MỤC LỤC MỞ ĐẦU 2 NỘI DUNG 3 1 Một số quan điểm về chính sách công 3 2 Chính sách công theo quan điểm của Việt Nam 4 3 Đánh giá chính sách công ở Việt Nam vấn đề và giải pháp 5 3 1 Đòi hỏi từ thực tiễn[.]
Trang 1MỤC LỤC
MỞ ĐẦU 2
NỘI DUNG 3
1 Một số quan điểm về chính sách công 3
2 Chính sách công theo quan điểm của Việt Nam 4
3 Đánh giá chính sách công ở Việt Nam: vấn đề và giải pháp 5
3.1 Đòi hỏi từ thực tiễn về đánh giá chính sách công 5
3.2 Các trở ngại trong đánh giá chính sách công hiện nay 6
3.3 Các giải pháp tăng cường đánh giá chính sách công 9
KẾT LUẬN 13
TÀI LIỆU THAM KHẢO 14
Trang 2MỞ ĐẦU
Chính sách công là một trong những công cụ cơ bản được Nhà nước sử dụng để phát triển kinh tế - xã hội của đất nước Chính sách công do nhà nước ban hành để giải quyết một hoặc một số vấn đề liên quan lẫn nhau đang đặt ra trong đời sống kinh tế - xã hội theo những mục tiêu xác định (tuy nhiên không phải vấn đề nào nảy sinh trong đời sống kinh tế - xã hội cũng cần có chính sách điều chỉnh) Việc giải quyết nhằm thay đổi hoặc duy trì một hiện trạng nào đó Ở mỗi giai đoạn phát triển, yêu cầu nâng cao chất lượng, hiệu quả các chính sách công luôn được đặt ra Để có thể đi vào cuộc sống, chính sách công được thể chế hóa thành các quy định pháp luật Việc đánh giá chính sách thường gắn với sự đánh giá những quy định pháp luật này có phù hợp với những yêu cầu của cuộc sống hay không và chúng được vận hành như thế nào trên thực tế
Tuy nhiên, chính sách công không chỉ thể hiện trong các quy định pháp luật, chúng còn nằm trong các chương trình, kế hoạch, chủ trương hoạt động của nhà nước nhằm giải quyết một vấn đề cấp thiết đặt ra trong thực tiễn quản lý nhà nước Thời gian qua, việc hoạch định chính sách công ở nước ta
đã cho ra đời nhiều chính sách phù hợp với thực tế, thực thi đem lại hiệu quả
mà biểu hiện cụ thể là đã góp phần vào phát triển kinh tế - xã hội của đất nước ta trong hơn 30 năm thực hiện công cuộc đổi mới Cùng với hoạch định và triển khai thực hiện, thì đánh giá chính sách là một khâu không thể thiếu của quy trình chính sách Vì nhiều nguyên nhân khách quan và chủ quan khác nhau, mà khâu đánh giá chính sách chưa được thực sự coi trọng trong thực tiễn Việt Nam Vì vậy, rất cần thiết phải nghiên cứu việc đánh giá chính sách công và đề xuất những giải pháp triển khai thực hiện chính sách công ở Việt Nam hiện nay
Thực trạng và giải pháp thực hiện chính sách công ở Việt Nam hiện nay
Trang 3NỘI DUNG
1 Một số quan điểm về chính sách công
Ở các nước phát triển và các tổ chức kinh tế quốc tế, thuật ngữ “Chính sách công” được sử dụng rất phổ biến Có thể nêu ra một số quan niệm sau: Chính sách công bao gồm các hoạt động thực tế do chính phủ tiến hành (Peter Aucoin, 1971).
Chính sách công là một tập hợp các quyết định có liên quan lẫn nhau của một nhà chính trị hay một nhóm các nhà chính trị gắn liền với việc lựa chọn các mục tiêu và các giải pháp để đạt các mục tiêu đó (William Jenkin, 1978). Chính sách công là cái mà chính phủ lựa chọn làm hay không làm (Thomas R.Dye, 1984).
Chính sách công là toàn bộ các hoạt động của nhà nước có ảnh hưởng một cách trực tiếp hay gián tiếp đến cuộc sống của mọi công dân (B Guy Peter, 1990).
Chính sách công là một kết hợp phức tạp những sự lựa chọn liên quan lẫn nhau, bao gồm cả các quyết định không hành động, do các cơ quan nhà nước hay các quan chức nhà nước đề ra (William N Dunn, 1992).
