5 MỤC LỤC Trang Mở đầu 2 Nội dung 4 1 Một số vấn đề cơ bản về dư luận xã hội 4 1 1 Quan niệm xã hội học về dư luận xã hội 4 1 2 Chức năng của dư luận xã hội 5 1 3 Đặc điểm của dư luận xã hộ 6 1 4 Bản[.]
Trang 1MỤC LỤC
Trang
1.5 Ý nghĩa nghiên cứu dư luận xã hội đối với quản lý 8
2 Thực trang công tác dư luận xã hội trong lãnh đạo, quản lý phát triển
khu vực phía Đông đường Trần Phú – Phạm Văn Đồng, thành phố Nha
Trang
9
3 Giải pháp nâng cao chất lượng công tác nắm bắt dư luận xã hội trong
lãnh đạo, quản lý
13
Trang 2MỞ ĐẦU
Đảng Cộng sản Việt Nam, ngay từ khi mới thành lập đã coi việc nắm bắt lòng dân (tâm tư, nguyện vọng, ý chí của nhân dân) là một trong những công việc quan trọng hàng đầu nhằm đề ra được các chủ trương, đường lối cách mạng phù hợp lòng dân Chủ tịch Hồ Chí Minh đã viết: “Dân chúng đồng lòng, việc gì cũng làm được Dân chúng không ủng hộ, việc gì làm cũng không nên”1 Nhiều văn bản, quyết định của các cơ quan lãnh đạo Đảng đã khẳng định điều này
Thời gian gần đây, Đảng ta tiếp tục có những sự chỉ đạo nhằm tăng cường công tác điều tra xã hội học, nắm bắt dư luận xã hội Văn kiện Hội nghị lần thứ ba Ban Chấp hành Trung ương (Khóa VII) đã nêu ra nhiệm vụ đối với công tác tư tưởng: “Nâng cao chất lượng thông tin nội bộ và công tác tuyên truyền, coi trọng biện pháp điều tra dư luận xã hội”2 Nghị quyết Trung ương 5 (Khoá X) về Công tác
tư tưởng, lý luận và báo chí trước yêu cầu mới, tiếp tục nhấn mạnh: "Chú trọng công tác nghiên cứu, điều tra xã hội học, nắm bắt dư luận xã hội phục vụ công tác tư tưởng"
Hiện nay sự nghiệp đổi mới đất nước diễn ra càng nhanh, càng nhiều vấn đề mới nảy sinh vì vậy việc nghiên cứu, tìm hiểu và phân tích dư luận xã hội về các vấn
đề mới đó càng giúp cho cơ quan lãnh đạo có thêm cơ sở để đề ra những quyết định đúng thúc đẩy sự nghiệp đổi mới đi đúng hướng và đem lại hiệu quả thiết thực
Quán triệt tinh thần chỉ đạo của Đảng về công tác dư luận, thời gian qua, Tỉnhủy, Ủy ban nhân dân tỉnh Khánh Hòa đã có nhiều cố gắng trong điều tra, nắm bắt dư luận xã hội để lãnh đạo, chỉ đạo thực hiện quá trình đổi mới và phát triển thành phố Nha Trang Nhất là trong điều kiện của một thành phố đang chuyển mình mạnh mẽ để từng bước khẳng định vị thế của một thành phố hiện đại, một địa chỉ du lịch nổi tiếng của Việt Nam và thế giới
1 X, Y, Z Sửa đổi lề lối làm việc, NXB Sự thật, 1954, tr 80.
2 Đảng Cộng sản Việt Nam, Văn kiện Hội nghị lần thứ ba Ban Chấp hành Trung ương (Khóa VII), NXB Sự thật, Hà Nội, 1992, tr 40-41.
Trang 3Từ những kiến thức đã được trang bị qua môn học Xã hội học trong lãnh đạo,
quản lý, tôi chọn vấn đề “Dư luận xã hội trong lãnh đạo, quản lý quy hoạch phát triển khu vực phía Đông đường Trần Phú – Phạm Văn Đồng, thành phố Nha Trang” làm bài thu hoạch hết môn.
