• Màng tế bào vi sinh vật chịu lạnh có hàm lượng lipid cao hơn, giúp chúng hấp thụ chấtdinh dưỡng trong môi trường ở điều kiện nhiệt độ thấp.. • Vi khuẩn chịu lạnh chứa một lượng lớn axi
Trang 1HANOI UNIVERSITY OF SIENCE AND TECHNOLOGY
Sinh trưởng và phát triển của vi sinh vật
-phần 2
Trang 2NHÂN TỐ MÔI TRƯỜNG ĐẾN
SỰ SINH TRƯỞNG CỦA
VI SINH VẬT
Trang 3Tác dụng của các yếu tố bên ngoài lên sinh
trưởng và phát triển của vi khuẩn
của môi trường bên ngoài.
nhau Đa số các yếu tố đó đều có một đặc tính tác dụng chung biểu hiện ở ba
điểm hoạt động: tối thiểu, tối thích và cực đại.
Trang 4Tác dụng của các yếu tố bên ngoài lên sinh
trưởng và phát triển của vi khuẩn
Trang 5Các yêu cầu đối với sự phát triển của vi
Trang 6Các yêu cầu đối với sự phát triển của vi
• Các nguồn cacbon, nitơ, lưu huỳnh, phốt pho, oxy
• Các nguyên tố vi lượng
• Các yếu tố tăng trưởng hữu cơ.
Trang 10Vi sinh vật ưa lạnh (Psychrophile)
Nguồn: Andreas Holzinger, Michael C Allen, Dimitri D Deheyn, Hyperspectral imaging of snow algae and green algae from aeroterrestrial habitats, Journal of Photochemistry and Photobiology B: Biology,Volume 162,2016,
Trang 11Vi sinh vật ưa lạnh (Psychrophile) Ả
Trang 12Fig 2 Cultured cells of (a) Zygnema sp., (b) Zygnema sp plasmolysed with 800 mM sorbitol Bars 20 μm.
Nguồn: Andreas Holzinger, Michael C Allen, Dimitri D Deheyn, Hyperspectral imaging of snow algae and green algae from aeroterrestrial habitats, Journal of Photochemistry and
Trang 13Vi khuẩn ưa lạnh được chia thành hai loại:
• Vi khuẩn gram dương bao gồm Bacillus, Corynebaterium,
Streptococcus, Clostridium, Lactobacillus, Listeria, Paenibacillus
và Microbacterium
Flarobacterium, Achromaobact, Yersini và Chromobacterium.
⚬ Pseudomonas fluorescens làm hỏng sữa tươi hoặc sữa tiệt
trùng.
⚬ Vi khuẩn Listeria monocytogens thường gặp trong thịt và các
sản phẩm sữa.
⚬ Salmonella spp dẫn đến chất lượng hải sản bị giảm sút.
Cần lưu ý rằng hư hỏng thực phẩm là một quá trình phức tạp, không phải do một vi sinh vật nào gây
ra mà là kết quả của sự tương tác của nhiều loại vi khuẩn gây hư hỏng.
