừa hành công vụ
Trang 3là một nhiệm vụ cấp thiết của các cấp, các ngành nhằm đáp ứng yêu cầu côngnghiệp hóa, hiện đại hóa, xây dựng nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa.
Trong những năm qua cán bộ, công chức cấp xã của huyện Lạc Sơn, tỉnhHòa Bình đã được củng cố, từng bước đáp ứng được yêu cầu, nhiệm vụ hoànthành tốt chức năng, nhiệm vụ được giao góp phần vào việc phát triển kinh tế -
xã hội trên địa bàn Tuy nhiên, so với yêu cầu của sự nghiệp đổi mới, đẩy mạnhcông nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước, phát triển kinh tế thị trường địnhhướng xã hội chủ nghĩa và tăng cường hội nhập quốc tế, thì đội ngũ cán bộ,công chức cấp xã của huyện Lạc Sơn, tỉnh Hòa Bình vẫn còn một số hạn chế,bất cập như: Một số cán bộ, công chức cấp xã chưa học hết trung học phổthông, chưa được đào tạo chuyên môn nghiệp vụ, quản lý nhà nước, quản lýkinh tế, tin học, ngoại ngữ; kiến thức chưa tương xứng với yêu cầu, nhiệm vụ,hạn chế tính năng động, sáng tạo trong thực hiện nhiện vụ và việc vận dụng cácchủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước vào địa bàn hoạt động Các vấn
đề này đã làm hạn chế hiệu lực, hiệu quả hoạt động của công tác quản lý nhànước và phát triển kinh tế - xã hội trên địa bàn cấp xã của huyện
Xuất phát từ thực tế những bất cập nêu trên đặt ra yêu cầu cần phảinâng cao năng lực quản lý nhà nước về kinh tế cho cán bộ, công chức cấp xã
nên tôi lựa chọn đề tài “Nâng cao năng lực quản lý nhà nước về kinh tế cho cán bộ, công chức cấp xã trên địa bàn huyện Lạc Sơn, tỉnh Hòa Bình” để
làm luận văn thạc sỹ quản lý kinh tế, hy vọng có một số đóng góp ý kiến vàlàm cơ sở cho việc nâng cao năng lực đội ngũ cán bộ, công chức cấp xã trongthời gian tới
2 Tổng quan các công trình nghiên cứu liên quan đến đề tài
Năng lực của công chức cấp xã trong quản lý nhà nước không còn làmột vấn đề mới, nhưng luôn là đề tài có tính thời sự và cũng không kém phầnphức tạp Vấn đề này đã được nhiều nhà khoa học, nhà quản lý, hoạch định
Trang 4chính sách và hoạt động thực tiễn tập trung đi sâu nghiên cứu, tìm tòi, khảosát Đến nay đã có nhiều công trình được công bố dưới những góc độ, mức
độ, khía cạnh, hình thức thể hiện khác nhau đã được đăng tải và công bố trênmột số sách, báo tạp chí ở trung ương và địa phương, như:
Thứ nhất, nhóm công trình nghiên cứu về chất lượng đội ngũ cán bộ,
Lê Đình Vĩ (2005), Nâng cao chất lượng đội ngũ CBCC chính quyềncấp xã miền núi đặc biệt khó khăn trên địa bàn tỉnh Bắc Giang hiện nay Luậnvãn thạc sỹ Luật học, Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh, Hà Nội [29]
Nguyễn Thanh Tuyền (2009), Chất lượng đội ngũ CBCC chính quyềncấp xã trên địa bàn tỉnh Điện Biên hiện nay, Luận văn thạc sỹ Luật học, Họcviện Chính trị- Hành chính quốc gia Hồ Chí Minh, Hà Nội [23]
Các luận văn thạc sĩ kể trên đã tiếp cận khái niệm chất lượng đội ngũcán bộ, công chức chính quyền cấp xã dưới góc độ chuyên ngành Luật họchoặc chuyên ngành quản lý nhà nước Nhìn chung, bước đầu các tác giả làm
rõ nội hàm khái niệm chất lượng đội ngũ cán bộ, công chức chính quyền cấp
xã, trình bày các tiêu chí đánh giá chất lượng đội ngũ cán bộ, công chức chínhquyền cấp xã, đánh giá thực trạng chất lượng đội ngũ cán bộ, công chức chínhquyền cấp xã và đề xuất các giải pháp nâng cao chất lượng đội ngũ này
Thứ hai, nhóm công trình nghiên cứu năng lực của đội ngũ cán bộ
chính quyền cấp xã
Trang 5Phạm Thị Thu Vinh (2003), Nâng cao năng lực của đội ngũ cán bộchính quyền cơ sở trên địa bàn tỉnh Phú Thọ, Luận văn thạc sỹ Quản lý nhànước, Hà Nội [30].
Trần Ánh Dương (2006), Nâng cao năng lực quản lý nhà nước của cán
bộ công chức chính quyền cấp xã ở tĩnh Hà Tĩnh hiện nay, Luận văn thạc sỹluật học, Học viện chính trị quốc gia Hồ Chí Minh, Hà Nội [3]
Các luận văn thạc sĩ kể trên đã tiếp cận khái niệm năng lực cán bộ,công chức chính quyền cấp xã dưới góc độ chuyên ngành Luật học hoặcchuyên ngành Quản lý nhà nước Các tác giả làm rõ các yếu tố cấu thành nănglực của cán bộ, công chức chính quyền cấp xã, đánh giá thực trạng năng lựccủa cán bộ, công chức chính quyền cấp xã và đề xuất các giải pháp nâng caocán bộ, công chức chính quyền cấp xã trong thời gian tới
Thứ ba, nhóm công trình nghiên cứu về xây dựng đội ngũ cán bộ, công
chức về quản lý kinh tế, tiêu biểu như:
Trần Đức Tuấn, “Xây dựng đội ngũ cán bộ QLNN về kinh tế cấp huyện
ở tỉnh Vĩnh Phúc” [21] Lê Khắc Ngọ, “Giải pháp xây dựng đội ngũ CBCCQLNN về kinh tế cấp cơ sở của tỉnh Phú Thọ” [13]
Tóm lại: Có thể thấy đã có nhiều công trình khoa học đã phân tích mộtcách hệ thống, hoàn chỉnh, hiệu quả và tương đối toàn diện về vấn đề nănglực QLNN của CBCC cấp xã nói chung dưới góc độ lý luận cũng như sự vậndụng lý luận đó vào việc nâng cao năng lực quản lý nhà nước của CBCC cấp
xã tại một số địa phương cụ thể, đó đều là những công trình, sản phẩm trí tuệ
có giá trị, ý nghĩa lớn cả về mặt lý luận và thực tiễn, là cơ sở để kế thừa choviệc nghiên cứu tiếp theo Những công trình trên đã đề cập đến vấn đề cán bộ,xây dựng đội ngũ CBCC; nhiều vấn đề lý luận và thực tiễn trong việc xâydựng đội ngũ CBCC nói chung, đội ngũ CBCC QLNN về kinh tế nói riêng Tuy nhiên cho đến nay, chưa có công trình khoa học nào tập trung nghiên cứu
về nâng cao năng lực QLNN về kinh tế cho đội ngũ CBCC cấp xã trên địa
Trang 6bàn huyện Lạc Sơn, tỉnh Hoà Bình, nâng cao năng lực QLNN về kinh tế choCBCC cấp xã vẫn còn là vấn đề mang tính thời sự cấp thiết cần được tiếp tụcnghiên cứu, bổ sung và hoàn thiện.Vì vậy, việc chọn nghiên cứu đề tài nàymang ý nghĩa lý luận và thực tiễn
3 Mục tiêu nghiên cứu
- Hệ thống hóa cơ sở lý luận và thực tiễn về nâng cao năng lực QLNN
về kinh tế cho đội ngũ CBCC cấp xã nhằm xác định khung lý thuyết nghiêncứu đề tài
- Thu thập, xử lý, phân tích dữ liệu chỉ rõ những kết quả đạt được,những hạn chế, nguyên nhân hạn chế trong nâng cao năng lực QLNN về kinh
tế cho đội ngũ CBCC cấp xã của huyện Lạc Sơn, tỉnh Hòa Bình giai đoạn
2010 - 2016
- Đề xuất các giải pháp chủ yếu nâng cao năng lực QLNN về kinh tếcho đội ngũ CBCC cấp xã trên địa bàn huyện Lạc Sơn, tỉnh Hoà Bình đếnnăm 2020 và những năm tiếp theo
4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu của luận văn
4.1 Đối tượng nghiên cứu
Năng lực quản lý nhà nước về kinh tế của đội ngũ cán bộ, công chứccấp xã
4.2 Phạm vi nghiên cứu
- Về không gian: Luận văn tập trung nghiên cứu thực trạng năng lựcQLNN về kinh tế của đội ngũ cán bộ, công chức cấp xã của huyện Lạc Sơn
Trang 7- Về thời gian: Dữ liệu thu thập, nghiên cứu, đánh giá từ năm 2010 đếnnăm 2016.
- Nội dung: Tập trung nghiên cứu năng lực QLNN về kinh tế và cácnhân tố tác động nâng cao năng lực QLNN về kinh tế cho CBCC cấp xã ởhuyện, tỉnh Hòa Bình
5 Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu của luận văn
5.1 Phương pháp luận
Việc nghiên cứu đề tài dựa trên phương pháp luận duy vật biện chứng
và duy vật lịch sử của chủ nghĩa Mác-Lênin, trên cơ sở tư tưởng Hồ Chí Minh
và các quan điểm của Đảng ta về cán bộ và xây dựng đội ngũ CBCC
5.2 Phương pháp nghiên cứu đề tài
Trong quá trình nghiên cứu đề tài, phương pháp nghiên cứu chủ yếu là:trên cơ sở sử dụng mô tả thống kế, phân tích, tổng hợp, so sánh, đối chứng,phương pháp định tính, kết hợp với các kỹ thuật thu thập, phân tích và xử lýthông tin, rút ra các nhận định, kết quả nghiên cứu năng lực QLNN về kinh tếcủa CBCC cấp xã ở huyện Lạc Sơn, tỉnh Hoà Bình
6 Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của luận văn
6.1 Về ý nghĩa
Luận văn làm rõ cơ sở lý luận và thực tiễn về nâng cao năng lực QLNN
về kinh tế cho đội ngũ CBCC cấp xã; phân tích, đánh giá sát thực trong nângcao năng lực QLNN về kinh tế cho đội ngũ CBCC cấp xã ở huyện Lạc Sơn;chỉ ra những kết quả đạt được, những hạn chế, nguyên nhân hạn chế, đề xuấtcác giải pháp nâng cao năng lực QLNN về kinh tế cho đội ngũ CBCC cấp xãtrên địa bàn huyện Lạc Sơn giai đoạn 2017 2020, những thông tin hữu ích đó
có ý nghĩa khoa học nhất định
6.2 Về hực tiễn
Luận văn có thể làm tài liệu tham khảo cho cấp uỷ chính quyền và cóthể áp dụng vào thực tiễn trong xây dựng kế hoạch, đề án nâng cao năng lực
Trang 8quản lý nhà nước về kinh tế cho cán bộ, công chức cấp xã đáp ứng được yêucầu nhiệm vụ phát triển kinh tế - xã hội của huyện Lạc Sơn, tỉnh Hòa Bìnhtrong thời gian tới.