Trang 4NỘI DUNG
1 Một số vấn đề cơ bản về dư luận xã hội
1.1 Quan niệm xã hội học về dư luận xã hội
Dư luận xã hội là từ ghép của Public Opinion, trong đó Public có nghĩa là công chúng, công cộng, công khai và Opinion có nghĩa là kiến, quan niệm, quan điểm của cá nhân, đám đông, công chúng Dư luận xã hội được hiểu là ý kiến chung của đám đông, của dân chúng, của xã hội và trong nhiều trường hợp dư luận xã hội
là ý kiến của nhân dân
Trong đời sống xã hội, dư luận xã hội là tiếng nói công khai của quần chúng nhân dân về những vấn đề công cộng Trong xã hội phân chia thành giai cấp thống trị và giai cấp bị trị thì tiếng nói của nhân dân bao giờ cũng là tiếng nói ngợi ca cái đẹp, chân, thiện, mỹ và phê phán cái xấu, cái ác và bảo vệ lợi ích của nhân dân chống lại lợi ích của giai cấp thống trị Do vậy, mặc dù dư luận xã hội đã tồn tại rất sớm và rất lâu trong lịch sử xã hội loài người, nhưng mãi đến thế kỷ của ánh sáng khoa học, của cách mạng công nghiệp nó mới trở thành đối tượng nghiên cứu khoa học
Xã hội học quan niệm: Dư luận xã hội là hiện tượng xã hội đặc biệt gồm phức thể các ý kiến phán xét, đánh giá biểu thị quan niệm, thái độ và xu hướng hành động của nhóm xã hội đối với những vấn đề nảy sinh trong cuộc sống của họ
Dư luận xã hội không nhất thiết xuất hiện một cách trực tiếp từ các bằng chứng, các sự vật hay sự kiện xã hội mà dựa vào sự hiểu biết, niềm tin, tình cảm và nguyện vọng đối với những sự vật, hiện tượng xã hội dư luận xã hội là sản phẩm của các quá trình tâm lý-xã hội phức tạp của nhóm người, là sản phẩm của quá trình trao đổi, thảo luận trong xã hội
Quan niệm xã hội học về dư luận xã hội là cơ sở cho khoa học và nghệ thuật lãnh đạo, quản lý dư luận xã hội.Cán bộ lãnh đạo quản lý cần đối xử với dư luận xã hội một cách khách quan, khoa học với nghĩa là phải nhìn thẳng vào sự thật rằng cuộc sống có nhiều vấn đề và mỗi một nhóm người (cán bộ công nhân viên trong và
Trang 5ngoài cơ quan và các nhóm xã hội khác nhau) đều có quyền và trách nhiệm bày tỏ ý kiến của mình
Một mặt, ý kiến của lãnh đạo, quản lý chỉ là một loại ý kiến (của cá nhân hay tập thể) và nó chỉ có thể trở thành dư luận xã hội khi được nhóm xã hội nhất định chia sẻ, đồng tình, ủng hộ
Mặt khác, ý kiến của lãnh đạo, quản lý cũng là đối tượng của dư luận xã hội: mọi người có quyền và trách nhiệm phán xét, khen chê cả ý kiến của lãnh đạo quản lý! Do đó lãnh đạo quản lý cần có cách nghe (dựa vào các điều tra, nghiên cứu khoa học ) để nắm bắt dư luận xã hội và nghệ thuật lắng nghe (kỹ năng kiềm chế cảm xúc
để không khó chịu khi nghe thấy điều nói thật, nói thẳng)
Để có thể sử dụng được dư luận xã hội làm công cụ quản lý xã hội cần hiểu rõ các thành phần và cấu trúc của dư luận xã hội
1.2 Chức năng của dư luận xã hội
Dư luận xã hội xuất hiện để thoả mãn một số nhu cầu quan trọng của xã hội Trong số đó có các nhu cầu thông tin, giao tiếp, đặc biệt là nhu cầu kiểm soát xã hội, điều chỉnh hành vi, định hướng hoạt động và bày tỏ thái độ, tình cảm của con người Các nhà nghiên cứu phát hiện ra nhiều chức năng của dư luận xã hội như chức năng nhận thức, giáo dục tư tưởng, kiểm soát, quản lý, dự báo, v.v Có thể tóm tắt một số chức năng cơ bản như sau:
- Chức năng nhận thức: Dư luận xã hội có chức năng phản ánh thực tại xã hội
với các hiện tượng, sự kiện, vấn đề, quá trình xã hội Xã hội có nhu cầu nhận biết và
