2 MỤC LỤC MỞ ĐẦU 1 I MỘT SỐ VẤN ĐỀ CƠ BẢN VỀ BIỂN, ĐẢO 2 1 1 Vai trò của biển 2 1 2 Chính sách của một số nước ven biển Đông 3 1 3 Biển Đông với kinh tế xã hội và quốc phòng an ninh Việt Nam 4 II MỤC[.]
Trang 1MỞ ĐẦU 1
1.2 Chính sách của một số nước ven biển Đông 3 1.3 Biển Đông với kinh tế - xã hội và quốc phòng-an ninh Việt Nam 4
II MỤC TIÊU, NHIỆM VỤ BẢO VỆ CHỦ QUYỀN BIỂN ĐẢO VIỆT NAM TRONG THỜI KỲ MỚI
7
2.1 Mục tiêu quản lý, bảo vệ biển, đảo 7 2.2 Nhiệm vụ quản lý, bảo vệ biển, đảo 9
III THỰC TRẠNG VÀ GIẢI PHÁP BẢO VỆ BIỂN, ĐẢO Ở TỈNH NAM ĐỊNH TRONG THỜI GIAN TỚI.
12
3.2 Thực trạng về Bảo vệ chủ quyền Biển, Đảo của tỉnh Nam Định 13 3.3 Nội dung, Giải pháp bảo vệ chủ quyền Biển, Đảo tại tỉnh Nam Định trong giai đoạn hiện nay
15
Trang 2MỞ ĐẦU
Biển, Đảo Việt Nam là một bộ phận lãnh thổ thiêng liêng của Tổ quốc, có vị trí đặc biệt quan trọng trong sự nghiệp xây dựng, phát triển và bảo vệ đất nước hiện nay và mai sau Bảo vệ chủ quyền biển, đảo là nhiệm vụ trọng yếu và là trách nhiệm của toàn Đảng, toàn dân, toàn quân ta Hiện nay, các quốc gia, nhất là các quốc gia có khả năng khoa học công nghệ cao, có tiềm lực quân sự mạnh đều
có xu thế vươn ra biển để tìm kiếm, khai thác tài nguyên, khoáng sản phục vụ cho
sự phát triển đất nước Ngày nay, biển được ví như kho báu, có thể giải quyết được những vấn đề cấp bách mang tính toàn cầu như: nguyên liệu, năng lượng và môi trường Theo đó, nhiều quốc gia đang hướng ra biển, coi biển là tương lai, là đặc ân cuối cùng của thiên nhiên ban tặng cho loài người, là một trong những môi trường sống quan trọng của loài người “Tiến ra biển trở thành một hướng phát triển của loài người, một chiến lược lâu dài của nhiều nước trên thế giới”
Việt Nam là một quốc gia có đường biên giới trên biển dài hơn 3260 km với diện tích hơn 1 triệu Km2 biển; tiềm năng kinh tế biển của Việt Nam rất lớn Để khai thác có hiệu quả tiềm năng kinh tế biển, đòi hỏi Đảng, Nhà nước cần có một chiến lược kinh tế biển; có quan điểm, chủ trương, biện pháp đúng đắn, phù hợp nhằm quản lí và bảo vệ tốt chủ quyền biển, đảo Sau khi nghiên cứu chuyên
đề :Quan điểm, chủ trương của Đảng, Nhà nước về quản lý và bảo vệ chủ quyền
biển đảo Việt Nam trong giai đoạn hiện nay Tôi lựa chọn nội dung “ Nội dung cơ bản bảo vệ chủ quyền Biển, Đảo trong tình hình mới Thực trạng và giải pháp tại địa bàn tỉnh Nam Định trong thời gian mới” làm Tiểu luận thu hoạch trong khối
kiến thức chuyên đề bổ trợ thuộc chương trình đào tạo cao cấp lý luận chính trị ở Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh Nội dung thể hiện trên một số mục sau đây:
Trang 3I MỘT SỐ VẤN ĐỀ CƠ BẢN VỀ BIỂN, ĐẢO
1.1 Vai trò của biển
Biển chiếm 71% diện tích bề mặt trái đất, từ xa xưa, con người đã biết khai thác biển để sinh sống Tuy nhiên, việc khai thác trong thời kỳ này chỉ ở những vùng ven biển và còn thô sơ, manh mún
