MỞ ĐẦU Dựa trên quan điểm của chủ nghĩa Mác Lênin về vấn đề dân tộc và thực tiễn lịch sử đấu tranh cách mạng để xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam cũng như dựa vào tình hình thế giới trong giai đoạn.
Trang 1MỞ ĐẦU
Dựa trên quan điểm của chủ nghĩa Mác-Lênin về vấn đề dân tộc và thực tiễn lịch sử đấu tranh cách mạng để xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam cũng như dựa vào tình hình thế giới trong giai đoạn hiện nay, Đảng và Nhà nước ta ngay từ khi thành lập cho đến nay luôn luôn coi vấn đề dân tộc và xây dựng khối đại đoàn kết toàn dân tộc có tầm quan trọng đặc biệt Chủ tịch Hồ Chí Minh đã nói: Nước Việt Nam là một, dân tộc Việt Nam là một, đồng bào các dân tộc đều là anh em ruột thịt, là con cháu một nhà, thương yêu đoàn kết giúp đỡ nhau là nghĩa vụ thiêng liêng của các dân tộc Người còn khẳng định: “Đoàn kết, đoàn kết, đại đoàn kết Thành công, thành công, đại thành công” Trong mỗi thời kỳ cách mạng, Đảng và Nhà nước coi việc giải quyết đúng đắn vấn đề dân tộc là nhiệm vụ có tính chiến lược nhằm phát huy sức mạnh tổng hợp, cũng như tiềm năng riêng của từng dân tộc trong sự nghiệp đấu tranh giành độc lập dân tộc và đưa đất nước quá độ lên chủ nghĩa xã hội
Với quan điểm cách mạng là sáng tạo không ngừng, trong thời kỳ đổi mới, chính sách dân tộc của Đảng ta vừa đảm bảo tính nhất quán, vừa đổi mới trước yêu cầu phát triển và hội nhập nhằm giải quyết thành công vấn đề dân tộc ở nước ta hiện nay và trong tương lai
Trên cơ sở kiến thức đã học, cùng với thực tiễn công tác em xin chọn nội
dung “ Quan điểm, chính sách dân tộc của Đảng và Nhà nước ta thời kỳ đổi mới – Liên hệ việc thực hiện chính sách dân tộc của tỉnh Hà Giang” làm bài thu hoạch
môn Lý luận dân tộc và quan hệ dân tộc ở Việt Nam
Trang 2NỘI DUNG
1 Những đặc điểm cơ bản, tình hình dân tộc ở Việt Nam
Việt Nam là quốc gia thống nhất gồm 54 dân tộc (53 dân tộc thiểu số chiếm
14% dân số cả nước, cư trú chủ yếu ở miền núi, vùng sâu vùng xa, vùng biên giới), cùng cư trú, tồn tại và phát triển trên lãnh thổ Việt Nam, đã sớm hình thành các đặc điểm cơ bản:
Cộng đồng các dân tộc Việt Nam chung sống đoàn kết, hoà hợp Ngay từ
thuở khai sinh, các dân tộc phải cố kết, chung sức, chung lòng chống chọi với thiên nhiên, bão lũ; tinh thần đoàn kết càng được phát huy hơn trong lịch sử đấu tranh chống giặc ngoại xâm, giải phóng dân tộc Trong sự nghiệp cách mạng, dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam, truyền thống đoàn kết, thống nhất dân tộc không ngừng được củng cố và phát triển, tạo nên sức mạnh vĩ đại để chiến thắng thiên tai, chiến thắng thù trong, giặc ngoài đem lại thắng lợi của cách mạng Việt Nam
Các dân tộc cư trú xen kẽ nhau, có trình độ phát triển kinh tế - xã hội không
đồng đều, nhưng không có sự phân chia lãnh thổ và chế độ xã hội riêng Hình thái
cư trú xen kẽ nhiều dân tộc anh em, phản ánh mối quan hệ đoàn kết, thống nhất của cộng đồng dân tộc Việt Nam trong một quốc gia Những năm gần đây, gắn liền với
sự phát triển kinh tế, văn hoá, xã hội, tính chất đan xen đó càng tăng lên Mỗi dân tộc đều có phong tục, tập quán, tâm lý, lối sống, tín ngưỡng tôn giáo mang tính đặc thù, tạo nên những sắc thái văn hóa riêng của từng dân tộc, tồn tại và phát triển trong tính đa dạng và thống nhất của nền văn hóa các dân tộc Việt Nam
Địa bàn cư trú của các dân tộc thiểu số có vị trí chiến lược đặc biệt quan trọng
về chính trị, kinh tế, văn hóa, an ninh, quốc phòng, đối ngoại và bảo vệ bền vững
môi trường sinh thái Đồng bào cư trú suốt dọc tuyến biên giới phía Bắc, Tây và Tây