7 Kết cấu của luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo và phụ lục,luận văn được kết cấu bao gồm 3 chương, 8 tiết:
Chương 1 Cơ sở lý luận và thực tiễn về nâng cao năng lực quản lý nhànước về kinh tế cho cán bộ, công chức cấp xã
Chương 2 Thực trạng năng lực quản lý nhà nước về kinh tế của cán bộ,công chức cấp xã trên địa bàn huyện Lạc Sơn, tỉnh Hòa Bình
Chương 3 Giải pháp nâng cao năng lực quản lý nhà nước về kinh tếcho cán bộ, công chức cấp xã trên địa bàn huyện Lạc Sơn, tỉnh Hòa Bình
Trang 91.1.1 Quan niệm về năng lực
Cuốn Gốc và nghĩa của từ tiếng Việt thông dụng thì năng lực đượcchia làm hai vế: Năng là làm nổi việc; lực là sức mạnh Năng lực được hiểu làsức mạnh có thể làm nổi việc
Từ điển Tiếng Việt thông dụng Nxb giáo dục ấn hành thì năng lực
được hiểu là "khả năng làm việc tốt".
Đại từ điển Tiếng Việt Nxb Văn hoá thông tin: Hiểu theo hai nghĩa: 1.Năng lực là những điều kiện đủ hoặc vốn có để làm một việc gì Ví dụ: Nănglực tư duy của con người; 2 Năng lực là khả năng để thực hiện tốt một côngviệc Ví dụ: Có năng lực chuyên môn, năng lực tổ chức
Năng lực là khả năng của con người để thực hiện tốt công việc hay làmviệc có hiệu quả cao; làm chủ và hoàn thành nhiệm vụ tại các tình huống thực(hành động); làm chủ và xử lý được các tình huống phát sinh trong quá trìnhthực hiện nhiệm vụ; vượt qua khó khăn, trở ngại trong quá trình thực hiệnnhiệm vụ; xác định và tiên liệu được những xu hướng và thay đổi trong tươnglai khi thực hiện các nhiệm vụ để đưa ra được các giải pháp hiệu quả, tránhgây tổn thất
Năng lực là những đặc tính dẫn tới việc thực thi hiệu quả tại một côngviệc, vai trò hay chức năng Năng lực là các kiến thức, kỹ năng hay hành vicần thiết để thực hiện tốt nhất một công việc Kiến thức và kỹ năng là cần
Trang 10thiết để thực thi tốt công việc, thái độ là những đặc điểm nổi trội để địnhhướng việc thực thi tốt nhất công việc
Theo thuật ngữ hành chính, năng lực được định nghĩa là khả năng thựchiện một công việc nào đó Như vậy, năng lực bao giờ cũng gắn với một chủthể nhất định (cá nhân, nhóm người hoặc tổ chức), năng lực ở mỗi người đượchình thành và tổng hợp hài hoà bởi rất nhiều yếu tố, những yếu tố có thể đàotạo được như: kiến thức, kỹ năng, kinh nghiệm, và những yếu tố phải tự rèn,
tự tích lũy, đó là cách ứng xử, giao tiếp, quan hệ khi làm việc, trong đó:
+ Kiến thức là sự hiểu biết bao gồm về các sự kiện, chứng cứ, số liệu,
sự hiểu biết về các phương pháp, lý thuyết,…
+ Kỹ năng là sự thể hiện các khả năng làm việc, khả năng xử lý, vậndụng các dụng cụ hỗ trợ cho công việc, khả năng về trí tuệ của mỗi cá nhân
đó trong công việc, mức độ thành thạo, quen với những loại công việc cụ thể
lệ thuận với nhau)
1.1.2 Quan niệm về cán bộ, công chức
Theo định nghĩa của từ điển tiếng Việt, “cán bộ” là những người làmviệc trong cơ quan, đoàn thể, đảm nhiệm một công tác lãnh đạo hoặc công tácquản lý, công tác nghiệp vụ chuyên môn nhất định Cán bộ là khái niệm chỉnhững người có chức vụ, vai trò và cương vị nòng cốt trong một tổ chức có
Trang 11tác động ảnh hưởng đến hoạt động của tổ chức và các quan hệ trong lãnh đạo,chỉ huy, quản lý, điều hành, góp phần định hướng sự phát triển của tổ chức
Theo từ điển Bách khoa Việt Nam “cán bộ, công chức” là những ngườiđược tuyển dụng qua thi tuyển và bổ nhiệm chính thức vào một chức vụ trongmột ngạch của các cơ quan, công sở hành chính, sự nghiệp của Nhà nước làmviệc thường xuyên, toàn bộ thời gian, được hưởng lương từ ngân sách nhànước, có tư cách pháp lý trong khi thi hành công vụ của Nhà nước
Quốc hội ban hành Luật Cán bộ, cán bộ, công chức số 22/2008/QH12,được Chủ tịch nước Cộng hòa Xã hội chủ nghĩa Việt Nam công bố ngày 28tháng 11 năm 2008 và có hiệu lực thi hành ngày 01 tháng 01 năm 2010, đãđưa ra khái niệm như sau:
“Cán bộ là công dân Việt Nam, được bầu cử, phê chuẩn, bổ nhiệm giữ chức vụ, chức danh theo nhiệm kỳ trong cơ quan của Đảng Cộng sản Việt Nam, Nhà nước, tổ chức chính trị - xã hội ở Trung ương,
ở tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương (gọi chung là cấp tỉnh), ở quận, huyện, thị xã, thành phố thuộc tỉnh (gọi chung là huyện), trong biên chế
và hưởng lương từ ngân sách nhà nước” (Khoản 1 Điều 4 Luật Cán bộ,
cán bộ, công chức năm 2008) [14]
“Công chức là công dân Việt Nam, được tuyển dụng, bổ nhiệm vào ngạch, chức vụ, chức danh trong cơ quan của Đảng Cộng sản Việt Nam, Nhà nước, tổ chức chính trị - xã hội ở Trung ương, cấp tỉnh, cấp huyện; trong cơ quan đơn vị thuộc Quân đội nhân dân mà không phải
là sĩ quan, quân nhân chuyên nghiệp, công nhân quốc phòng; trong cơ quan đơn vị thuộc Công an nhân dân mà không phải là sĩ quan, hạ sĩ quan chuyên nghiệp và trong bộ máy lãnh đạo, quản lý của đơn vị sự nghiệp công lập của Đảng Cộng sản Việt Nam, Nhà nước, tổ chức chính trị - xã hội (sau đây gọi chung là đơn vị sự nghiệp công lập),
Trang 12trong biên chế và hưởng lương từ ngân sách nhà nước; đối với cán bộ, công chức trong bộ máy lãnh đạo, quản lý của đơn vị sự nghiệp công lập thì lương được bảo đảm từ quỹ lương của đơn vị sự nghiệp công lập theo quy định của pháp luật” (Khoản 2 Điều 4 Luật Cán bộ, cán bộ,
công chức năm 2008) [14]
“Cán bộ xã, phường, thị trấn (sau đây gọi chung là cấp xã) là công dân Việt Nam, được bầu cử giữ chức vụ theo nhiệm kỳ trong thường trực Hội đồng nhân dân, Ủy ban nhân dân, Bí thư, Phó Bí thư Đảng ủy, người đứng đầu tổ chức chính trị - xã hội; Cán bộ, công chức cấp xã là công dân Việt Nam được tuyển dụng giữ một chức danh chuyên môn, nghiệp vụ thuộc Ủy ban nhân dân cấp xã, trong biên chế và hưởng lương từ ngân sách nhà nước”, (Khoản 3 Điều 4 Luật Cán bộ,
cán bộ, công chức năm 2008) [14]
Căn cứ Luật Cán bộ, cán bộ, công chức năm 2008, Chính phủ đã ban hànhNghị định số 92/2009/NĐ-CP ngày 22 tháng 10 năm 2009 quy định về chứcdanh, số lượng, một số chế độ chính sách đối với cán bộ, cán bộ, công chức ở xã,phường, thị trấn và những người hoạt động không chuyên trách ở cấp xã, theo đó:
- Cán bộ cấp xã có các chức vụ sau đây:
a) Bí thư, Phó Bí thư Đảng ủy;
b) Chủ tịch, Phó Chủ tịch Hội đồng nhân dân;
c) Chủ tịch, Phó Chủ tịch Ủy ban nhân dân;
d) Chủ tịch Ủy ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam;
đ) Bí thư Đoàn Thanh niên Cộng sản Hồ Chí Minh;
e) Chủ tịch Hội Liên hiệp Phụ nữ Việt Nam;
g) Chủ tịch Hội Nông dân Việt Nam (áp dụng đối với xã, phường, thịtrấn có hoạt động nông, lâm, ngư, diêm nghiệp và có tổ chức Hội Nông dânViệt Nam);
Trang 13h) Chủ tịch Hội Cựu chiến binh Việt Nam.