Đến thế kỷ XV, con người đã đi vòng quanh trái đất bằng đường biển Biển được các nước phát triển sử dụng làm con đường giao thương để tìm kiếm, mở rộng thị trường và chiếm đoạt thuộc địa Đến nửa đầu thế kỷ XX, con người mới chỉ khai thác bề mặt của biển là chủ yếu Nửa sau của thế kỷ XX cho tới thập niên đầu của thế kỷ XXI, mở đầu cho thời kỳ mới - thời kỳ tiến ra biển trong lịch sử khai thác biển Nhiều học giả cho rằng, ngày nay chúng ta đang bước vào thời đại mới - thời đại biển Biển ngày càng có vai trò quan trọng trong quá trình tồn tại và phát triển của nhân loại Các quốc gia dù có biển hay không đều quan tâm tới biển
và hướng ra biển, điều đó đã trở thành một hướng phát triển của loài người với những lí do sau:
Một là, sự bùng nổ dân số và nhu cầu cuộc sống của con người ngày một
cao, cùng với sự khan hiếm lương thực, cạn kiệt tài nguyên trên lục địa ảnh hưởng trực tiếp sự phát triển bền vững của loài người
Hai là, biển có nguồn tài nguyên vô cùng to lớn có thể đáp ứng nhu cầu tồn
tại và phát triển của con người
Ba là, khoa học công nghệ phát triển mạnh mẽ, giúp con người hiểu biết đầy
đủ hơn về tiềm năng, lợi ích từ biển; đồng thời tạo cho con người khả năng khai thác những tiềm năng đó với quy mô lớn, hầu như ở mọi độ sâu và cả trong lòng đất của đáy biển
Ngày nay, biển được ví như kho báu, có thể giải quyết được những vấn đề cấp bách mang tính toàn cầu như: nguyên liệu, năng lượng và môi trường Theo
đó, nhiều quốc gia đang hướng ra biển, coi biển là tương lai, là đặc ân cuối cùng của thiên nhiên ban tặng cho loài người, là một trong những môi trường sống quan trọng của loài người “Tiến ra biển trở thành một hướng phát triển của loài người, một chiến lược lâu dài của nhiều nước trên thế giới” Trong cuốn “Chiến lược khai thác biển của Trung Quốc” viết: “Dân tộc nào sống xa lạ với biển là tự khép kín mình, tất nhiên sẽ bị lạc hậu Trên thế giới ngày nay, dân tộc nào chỉ có quan điểm đất liền, không có nhận thức về biển là dân tộc bảo thủ, không thể
Trang 4thịnh vượng, phát triển” Theo đó, thế kỷ XXI là thế kỷ của chiến lược biển Vài
vậy: Biển có vai trò quan trọng, vươn ra biển để khai thác là xu hướng chung của các nước hiện nay
1.2 Chính sách của một số nước ven biển Đông
Các nước ven biển Đông đều đánh giá Trung Quốc là nhân tố chủ yếu gây mất ổn định ở biển Đông Họ không muốn Trung Quốc lấp “chỗ trống quyền lực”
ở biển Đông, nên ủng hộ sự có mặt về quân sự của Mỹ ở đây để làm đối trọng với Trung Quốc Mặt khác, những nước này lại chấp nhận sự xoa dịu của Trung Quốc, không muốn làm mất lòng Trung Quốc vì những tính toán lợi ích riêng của mỗi nước
Từ năm 1999 trở lại đây, một số nước còn dựa vào Mỹ để có những hành động làm tăng thêm mức độ căng thẳng ở Trường Sa, như lấn chiếm thêm một số điểm, tiến hành trinh sát các đảo do Việt Nam kiểm soát (việc này trước đây họ chưa từng làm), tăng cường các hoạt động tuần tiễu, khai thác hải sản
Hầu hết các nước ven biển Đông đều tăng cường đầu tư cho phát triển hải quân
để bảo vệ lợi ích trên biển của mình Hàng năm, những nước này vẫn duy trì diễn tập hải quân song phương và đa phương giữa các nước trong khu vực với nhau và với các nước ngoài khu vực (Mỹ, Ôxtrâylia, Niu Dilân, Anh, Pháp, Nhật)