Nam, có nhiều cửa ngõ thông thương giữa nước ta với các nước trong khu vực và trên thế giới Đây là địa bàn có nguồn tài nguyên phong phú, đa dạng, có hệ thống rừng phòng hộ, rừng đặc dụng phục vụ cho sự nghiệp phát triển của đất nước và bảo
vệ bền vững môi trường sinh thái Trong tình hình hiện nay, miền núi là địa bàn tiềm năng, mang tính chiến lược, cơ bản cho sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc
Kinh tế ở miền núi, các dân tộc thiểu số còn chậm phát triển, tình trạng du canh, du cư, di dân tự do vẫn còn diễn biến phức tạp Kết cấu hạ tầng (điện, đường, trường, trạm, dịch vụ) ở vùng sâu, vùng xa, vùng căn cứ cách mạng vẫn còn khó khăn, nhiều nơi môi trường sinh thái tiếp tục bị suy thoái
Trang 3Hệ thống chính trị cơ sở ở vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi còn yếu, tỉ lệ cán bộ có trình độ cao đẳng, đại học thấp Năng lực, trình độ cán bộ xã, phường còn hạn chế, số lượng đảng viên là người dân tộc thiểu số thấp, vẫn còn thôn bản chưa có đảng viên Hoạt động của cấp ủy, chính quyền, mặt trận và đoàn thể ở nhiều nơi chưa sát dân, chưa tập hợp được đồng bào
Các thế lực thù địch luôn tìm cách lợi dụng những khó khăn về đời sống, trình
độ dân trí thấp của đồng bào và những sai sót của các cấp, các ngành trong thực hiện chính sách dân tộc của Đảng và Nhà nước ta để kích động tư tưởng ly khai, tự trị, phá hoại truyền thống đoàn kết và thống nhất của cộng đồng các dân tộc Việt Nam, gây mất ổn định chính trị, nhất là trên các địa bàn chiến lược, trọng điểm
2 Những quan điểm của Đảng về vấn đề dân tộc của Đảng và Nhà nước
ta trong thời kỳ đổi mới.
2.1.Vấn đề dân tộc và đại đoàn kết dân tộc là vấn đề chiến lược,cơ bản, lâu dài đồng thời là cũng là vấn đề cấp bách của cách mạng Việt Nam hiện nay.
Việt Nam là quốc gia đa dân tộc, vì vậy đại đoàn kết toàn dân tộc trên nền tảng
liên minh giai cấp công nhân với giai cấp nông dân và đội ngũ trí thức, dưới sự lãnh đạo của Đảng, là đường lối chiến lược của cách mạng Việt Nam; là nguồn sức mạnh, động lực chủ yếu và là nhân tố có ý nghĩa quyết định bảo đảm thắng lợi bền vững của sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc
1.2 Các dân tộc trong đại gia đình Việt Nam bình đẳng, đoàn kết, tôn trọng yêu thương, và giúp nhau cùng tiến bộ, thực hiện thắng lợi sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước
Thực hiện bình đẳng giữa các dân tộc là quan điểm nhất quán của Đảng ta
trong giải quyết vấn đề dân tộc, chính sách dân tộc Các dân tộc có dân số dù ít hay
nhiều, ở trình độ phát triển cao hay thấp đều bình đẳng về chính trị, kinh tế, văn hoá,
xã hội, an ninh - quốc phòng, bình đẳng về quyền và nghĩa vụ đối với sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa
Đoàn kết dân tộc phải trên cơ sở lấy mục tiêu xây dựng đất nước Việt Nam hoà bình, độc lập, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ, dân giàu, nước mạnh, dân chủ,
công bằng, văn minh làm điểm tương đồng; tập hợp, đoàn kết mọi người vào một
mặt trận chung, tăng cường đối thoại xã hội, đảm bảo thực hiện thắng lợi sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc
Luôn tôn trọng lẫn nhau về lợi ích, truyền thống, văn hoá, ngôn ngữ, phong
Trang 4tục tập quán của các dân tộc; kiên quyết đấu tranh với mọi âm mưu chia rẽ đoàn kết dân tộc; tránh tư tưởng kỳ thị dân tộc
2.3 Phát triển toàn diện chính trị, kinh tế, văn hoá, xã hội, an ninh - quốc phòng ở vùng dân tộc và miền núi, gắn tăng trưởng kinh tế với giải quyết các vấn đề xã hội, thực hiện chính sách dân tộc của Đảng và Nhà nước.