dư luận xã hội có chức năng đáp ứng nhu cầu nâng cao hiểu biết về sự vật, hiện tượng xảy ra Nhờ chức năng này mà chỉ cần lắng nghe dư luận xã hội là có thể biết được chuyện gì, vấn đề gì đang được xã hội quan quan tâm, chú ý, bàn luận
- Chức năng định hướng và điều chỉnh hành vi: Chức năng này gắn liền với
chức năng kiểm soát hành vi của con người trong xã hội Dư luận xã hội kiểu trọng nam khinh nữ luôn đề cao giá trị con trai nên đã định hướng cho nhiều cặp vợ chồng sinh con trai Nhưng nhờ dư luận xã hội bình đẳng giới, coi con gái cũng như con
Trang 6trai nên đã điều chỉnh hành vi kế hoạch hóa gia đình của các cặp vợ chồng, cụ thể là không lựa chọn thai nhi theo giới tính
- Chức năng giải toả tâm lý - xã hội: Dư luận xã hội luôn phản ánh tâm tư,
nguyện vọng và tình cảm của các các nhân Do vậy, có thể thông qua dư luận xã hội
có thể chia sẻ, bày tỏ tình cảm hoặc thể hiện các bức xúc, nhờ vậy mà giải tỏa tâm lý – xã hội
Từ các chức năng cơ bản gắn liền với cấu trúc ba thành phần của dư luận xã hội này có thể phát hiện và khai thác các chức năng khác của dư luận xã hội như chức năng thực tiễn, chức năng giáo dục tư tưởng, chức năng dự báo của dư luận xã hội
1.3 Đặc điểm của dư luận xã hội
Dư luận xã hội dưới hình thức nào và thuộc loại nào cũng đều có một số đặc điểm cơ bản như sau:
- Tính công chúng: Dư luận xã hội luôn luôn là ý kiến của công chúng có nghĩa
là của nhiều người, đông người, vô số người thậm chí là của đại chúng (mass) Dư luận xã hội có thể xuất phát từ ý kiến của một cá nhân nhưng đó là ý kiến được nhiều người nghe, chia sẻ, bày tỏ
- Tính công khai nói tới hình thức biểu hiện của dư luận xã hội Dư luận xã hội
luôn luôn là ý kiến được phát biểu, bày tỏ dưới nhiều hình thức khác nhau cho nhiều người, đông người, công chúng cùng biết
- Tính trao đổi nói tới cơ chế nảy sinh, vận hành của dư luận xã hội Thông qua
sự tương tác, trao đổi thông tin, tình cảm mà dư luận xã hội được hình thành, biểu hiện và thực hiện các chức năng của nó Trao đổi là cho dư luận xã hội lan truyền từ người này sang người khác, từ nhóm này sang nhóm khác, từ nơi này sang nơi khác Trao đổi làm cho dư luận xã hội có thể bị biến đổi, bị thêm bớt, bị phân hóa và có thể bị tan biến
- Tính lợi ích nói tới bản chất, nội dung và ý nghĩa của dư luận xã hội Dư luận
xã hội luôn luôn phản ánh lợi ích của cá nhân, nhóm xã hội Dư luận xã hội đồng
Trang 7thời là một hình thức, cách thức, hình thức, phương tiện, công cụ để bảo vệ lợi ích của nhóm người trong xã hội
- Tính thống nhất và mâu thuẫn: Dư luận xã hội là tập hợp các luồng ý kiến,
các loại trạng thái và các xu hướng hành động khác nhau, mâu thuẫn nhau hoặc đối lập nhau của các nhóm xã hội Ví dụ, có thể tìm thấy trong bất kỳ một dư luận xã hội nào các luồng ý kiến đồng tình và phản đối, quan tâm và thờ ơ, yêu – ghét và giữa hai luồng ý kiến mâu thuẫn này là luồng ý kiến trung gian, “ba phải”, trung dung
- Các đặc điểm, tính chất khác: dư luận xã hội có nhiều đặc điểm, tính chất
khác như tính biến đổi ví dụ dư luận xã hội có thể nhanh chóng biến đổi từ chỗ đa số phản đối sang đa số ủng hộ Đồng thời dư luận xã hội có tính ỳ rất lớn thể hiện ở chỗ chậm thay đổi ví dụ dư luận xã hội về vị thế giới, vai trò giới
1.4 Bản chất của dư luận xã hội
Dư luận xã hội là hình thức biểu hiện đặc thù của ý thức xã hội thuộc về đời sống tinh thần của xã hội là một hiện tượng tâm lý rất phức tạp