Đối với Việt Nam, các nước ASEAN đều quan tâm phát triển quan hệ về nhiều mặt; hợp tác với Việt Nam trong việc giữ gìn hoà bình và ổn định trên biển; thống nhất với Việt Nam về chủ trương giải quyết tranh chấp biển, đảo bằng thương lượng hoà bình Họ muốn Việt Nam là vật cản ngăn chặn mối đe dọa bành trướng lãnh thổ của Trung Quốc ở biển Đông, nhưng thường giữ im lặng trước những hành động của Trung Quốc mà Việt Nam phản đối
Thái Lan là đồng minh thân cận nhất của Mỹ ở Đông Nam Á Thái Lan ủng
hộ ý định của Mỹ xây dựng căn cứ hậu cần nổi ở Vịnh Thái Lan Khi Trung Quốc lấn chiếm và gây ra các sự kiện trên biển Đông, quan điểm của Thái Lan là trung lập, không đưa ra chứng kiến phản đối, trong khi Việt Nam lên án Trung Quốc; đồng thời vẫn giữ mối quan hệ bình thường trên biển với Việt Nam thể hiện trong việc duy trì tuần tra chung trên biển giữa hải quân hai nước
Campuchia trong vòng 5 năm trở lại đây đã có những chuyển biển đáng kể
theo chiều hướng tốt trong mối quan hệ về biển với Việt Nam Tuy nhiên, trong nước vẫn còn những thế lực thù địch với Việt Nam, nổi bật là nhóm các nghị sĩ
Trang 5của các đảng đối lập với Đảng Nhân dân Campuchia vẫn đưa ra những đòi hỏi vô
lý về chủ quyền của họ đối với các cột mốc biên giới trên bộ của ta và không chấp nhận phân chia vùng biển trong vùng nước lịch sử mà hiệp định giữa hai nước đã
ký kết năm 1982, trong các cuộc đàm phán Quan điểm của Campuchia về các vấn đề trên biển Đông cũng giữ ở mức trung lập, không ủng hộ ai nhưng cũng không đưa ra lời phản đối ai mỗi khi có sự kiện xảy ra trên biển Đông
1.3 Biển Đông với kinh tế - xã hội và quốc phòng-an ninh Việt Nam + Kinh tế - xã hội:
Về tài nguyên, sinh vật có hơn 2000 loài cá khác nhau, trong đó có hơn 100
loài cá có giá trị kinh tế cao; là khu vực có năng suất cao về đánh bắt hải sản, chiếm khoảng 10% tổng sản lượng đánh bắt hải sản hàng năm của toàn thế giới
Về khoáng sản, biển Đông có các mỏ và nguồn sa khoáng biển phong phú, chủ yếu là than, thiếc, titan, silicát Từ những năm 70 của thế kỷ XX, một số nước xung quanh biển Đông đã tiến hành khai thác mỏ thiếc ngầm dưới biển Đặc biệt là trong những năm 60 của thế kỷ XX, biển Đông được phát hiện là có tiềm năng lớn về dầu mỏ và khí đốt Sản lượng khai thác dầu khí của các nước quanh biển Đông đạt được nhịp độ tăng trưởng nhanh liên tục Đứng đầu khu vực là Inđônêxia, sản lượng khai thác dầu khí đã vượt qua con số 100 triệu tấn/năm Theo số liệu công bố năm 1998 của một công trình nghiên cứu ở Trung Quốc, riêng khu vực quần đảo Trường Sa đã có trữ lượng dầu mỏ tới trên 41 tỷ tấn Biển Đông có nhiều eo biển thông thương với Thái Bình Dương và nối với Ấn Độ Dương bằng đường biển đi qua eo biển Malacca Vì vậy, biển Đông là đường giao thông huyết mạch nối Đông Á, Thái Bình Dương với châu Âu, châu Phi và Trung Cận Đông Nền kinh tế của nhiều nước hoặc vùng lãnh thổ ở Đông Á (Nhật Bản, Hàn Quốc, Đài Loan, Xingapo) phụ thuộc sống còn vào đường hàng hải quốc tế
đi qua biển Đông Biển Đông được đánh giá là con đường hàng hải nhộn nhịp vào hàng thứ hai trên thế giới Hàng ngày có khoảng 150-200 tàu buôn của các nước qua lại biển Đông Trong thập kỷ đầu của thế kỷ XXI, lượng hàng hóa vận chuyển qua biển Đông đã tăng gấp 1,5 - 2 lần so với trước đây
Việt Nam được đánh giá là quốc gia có nhiều thuận lợi hơn về điều kiện địa