Vùng dân tộc và miền núi là những vùng có vị trí và tầm quan trọng chiến lược cả về kinh tế, chính trị và an inh, quốc phòng Chính vì vậy giữ vững ổn định chính trị, xã hội, phát triển kinh tế tại các vùng dân tộc và miền núi sẽ tạo tiền đề và điều kiện để ổn định chính trị xã hội, pháttriển kinh tế trong cả nước
2.4 Ưu tiên đầu tư phát triển kinh tế - xã hội các vùng dân tộc, khai thác
có hiệu quả tiềm năng, thế mạnh của từng vùng, đi đôi với bảo vệ bền vững môi trường sinh thái, phát huy nội lực, tinh thần tự lực, tự cường của đồng bào các dân tộc.
Ưu tiên phát triển kinh tế - xã hội các vùng dân tộc và miền núi, trước hết, tập trung vào phát triển giao thông và kết cấu hạ tầng, xóa đói, giảm nghèo; khai thác có hiệu quả tiềm năng, thế mạnh của từng vùng, đi đôi với bảo vệ bền vững môi trường sinh thái; phát huy nội lực, tinh thần tự lực tự cường của đồng bào các dân tộc, đồng thời tăng cường sự hỗ trợ của Trung ương và sự giúp đỡ của các địa phương trong cả nước
2.5 Công tác dân tộc và thực hiện chính sách dân tộc là nhiệm vụ của toàn Đảng, toàn dân, toàn quân, của các cấp, các ngành, của toàn bộ hệ thống chính trị
Thực chất của công tác dân tộc là công tác xã hội và công tác dân vận Vì vậy, đó là trách nhiệm của tất cả cộng đồng dân tộc, của mọi cá nhân, mọi tổ chức, mọi lực lượng
3 Chính sách dân tộc của Đảng và Nhà nước ta thời kỳ đổi mới
3.1 Chính sách về chính trị
- Nội dung cơ bản của chính sách đối với vùng đồng bào dân tộc thiểu số trong lĩnh vực chính trị là đảm bảo cho các dân tộc bình đẳng, đoàn kết, tôn trọng thương yêu, giúp đỡ cùng phát triển
- Trước hết đảm bảo quyền làm chủ của đồng bào các dân tộc bao gồm quyền làm chủ qua đại diện và quyền làm chủ trực tiếp, kết hợp với tự quản ở cơ sở Tăng cường đại diện của các dân tộc thiểu số trong hệ thống chính trị từ cơ sở đến Trung
Trang 5ương Bảo đảm ngày càng có nhiều người dân tộc thiểu số được tham gia vào Quốc hội, Hội đồng nhân dân, chính quyền và tổ chức đoàn thể ở các cấp
- Củng cố và nâng cao chất lượng hệ thống chính trị cơ sở ở các vùng dân tộc thiểu số Kiện toàn, nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ cơ sở Khắc phục tình trạng quan liêu, xa dân của một số cán bộ Thực hiện tốt công tác quy hoạch, đào tạo, bồi dưỡng, sử dụng, đãi ngộ cán bộ là người dân tộc thiểu số
- Tăng cường dân chủ ở cơ sở, nâng cao ý thức cộng đồng nhằm củng cố khối đoàn kết giữa các dân tộc Phát huy vai trò của cán bộ người dân tộc thiểu số, của già làng, trưởng bản trong tuyên truyền, vận động trong tổ chức thực hiện chính sách của Đảng và Nhà nước
- Đẩy mạnh công tác phát triển Đảng trong vùng đồng bào dân tộc thiểu số
3.2 Chính sách về kinh tế
- Phát huy tiềm năng, lợi thế của vùng dân tộc, miền núi Đẩy mạnh chuyển dịch cơ cấu kinh tế miền núi theo hướng phát triển nhanh kinh tế hàng hoá, tăng tỷ trọng công nghiệp, dịch vụ và giảm tỷ trọng nông - lâm nghiệp cơ cấu kinh tế miền núi
- Tập trung bảo vệ và phát triển vốn rừng, tăng độ che phủ rừng, vừa thực hiện trồng mới 5 triệu hecta rừng, vừa phải bảo vệ rừng hiện có, đồng thời có các chính sách cụ thể đối với rừng đặc dụng, rừng phòng hộ, rừng trồng mới