- Công chức cấp xã có các chức danh sau đây:
a) Trưởng Công an;
b) Chỉ huy trưởng Quân sự;
g) Văn hoá - xã hội
Như vậy, với kết cấu cán bộ, công chức cấp xã như trên cũng đã thểhiện rõ vị trí, vai trò của đội ngũ cán bộ, công chức cấp xã trong việc quản trịphát triển kinh tế - xã hội ở địa phương (cấp xã) nói riêng và đất nước nóichung Do vậy, để hiểu và đánh giá đúng tầm quan trọng của cán bộ, côngchức cấp xã là điều rất cần thiết
Từ đó có thể hiểu về cán bộ, công chức cấp xã như sau:
Cán bộ, công chức cấp xã là công dân Việt Nam được tuyển dụng giữ chức danh chuyên môn, nghiệp vụ thuộc Uỷ ban nhân dân cấp xã, trong biên chế và hưởng lương từ ngân sách Nhà nước Công chức cấp
xã gồm: Trưởng công an, Chỉ huy trưởng quân sự, Văn phòng - thống
kê, Địa chính - nông nghiệp ( đô thị) - xây dựng và môi trường, Tài chính - kế toán, Tư pháp - hộ tịch, Văn hóa - xã hội.
Cán bộ, công chức cấp xã là một bộ phận quan trọng trong đội ngũ cán
bộ, công chức nhà nước.Vì vậy, công chức cấp xã có đặc điểm cơ bản giốngvới công chức nói chung nhưng do đặc thù hoạt động công vụ nên công chứccấp xã còn có những đặc điểm riêng:
Trang 14Thứ nhất, Cán bộ, công chức cấp xã là những người gần dân, sát dân,
trực tiếp triển khai đường lối của Đảng, chính sách pháp luật của Nhà nướcvào dân
Họ là những người gần gũi với dân, hiểu được nhu cầu, lợi ích, nguyệnvọng của người dân Chính nhờ hiểu dân, nắm bắt những phong tục tập quán,tâm lý, truyền thống của nhân dân địa phương do đó họ có điều kiện thuận lợitrong việc thuyết phục, vận động nhân dân thực hiện đường lối chủ trươngcủa Đảng, pháp luật của Nhà nước Tuy nhiên, trong quá trình thực thi công
vụ còn có hiện tượng nể nang nặng về tình cảm mà coi nhẹ kỷ cương, phápluật, chưa thực hiện hết công việc được giao
Thứ hai, cán bộ, công chức cấp xã có tính ổn định thấp so với cán bộ,
công chức nhà nước
Cán bộ, công chức cấp xã có thể bị biến động, thay đổi chức danh quacác kỳ bầu cử nên không ổn đinh, về nghĩa vụ, trách nhiệm giống như côngchức nói chung nhưng thực chất chế độ của họ chưa được hưởng tương xứngbởi công việc thì nhiều trong khi chế độ ít nên họ không yên tâm với côngviệc, bên cạnh đó chế độ, chính sách của Nhà nước thay đổi liên tục phần nàocũng tác động đến họ
Thứ ba, đội ngũ cán bộ, công chức cấp xã có tính chuyên môn hoá thấp,
kiêm nhiệm nhiều
Điều này cũng một phần do tổ chức bộ máy và phương tiện làm việckhông đồng bộ như cấp trên, mặc dù được bố trí theo chức danh cụ thể trong
bộ máy chính quyền cấp xã nhưng một số công chức cấp xã kiêm nhiệm haicông việc mà khối lượng công việc lại rất nhiều, chưa kể đến những côngviệc có đặc thù trái ngược nhau nên phần nào ảnh hưởng tới chất lượng, hiệuquả hoạt động của cán bộ, công chức cấp xã
Trang 15Tóm lại, khái niệm về cán bộ, công chức nói chung và cán bộ, công
chức cấp xã nói riêng ở nước ta là khái niệm có tính lịch sử Mỗi giai đoạn
khác nhau thì cách tiếp cận cũng khác nhau bởi mỗi giai đoạn đều phải phùhợp vói đòi hỏi khách quan của điều kiện kinh tế, chính trị, xã hội
1.1.3 Vị trí, vai trò của cán bộ, công chức cấp xã trong việc phát triển kinh tế - xã hội của địa phương
1.1.3.1 Vị trí
Trong hệ thống chính quyền ở nước ta thì chính quyền cấp cơ sở (xã,phường, thị trấn) có một vị trí rất quan trọng, là cầu nối trực tiếp của hệ thốngchính quyền nhà nước với nhân dân thông qua đội ngũ cán bộ, công chức cấp
xã Cán bộ, công chức cấp xã là những người gần dân nhất, sát dân nhất Hiệulực, hiệu quả của bộ máy chính quyền cấp xã nói riêng và hệ thống chính trịnói chung, xét đến cùng được quyết định bởi phẩm chất, năng lực và hiệu quảcông tác của đội ngũ cán bộ, công chức cấp xã Chất lượng, hiệu quả hoạtđộng của CBCC cấp xã có ảnh hưởng rất lớn đến tình cảm, thái độ, niềm tincủa nhân dân vào sự lãnh đạo của Đảng, quản lý điều hành của Nhà nước
1.1.3.2 Vai trò
Một là, cán bộ, công chức là "cầu nối" giữa Đảng, Nhà nước với nhân dân
Trong suốt quá trình hình thành và phát triển nền hành chính nhà nướcViệt Nam, cán bộ, công chức cấp xã luôn giữ một vị trí hết sức quan trọng,ảnh hưởng trực tiếp đến sự thành công hay thất bại của sự nghiệp phát triểncủa đất nước Chủ tịch Hồ Chí Minh đặc biệt quan tâm đến cán bộ, coi đây là
"vấn đề then chốt" Người khẳng định: "Cán bộ là những người đem chínhsách của Đảng, của Chính phủ giải thích cho dân chúng hiểu rõ và thi hành,đồng thời đem tình hình của dân chúng báo cáo cho Đảng, Chính phủ hiểu rõ
để đặt chính sách cho đúng’’ [5; tr 269]
Trang 16Cán bộ, công chức là người đặt ra đường lối, chính sách của Đảng vàpháp luật của Nhà nước Đường lối, chính sách, pháp luật có đúng đắn, khoahọc phần lớn phụ thuộc nhiều vào cán bộ, có chính sách rồi việc thi hành nóthế nào cũng lại phụ thuộc rất nhiều vào cán bộ Nếu cán bộ giỏi, có năng lực,tận tâm với công việc thì chính sách được thi hành và đi vào cuộc sống.Ngược lại, nếu không có cán bộ tốt thì các chủ trương, chính sách có hay mấycũng không thực hiện được Cán bộ có vị trí, vai trò quan trọng đối với cơquan, tổ chức Cán bộ là thành viên, phần tử cấu thành tổ chức bộ máy Cán
bộ có quan hệ mật thiết với tổ chức và quyết định mọi sự hoạt động của tổchức Hiệu quả hoạt động trong tổ chức, bộ máy phụ thuộc vào cán bộ Cán
bộ tốt sẽ làm cho bộ máy hoạt động nhịp nhàng, cán bộ kém sẽ làm cho bộmáy tê liệt "Cán bộ là cái dây chuyền của bộ máy Nếu dây chuyền không tốt,không chạy thì động cơ dù tốt, dù chạy toàn bộ máy cũng tê liệt" [5; tr 54].Đối với công việc "cán bộ là cái gốc của mọi công việc", "Muôn việc thànhcông hay thất bại đều do cán bộ tốt hoặc kém" [5; tr 269, 240]
Đảng ta luôn coi trọng công tác cán bộ, đặc biệt là thời kỳ đẩy mạnhCNH - HĐH đất nước, Đảng nhận định: “Cán bộ là nhân tố quyết định sựthành bại của cách mạng, gắn liền với vận mệnh của Đảng, của đất nước vàchế độ, là khâu then chốt trong công tác xây dựng Đảng”
CBCC là "cầu nối" giữa Đảng, Nhà nước với nhân dân, là "nhân tốquyết định" đến sự thành bại của cách mạng, "là khâu then chốt trong côngtác xây dựng Đảng"
Hai là, CBCC chính quyền cấp xã gần dân, sát dân, trực tiếp tuyên
truyền đường lối, chính sách cho nhân dân và giải quyết nhu cầu, nguyệnvọng chính đáng của nhân dân
CBCC chính quyền cấp xã vừa là người đại diện Nhà nước, vừa là ngườiđại diện cộng đồng, vừa là người cùng làng, cùng họ, vừa là người dân, là
Trang 17người gần gũi dân, sát dân nhất cho nên họ là người trực tiếp nắm bắt tâm tư,nguyện vọng tình cảm của dân để phản ánh lên các cấp chính quyền để cáccấp chính quyền đặt ra chính sách đúng CBCC chính quyền cấp xã là ngườitrực tiếp tuyên truyền, phổ biến đường lối, chính sách của Đảng và pháp luậtcủa Nhà nước cho nhân dân và vận động nhân dân thực hiện tốt đường lối,chính sách, pháp luật đó trong cuộc sống Là người tiên phong gương mẫutrong việc thực hiện chính sách pháp luật và xây dựng gia đình văn hóa ở khudân cư CBCC chính quyền cấp xã là người trực tiếp giải quyết những yêucầu, những thắc mắc về lợi ích chính đáng của nhân dân.