Chính sách công bao gồm các quyết định chính trị để thực hiện các chương trình nhằm đạt được những mục tiêu xã hội (Charle L Cochran and Eloise F Malone, 1995).
Nói cách đơn giản nhất, chính sách công là tổng hợp các hoạt động của chính phủ/chính quyền, trực tiếp hoặc thông qua tác nhân bởi vì nó có ảnh hưởng tới đời sống của công dân (B Guy Peters, 1999).
Thuật ngữ chính sách công luôn chỉ những hành động của chính phủ/chính quyền và những ý định quyết định hành động này; hoặc chính sách công là kết quả của cuộc đấu tranh trong chính quyền để ai giành được cái gì (Clarke E Cochran, et al, 1999).
Trang 4Chính sách là một quá trình hành động có mục đích mà một cá nhân hoặc một nhóm theo đuổi một cách kiên định trong việc giải quyết vấn đề (James Anderson, 2003).
Chính sách công là một quá trình hành động hoặc không hành động của chính quyền để đáp lại một vấn đề công cộng Nó được kết hợp với các cách thức và mục tiêu chính sách đã được chấp thuận một cách chính thức, cũng như các quy định và thông lệ của các cơ quan chức năng thực hiện những chương trình (Kraft and Furlong, 2004).
2 Chính sách công theo quan điểm của Việt Nam
Chính sách công là tập hợp những quyết định có liên quan đến nhau do nhiều chủ thể quản lý Nhà nước ban hành để lựa chọn các mục tiêu và đưa ra cách thức để đạt được mục tiêu nhằm giải quyết một vấn đề phát sinh hoặc quan tâm trong đời sống xã hội và thúc đẩy xã hội phát triển theo định hướng
xã hội chủ nghĩa"
Ở nước ta, chính sách được hiến định tại Điều 26 Hiến pháp 1992, sửa đổi năm 2001: "Nhà nước thống nhất quản lý nền kinh tế quốc dân bằng pháp luật, kế hoạch, chính sách " Như vậy, chính sách công là một trong những công cụ cơ bản được Nhà nước sử dụng để thực hiện chức năng, nhiệm vụ quản lý nhà nước Song hiện nay đang tồn tại cụm từ "chính sách của Đảng và Nhà nước"
Thực tế, ở nước ta, Đảng lãnh đạo Nhà nước và xã hội thông qua việc vạch ra các cương lĩnh, chiến lược, các định hướng chính sách - đó chính là những căn cứ chỉ đạo để nhà nước ban hành các chính sách công Các chính sách công là do Nhà nước ban hành Các chính sách này là sự cụ thể hóa đường lối, chiến lược và các định hướng chính sách của Đảng (Do vậy việc
đề cập tới chính sách công ở đây được hiểu là các chính sách công do Nhà nước ban hành) Hoạch định chính sách là toàn bộ quá trình nghiên cứu, xây dựng, ban hành đầy đủ một chính sách mới
Trang 53 Đánh giá chính sách công ở Việt Nam: vấn đề và giải pháp
3.1 Đòi hỏi từ thực tiễn về đánh giá chính sách công
Chính sách công là một công cụ quan trọng của quản lý nhà nước Thông qua việc ban hành và thực thi các chính sách, những mục tiêu của Nhà nước được hiện thực hóa
Mỗi chính sách vận động theo một quy trình, bao gồm 3 giai đoạn cơ bản: hoạch định chính sách, thực thi chính sách và đánh giá chính sách Ở Việt Nam, lâu nay Nhà nước đã chú trọng nhiều đến khâu hoạch định và thực thi chính sách, song việc đánh giá chính sách thì dường như bị bỏ qua hoặc rất
ít được quan tâm