Trang 14• Màng tế bào vi sinh vật chịu lạnh có hàm lượng lipid cao hơn, giúp chúng hấp thụ chất
dinh dưỡng trong môi trường ở điều kiện nhiệt độ thấp
• Vi khuẩn chịu lạnh chứa một lượng lớn axit béo không no mạch thẳng và phân nhánh,
nhiệt độ nóng chảy của lipid giảm xuống, làm cho màng tế bào trở nên lưu động tốt ở
nhiệt độ thấp và do đó góp phần vào sự nhân lên của vi sinh vật
• Giảm kích thước lỗ của kênh bằng cách thay đổi cấu trúc của protein màng ngoài trong
điều kiện nhiệt độ thấp, tránh sự xâm nhập của một số phân tử độc tố vào tế bào ở môi
trường bên ngoài
• Bài tiết một lượng lớn lipase và protease ngoại bào để phân hủy các đại phân tử sinh
học thành các phân tử nhỏ trong điều kiện nhiệt độ thấp để đảm bảo nhu cầu dinh
dưỡng
Trang 15• Tạo nhiều enzyme hoạt động — thường là tối ưu — trong nhiệt độ lạnh
• Một số enzym hoạt động tại nhiệt độ lạnh có hàm lượng chuỗi xoắn α lớn hơn
và hàm lượng cấu trúc bậc hai β ít hơn Cấu trúc thứ cấp tấm β có xu hướng
cứng hơn so với xoắn α, hàm lượng chuỗi xoắn α lớn hơn của các enzym hoạt
động lạnh cho phép các protein này linh hoạt hơn để xúc tác các phản ứng của
chúng ở nhiệt độ lạnh
• Các enzym hoạt động lạnh cũng có xu hướng có lượng axit amin phân cực lớn
hơn và ít kỵ nước hơn
• Chiến lược thích ứng chung của các enzym chịu lạnh là ổn định phức hợp
enzym/cơ chất để giảm năng lượng hoạt hóa cần thiết
Cơ chế chịu lạnh
Trang 16• Protein sốc lạnh là một loại protein nhạy cảm với lạnh ở dạng hoạt động
hoặc liên kết các mRNA cụ thể và tạo điều kiện thuận lợi cho quá trình
dịch mã của chúng trong điều kiện lạnh
• Chất bảo vệ lạnh bao gồm các protein chống đông đặc biệt (VD: glycerol
hoặc một số loại đường) giúp ngăn chặn sự hình thành các tinh thể nước
đá có thể làm thủng màng tế bào chất
• Các vi khuẩn ưa lạnh cao thường tạo ra lượng chất nhờn bề mặt tế bào
exopolysaccharide dồi dào, và các lớp chất nhờn này cũng có chức năng
bảo vệ lạnh
Trang 17Mối nguy hiểm của vi sinh vật chịu lạnh Ả
• Các enzym ngoại bào như lipase và protease do vi khuẩn chịu lạnh tiết ra
được biết là nguyên nhân gây ra sự suy giảm chất lượng của thịt, hải sản,
rau, sữa và các sản phẩm từ sữa.
• Tạo ra hương vị bất thường như vị đắng, vị trái cây và vị men.
• Quá trình chuyển hóa thứ cấp của vi sinh vật hư hỏng có thể tạo ra mùi
hăng và nhiều chất nhầy hơn.
• Trong số các vi khuẩn chịu lạnh, Escherichia coli có khả năng gây bệnh
đường ruột và làm giảm độ tươi của đồ ăn tươi sống , Listeria có nguy cơ
gây viêm màng não, các chủng vi khuẩn thuộc nhóm Pseudomonas
fluorescens có thể dẫn đến nhiễm trùng huyết, và Salmonella khiến người
bệnh bị sốt, nôn mửa và tiêu chảy.
Trang 18Vi sinh vật ưa ấm (Mesophile)
thấp hơn.
bởi vì thân nhiệt của người là 37 0C.
Trang 19Vi sinh vật ưa nhiệt (Thermophile)
• Là các vi sinh vật sinh trưởng được ở nhiệt độ 55 0 C hay cao hơn nữa Nhiệt độ sinh trưởng tốt nhất đối với
chúng là 33-65 0 C.
• Thành phần chủ yếu của nhóm này là vi khuẩn (chủ yếu là xạ khuẩn), một ít tảo và nấm.
• Phát triển trong đống phân chuổng ủ, dưới đáy các cột rơm rạ hay cỏ khô, trong đường dẫn nước nóng,
trong các suối nước nóng
• Có hệ thống tổng hợp enzyme và protein bền nhiệt (heat-stable) và có thể hoạt động ở nhiệt độ cao Màng
sinh học của chúng có lipid bão hòa ở mức cao, có điểm sôi cao hơn và vì vậy vẫn giữ được nguyên vẹn ở
nhiệt độ cao.
• Vi sinh vật ưa siêu nóng (Hyperthermophiles) có thể sinh trưởng ở nhiệt độ 90 0 C hay cao hơn Nhiệt độ
sinh trưởng cao nhất là 100 0 C.