Ba là, CBCC chính quyền cấp xã phát huy khối đại đoàn kết toàn dân và
tính tự quản của cộng đồng dân cư
CBCC chính quyền cấp xã là người am hiểu các phong tục tập quán,truyền thống dân tộc của địa phương, họ là người tập hợp được khối đại đoànkết toàn dân ở cơ sở, là người phát huy tính tự quản của cộng đồng dân cư.CBCC cấp xã là người hướng dẫn, giám sát các hoạt động tự quản của nhândân, tạo điều kiện cho nhân dân phát huy mọi khả năng phát triển kinh tế - xãhội Đây là nét đặc thù của cán bộ, cán bộ, công chức cấp xã, so với cán bộ,công chức ở các cấp chính quyền khác
1.1.4 Năng lực QLNN về kinh tế của cán bộ, công chức cấp xã
1.1.4.1 Khái niệm
- Quản lý nhà nước
Theo nghĩa rộng, quản lý nhà nước là hoạt động tổ chức, điều hành của
cả bộ máy Nhà nước, nghĩa là bao hàm cả sự tác động tổ chức của quyền lựcNhà nước trên các phương diện lập pháp, hành pháp và tư pháp Theo cáchhiểu này, quản lý nhà nước được đặt trong cơ chế "Đảng lãnh đạo, Nhà nướcquản lý, nhân dân làm chủ"
Trang 18Theo nghĩa hẹp, quản lý nhà nước chủ yếu là quá trình tổ chức, điềuhành trong hệ thống các cơ quan hành chính Nhà nước đối với các quá trình
xã hội và hoạt động của con người theo pháp luật, nhằm đạt được những mụctiêu, yêu cầu, nhiệm vụ quản lý nhà nước Đồng thời, các cơ quan Nhà nướcnói chung cần thực hiện các hoạt động có tính chất chấp hành, điều hành, tínhchất hành chính Nhà nước nhằm xây dựng, tổ chức bộ máy và củng cố chế độcông tác nội bộ của mình
Quản lý nhà nước luôn mang tính quyền lực Nhà nước, tính tổ chức cao;
Là hoạt động có mục tiêu rõ ràng, có chiến lược và kế hoạch để thực hiệnmục tiêu; Là hoạt động có tính chủ động, sáng tạo và linh hoạt trong thực tiễnđiều hành, quản lý; Có tính liên tục và ổn định trong tổ chức và hoạt độngtrong quản lý hành chính Nhà nước; Có tính chuyên môn hoá và nghề nghiệpcao; Có tính hệ thống thứ bậc chặt chẽ, là hệ thống thông suốt từ ừên xuốngdưới; Không có sự cách biệt về mặt xã hội giữa chủ thể và khách thể quản lý;Phương thức thực hiện chủ yếu là hành chính, tuyên truyền, vận động vàthuyết phục; Không vụ lợi; Mang tính nhân đạo
Nội dung quản lý nhà nước ở chính quyền cấp xã, bao gồm: Quản lýhành chính Nhà nước ở cấp xã; Quản lý nhà nước về kinh tế - tài chính; Quản
lý nhà nước về văn hoá - xã hội; Quản lý nhà nước về quốc phòng, an ninh,trật tự an toàn xã hội; Quản lý nhà nước về tư pháp - hộ tịch; Quản lý nhànước về đất đai, địa giới hành chính; Quản lý nhà nước về dân tộc, tôn giáo;Quản lý nhà nước về xây dựng, giao thông vận tải và môi trường
- Năng lực quản lý nhà nước về kinh tế của cán bộ, công chức cấp xã
Nói đến năng lực QLNN về kinh tế của cán bộ, cán bộ, công chức cấp
xã là bàn đến khả năng thực thi công vụ một cách có hiệu quả trong lĩnh vựckinh tế Năng lực đó bao gồm: Kiến thức, kỹ năng, kinh nghiệm, thái độ biếncác yếu tố tiềm năng thành khả năng làm việc trong nhiệm vụ quản lý kinh tếđảm nhận
Trang 19Từ những phân tích trên, có thể quan niệm: Năng lực quản lý nhà nước
về kinh tế của CBCC cấp xã là khả năng của CBCC tiến hành quá trình tổ chức, điều hành chính quyền cấp xã thực hiện chức năng, nhiệm vụ quản lý nhà nước về lĩnh vực kinh tế trên địa bàn nhằm bảo đảm hiệu lực và hiệu quả quản lý cao.
1.1.4.2 Nâng cao năng lực quản lý nhà nước về kinh tế của cán bộ, công chức cấp xã
Nâng cao năng lực quản lý nhà nước về kinh tế của cán bộ, công chức cấp xã là tập hợp các tác động biện chứng nhằm nâng cao kiến thức, kỹ năng và thái độ của cán bộ, công chức cấp xã để thực thi nhiệm vụ ngày càng hiệu quả, đáp ứng yêu cầu phát triển hiện tại và tương lai…
Năng lực của con người mới tạo ra động lực cho sự phát triển kinh tế
-xã hội Tăng trưởng kinh tế của bất kỳ quốc gia nào cũng đi từ năng lực của conngười Nước ta đang trong quá trình chuyển đổi nền kinh tế kém phát triểnsang nền kinh tế hiện đại, việc nâng cao năng lực quản lý nhà nước về kinh tếcho đội ngũ cán bộ, công chức nói chung và năng lực CBCC cấp xã nói riêng
là một nhân tố quan trọng mang tính đốt phá đảm bảo quá trình CNH- HĐHđất nước được thành công Đại hội lần thứ VIII của Đảng Cộng sản Việt Nam
đã chỉ rõ “Nâng cao dân trí, bồi dưỡng và phát huy nguồn lực to lớn của conngười Việt Nam là nhân tố quyết định thắng lợi của công cuộc CNH-HĐH”
Vì vậy, vai trò nâng cao năng lực quản lý nhà nước về kinh tế cho cán bộ,cán bộ, công chức cấp xã là cần thiết
1.1.4.3 Những tiêu chí phản ánh năng lực QLNN về kinh tế của cán bộ, công chức cấp xã
* Kiến thức chuyên môn
Kiến thức quản lý nhà nước về kinh tế bao gồm kiến thức về định
hướng sự phát triển của kinh tế; tạo lập môi trường cho sự phát triển của kinh
Trang 20tế (môi trường kinh tế, môi trường pháp lý, môi trường chính trị, môi trườngvăn hóa – xã hội, môi trường sinh thái, môi trường kỹ thuật, môi trường dân
số, môi trường quốc tế); phương pháp quản lý nhà nước về kinh tế; các công
cụ quản lý nhà nước về kinh tế; các nguyên tắc quản lý Nhà nước về kinhtế…
Trình độ chuyên môn là sự hiểu biết kiến thức về lĩnh vực chuyênmôn nào đó nhưng quan trọng là khâu chuyên môn về kinh tế để đảm nhiệmđược các chức năng, nhiệm vụ được giao; cán bộ, công chức tốt nghiệp trunghọc chuyên nghiệp, cao đẳng, đại học, trên đại học, được đào tạo ở cáctrường, lớp, bậc học và hình thức học khác nhau
Trình độ chuyên môn nghiệp vụ đựơc hiểu là những kiến thức chuyênsâu về một lĩnh vực nhất định được biểu hiện qua những cấp độ: Sơ cấp,trung cấp, cao đẳng, đại học Đây là những kiến thức mà cán bộ, công chứcchính quyền cấp xã không được thiếu khi giải quyết công việc Nếu thiếukiến thức này thì cán bộ, công chức sẽ lũng túng trong việc giải quyết côngviệc và như vậy chắc chắn sẽ khó hoàn thành công việc, hiệu quả quản lý nhànước sẽ thấp
Đối với cán bộ, công chức cấp xã tùy theo công việc đảm nhận đểtrang bị những kiến thức chuyên môn cần thiết cho công tác quản lý, có thểbao gồm những kiến thức sau đây:
- Quản lý hành chính;
- Quản lý kinh tế ;
+ Địa chính, nhà đất;
+ Nông nghiệp, dịch vụ;
+ Quản lý dự án đầu tư cơ sở hạ tầng;
- Quản lý môi trường;
- Tư pháp, hộ tịch;
Trang 21- Xây dựng nông thôn mới.
* Kiến thức quản lý nhà nước
Kiến thức quản lý nhà nước là hệ thống tri thức khoa học về quản lý xãhội mang tính quyền lực Nhà nước Đó là những kiến thức đòi hỏi các nhàquản lý phải có, để giải quyết các vụ việc cụ thể đặt ra trong quá trình điềuhành, quản lý Quản lý vừa là hoạt động khoa học, vừa là hoạt động nghệthuật, cho nên yêu cầu các cán bộ, công chức phải am hiểu sâu sắc về kiếnthức quản lý và phải vận dụng linh hoạt các kiến thức đó vào giải quyếtnhững vụ việc cụ thể Thực tế cho thấy trong quá trình quản lý chỉ dựa vàokinh nghiệm thôi chưa đủ mà phải được trang bị đầy đủ kiến thức và kỹ năngquản lý nhà nước, để qua đó nâng cao năng lực quản lý nhà nước Hiện nayhạn chế lớn nhất của cán bộ, công chức chính quyền cấp xã là trình độ quản
lý nhà nước, để nâng cao năng lực quản lý nhà nước thì cần phải nhanhchóng đào tạo, bồi dưỡng kiến thức quản lý nhà nước cho cán bộ, công chứcchính quyền cấp xã
* Kỹ năng
Kỹ năng vận dụng kiến thức quản lý nhà nước và chuyên môn về kinh
tế trong thực hiện công việc của mình Các kỹ năng cơ bản của CB, CC cấp
xã quản lý nhà nước về kinh tế gồm: kỹ năng lập kế hoạch, kỹ năng tổ chức,
kỹ năng chỉ huy, kỹ năng giám sát…
- Kỹ năng lập kế hoạch:
Lập kế hoạch là quá trình làm ra kế hoạch, đó là quá trình xác định trướccác mục tiêu cần đạt được của tổ chức, dự kiến các nguồn lực cần thiết và cácbiện pháp để thực hiện mục tiêu đó Các bước lập kế hoạch gồm: thu thậpthông tin; xác định mục tiêu; xác định tình trạng hiện tại; xác định nhữngthuận lợi và khó khăn trong quá trình thực hiện mục tiêu; xây dựng hệ thống
Trang 22các hoạt động để thực hiện mục tiêu; soạn thảo, thông qua kế hoạch và đưavào thực hiện.