Đánh giá chính sách là xem xét, nhận định về giá trị các kết quả đạt được khi ban hành và thực thi một chính sách công Để có thể đi vào cuộc sống, chính sách công được thể chế hóa thành các quy định pháp luật Việc nhìn nhận và đánh giá chính sách do đó thường gắn với sự đánh giá những quy định pháp luật này có phù hợp với những yêu cầu của cuộc sống hay không và chúng được vận hành như thế nào trên thực tế Tuy nhiên, chính sách công không chỉ thể hiện trong các quy định pháp luật, chúng còn nằm trong các chương trình, kế hoạch, chủ trương hoạt động của nhà nước Do đó, đánh giá chính sách công sẽ bao quát việc xem xét về tổng thể các quyết định của nhà nước (chính phủ trung ương và chính quyền địa phương) trong việc giải quyết một vấn đề cấp thiết đặt ra trong thực tiễn quản lý nhà nước Đánh giá chính sách cho phép xem xét, nhận định không chỉ về nội dung chính sách, mà còn về quá trình thực thi chính sách, từ đó có biện pháp điều chỉnh phù hợp với đòi hỏi thực tế để đạt các mục tiêu mong đợi
Khi Việt Nam chuyển sang phát triển kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa và hội nhập quốc tế, đòi hỏi ban hành các chính sách để tạo ra những nhân tố, môi trường cho sự chuyển đổi trở thành cấp bách Vì vậy, trong một thời gian khá dài, Nhà nước tập trung cao vào việc xây dựng và ban hành các thể chế, nhằm tạo các hành lang pháp lý cho mọi lĩnh vực kinh tế, xã
Trang 6hội Việc ban hành hàng loạt văn bản pháp luật trong không ít trường hợp dẫn đến tình trạng chồng chéo, trùng lắp, thậm chí mâu thuẫn nhau giữa các quy định pháp lý, mà cuối cùng là sự chi phối của chúng đối với các hoạt động kinh tế - xã hội theo các chiều khác nhau, khiến cho những hoạt động này không đạt được mục tiêu mong muốn Nói cách khác, hàng loạt chính sách được ban hành, có hiệu lực thi hành, song việc chính sách đó có hiệu lực thực
tế như thế nào và đáp ứng mục tiêu đặt ra đến đâu thì dường như không được quan tâm Đôi khi chính sách được ban hành chẳng những không giải quyết được vấn đề đặt ra, mà còn gây ra những hiệu ứng phụ làm phức tạp thêm vấn
đề Chẳng hạn, chính sách hạn chế ùn tắc giao thông trong các thành phố lớn
đã được triển khai với nhiều giải pháp khác nhau, song thực tế vẫn chưa giải quyết được vấn đề ùn tắc, trong khi đó một số giải pháp đưa ra, như chặn các ngã tư, thu phí chống ùn tắc lại gây ra các hiệu ứng phụ làm rắc rối thêm hiện trạng Hơn thế, việc hoạch định chính sách (thông qua việc soạn thảo và ban hành hàng loạt văn bản pháp luật) và việc tổ chức triển khai các chính sách đó trên thực tế đã tiêu tốn tiền của của nhân dân và sức lực của không ít người, song nhiều khi các chính sách này không đem lại lợi ích tương xứng với chi phí đã bỏ ra Do đó, đã đến lúc cần coi đánh giá chính sách như một khâu không thể thiếu trong quy trình chính sách
3.2 Các trở ngại trong đánh giá chính sách công hiện nay
Mặc dù là một khâu quan trọng trong quy trình chính sách, song ở nước
ta, nhiều chính sách không được quan tâm đánh giá Tình trạng đó xuất phát
từ các lý do sau đây:
Thứ nhất, nhận thức về đánh giá chính sách còn đơn giản Điều đó
được biểu hiện:
- Đồng nhất chính sách với một văn bản đơn lẻ Mặc dù chính sách được thể chế hóa trong văn bản pháp luật, song không thể đồng nhất chính sách với một văn bản đơn lẻ Thậm chí có những chính sách lớn lại là tập hợp của những chính sách bộ phận Chẳng hạn, chính sách xóa đói, giảm nghèo
Trang 7bao gồm chính sách hỗ trợ người nghèo thông qua các chương trình mục tiêu quốc gia, chính sách miễn giảm học phí cho người nghèo, chính sách khám, chữa bệnh miễn phí cho người nghèo Do đó, việc đánh giá chính sách thường khá phức tạp, đòi hỏi có cách nhìn tổng thể
- Coi đánh giá chính sách là việc của cơ quan ban hành chính sách, nên chờ đợi khi cơ quan này có chủ trương hoặc yêu cầu cụ thể mới tổ chức triển khai đánh giá.