lý biển so với nhiều quốc gia ven biển khác Bờ biển Việt Nam dài khoảng 3260
km, đứng thứ 27 về chiều dài bờ biển trong tổng số 157 nước ven biển, đảo quốc
và vùng lãnh thổ ven biển của thế giới Trên thế giới, trung bình 600km2 đất liền
Trang 6mới có 1 km bờ biển, tỷ lệ đó ở Việt Nam là 100 km2/1km (Thái Lan là 140 km2/1
km, Trung Quốc là 533 km2/1 km ) Diện tích biển của Việt Nam chiếm khoảng 29% diện tích của biển Đông, rộng gấp ba lần diện tích lãnh thổ đất liền Việt Nam còn có chủ quyền gần 3000 hòn đảo lớn, nhỏ và 2 quần đảo xa bờ là Hoàng
Sa và Trường Sa Tài nguyên vùng biển và ven biển Việt Nam được đánh giá rất phong phú và đa dạng, phân bố rộng khắp trên dải đất liền ven biển đến các vùng nước ven bờ, các hải đảo và các vùng biển khơi Ven biển Việt Nam có khoảng
110 cửa sông đổ ra biển Trung bình khoảng 30 km bờ biển có một cửa sông Hiện nay, cả nước có hơn 90 cảng lớn, nhỏ, với 24.000 m cầu cảng và 10 khu chuyển tải, có cầu cảng có thể tiếp nhận được tàu tới 50.000 DWT
Cả nước có 63 tỉnh, thành thì 28 tỉnh, thành có biển, trong đó có 12 huyện đảo Trên 50% số dân của Việt Nam sống ở các tỉnh ven biển Đó là những điều kiện khách quan thuận lợi để chúng ta phát triển một cách đa dạng các ngành kinh
tế biển, bao gồm kinh tế biển khơi, kinh tế ven biển và kinh tế hải đảo
Để khai thác tiềm năng và lợi thế của biển, đáp ứng đòi hỏi khách quan của công cuộc xây dựng đất nước trong thời kỳ đổi mới, ngày 6-5-1993, Bộ Chính trị
Ban Chấp hành Trung ương Đảng đã ra Nghị quyết số 03-NQ/TW về “Một số
nhiệm vụ phát triển kinh tế biển trong những năm trước mắt”, xác định: “Trở thành một nước mạnh về biển là mục tiêu chiến lược xuất phát từ yêu cầu và điều
kiện khách quan của sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam” Nghị quyết số 03-NQ/TW của Bộ Chính trị đã nhanh chóng đi vào cuộc sống của đất
nước, định hướng cho kinh tế biển và thúc đẩy kinh tế biển phát triển Chỉ trong thời gian ngắn, kinh tế biển Việt Nam đã có sự phát triển đáng kể, đã chứng tỏ ưu thế so với các vùng kinh tế khác ở cả ba giá trị: nhịp độ tăng trưởng, kim ngạch xuất khẩu và thu hút vốn đầu tư của nước ngoài
Chỉ thị số 20-CT/TW ngày 22-9-1997 của Bộ Chính trị về "Đẩy mạnh phát
triển kinh tế biển theo hướng công nghiệp hoá hiện đại hoá", khẳng định: “Vùng biển, hải đảo và ven biển là địa bàn chiến lược có vị trí quyết định đối với sự phát triển của đất Việt Nam; là tiềm năng và thế mạnh quan trọng cho sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá” Vùng ven biển Việt Nam đang được xây dựng với nhịp
độ phát triển kinh tế nhanh và sôi động nhất của cả nước, đang hình thành một hành lang kinh tế, một trục đô thị và trung tâm công nghiệp lớn của Việt Nam Hiện nay kinh tế biển đang phát huy vai trò chủ yếu trong kinh tế đối ngoại và vai trò “đầu
Trang 7tàu” thúc đẩy các vùng kinh tế khác phát triển Thực tế xây dựng đất nước trong những thập kỷ qua cho thấy thu nhập của đất nước từ kinh tế biển càng ngày càng tăng, kinh tế biển đang góp phần ngày càng quan trọng hơn vào sự nghiệp xây dựng đất nước Chỉ có đẩy mạnh phát triển kinh tế biển, chúng ta mới đẩy lùi được nguy cơ tụt hậu xa hơn về kinh tế so với các nước trong khu vực
Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ IX của Đảng đã khẳng định: “phát triển tổng hợp kinh tế biển và ven biển, khai thác lợi thế của các khu vực cửa biển, hải cảng để tạo thành vùng phát triển cao, thúc đẩy các vùng khác Xây dựng căn cứ hậu cần ở một số đảo để tiến ra biển khơi” Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ X cũng chỉ ra, cần phải: “xây dựng và thực hiện chiến lược phát triển kinh tế biển toàn diện, có trọng tâm, trọng điểm; sớm đưa Việt Nam trở thành quốc gia mạnh
về kinh tế biển trong khu vực, gắn với bảo đảm quốc phòng - an ninh và hợp tác quốc tế”
Biển Đông đã và đang cho chúng ta nhiều lợi ích để làm giầu cho Tổ quốc; đồng thời cũng đang đòi hỏi chúng ta phải đầu tư lớn hơn nữa về tiền của, sức lực
và trí tuệ để Biển Đông có thể tiếp tục đóng góp ngày càng nhiều hơn vào sự nghiệp xây dựng thành công chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam, mạnh về biển, có vị trí
và tầm cao xứng đáng trong thời đại mới của loài người - “thời đại biển”.
+ Quốc phòng - an ninh
Trong lịch sử dân tộc, đã nhiều lần kẻ thù xâm lược đất Việt Nam từ hướng biển Từ thời các Vua Hùng dựng nước, nhân dân ta đã tạo dựng nên truyền thống
“giỏi dùng thuyền, thạo thủy chiến” Nhiều chiến công vang dội trên sông biển đã ghi đậm dấu ấn trong lịch sử dân tộc
Từ thế kỷ XVI, Việt Nam bắt đầu có quan hệ thông thương với một số nước phương Tây đang trên đà phát triển chủ nghĩa tư bản Bằng đường biển, các thương gia, các giáo sĩ phương Tây đã xâm nhập Việt Nam với danh nghĩa buôn bán và truyền giáo, nhưng thực chất là cướp của cải, gây dựng cơ sở chính trị, chuẩn bị cho chiến tranh xâm lược Việt Nam vào nửa sau thế kỷ XIX
Sau cách mạng tháng Tám 1945, trong hai cuộc kháng chiến chống Pháp và chống Mỹ, các đạo quân xâm lược đều đến Việt Nam từ hướng biển Pháp và Mỹ đều dựa vào biển để vận chuyển quân đội và vật chất phục vụ cho chiến tranh xâm lưọc Biển Đông cũng là con đường rút khỏi Việt Nam của các đạo quân xâm lược đến từ phương Tây Sau khi đất nước thống nhất, các thế lực thù địch tiếp tục dùng biển Đông để lén lút tiến hành các hoạt động chống đối Việt Nam
Trang 8Từ khi đất nước thực hiện công cuộc đổi mới, biển Đông trở thành “cửa mở lớn” để giao lưu giữa Việt Nam với thế giới Các thế lực thù địch đã lợi dụng
“cửa mở lớn” này để xâm nhập Việt Nam, tiến hành các hoạt động gián điệp, phá hoại về chính trị và kinh tế, truyền bá văn hóa phẩm đồi trụy , gây khó khăn cho
ta về bảo đảm trật tự an ninh xã hội
- Biển Đông đang tồn tại những nhân tố gây mất ổn định, tác động tiêu cực tới quốc phòng-an ninh của Việt Nam Đó là sự tồn tại những tranh chấp biển, đảo rất quyết liệt và phức tạp; có sự can thiệp của các nước lớn, làm cho tình hình trong khu vực đã phức tạp càng trở nên phức tạp hơn; sự thiếu nhất quán và đồng thuận của một số nước trong khu vực
Có thể khẳng định, biển ngày càng có vai trò quan trọng trong quá trình tồn
tại, phát triển của nhân loại Ngày nay, tiến ra biển, khai thác biển và đại dương trở thành xu hướng tất yếu khách quan và là mối quan tâm của tất cả các nước có biển và không có biển