Xác định mục tiêu, yêu cầu công việc 1W (why)
- Xác định nội dung công việc 1W (what):
- Xác định 3W: where, when, who
- Xác định cách thức thực hiện 1H (how)
- Xác định phương pháp kiểm soát – 1C (control)
- Xác định phương pháp kiểm tra – 1C (check)
- Xác định nguồn lực thực hiện 5M
Nhiều kế hoạch thường chỉ chú trọng đến công việc mà lại không chútrọng đến các nguồn lực, mà chỉ có nguồn lực mới đảm bảo cho kế hoạchđược khả thi
Nguồn lực bao gồm các yếu tố:
- Man: nguồn nhân lực (Những ai sẽ thực hiện công việc, họ có đủ trình
độ, kinh nghiệm, kỹ năng, phẩm chất, tính cách phù hợp)
- Money: Tiền bạc (Nguồn kinh phí thực hiện kế hoạch ở đâu, bao nhiêu)
- Material: nguyên vật liệu/hệ thống cung ứng
- Machine : máy móc/công nghệ
- Method: phương pháp làm việc
- Kỹ năng tổ chức:
Để tổ chức thực hiện kế hoạch, cần có nhóm kỹ năng như: truyền đạtnhiệm vụ là một hình thức thông tin nhằm bảo đảm cho các chủ thể liên quannắm vững vấn đề một cách chính xác nhất để thực hiện đúng phần việc đượcphân công Huy động các cá nhân, đơn vi có liên quan, tổ chức liên kết để có
sự hợp tác hỗ trợ thực hiện kế hoạch công việc hoặc các quyết định, qui định
và mô tả cụ thể công việc của từng tổ chức, từng cá nhân Kỹ năng tổ chức làquá trình tạo ra cơ cấu mối quan hệ giữa các thành viên (các bộ phận trong tổ
Trang 23chức) Thông qua đó cho phép họ thực hiện các kế hoạch và hoàn thành cácmục tiêu chung của tổ chức Tiến trình tổ chức bao gồm việc: Thiết lập các bộphận, phòng ban và xây dựng bảng mô tả công việc tổ chức bao gồm cả chứcnăng nhân sự: tuyển mộ, tuyển chọn, huấn luyện và phát triển nguồn nhânlực, do đó, mọi người đều có thể đóng góp nỗ lực vào thành công của tổ chức.Truyền đạt thông tin, tri thức, kỹ thuật, chỉ thị, mệnh lệnh, thông tin cần thiết
để thực hiện công việc, đồng thời nhận thông tin phản hồi
Tổ chức thực hiện là quá trình biến quyết định thành hiện thực, tiến hànhphân công chỉ đạo các tổ chức, cá nhân thực hiện các nhiệm vụ theo kế hoạch.Trong quá trình triển khai thực hiện quyết định cần tổ chức kiểm tra việc thựchiện quyết định nhằm phát hiện sai sót kịp thời điều chỉnh, giải quyết mâuthuẫn trong quá trình thực hiện hoạt động
- Kỹ năng chỉ huy:
Kỹ năng chỉ huy là khả năng định hướng tầm nhìn chiến lược và đảmbảo cho toàn tổ chức nắm rõ được tầm nhìn này, từ đó giúp tổ chức đạt đượcmục tiêu của mình Nhiệm vụ của người chỉ huy là làm cho một tổ chức thànhcông Thực chất của chỉ huy là truyền tải tầm nhìn hay mục tiêu đến vớinhững người có thể thực hiện công việc này tốt nhất Trong suốt quá trìnhnày, chỉ huy lĩnh hội những kiến thức mới và cải thiện tầm nhìn đã đưa ra
- Kỹ năng giám sát:
Làm rõ những bước công việc nào cần phải giám sát Cần giám sátthường xuyên hoạt động hay giám sát việc thực hiện một nhiệm vụ Ai cónhiệm vụ giám sát Giám sát điểm trọng yếu tuân theo nguyên tắc Pareto(20/80), tức là những điểm giám sát này chỉ chiếm 20 % số lượng nhưngchiếm đến 80 % khối lượng sai sót
* Về phẩm chất và đạo đức
Trang 24Phẩm chất chính tri là tiêu chí quyết định năng lực của cán bộ, công chứctrong quản lý nhà nước Phẩm chất chính trị là động lực thúc đẩy cán bộ các cấphoàn thành nhiệm vụ được giao với hiệu quả cao Phẩm chất chính trị của cán
bộ, công chức Việt Nam hiện nay là lòng trung thành tuyệt đối với lý tưởng củaĐảng, với chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tuởng Hồ Chí Minh, tinh thần tận tụy vớicông việc, vì sự nghiệp của nhân dân; vững vàng, kiên định với mục tiêu và conđường CNXH Có tinh thần đấu tranh với hiện tượng lệch lạc, những biểu hiệnsai trái đường lối, chủ trương chính sách của Đảng, pháp luật của Nhà nước vàcác hành vi xâm phạm quyền lợi chính đáng của nhân dân
Cán bộ, công chức cấp xã trực tiếp làm việc và sinh hoạt cùng với ngườidân Cho nên đạo đức của ngưòi cán bộ, công chức có tác động đối với ngườidân, có ảnh hưởng đến hiệu quả quản lý nhà nước của chính quyền cấp xãắKhi cán bộ, công chức có các phẩm chất" Cần, kiệm, liêm, chính, chí công vô
tư " thì nhân dân sẽ tin tưởng họ, tin tưởng vào sự nghiệp cách mạng, từ đónhân dân tự giác thực hiện đường lối, chính sách và pháp luật Các phẩm chấtđạo đức của cán bộ, công chức thể hiện trước hết ở: tinh thần trách nhiệm và
kỷ luật trong công việc Hồ Chí Minh gọi đức tính này là cần, nhờ đó màngười cán bộ, công chức cố gắng tìm ra các phương tiện, giải pháp và sángkiến để hoàn thành nhiệm vụ được giao
Trong sạch, không tham lam, tư lợi là đức tính liêm khiết Cán bộ, côngchức là người thật thà, trung thực, không tham nhũng, sách nhiễu dân, khônglọi dụng chức vụ quyền hạn để mưu lợi riêng, để nhận hối lộ, tham ô Đứctính này cũng cần coi trọng và càng được coi trọng trong điều kiện hiện nay.Ngay thẳng, thật thà, công tâm làm theo kỷ cương phép nước là "chính".Đức chính hiểu theo nghĩa là thực thi công vụ và chương thình kế hoạchđúng, theo đúng quy luật khách quan, theo chân lý khoa học và trong quátrình làm đã có sự cân nhắc thận trọng, có luận chứng chính xác
Trang 25Cán bộ, công chức cấp xã không chỉ tuyên truyền, phổ biến đường lối,chính sách mà còn phải tiên phong trong việc chấp hành đường lối, chủtrương, chính sách đó, phải "nói đi đôi vói làm".
Cán bộ, công chức có đạo đức cách mạng là người tích cực đấu tranhchống: Tham nhũng, lãng phí, quan liêu, tha hóa, chạy theo địa vị danh lợi,tranh giành kèn cựa mất đoàn kết, dối trá, lưòi biếng, suy thoái về tư tưởng,
lý tưởng Cán bộ, công chức cấp xã muốn được dân tin yêu thì phải thườngxuyên rèn luyện tu dưỡng đạo đức
* Kết quả hoàn thành công việc được giao: Đây là tiêu chí cơ bản tổng
hợp phản ánh năng lực QLNN về kinh tế đối với đội ngũ cán bộ cán bộ, côngchức trong quản lý nhà nước về kinh tế Đó chính là chất lượng hiệu quảcông việc mà họ đạt được khi thực hiện các nhiệm vụ, công việc trong thẩmquyền, trách nhiệm được giao Hiện nay đội ngũ cán bộ, công chức củachúng ta đông nhưng chưa mạnh, những hạn chế về trình độ vãn hóa, nghiệp
vụ quản lý nhà nước, quản lý kinh tế đã dẫn tới hạn chế trong năng lực điềuhành công việc, trong việc lập kế hoạch, điều chỉnh kế hoạch khi kế hoạchkhông còn phù hợp với thực tiễn Sự yếu kém của không ít cán bộ, công chứctrong quản lý nhà nước, sự hạn chế về năng lực của đội ngũ này chính lànguyên nhân gây nên tình trạng khiếu kiện vượt cấp, kéo dài ở một số nơi.Đội ngũ cán bộ, công chức mà không được tri thức hóa và chuyên môn hóathì không thể hoàn thành nhiệm vụ
Nói tóm lại, để đánh giá được năng lực của cán bộ, công chức cấp xãtrong quản lý nhà nước, một tiêu chí không thể không đề cập tới đó chính làkhả năng và hiệu quả thực tế hoàn thành công việc được giao
1.2 NHỮNG NHÂN TỐ TÁC ĐỘNG ĐẾN NÂNG CAO NĂNG LỰC QUẢN
LÝ NHÀ NƯỚC VỀ KINH TẾ CHO CÁN BỘ, CÔNG CHỨC CẤP XÃ
1.2.1 Quan điểm nhận thức của lãnh đạo về nâng cao năng lực QLNN về kinh tế cho cán bộ, công chức cấp xã
Trang 26Nhận thức đúng đắn về vai trò của CBCC nói chung và CBCC cấp xã
nói riêng, các cấp ủy ban hành chủ trương về công tác cán bộ, nâng cao nănglực quản lý kinh tế nhà nước trong giai đoạn xây dựng và phát triển đất nước.Cấp ủy đảng quan tâm đến nâng cao năng lực cho đội ngũ cán bộ, có chủtrương, giải pháp để đào tạo, bồi dưỡng cán bộ, công chức ban hành các chế
độ, chính sách khuyến khích, hỗ trợ cán bộ, công chức học tập, nâng cao trìnhđộ; bảo đảm hoàn thành hai mục tiêu: Đào tạo, bồi dưỡng để đáp ứng tiêuchuẩn quy định về ngạch công chức và để đáp ứng yêu cầu công việc theochức vụ lãnh đạo, quản lý và vị trí việc làm của cán bộ, công chức.