- Tách biệt giữa đánh giá nội dung chính sách (thể hiện qua văn bản) với đánh giá việc thực thi chính sách Đôi khi, chúng ta rơi vào các nhận xét phiến diện: hoặc cho rằng các chính sách ban hành là đúng đắn, thường chỉ sai phạm trong khâu thực thi; nhưng có lúc lại che lấp các hạn chế trong thực thi chính sách bằng cách đổ lỗi cho sự không phù hợp của các quy định pháp luật
Thứ hai, các cơ quan chức năng thường không quan tâm tổ chức đánh
giá chính sách Trên thực tế, rất ít chính sách được tổ chức đánh giá một cách nghiêm túc, bài bản Nhiều cơ quan có thẩm quyền (cơ quan ban hành chính sách hoặc chủ trì tổ chức thực hiện chính sách) không đưa việc đánh giá chính sách vào chương trình hoạt động của mình Có thể nêu ra nhiều nguyên nhân của tình trạng này: do không có đủ nhân lực, không có nguồn lực tài chính để đánh giá, do chính sách được thực hiện rất “bình lặng” không gây ra vấn đề
gì, do bản thân các cơ quan này không muốn “tự phán xét” các chính sách do mình ban hành và thực thi Đương nhiên, việc đánh giá chính sách không chỉ
do các cơ quan nhà nước tiến hành Các đánh giá chính sách có thể được phản ánh qua công luận, qua ý kiến của nhân dân, của các tổ chức chính trị - xã hội Song sự đánh giá từ bên ngoài nhà nước sẽ chỉ có giá trị thực sự nếu được các
cơ quan nhà nước tiếp nhận, tổng hợp và rút kinh nghiệm Trong không ít trường hợp, sự đánh giá lẻ tẻ, tự phát của nhân dân bị bỏ qua Nếu thiếu sự chủ trì của các cơ quan chức năng, thì việc đánh giá cũng ít có tác động đến các nhà hoạch định và thực thi chính sách
Trang 8Thứ ba, việc xem xét lại chính sách đôi khi chỉ được thực hiện khi xuất
hiện “vấn đề” Trong một số trường hợp, các chính sách vẫn “bình yên” trong một thời gian dài, chỉ đến khi “vấp váp” trong thực tiễn, người ta mới nhận ra được những “lỗ hổng” của chính sách.
Thứ tư, thiếu các tiêu chí để đánh giá chính sách một cách khoa học.
Khi đánh giá chính sách, người ta thường so sánh các kết quả đạt được với mục tiêu chính sách ban đầu Việc đánh giá chính sách sẽ dễ dàng nếu các mục tiêu chính sách được thể hiện dưới dạng định lượng, chẳng hạn như tốc
độ gia tăng dân số, tỷ lệ trẻ em trong độ tuổi đi học được đến trường Song, trên thực tế đa số các mục tiêu chính sách được thể hiện dưới dạng định tính, nhiều khi mục tiêu không rõ ràng, trong trường hợp đó việc đánh giá chính sách theo mục tiêu đề ra có thể không phản ánh hết các giá trị của chính sách
Để đánh giá chính sách, về nguyên tắc, phải có các bộ tiêu chí đánh giá được thiết kế đối với từng loại chính sách Việc thiếu các tiêu chí đánh giá khiến cho việc đánh giá không toàn diện, đầy đủ, mang tính phiến diện Chẳng hạn, đánh giá về chính sách xóa đói, giảm nghèo ở Việt Nam, có thể thấy kết quả rất khả quan với việc giảm tỷ lệ nghèo từ 22% năm 2005 xuống còn 10,7% năm 2010 theo chuẩn nghèo giai đoạn 2006 - 2010 Song, nếu đi vào đánh giá tác động của các chính sách cụ thể tới người nghèo thì thấy còn rất nhiều hạn chế Chẳng hạn, Chương trình 135 trong giai đoạn 2006 - 2010 tuy đã chi hơn 14.000 tỉ đồng, chưa tính đến giá trị công sức đóng góp của dân, nhưng đến năm 2010, mới chỉ có 113 xã, chiếm 6% số xã được hưởng thụ Chương trình, được “xóa tên” khỏi diện nghèo Ở một số tỉnh có số xã còn tỷ lệ nghèo cao, như Lạng Sơn: 49%, Điện Biên: 50%, Quảng Bình: 49,34%, Quảng Nam: 48,78%, Quảng Ngãi: 49,94%
Thứ năm, đánh giá chính sách đôi khi mang tính một chiều, chỉ phản
ánh nhận xét của các cơ quan nhà nước mà không quan tâm đủ mức đến sự phản hồi từ xã hội, từ những đối tượng mà chính sách hướng vào Mặc dù đánh giá của các cơ quan nhà nước về chính sách có thuận lợi do họ nắm rất
Trang 9rõ về chính sách và quá trình thực hiện chính sách, nhưng cách làm này có thể dẫn đến chỗ các kết quả đánh giá chịu sự chi phối của chính những người làm
ra và vận hành chính sách đó, việc chỉ ra các sai sót của bản thân họ sẽ gặp phải rào cản tâm lý mạnh mẽ và nhiều khi bị bóp méo theo ý muốn chủ quan
Vì vậy, khi đánh giá chính sách, ít cơ quan tổ chức các cuộc khảo sát lấy ý kiến phản hồi từ nhân dân hay các đối tượng hưởng lợi một cách rộng rãi, công khai Trong một số trường hợp các cơ quan chức năng đã tổ chức thu thập ý kiến phản hồi từ các phương tiện truyền thông, hay tổ chức các buổi đóng góp ý kiến thông qua các đoàn thể chính trị - xã hội Tuy nhiên, không phải lúc nào các ý kiến này cũng phản ánh đầy đủ và chính xác những vấn đề
mà thực tiễn đang đặt ra liên quan đến chính sách được đánh giá.