- Về nông nghiệp, lựa chọn cơ cấu cây trồng vật nuôi phù hợp nhằm phát triển nông nghiệp hàng hoá có hiệu quả, ổn định lâu dài phù hợp với cơ chế thị trường Phát triển vùng sản xuất cây công nghiệp, cây ăn quả phù hợp với lợi thế đất đai, khí hậu ở các tiểu vùng Phát triển chăn nuôi đại gia súc, đưa chăn nuôi trở thành kinh tế chính ở miền núi
- Phát triển công nghiệp chế biến nông, lâm sản, chú trọng phát triển công nghiệp nhỏ và thủ công nghiệp Khôi phục và mở rộng nghề truyền thống như sản xuất công cụ, dệt thổ cẩm, đan lát
- Phát triển thương mại dịch vụ nhằm đẩy mạnh kinh tế hàng hoá ở miền núi, vùng dân tộc Thực hiện chính sách trợ giá trợ cước các mặt hàng thiết yếu và tiêu thụ sản phẩm đối với miền núi
Trang 6- Ưu tiên đầu tư xây dựng kết cấu hạ tầng phục vụ sản xuất, đời sống đáp ứng yêu cầu phát triển kinh tế- xã hội miền núi vùng đồng bào dân tộc Tập trung đầu tư nâng cấp và xây dựng mới các tuyến đường giao thông, các công trình thuỷ lợi, thuỷ điện, lưới điện quốc gia, bưu chính viễn thông…
3.3 Chính sách về văn hóa
- Khuyến khích các hoạt động văn hoá truyền thống của các dân tộc thiểu số nhằm bảo tồn và chấn hưng văn hoá dân tộc
- Chống các hủ tục lạc hậu, các tệ nạn xã hội, xây dựng bản làng văn hoá giầu bản sắc dân tộc
- Củng cố và nâng cao chất lượng hoạt động của các đội thông tin tuyên truyền, thông tin lưu động, đưa sách báo đến với đồng bào ở vung cao, vùng sâu, vùng xa
- Tiếp tục thực hiện chương trình phủ sóng phát thanh, truyền hình, chương trình phát thanh truyền hình tiếng dân tộc
3.4 Chính sách về xã hội
* Về giáo dục:
+ Tập trung đầu tư xây dựng, nâng cấp trường lớp và cơ sở vật chất giáo dục ở vùng dân tộc và miền núi
+ Khuyến khích mở các lớp nội trú, bán trú đối với những nơi dân sống phân tán theo phương thức “ Nhà nước và nhân dân cùng làm” Củng cố và hoàn thiện hệ thống trường phổ thông dân tộc nội trú tỉnh, huyện để tạo nguồn đào tạo con em đồng bào dân tộc đáp ứng yêu cầu phát triển của địa phương
+ Phát triển hệ thống giáo dục, ở các tỉnh miền núi Tiếp tục thực hiện chính sách ưu tiên tuyển sinh và cử tuyển vào các trường đại học, cao đẳng và trung học chuyên nghiệp Chú trọng đào tạo nghề cho con em đồng bào dân tộc thiểu số
* Về y tế:
+ Tăng cường cơ sở vật chất kỹ thuật và nâng cao chất lượng phòng bệnh, khám chữa bệnh cho đồng bào dân tộc, nhất là đồng bào ở vùng cao, vùng sâu, vùng
xa, vùng đặc biệt khó khăn
+ Củng cố hệ thống y tế miền núi ở các cấp, đặc biệt là mạng lưới y tế xã, thôn bản
Trang 7+ Khuyến khích phát triển y học cổ truyền, kinh nghiệm chữa bệnh dân gian, sử dụng nguồn dược liệu tại chỗ của đồng bào dân tộc
+ Thực hiện chính sách ưu đãi khám chữa bệnh đối với đồng bào dân tộc thiểu
số, hộ nghèo ở miền núi
3.5 Chính sách về an ninh – quốc phòng
- Xây dựng thế trận quốc phòng toàn dân, an ninh nhân dân, phát huy sức mạnh đoàn kết dân tộc sẵn sàng đập tan mọi âm mưu phá hoại của các lực thù địch