1.2.2 Xây dựng tiêu chuẩn chức danh và quy hoạch CBCC QLNN về kinh tế ở cấp xã
Xây dựng tiêu chuẩn chức danh CBCC quản lý nhà nước về kinh tế là
sự mô tả về vị trí, chức năng và phạm vi trách nhiệm cụ thể về chức tráchchung của một chức danh nghề nghiệp Trong đó nêu lên nhiệm vụ cụ thể là ởvăn bản liệt kê những công việc mà CBCC quản lý nhà nước về kinh tế cấp xãđòi hỏi ứng với độ phức tạp nhất định theo từng cấp độ Tiêu chuẩn về nănglực là phần quy định những khả năng CBCC cần phải có để thực hiện nhiệm
vụ trong lĩnh vực quản lý nhà nước về kinh tế ở cấp xã, thể hiện việc vậndụng những kiến thức, kỹ năng được trang bị qua quá trình đào tạo và kinhnghiệm công tác để đảm bảo thực hiện các công việc theo yêu cầu về chuyênmôn, nghiệp vụ CBCC quản lý nhà nước về kinh tế cấp xã có bằng cao đẳng,đại học kinh tế, tài chính, có bằng trung cấp quản lý hành chính nhà nước, cóbằng trung cấp lý luận chính trị, có phẩm chất đạo đức trong sáng, lối sốnglành mạnh Từ tiêu chuẩn chung, thực hiện cụ thể hóa tiêu chuẩn chức danhtừng vị trí công tác của CBCC quản lý nhà nước về kinh tế ở cấp xã
Trên cơ sở tiêu chuẩn chức danh CBCC quản lý nhà nước về kinh tếthực hiện công việc quy hoạch CB, CC cho từng chức danh cụ thể
Trang 271.2.3 Hoạt động đào tạo bồi dưỡng về năng lực QLNN về kinh tế cho cán bộ, công chức cấp xã
Đào tạo, bồi dưỡng năng lực quản lý nhà nước về kinh tế bao gồm: cáckiến thức quản lý kinh tế, kinh tế thị trường, quản lý nhà nước, ngoại ngữ, tinhọc đã và đang được quan tâm Trong nội dung đào tạo thông tin được đadạng hóa từ nhiều nguồn, đảm bảo tốt tính cập nhật, hiện đại, đa dạng và thiếtthực Hình thức đào tạo hiện nay phong phú và đa dạng, kết hợp đào tạo tậptrung, mở rộng các hình thức đào tạo: tại chức, đào tạo theo chứng chỉ, đàotạo lại, đào tạo từ xa, đào tạo trong nước và nước ngoài Bồi dưỡng theo tiêuchuẩn để hóa chức danh cán bộ, công chức mà số lượng cán bộ, công chứctham gia đào tạo tăng nhanh Hoạt động đào tạo được tổ chức trong những cở
sở giáo dục đào tạo như trường học, học viện, trung tâm dạy nghề hoặc tại cơ
sở sản xuất với nội dung chương trình và thời gian khác nhau cho các cấp bậcđào tạo khác nhau Cuối mỗi khoá đào tạo, học viên sẽ được cấp bằng tốtnghiệp Công tác đào tạo và bồi dưỡng cán bộ, công chức đã huy động đượcnhiều hơn các nguồn lực, khai thác nhiều hơn năng lực đội ngũ giáo viêngiảng dạy trong các cơ sở đào tạo Qua đó, một bộ phận cán bộ, công chức đãtrưởng thành và tiến bộ khá vững chắc Bên cạnh đó, cần coi trọng việc tựđào tạo, tự bồi dưỡng của cán bộ, công chức cấp xã
1.2.4 Tuyển dụng, phân công, bố trí, sử dụng
Phần lớn công chức của khối UBND cấp xã được đào tạo, bồi dưỡng,đều ở độ tuổi tương đối trẻ, nhiệt tình, có năng lực trong công tác, có tinhthần trách nhiệm cao trong công việc Chính vì thế cho nên tình hình cơ sởtươngng đối ổn định Tuy nhiên, cũng có thời gian do ảnh hưởng của cơ chếthị trường, có thời gian thiếu quan tâm đến cơ sở, buông lỏng công tác quản
lý, kiểm ra giám sát đội ngũ công chức cấp xã nên đã dẫn đến tình trạng một
Trang 28bộ phận không nhỏ sa sút về phẩm chất đạo đức và tinh thần, trách nhiệm,quan liêu, tham nhũng, tiêu cực phát sinh
Xuất phát từ thực trạng như trên, việc tăng cường công tác quản lý, kiểmtra giám sát đội ngũ công chức cấp xã là cần thiết Qua đó mới nắm đượcthực trạng chất lượng và những biến động của đội ngũ này để xây dựng chiếnlược và quy hoạch công chức cấp xã, kịp thời khen thưởng những thành tích,tiến bộ và sử lý những sai phạm, tạo lập lòng tin của nhân dân đối vơí chínhquyền Mặt khác, tăng cường quản lý kiểm tra luân chuyển, thay thế nhữngcông chức yếu kém về năng lực công tác, tăng cường thêm công chức cónăng lực công tác, công chức có trình độ chuyên môn cho những nơi đã vàđang phát sinh điểm nóng, nơi mất đoàn kết nội bộ hoặc những nơi phongtrào mọi mặt đều yếu
1.2.5 Các chế độ chính sách đối với cán bộ, công chức
Công chức cấp xã đã được hưởng lương theo chức danh công chức, theongạch bậc song vẫn chưa đáp ứng được yêu cầu cuộc sống và công sức mà họ
đã bỏ ra Chế độ chính sách làm cho người công chức không an tâm trongcông tác, không có lòng nhiệt tình đối với công việc mà mình được giao,không có chí tiến thủ Đồng thời địa bàn UBND cấp xã sẽ không có sức hútđối với nguời có năng lực, có trình độ học vấn và không tích cực nâng caonăng lực nói chung và năng lực QLNN về kinh tế nói riêng của CBCC cấp xã
1.2.6 Công tác quản lý, kiểm tra, đánh giá đối với CBCC cấp xã
Công tác quản lý, kiểm ra giám sát đội ngũ công chức cấp xã ảnh hưởngđến năng lực quản lý nhà nước về kinh tế của đội ngũ này Do đó, việc tăngcường công tác quản lý, kiểm tra giám sát đội ngũ công chức cấp xã là cầnthiết Qua đó mới đánh giá đúng thực trạng chất lượng và những biến độngcủa đội ngũ này để xây dựng chiến lược và quy hoạch công chức cấp xã, kịpthời khen thưởng những thành tích, tiến bộ và sử lý những sai phạm, tạo lập
Trang 29lòng tin của nhân dân đối vơí chính quyền Mặt khác, tăng cường quản lýkiểm tra luân chuyển, thay thế những công chức yếu kém về năng lực côngtác, tăng cường thêm công chức có năng lực công tác, công chức có trình độchuyên môn cho những nơi đã và đang phát sinh điểm nóng, nơi mất đoàn kếtnội bộ hoặc những nơi phong trào mọi mặt đều yếu.
1.2.7 Môi trường văn hóa, tập quán địa phương
Văn hóa là tổng thể những tư tưởng, tình cảm, tập quán, thói quen trong
tư duy, lối sống và cách ứng xử của mỗi người và cộng đồng Văn hóa vàtruyền thống dân tộc là nhân tố quan trọng để nâng cao năng lực đội ngũ cán
bộ, công chức; coi trọng và gìn gữi bản sắc dân tộc gắn với sự phát triển vănminh của nhân loại đó chính là môi trường văn hóa lành mạnh cho phát triển
và nâng cao năng lực đội ngũ cán bộ, công chức
Môi trường văn hóa là cơ sở để phát triển đội ngũ cán bộ, công chức,việc tạo lập môi trường văn hóa phù hợp với yêu cầu thực hiện chức năngnhiệm vụ, thời gian và định hướng đúng đắn Truyền thống lịch sử và văn hóacủa mỗi xã cũng bồi đắp và kết tinh trong mỗi con người và cả cộng đồng dântộc, hun đúc nên bản lĩnh, ý chí, tác phong của con người đã tác động đếnviệc nâng cao năng lực đội ngũ cán bộ, công chức cấp xã của huyện
1.2.8 Những kiến thức, kỹ năng cơ bản khác
* Trình độ học vấn
Trình độ học vấn là nền tảng để CBCC tiếp thu những kiến thức cơbản và kiến thức chuyên môn kỹ thuật Trình độ học vấn cao sẽ tạo khả năngtiếp thu và vận dụng một cách nhanh chóng những tiến bộ khoa học kỹ thuậtvào thực tiễn công tác Đây không phải là yếu tố duy nhất quyết định hiệu quảhoạt động của cán bộ, công chức cấp xã nhưng đây là tiêu chí quan trọng ảnhhưởng đến hoạt động quản lý trong đội ngũ này Nó là nền tảng cho việc nhậnthức, tiếp thu đường lối, chủ trương, chính sách của Đảng, pháp luật của Nhànước: là tiền đề tổ chức đường lối, chủ trương, chính sách pháp luật vào trong
Trang 30cuộc sống Hạn chế về trình độ học vấn sẽ hạn chế về khả năng nhận thức vànăng lực tổ chức thực hiện các chủ trương, chính sách, các quy định của phápluật, cản trở việc thực hiện chức năng, nhiệm vụ của cán bộ, công chức chínhquyền cấp xã Do đó, trình độ học vấn là tiêu chí quan trọng để đánh giá nănglực của cán bộ, công chức cấp xã trong quản lý nhà nước.