Thứ sáu, thiếu kinh phí dành cho việc đánh giá chính sách Các cơ
quan thường dành nguồn kinh phí có hạn của mình để triển khai các công việc mới (nhằm tạo ra những kết quả mới) hơn là dùng kinh phí đó để xem xét lại những gì đã làm
3.3 Các giải pháp tăng cường đánh giá chính sách công
Một là, đưa việc đánh giá chính sách thành một nội dung bắt buộc đối
với một số chính sách quan trọng của Nhà nước Cần nhận thức rõ, những chính sách quan trọng, liên quan đến những vấn đề cấp thiết nhất của đời sống, đến lợi ích của nhiều người thì việc đánh giá chính sách là rất cần thiết
để hoàn thiện chính sách, tránh các rủi ro hay lãng phí xảy ra, đặc biệt là tránh những phản ứng ngược lại với mong muốn của Chính phủ Cần có kế hoạch đánh giá chính sách và xây dựng lịch trình đánh giá cụ thể Trong kế hoạch đánh giá cần xác định rõ mục tiêu, phạm vi, chủ thể tham gia, các đối tượng, nội dung, các phương pháp và tiêu chí đánh giá Cần tổng kết việc đánh giá, công bố công khai kết quả đánh giá ở phạm vi cần thiết Tổ chức rút kinh nghiệm nghiêm túc đối với những sai sót về nội dung chính sách và những hạn chế, vướng mắc trong thực thi chính sách.
Trang 10Hai là, xây dựng các tiêu chí đánh giá chính sách một cách đầy đủ và
đúng đắn Tùy theo từng lĩnh vực, sẽ có các tiêu chí đánh giá chính sách khác nhau Thông thường, các tiêu chí đánh giá tập trung vào những phương diện sau đây:
- Tính hiệu lực của chính sách phản ánh mức độ tác động, ảnh hưởng của chính sách đó trên thực tế, làm biến đổi hoặc duy trì thực tế theo mong muốn của Nhà nước Tính hiệu lực của chính sách thể hiện ở mức độ đạt được các mục tiêu đề ra
- Tính hiệu quả của chính sách phản ánh tương quan so sánh giữa kết quả do chính sách đưa lại với chi phí đã bỏ ra Phương pháp phân tích chi phí
- lợi ích thường được sử dụng để xác định hiệu quả của chính sách Nếu không quan tâm tính toán hiệu quả sẽ dẫn đến lãng phí, thất thoát tiền của và kinh phí từ ngân sách nhà nước
- Tính công bằng của chính sách thể hiện ở chỗ thông qua chính sách, Nhà nước thực hiện phân phối lại thu nhập giữa các tầng lớp dân cư, đồng thời trợ giúp cho các đối tượng dễ bị tổn thương, như người nghèo, người già, trẻ em và người tàn tật để khắc phục tình trạng bất bình đẳng về thu nhập giữa các nhóm xã hội Tính công bằng của chính sách còn thể hiện ở sự phân bổ hợp lý các chi phí và lợi ích, các quyền và nghĩa vụ giữa các chủ thể tham gia hoạch định, thực thi chính sách và các nhóm đối tượng liên quan đến chính sách
- Chú trọng đánh giá tác động của chính sách đến các đối tượng hưởng lợi từ chính sách Tác động của chính sách phản ánh kết quả đầu ra hay kết quả cuối cùng của chính sách Đây là một tiêu chí rất quan trọng trong đánh giá chính sách công Song việc đánh giá tác động của chính sách cũng là khâu khó khăn nhất trong đánh giá chính sách, bởi lẽ các tác động này đôi khi rất khó đo lường Chẳng hạn, để đánh giá chính sách giảm nghèo đã tác động đến đối tượng người nghèo như thế nào, cần xem xét việc người nghèo được hưởng những lợi ích gì từ chính sách của Chính phủ và các lợi ích đó đã giúp