Dư luận xã hội mang tính tổng hợp của các hình thái ý thức xã hội, là kết quả của sự tác động qua lại giữa các hình thái ý thức xã hội như là tư tưởng triết học, tư tưởng pháp quyền, chính trị, tôn giáo, đạo đức
Dư luận xã hội mang tính hiện thực tinh thần nhưng có tác động to lớn đối với tiễn Bởi vì dư luận xã hội phản ánh tâm tư nguyện vọng, lợi ích, nhu cầu của công chúng Dư luận xã hội không phải là cái tạo ra để làm phong phú đời sống tinh thần
mà là để điều chỉnh tác động đế thực tiễn Trong bản thân dư luận bao giờ cũng chứa đựng yếu tố nhận thức tư tưởng và xu hướng hành động Dư luận xã hội là cầu nối giữa nhận thức và hành động thực tiễn
Dư luận xã hội mang tính kinh nghiệm được hình thành dựa trên cơ sở của kinh nghiệm đời sống và trên những quan hệ trực tiếp chứ không phải tư duy phân tích logic Nên dư luận xã hội vừa có tính thuyết phục cao nhưng cũng có khi dư luận không chính xác (lệch hướng)
Trang 8Dư luận xã hội như là một cơ chế tâm lý xã hội Nghĩa là có sức mạnh xã hội đối với hành động của con người Đứng trước dư luận xã hội con người bắt buộc tuân theo
1.5 Ý nghĩa nghiên cứu dư luận xã hội đối với quản lý
Nghiên cứu dư luận xã hội có ý nghĩa rất quan trọng đối với công tác lãnh đạo quản lý xã hội, đối với việc đề ra và triển khai thực hiện các chủ trương nhiệm vụ cụ thể trong từng thời điểm nhất định Bởi vì:
Trong quản lý xã hội đòi hỏi người quản lý phải hiểu biết sâu sắc nhu cầu và lợi ích của quần chúng trong sản xuất cũng như trong đời sống Nghiên cứu dư luận
xã hội là một trong những hình thức tốt nhất để thu thập những thông tin phản ánh tâm tư nguyện vọng cũng như suy nghĩ và cảm xúc của các tầng lớp xã hội
Dư luận xã hội giúp cơ quan lãnh đạo, quản lý nắm bắt kịp thời thực trạng tư tưởng của các nhóm xã hội khác nhau, cũng như những diễn biến của thực trạng này trong từng thời kỳ Đây cũng là những nguồn thông tin vô cùng quý giá giúp khắc phục bệnh quan liêu xa rời thực tiễn, xa rời quần chúng, khắc phục bệnh chủ quan duy ý chí trong lãnh đạo quản lý xã hội Vì các thông tin này còn là những tín hiệu phản hồi từ phía xã hội, từ phía quần chúng đối với việc thực hiện các nhiệm vụ kinh tế - xã hội từ đó có cơ sở điều chỉnh, bổ sung các chủ trương biện pháp cho phù hợp hơn
Nghiên cứu dư luận xã hội một mặt góp phần nâng cao ý thức giác ngộ chính trị trong quần chúng, mở rộng dân chủ xã hội chủ nghĩa, động viên quần chúng tham gia vào việc quản lý nhà nước, quản lý xã hội Mặt khác nó góp phần tăng cường mối liên hệ giữa Đảng, nhà nước với quần chúng nhân dân góp phần hoàn thiện công tác lãnh đạo quản lý xã hội trên cơ sở khoa học
Nắm bắt dư luận xã hội giúp cơ quan lãnh đạo, quản lý có những thông tin đa chiều về các mặt hoạt động của các cơ quan nhà nước và giúp cho nhân dân nhận thức và thực hiện các chủ trương, chính sách, nghị quyết của Đảng, của các cơ quan nhà nước và các tổ chức xã hội tốt hơn Những thông tin này là một trong những căn
Trang 9cứ quan trọng để Đảng và nhà nước kiểm tra hoạt động công tác của mình để có những chủ trương, quyết định cần thiết và phù hợp với thực tế
2 Thực trang công tác dư luận xã hội trong lãnh đạo, quản lý phát triển khu vực phía Đông đường Trần Phú – Phạm Văn Đồng, thành phố Nha Trang
2.1 Đặc điểm thành phố Nha Trang
Nha Trang là một thành phố ven biển và là trung tâm chính trị, kinh tế, văn hóa, khoa học kỹ thuật và dịch vụ của tỉnh Khánh Hòa Nha Trang có nhiều lợi thế