* Trình độ tin học, ngoại ngữ
Trong nền kinh tế thị trường mở ra thế giới, với sự phát triển nhanhchóng của khoa học, kỹ thuật và xu hướng chuyển dịch sang nền kinh tế tri thứcđang diễn ra tại nhiều nước phát triển thì trình độ tin học và ngoại ngữ là công
cụ quan trong để cán bộ, cán bộ, công chức nâng cao năng lực quản lý và pháttriển kinh tế - xã hội, khả năng tin học, ngoại ngữ có thể giúp cán bộ, công chức
áp dụng các tiến bộ, thành tựu khoa học kỹ thuật vào công tác quản lý, lãnh đạo;
1.3 KINH NGHIỆM CỦA MỘT SỐ ĐỊA PHƯƠNG VỀ NÂNG CAO NĂNG LỰC QLNN VỀ KINH TẾ CHO ĐỘI NGŨ CÁN BỘ, CÔNG CHỨC CẤP XÃ
1.3.1 Kinh nghiệm của một số huyện trong tỉnh Hòa Bình về nâng cao năng lực quản lý nhà nước về kinh tế cho cán bộ, công chức cấp xã
Trang 311.3.1.1 Kinh nghiệm về xây dựng đội ngũ cán bộ, công chức quản lý nhà nước về kinh tế của huyện Tân Lạc, tỉnh Hòa Bình
Tân Lạc là một huyện giáp gianh phía Tây của huyện Lạc Sơn, ở phíaTây Nam của tỉnh Hòa Bình, cách thành phố Hòa Bình (Trung tâm hànhchính tỉnh Hòa Bình) khoảng 30 Km, cách thành phố Hà Nội 120 Km, cónhiều đặc điểm tương đồng với huyện Lạc Sơn
Trên cơ sở thực hiện Nghị quyết Trung ương 3 (khóa VIII) về “chiếnlược cán bộ thời kỳ đẩy mạnh CNH, HĐH đất nước” và nhiệm vụ phát triểnkinh tế-xã hội của địa phương, Ban Thường vụ Huyện ủy Tân Lạc đã tổ chứctriển khai công tác điều tra, khảo sát, đánh giá thực trạng chất lượng đội ngũCBCC QLNN về kinh tế Ban Chấp hành Đảng bộ huyện xây dựng chươngtrình hành động và chỉ đạo tổ chức quán triệt chương trình hành động này đếntừng cán bộ, đảng viên Căn cứ các văn bản của Trung ương, của tỉnh HòaBình để cụ thể hóa thành các văn bản về công tác cán bộ sát thực tế của địaphương Để nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ, công chức quản lý nhà nước
về kinh tế Huyện ủy Tân Lạc đã thực hiện các nhiệm vụ, giải pháp sau:
Một là, chú trọng công tác đào tạo, bồi dưỡng CBCC, đội ngũ CBCC
cấp xã của huyện có trình độ sơ cấp trở lên và trình độ chuyên môn đại họctăng nhiều so với trước năm 2015
Hai là, tuyển dụng CBCC cấp xã được áp dụng hình thức thông qua thi
tuyển một cách công khai
Ba là, trong đánh giá, bố trí, sắp xếp, đề bạt công chức cấp xã của huyện
Tân Lạc đã đảm bảo được dân chủ, thực hiện đúng nguyên tắc, đúng quy trình
và theo phân cấp quản lý
Trên cơ sở các chính sách của Trung ương, của tỉnh, huyện Tân Lạc đãvận dụng làm cơ sở để ban hành và tổ chức thực hiện cơ chế chính sách phùhợp với tình hình thực tế Cấp ủy Đảng và chính quyền đã quan tâm củng cố,
Trang 32tăng cường bộ máy quản lý và tham mưu về công tác tổ chức Ở cấp huyện,Ban tổ chức Huyện ủy và Phòng Nội vụ huyện có vai trò quan trọng trongcông tác tổ chức ở hai khối khác nhau (Đảng và Đoàn thể; Chính quyền) đã
có sự phối hợp chặt chẽ, hỗ trợ nhau cùng hoàn thành tốt nhiệm vụ theo phâncấp và củng cố hoàn thiện đơn vị mình ngày càng trong sạch vững mạnh
Công tác xây dựng đội ngũ CBCC cấp xã của huyện nói chung và xâydựng đội ngũ CBCC QLNN về kinh tế cấp xã nói riêng đã đạt được kết quảquan trọng Đội ngũ CBCC của huyện đã có bước trưởng thành cả về số lượng
và chất lượng; trong những năm gần đây đội ngũ CBCC trẻ, năng động, nhiệttình, tâm huyết có phẩm chất đạo đức trong sáng có bản lĩnh chính trị vữngvàng ngày càng tăng lên, đã nỗ lực phấn đấu và góp phần quan trọng vào sựphát triển kinh tế - xã hội, củng cố quốc phòng, an ninh, xây dựng Đảng và hệthống chính trị, tạo sự chuyển biến mạnh mẽ, toàn diện trên các lĩnh vực tronghuyện, đời sống nhân dân được nâng lên, diện mạo nông thôn ngày càng thayđổi
1.3.1.2 Kinh nghiệm xây dựng đội ngũ cán bộ, công chức quản lý nhà nước về kinh tế huyện Yên Thủy, tỉnh Hòa Bình
Huyện Yên Thủy là huyện giáp gianh huyện Lạc Sơn, ở phía Nam củatỉnh Hòa Bình, cách thành phố Hòa Bình (Trung tâm hành chính tỉnh HòaBình) khoảng 90 Km, cách thành phố Hà Nội 120 Km Bằng những chủtrương đúng đắn và nhiều giải pháp phù hợp, công tác khuyến khích, đào tạonâng cao trình độ CBCC, thu hút nhân tài của huyện Yên Thủy đã có nhữngchuyển biến tích cực, trình độ đội ngũ CBCC cấp xã được nâng cao, đáp ứngyêu cầu công tác
Chất lượng đội ngũ CBCC cấp xã trên địa bàn huyện từng bước nângcao, đáp ứng được yêu cầu công tác Nghị quyết Đại hội Đảng bộ huyện YênThủy nhiệm kỳ 2010-2015 đã xác định: “Phấn đấu xây dựng huyện Yên Thủy
Trang 33thực sự trở thành địa bàn động lực, năng động của vùng kinh tế phía Nam củatỉnh Hòa Bình, cửa ngõ quan trọng trong phát triển kinh tế với các tỉnh đồngbằng sông Hồng Nghị quyết cũng xác định ba khâu đột phá, trong đó nhấnmạnh “Phát triển nguồn nhân lực, nhất là nguồn nhân lực chất lượng cao làmột đột phá chiến lược” Do vậy, việc đào tạo, bồi dưỡng nâng cao trình độ,năng lực của đội ngũ CBCC cấp xã trên địa bàn huyện có vai trò hết sức quantrọng; là khâu then chốt thúc đẩy kinh tế - xã hội tỉnh phát triển bền vữngtrong những năm tiếp theo
Xác định tầm quan trọng đó, trong thời gian qua, huyện Yên Thủythường xuyên quan tâm đến công tác đào tạo, bồi dưỡng CBCC, thu hút nhântài Cụ thể:
Một là, huyện đã chú trọng xây dựng hệ thống thể chế về công tác đào
tạo, bồi dưỡng cán bộ
Hiện nay, huyện Yên Thủy đã xây dựng Đề án đào tạo, bồi dưỡng độingũ cán bộ đương chức và dự nguồn các chức danh lãnh đạo, quản lý các cấp
và công chức cấp xã của huyện giai đoạn 2015-2020 và 2020 - 2025, theo chỉđạo và định hướng của tỉnh
Hai là, có chính sách thu hút nguồn nhân lực; chính sách thi tuyển cán
bộ lãnh đạo, quản lý
Lực lượng công chức, trẻ có trình độ, được đào tạo cơ bản ngày càngđược tăng cường, bổ sung, góp phần nâng cao chất lượng đội ngũ CBCC Cùngvới đó, chất lượng cán bộ, nguồn CBCC được tỉnh Hòa Bình quan tâm ngay từcông tác tuyểndụng Nhờ vậy, trình độ năng lực và tính chuyên nghiệp của độingũ CBCC của huyện đã được nâng lên rõ rệt Hầu hết cán bộ chủ chốt cấp xãcủa huyện có trình độ chuyên môn đại học 89% đã góp phần tích cực trong quátrình lãnh đạo phát triển kinh tế - xã hội trên địa bàn các xã
Trang 341.3.2 Bài học về nâng cao năng lực QLNN về kinh tế cho cán bộ, công chức cấp xã áp dụng cho huyện Lạc Sơn, tỉnh Hòa Bình
Từ kinh nghiệm trong công tác CBCC của huyện Tân Lạc và huyệnYên Thủy của tỉnh Hòa Bình có thể rút ra một số bài học đối với huyện LạcSơn như sau:
Thứ nhất, cấp ủy đảng và người đứng đầu cơ quan, đơn vị luôn phải nâng cao năng lực QLNN về kinh tế cho cán bộ Trước hết, tập thể cấp ủy, đặc
biệt là người đứng đầu cần nhận thức sâu sắc và đúng đắn về ý nghĩa, tầm quantrọng, các nguyên tắc, nội dung, phương pháp, quy trình của công tác CBCC;công tác xây dựng, nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ phải là một trongnhững nhiệm vụ hàng đầu và tập trung thực hiện quyết liệt, được cụ thể hóathành kế hoạch, văn bản chỉ đạo, hướng dẫn phù hợp với từng ngành, lĩnh vựchay mỗi cơ quan đơn vị
Thứ hai, cần chú trọng công tác tạo nguồn và tuyển dụng cán bộ, công chức Thực hiện tốt chủ trương “ươm mầm” cho tương lai; chú trọng
bồi dưỡng thực tiễn để rèn luyện bản lĩnh chính trị vững vàng trước nhữngkhó khăn, thử thách Cấp ủy cần quan tâm tạo bước đột phá trong công táctạo nguồn CBCC, xây dựng kế hoạch cụ thể thông qua các chính sách đàotạo CBCC, ưu tiên đào tạo trình độ trên đại học; đổi mới công tác tuyểndụng CBCC theo hướng thi tuyển theo chức danh lãnh đạo, quản lý ở cấpphòng, ban và tương đương Thực hiện linh hoạt chính sách thu hút nhân tài,
có cơ chế riêng đối với cán bộ có trình độ chuyên môn cao, cán bộ là nhàkhoa học, chuyên gia đầu ngành
Thứ ba, phải quan tâm trẻ hóa, nâng cao trí thức, chuyên môn hóa đội ngũ cán bộ lãnh đạo, quản lý Vì đây là đội ngũ có tầm ảnh hưởng rất lớn đến
việc xây dựng đội ngũ CBCC nói riêng và công cuộc đổi mới đất nước nóichung Hầu hết, CBCC trẻ hiện nay có trình độ, được đào tạo bài bản, có hiểu
Trang 35biết và đặc biệt nhanh nhạy với kinh tế thị trường, công tác quản lý trên lĩnhvực kinh tế, cho nên đây sẽ là nguồn cán bộ kế cận có triển vọng bổ sung chođội ngũ cán bộ lãnh đạo quản lý kinh tế trong thời gian tới.
Thứ tư, phải quan tâm đến công tác đào tạo, bồi dưỡng CBCC Thực tế
cho thấy, QLNN về kinh tế trong nền kinh tế thị trường và hội nhập sâu rộngquốc tế như hiện nay đã và đang đạt ra nhiều điều mới mẻ cho công tácQLNN, đặc biệt là trên lĩnh vực kinh tế, nếu đội ngũ CBCC cấp xã khôngđược thời xuyên đào tạo, bồi dưỡng, cập nhật kiến thức mới về QLNN, quản
lý kinh tế, thì sẽ không đáp ứng được nhu cầu và đòi hỏi ngày càng cao của vịtrí công tác, thực tế đã chỉ ra ở đâu, khi nào đội ngũ CBCC được thườngxuyên bồi dưỡng, cập nhật kiến thức quản lý, thì ở đó công tác quản lý nhànước được thực hiện có hiệu quả cao, góp phần tích cực vào sực phát triểnkinh tế - xã hội địa phương
Thứ năm, thực hiện tốt chế độ đãi ngộ dựa trên sự cống hiến của mỗi CBCC Kết hợp hài hòa giữa lợi ích vật chất, lợi ích tinh thần và cơ hội thăng
tiến để kịp thời động viên, khích lệ CBCC Bên cạnh đó, phải chú trọng côngtác chính trị, tư tưởng và đặc biệt là việc giáo dục đạo đức cho CBCC
Trang 3610505 độ kinh đông.