Hiện nay, biển Đông đang là nơi tồn tại những mâu thuẫn chính trị và kinh
tế của thế giới Các nước trong khu vực đang có sự tranh chấp gây gắt về chủ quyền, quyền chủ quyền trên biển, đảo Sự can thiệp nhằm tranh giành lợi ích và ảnh hưởng của các cường quốc vào biển Đông làm cho tình hình ở đây càng thêm phức tạp Biển Đông đang tập trung những mặt đối lập; thuận lợi và khó khăn, hợp tác và chống đối, bè bạn và thù địch Tất cả những yếu tố đó đang ảnh hưởng trực tiếp đến sự nghiệp phát triển kinh tế và bảo đảm quốc phòng - an ninh trên biển của Việt Nam trong những năm tới Theo đó, tăng cường quốc phòng
-an ninh để bảo vệ biển đảo là yêu cầu cấp bách của sự nghiệp xây dựng và bảo vệ
Tổ quốc trong thời kỳ mới
II MỤC TIÊU, NHIỆM VỤ BẢO VỆ CHỦ QUYỀN BIỂN ĐẢO VIỆT NAM TRONG THỜI KỲ MỚI
2.1 Mục tiêu quản lý, bảo vệ biển, đảo
2.1.1 Giữ vững độc lập, chủ quyền toàn vẹn lãnh thổ, lợi ích quốc gia trên biển
Trong bối cảnh của thế giới và khu vực hiện nay, giải quyết đúng đắn mối quan hệ song phương và đa phương giữa Việt Nam với các nước là vấn đề có ý nghĩa quan trọng, quyết định đến vận mệnh của quốc gia, dân tộc: hòa bình, ổn định, hợp tác, phát triển hay mất ổn định, chiến tranh, đói nghèo, tụt hậu Hội nghị Trung ương 8 của Đảng (Khóa IX) đã xác định: “Kiên định mục tiêu độc lập
Trang 9dân tộc gắn liền với chủ nghĩa xã hội; lấy việc giữ vững môi trường hòa bình, ổn định để phát triển kinh tế - xã hội là lợi ích cao nhất của đất nước” Trong văn kiện Đại hội Đại biểu XII của Đảng đã nêu rõ: “Thực hiện tốt Chiến lược bảo vệ
Tổ quốc trong tình hình mới Tăng cường quốc phòng, an ninh, kiên quyết, kiên trì đấu tranh bảo vệ vững chắc độc lập, chủ quyền, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ, đảm bảo ổn định chính trị - xã hội và môi trường hoà bình để xây dựng và bảo vệ đất nước ”
Quán triệt tinh thần đó trong quản lý bảo vệ biển, đảo, chúng ta phải kiên trì mục tiêu giữ vững độc lập, chủ quyền, toàn vẹn lãnh thổ, lợi ích quốc gia, dân tộc trên biển gắn liền với chủ nghĩa xã hội; đồng thời phải lấy giữ vững môi trường hòa bình, ổn định lâu dài là lợi ích cao nhất
Giữ vững độc lập, chủ quyền, toàn vẹn lãnh thổ, lợi ích quốc gia, dân tộc trên biển là trách nhiệm, nghĩa vụ thiêng liêng của mọi công dân Việt Nam Trong Hiến pháp năm 1980 và 1992, đã quy định: “Nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam là một nước độc lập, có chủ quyền, thống nhất và toàn vẹn lãnh thổ, bao gồm đất liền, vùng trời, vùng biển và các hải đảo” Điều 13 viết: “Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa là thiêng liêng và bất khả xâm phạm”
Bất khả xâm phạm và toàn vẹn lãnh thổ là một trong những nguyên tắc cơ bản được luật pháp quốc tế công nhận, bắt nguồn từ nguyên tắc tôn trọng chủ quyền quốc gia, tôn trọng quyền tối cao của quốc gia đối với lãnh thổ
Điều 2, khoản 4 của Hiến chương Liên hợp quốc viết: “Tất cả các thành viên Liên hợp quốc cần phải tự kiềm chế, không được đe dọa hoặc sử dụng vũ lực để chống lại sự toàn vẹn lãnh thổ hoặc nền độc lập chính trị của bất kỳ nước nào hoặc bằng bất cứ cách nào khác trái với các mục đích của Liên hợp quốc”