- Tăng cường công tác đảm bảo an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội, đặc biệt
là cấp cơ sở
- Tiếp tục xây dựng, phát triển các khu kinh tế kết hợp với quốc phòng ở vùng sâu, vùng xa biên giới
- Xây dựng, củng cố hệ thống chính trị cơ sở vùng đồng bào dân tộc, phối hợp chặt chẽ với lực lượng vũ trang trên địa bàn Tăng cường quan hệ quân dân , tạo thế trận lòng dân trong vùng đồng bào dân tộc để bảo vệ vững chắc tổ quốc Việt Nam XHCN
3.6 Chính sách đặc thù đối với một số dân tộc thiểu số
Có chính sách đặc thù với các dân tộc dân số dưới 1000 người: dân tộc Sila,
Pu péo, Ơ đu, Brâu, Rơ măm Giúp các dân tộc này thoát khỏi nguy cơ đói nghèo, lạc hậu và suy giảm dân số
3 Liên hệ việc thực hiện chính sách dân tộc ở tỉnh Hà Giang hiện nay
Hà Giang là tỉnh miền núi cực Bắc của Tổ Quốc, có 277,5 kin đường biên giới tiếp giáp với nước Cộng hòa nhân dân Trung Hoa Diện tích tự nhiên 7.945,8
km2; có 11 đon vị hành chính câp huyện (trong đó 06 huyện nghèo theo Nghị quyêt 30a), 195 xã, phường, thị trấn, 2.069 thôn, bản trong đó có 140 xã và 98 thôn đặc biệt khó khăn Toàn tỉnh có 778,9 nghìn người, vói 19 dân tộc cùng chung sông đoàn kết: Dân tộc Mông chiếm 32%, Tày 23,1%, Dao 15%, Kinh 12%, Trong đó có 06 dân tộc rất ít người (có sổ dân dựới 10.000 người) gồm:
Pà Thẻn, Lô Lô, Pú Y, Phù Lá, Pu Péo, Cờ Lao Hầu hết, đồng bào các dân tộc sinh sống ở địa bàn đặc biệt khó khăn, cử trú chủ yếu là vùng núi cao; địa hình bị chia căt mạnh, độ dốc lớn, núi đả, thường xảy ra lù quyết, lũ ống, lở đât Khí hậu
Trang 8khắc nghiệt, thiếu đất sản xuất, thiếu nước sinh hoạt; đa sổ các thôn, bản đều xa thị trấn, thị tứ và các trung tâm phát triên
Trong những năm qua, Đảng và Nhà nước đà có nhiều chủ trương, chính sách cụ thể nhằm nâng cao đời sống vật chất và tinh thần của đồng bào dân tộc thiểu số, giúp củng cổ và tăng cường khối đại đoàn kêt dân tộc, như: Chương trình 134; chương trình 135; chính sách cho vay vốn để phát phát triển sản xuất theo Quyết định số 32/2007/QĐ-TTg (nay là QĐ 54/2014/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ); chính sách hỗ trợ trực tiếp cho người nghèo thuộc vùng khó khăn; chính sách đối với người cỏ uy tín trong đồng bào dân tộc thiểu sô; ngoài ra còn
có các chính sách về y tế, văn hóa, giáo dục, môi trường; hỗ trợ cấp, phát báo, tạp chí Qua triển khai thực hiện các chương trình, chính sách, kết quả cho thấy: về phát triển sản xuất đã thúc đẩy chuyển dịch cơ câu kinh tế nông nghiệp theo hướng sản xuất hàng hóa găn với thị trường, cải thiện và từng bước nâng cao đời sống vật chất, tinh thần cho đồng bào các dân tộc ở xã đặc biệt khó khăn, tỷ lệ hộ
nghèo giảm Cơ sở hạ tầng được đầu tư khá, 100% xã có đường giao thông đến
trung tâm (trong đó 88% số thôn, bản được bê tông hóa) trên 80% xã cỏ công trình thúy lợi nhỏ đảm bảo năng lực phục vụ sản xuất cho trên 85% diện tích sản xuất nông nghiệp, trên 83% số hộ dân được sử dụng điện sinh hoạt, 100% xã có trường lóp kiên cố, đến nay toàn tỉnh có 13 trưòng phô thông dân tộc nội trú (trong đó có 03 Trường nội trú cấp II,III ) 124 trường phô thông dân tộc bán trú Các chương trình, chính sách đã tạo điều kiện cho hộ đồng bào dàn tộc thiêu