Với địa giới hành chính:
- Phía Bắc giáp với huyện Kim Bôi và huyện Cao Phong;
- Phía Nam giáp với huyện Thạch Thành (tỉnh Thanh Hóa);
- Phía Đông giáp với huyện Yên Thủy;
- Phía Nam giáp với huyện Tân Lạc
* Điều kiện tự nhiên
Huyện có diện tích tự nhiên hơn 580 km2, địa hình chủ yếu là đồi núi,chia cắt bởi sông suối, xen kẽ là những cánh đồng nhỏ Toàn huyện có tổngdiện tích: 58.746,19 ha; trong đó: đất sản xuất nông nghiệp: 13,022,41 ha; đấtlâm nghiệp: 36,856,58 ha; đất chuyên dùng: 2,389,44 ha; đất ở: 2,619 ha; đấtchưa sử dụng: 1,651,49 ha
Về tài nguyên thiên nhiên có nhiều khoáng sản, rừng nguyên sinh dàntrải trên dãy núi trường sơn hùng vĩ
Huyện Lạc Sơn có 28 xã và 01 thị trấn, trong đó có 14 xã có điều kiệnkinh tế đặc biệt khó khăn (vùng 135), 362 thôn xóm, tổ dân phố, dân số có
Trang 37130 nghìn người, gồm 06 dân tộc, trong đó chủ yếu là dân tộc Mường chiếm91%, dân tộc Kinh chiếm 8%, còn lại là dân tộc khác
2.1.2 Tình hình phát triển kinh tế - xã hội
Xuất phát điểm của Lạc Sơn là huyện miền núi, cơ sở vật chất, hạtầng kỹ thuật còn lạc hậu Nhận thức được những khó khăn, Đảng bộ, chínhquyền và nhân dân trong huyện đã phát huy nội lực, tiềm năng vốn có củahuyện để phát triển kinh tế - xã hội Trong những năm gần đây, với sự cốgắng, nỗ lực của mình Đảng bộ, chính quyền và nhân dân huyện Lạc Sơn đãđạt được những kết quả nhất định, đem lại khởi sắc mới cho toàn huyện
Bảng 1: Tốc độ tăng trưởng kinh tế - xã hội giai đoạn 2010 - 2016
STT Năm Tốc độ tăng
trưởng kinh tế
Thu nhập bình quân đầu người (GDP/người)
Nguồn: Báo cáo kinh tế - xã hội, quốc phòng - an ninh năm 2010,
2011, 2012, 2013, 2014, 2015 và 2016 của UBND huyện Lạc Sơn, tỉnh Hòa Bình
Trang 38Nhìn vào bảng thống kê cho thấy, liên tục trong vài năm trở lại đây,huyện có tốc độ tăng trưởng kinh tế nhanh và ổn định với hai con số, mặc dùvậy, do xuất phát điểm thấp nên thu nhập bình quân đầu người còn thấp (chỉbằng ½ trung bình của nước), tỷ lệ hộ nghèo còn cao, cả huyện vẫn còn 14 xãđặc biệt khó khăn
Trong những năm gần đây, tình hình kinh tế - xã hội của huyện đãtiến triển rõ nét, tốc độ tăng trưởng kinh tế ở mức khá, cơ cấu kinh tế đã cónhững bước chuyển biến tích cực, đời sống của nhân dân từng bước được cảithiện Từ một huyện thuần nông sang phát triển công nghiệp và dịch vụ, trênđịa bàn huyện đã hình thành 01 Cụm công nghiệp
Bảng 2: Sự chuyển dịch cơ cấu kinh tế
Đơn vị tính: %
STT Năm Nông, lâm, thuỷ sản Công nghiệp,
xây dựng
Thương mại, dịch vụ
Nguồn: Báo cáo kinh tế - xã hội, quốc phòng - an ninh năm 2010,
2011, 2012, 2013, 2014, 2015 và 2016 của UBND huyện Lạc Sơn, tỉnh Hòa Bình.
Với sự chuyển dịch cơ cấu kinh tế qua các năm có thể thấy nền sảnxuất của huyện đã chuyển dần từ nền kinh tế tự cung, tự cấp sang sản xuấthàng hoá Tuy vậy, sự chuyển dịch này còn rất chậm, do tập quán canh tác
Trang 39của các hộ gia đình vẫn quen sản xuất nhỏ lẻ, sức mua của thị trường vẫn cònthấp Sự giao lưu giữa thị trường trong huyện với thị trường các huyện lân cận
và tỉnh ngoài còn thấp Song song với việc nỗ lực phát triển chuyển dịch cơcấu kinh tế, chuyển dịch mạnh mẽ cơ cấu cây trồng, vật nuôi hướng tới kinh
tế hàng hoá - thị trường Đảng bộ, chính quyền và nhân dân huyện Lạc Sơncũng rất chú trọng tới các vấn đề xã hội và coi đó là nhân tố quan trọng cómối quan hệ mật thiết mang tính thúc đẩy tới việc nâng cao chất lượng độingũ CBCC toàn huyện nói chung và CBCC QLNN về kinh tế nói riêng
Với vị trí địa lý và tài nguyên thiên nhiên sẵn có, song chất lượngtăng trưởng, hiệu quả và sức cạnh tranh trong phát triển kinh tế - xã hội ởhuyện còn thấp, chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng giảm tỷ trọng nôngnghiệp, tăng tỷ trọng công nghiệp, dịch vụ còn chậm Phát triển, mở rộngngành nghề tiểu thủ công nghiệp, du nhập nghề mới còn hạn chế Thu ngânsách của huyện thấp, chưa bền vững, thực lực kinh tế còn thấp Huyện không
có tiềm lực tài chính lớn để thực hiện các chế độ ưu đãi vượt trội, đủ để thuhút người tài, giữ được người giỏi làm việc tại huyện Điều đó ảnh hưởng lớnđến việc xây dựng đội ngũ CBCC QLNN về kinh tế của huyện
2.1.3 Tình hình phát triển văn hóa, giáo dục, y tế
- Về văn hóa – xã hội
Dưới sự lãnh đạo của Huyện uỷ, sự chỉ đạo, điều hành của UBNDhuyện, bộ mặt văn hoá – xã hội trên địa bản huyện có nhiều dấu hiệu khởisắc Tiếp tục đẩy mạnh việc thực hiện nếp sống văn hóa, văn minh trong việccưới, việc tang và lễ hội Tổng kết 5 năm thực hiện phong trào “Toàn dânđoàn kết xây dựng đời sống văn hoá” giai đoạn 2011 - 2015; 20 năm thựchiện cuộc vận động “Toàn dân đoàn kết xây dựng đời sống văn hoá ở khu dâncư" và 10 năm thực hiện nếp sống văn minh trong việc cưới, việc tang và lễhội giai đoạn 2005 - 2015 Kết quả, hộ gia đình đạt tiêu chuẩn văn hóa là26.015, đạt 80,08%; xóm, phố đạt tiêu chuẩn văn hóa là 272, đạt 77,5%; tỷ lệ
Trang 40cơ quan, đơn vị đạt tiêu chuẩn văn hóa 97,8%; trường học đạt tiêu chuẩn vănhóa đạt 95,5%.
Chương trình xây dựng nông thôn mới được quan tâm chỉ đạo, năm 2015
có 03 xã được công nhận là "xã đạt chuẩn nông thôn mới", gồm: xã Vũ Lâm,
xã Liên Vũ, xã Nhân Nghĩa, đạt kế hoạch đề ra Nhóm xã đạt 10 - 15 tiêu chí
có 09 xã; Nhóm xã đạt từ 7 - 9 tiêu chí có 16 xã Tổng số tiêu chí các xã đãđạt được đến nay là 235 tiêu chí, bình quân mỗi xã đạt 8,4 tiêu chí
Thực hiện tốt việc tổ chức giới thiệu quảng bá du lịch trên địa bàn, đẩymạnh giới thiệu và quảng bá các sản vật, ẩm thực của địa phương tại các lễhội trọng điểm; từng bước quảng bá, phát triển du lịch, tập trung quy hoạchphát triển ngành du lịch đến năm 2020, tầm nhìn đến năm 2030; bảo tồn vàphát huy tốt các giá trị văn hóa địa phương, nâng cao vốn hiểu biết của nhândân về các Di tích lịch sử cũng như các danh lam thắng cảnh của huyện Côngtác thông tin và truyền thông, bảo tồn, bảo tàng, gia đình tiếp tục được quantâm chỉ đạo và duy trì hoạt động có hiệu quả
Phong trào thể dục thể thao trong nhân dân tiếp tục được duy trì và pháttriển Công tác truyền thanh - truyền hình được duy trì thường xuyên và cóhiệu quả; các chương trình thường xuyên được đổi mới, nâng cao chất lượng
về nội dung; tuyên truyền, phản ánh kịp thời các nhiệm vụ chính trị, kinh tế,văn hóa, xã hội của huyện Duy trì và nâng cao chất lượng tiếp phát sóngtruyền thanh, truyền hình của đài trung ương, đài tỉnh
- Về Giáo dục và đào tạo:
Chất lượng giáo dục có nhiều chuyển biến tích cực, phát triển theohướng bền vững; tỷ lệ học sinh xếp loại khá, giỏi tăng Cơ sở vật chất trườnghọc được đầu tư, các điều kiện bảo đảm dạy và học ngày càng tốt hơn; tỷ lệphòng học kiên cố đạt 67,86%, bán kiên cố là 20,65%, phòng học tạm là11,5%; đến năm 2015 tổng số trường chuẩn quốc gia toàn huyện là 28/89