về địa lý thuận tiện về đường bộ, đường sắt, đường hang không, đường biển trong nước và quốc tế, là cửa ngõ Nam Trung bộ và Tây Nguyên nên có điều kiện mở rộng giao lưu và phát triển
Thành phố Nha Trang có những điều kiện tự nhiên, cảnh quan thiên nhiên thuận lợi cho phát triển du lịch Sau nhiều năm được Khánh Hòa chăm chút, gây dựng, cả khu vực biển vịnh Nha Trang đã trở thành điểm đến nổi tiếng của Việt Nam và khu vực, thu hút một lượng lớn du khách đến đây trải nghiệm
Tuyến đường Trần Phú – Phạm Văn Đồng được nối nhau bởi cầu Trần Phú, giống như cánh tay vươn dài để nâng niu, ôm trọn vịnh Nha Trang ở phần dải bờ biển tiếp giáp với đất liền
2.2 Vấn đề đặt ra đối với việc xây dựng phát triển khu vực phía Đông đường Trần Phú – Phạm Văn Đồng, thành phố Nha Trang
Thời gian qua, thực hiện 4 chương trình trọng điểm của tỉnh, Nha Trang trở thành một thành phố “sôi động” với hàng loạt các quy hoạch phát triển thành phố trong đó nổi bật nhất là xây dựng đề án Quy hoạch phát triển khu vực phía Đông đường Trần Phú – Phạm Văn Đồng Đây là quy hoạch nằm trong Đồ án điều chỉnh Quy hoạch chung xây dựng thành phố Nha Trang được Thủ tướng Chính phủ phê duyệt tại Quyết định số 1396/QĐ-TTg ngày 25/9/2012 với định hướng bố cục không gian kiến trúc – cảnh quan dải đô thị và công viên dọc bờ biển Nha Trang là: “tổ chức giao thông trục đường Trần Phú – Phạm Văn Đồng phục vụ du lịch; gắn kết chức năng và kiến trúc cảnh quan phần bờ biển phía Đông với các đô thị phía Tây
Trang 10đường Trần Phú và Phạm Văn Đồng; có thể bố trí một số hạng mục dịch vụ du lịch, giải trí tại khu vực này”
Trên cơ sở này,Tỉnh Khánh Hòa xây dựng đề án Quy hoạch phát triển khu vực phía Đông đường Trần Phú – Phạm Văn Đồng với hàng loạt công trình cao tầng được xây dựng trên mặt đất, trên mặt nước và nhiều công trình ngầm dưới mặt đất, kéo dài hang chục cây số trên bờ Vịnh Nha Trang Đề án đã được Ủy ban nhân dân (UBND) tỉnh phê duyệt tại Quyết định số 2786/QĐ-UBND ngày 17/10/2014
Mục tiêu của việc lập quy hoạch này là nhằm khắc phục một số yếu điểm: thiếu không gian công cộng để tổ chức các sự kiện quy mô lớn, thiếu các tiện ích công cộng và các loại hình hoạt động vui chơi giải trí chất lượng cao đáp ứng nhu cầu đa dạng của du khách và khai thác hết tiềm năng của bãi biển; thiếu các công trình “điểm nhấn” tạo dấu ấn riêng cho cảnh quan khu vực, giúp tăng cường thu hút các hoạt động dịch vụ và du lịch Bên cạnh đó, việc quy hoạch còn giúp cải thiện chất lượng môi trường, cảnh quan bãi biển đang có xu hướng xuống cấp do việc khai thác du lịch chưa hợp lý kéo dài qua hàng chục năm
Tuy nhiên, từ quy hoạch này có một số dự án với tổng mức đầu tư lên hang tỷ USD đã được cấp giấy chứng nhận đầu tư với nhiều hạng mục, công trình là các tổ hợp nhà hàng, khách sạn… cao từ 40 – 60 tầng, xây dựng trên cả mặt biển Vịnh Nha Trang, có nhiều nguy cơ phá hỏng cảnh quan, môi trường khu vực bãi biển phía Đông đường Trần Phú, hoặc có dự án làm ảnh hưởng đến danh thắng quốc gia…
Quy hoạch này không được dư luận đồng tình, khiến báo chí “quan ngại”, nhiều người dân tỏ ra bức xúc với các quy hoạch này vì quy hoạch chỉ chú trọng xây dựng những công trình lớn ven biển làm phá vỡ cảnh quan thiên nhiên, chưa quan tâm đến lợi ích cộng đồng
Trên các diễn đàn cư tri, nhân dân thành phố Nha Trang bày tỏ mong muốn tỉnh điều chỉnh quy hoạch theo hướng khu vực này chỉ dành riêng cho công viên và không gian tiện ích công cộng, không xây dựng công trình kiên cố ngăn chặn tầm nhìn ra biển