Sự nghiệp đổi mới do Đảng ta khởi xướng và lãnh đạo từ năm 1986 đến nay
đã đạt được nhiều thành tựu rất to lớn Trong những năm tới, nhân dân ta quyết tâm đẩy mạnh công cuộc đổi mới để xây dựng và phát triển đất nước theo định hướng xã hội chủ nghĩa, làm cho dân giàu, nước mạnh, công bằng, dân chủ, văn minh Theo đó, kiên quyết bảo vệ độc lập, chủ quyền, toàn vẹn lãnh thổ và lợi ích quốc gia, dân tộc trên biển phải gắn với chủ nghĩa xã hội, gắn với bảo vệ Đảng, Nhà nước, nhân dân và chế độ xã hội chủ nghĩa; gắn với bảo vệ sự nghiệp đổi mới và bản sắc văn hóa dân tộc Bảo vệ độc lập chủ quyền toàn vẹn lãnh thổ và lợi ích quốc gia dân tộc là mục tiêu bất di bất dịch của Đảng, Nhà nước và nhân dân ta
Trang 102.1.2 Giữ vững môi trường hòa bình, ổn định lâu dài là lợi ích cao nhất
Trong những năm qua, chúng ta đã kiên trì phấn đấu theo đường lối đối ngoại của Đảng là: “Thực hiện nhất quán đường lối đối ngoại độc lập tự chủ, rộng
mở, đa phương hóa, đa dạng hóa các quan hệ quốc tế Việt Nam sẵn sàng là bạn,
là đối tác tin cậy, là thành viên có trách nhiệm trong cộng đồng quốc tế, phấn đấu
vì hoà bình, độc lập và phát triển” để phá thế bị bao vây cấm vận, tạo môi trường hòa bình, ổn định, tranh thủ những điều kiện quốc tế thuận lợi cho công cuộc xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Đây là một trong những thành tựu quan trọng nhất của Đảng, Nhà nước và nhân dân ta sau hơn 30 năm đổi mới
Từ Đại hội VII, Đảng ta đã đề ra đường lối đối ngoại độc lập tự chủ, đa phương hóa, đa dạng hóa các mối quan hệ quốc tế theo tinh thần "Việt Nam muốn làm bạn với các nước trong cộng đồng thế giới" Đường lối đối ngoại này đến nay vẫn đang tiếp tục được quán triệt, phát triển để giữ vững hòa bình, ổn định lâu dài Hoà bình, ổn định là điều kiện tiên quyết để xây dựng đất nước giàu mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh, nhân dân ấm no, hạnh phúc Mục tiêu quản lý, bảo vệ biển, đảo là sự thể hiện cụ thể đường lối nhất quán của Đảng, Nhà Việt Nam trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc, phù hợp với mục tiêu chung của Đảng và nhân ta là độc lập dân tộc gắn liền với chủ nghĩa xã hội, làm cho dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh Để đạt được mục tiêu quản lý, bảo vệ biển, đảo cần giải quyết đúng đắn các vấn đề cơ bản như: Kết hợp hài hoà lợi ích quốc gia, dân tộc trên biển với lợi ích của dân tộc khác theo tinh thần tôn trọng độc lập, chủ quyền, không can thiệp vào công việc nội bộ của nhau, hợp tác đôi bên cùng có lợi; kết hợp nội lực với tận dụng sức mạnh thời đại, trên
cơ sở nội lực là chính
2.2 Nhiệm vụ quản lý, bảo vệ biển, đảo
2.2.1 Quản lý chặt chẽ, bảo vệ vững chắc chủ quyền, toàn vẹn lãnh thổ và lợi ích quốc gia, dân tộc trên biển
Để bảo vệ vững chắc toàn vẹn lãnh thổ và lợi ích quốc gia, dân tộc trên biển cần thực hiện tốt việc quản lý, bảo vệ chủ quyền, quyền chủ quyền và quyền tài phán quốc gia trên các vùng biển
Bảo vệ chủ quyền quốc gia trên biển, có thể hiểu theo nghĩa rộng là bảo vệ các quyền của quốc gia theo các chế độ pháp lý khác nhau, phù hợp với luật pháp quốc tế, trên các vùng nước nội thủy, vùng nước lịch sử, trên các hải đảo của Tổ