số có nơi ở ổn định, có điều kiện phát triển sản xuất, nâng cao đời sống vật chât, tinh thần, xoá đói giảm nghèo, góp phần bảo vệ rừng, bảo vệ môi trường sinh thái,
ổn định quy hoạch phát triên kinh tê - xã hội và giữ vững an ninh - chính trị, trật
tự an toàn xã hội tại địa phương Đông bào các dân tộc trong tỉnh đoàn kêt, tin
tưởng tuyết đối vào sự lãnh đạo của
Bên cạnh những kết quả đã đạt được, việc thực hiện chính sách dân tộc ở Hà
Giang những năm qua còn tồn tại một số hạn chế, khó khăn sau:
Việc chuyển đổi cơ cấu sản xuất nông nghiệp, ứng dụng các tiến bộ khoa học
Trang 9kỳ thuật vào sản xuất còn chậm; công nghiệp - tiểu thủ công nghiệp, dịch vụ chưa phát triển mạnh; chất lượng sản phẩm hàng hoá sản xuất ở vùng dân tộc thấp, tiêu thụ khó khăn, thị trường không ổn định
Tình trạng hộ đồng bào thiểu đất ở, đất sản xuất, nước sinh hoạt còn rất lớn Kết cấu hạ tầng vùng dân tộc và miền núi, nhất là ở vùng cao, vùng sâu, vùng xa còn lạc hậu và thấp kém
Đời sổng của đồng bào tuy có cải thiện nhưng còn rất nhiều khó khăn, mặt bằng dân trí còn thấp, cơ sở vật chất phục vụ vui chơi, giải trí còn thiểu Tỷ lệ đói nghèo ở vùng dân tộc cao hơn với mức bình quân chung, khoảng cách chênh lệch về mức sống giữa các vùng, giữa các dân tộc ngày càng tăng
Bản sắc văn hoá tốt đẹp của các dân tộc thiếu sổ đang có nguy cơ bị mai một Mức hưởng thụ văn hoá của đồng bào vùng cao, vùng sâu, vùng xa còn thấp
Các chính sách dân tộc và miền núi của Đảng, Nhà nước tuy đã được triển khai đầu tư trong nhiều năm nhưng mức đầu tư thấp, nhỏ lẻ, nguồn vốn chưa đủ so với định mức qui định (Chương trình 135 mới phân bô đạt 66,6%; các dự án khác đạt từ
2,5% - 10% so với nhu cầu hỗ trợ) ảnh hưởng đên tiên độ và hiệu quả của các chính
sách Công tác tuyên truyền vận động, lập kế hoạch lồng ghép các dự án, trên cùng một địa bàn còn hạn chế do môi chính sách đêu có cơ chê riêng
Trang 10KẾT LUẬN
Như vậy, chính sách dân tộc của Đảng và Nhà nước mang tính toàn diện, tổng hợp, quán xuyến tất cả các lĩnh vực của đời sống xã hội, liên quan đến mỗi dân tộc và quan hệ giữa các dân tộc trong cả cộng đồng quốc gia Phát triển kinh tế – xã hội của các dân tộc là nền tảng để tăng cường đoàn kết
và thực hiện quyền bình đẳng dân tộc, là cơ sở để từng bước khắc phục sự chênh lệch về trình độ phát triển giữa các dân tộc Do đó, chính sách dân tộc còn mang tính cách mạng và tiến bộ, đồng thời còn mang tính nhân đạo, bởi
vì, nó không bỏ sót bất cứ dân tộc nào, không cho phép bất cứ tư tưởng khinh miệt, kỳ thị, chia rẽ dân tộc; nó tôn trọng quyền làm chủ của mỗi con người
và quyền tự quyết của các dân tộc Mặt khác, nó còn nhằm phát huy nội lực của mỗi dân tộc kết hợp với sự giúp đỡ có hiệu quả của các dân tộc anh em trong cả nước
Nhận thức đúng đắn bản chất, nội dung, tính chất của chính sách dân tộc có ý nghĩa quyết định tới việc định hướng và đổi mới các biện pháp thực hiện chính sách dân tộc, làm cho chính sách dân tộc đi vào cuộc sống