Trang 22• Làm lạnh là phương pháp phổ
biến nhất để bảo quản thực phẩm
gia dụng Nó dựa trên nguyên tắc
là tốc độ sinh sản của vi sinh vật
giảm ở nhiệt độ thấp Mặc dù vi
sinh vật thường sống sót ngay cả
khi ở nhiệt độ đông lạnh (chúng
có thể trở nên hoàn toàn không
hoạt động), chúng sẽ giảm dần về
số lượng
• Một số loài suy giảm nhanh hơn
những loài khác, tuy nhiên có
Trang 23Áp suất
Trang 24Phần lớn vi sinh vật có thể sống trên lục địa hay trên bề mặt nước, là những nơi có áp suất không khí
là 1 atm (atmosphere) và không chịu ảnh hưởng rõ rệt gì của áp suất này.
Nhưng đáy biển (nơi có độ sâu 1000m trở lên) lại chiếm đến 75% thể tích đại dương Ở những nơi
một số vi sinh vật thích ứng để tồn tại.
• Phần lớn thuộc về nhóm chịu áp (barotolerant) Tuy áp suất tăng lên cao sẽ có ảnh hưởng đến
chúng, nhưng ảnh hưởng bất lợi này nhỏ hơn nhiều khi so với các vi sinh vật không chịu áp
(nontolerant).
• Một số vi khuẩn sống trong đường tiêu hóa của những động vật không xương sống ở dưới biển sâu
(như amphipods và holothurians) là những vi khuẩn ưa áp (barophilic) Chúng sinh trưởng càng
nhanh trong điều kiện áp suất cao Chúng có vai trò quan trọng trong vòng tuần hoàn các chất dinh
dưỡng dưới đáy biển Tại khe biển Mariana gần Philippine (sâu khoảng 10 500m) người ta đã phân
400-500atm Những vi khuẩn này thuộc về các chi Photobacterium, Shewanella, Colwellia
• Một số thuộc về Cổ khuẩn vừa ưa áp vừa ưa nhiệt (thermobarophiles), chẳng hạn như Pyrococcus
Trang 25Áp suất cao ảnh hưởng đến sinh lý và sinh hóa tế bào theo nhiều cách
• Nói chung, áp suất làm giảm khả năng tương tác của các protein.
• Các phức hợp protein lớn ở nhóm ưa áp phải tương tác theo cách để
giảm thiểu các tác động liên quan đến áp suất.
• Quá trình tổng hợp protein, tổng hợp DNA và vận chuyển chất dinh
dưỡng rất nhạy cảm với áp suất cao.
• Vi khuẩn ưa áp được nuôi cấy dưới áp suất cao có tỷ lệ axit béo không
no trong tế bào chất cao hơn so với khi được nuôi cấy ở 1 atm Các axit
béo không bão hòa cho phép các màng duy trì chức năng và không
tạo bọt ở áp suất cao hoặc ở nhiệt độ thấp.
Trang 26• Tốc độ phát triển khá chậm của các loài ưa áp cực cao như Moritella so với các vi
khuẩn biển khác có thể là do tác động tổng hợp của áp suất và nhiệt độ thấp; nhiệt
độ thấp Nhiệt độ thấp làm chậm tốc độ phản ứng của các enzym, ảnh hưởng trực tiếp
đến sự phát triển của tế bào
• Khi một piezophile gram âm được phát triển dưới áp suất cao, một protein màng
ngoài cụ thể được gọi là OmpH (protein màng ngoài H) sẽ không có trong các tế bào
phát triển ở 1 atm
• OmpH là một loại porin Porins là các protein tạo thành các kênh mà qua đó các
phân tử khuếch tán vào vùng ngoại vi Có lẽ, porin được tạo ra bởi các tế bào phát
triển ở 1 atm không thể hoạt động bình thường ở áp suất cao và do đó phải tổng
hợp một porin khác
• Áp suất thúc đẩy phiên mã gen mã hóa OmpH Ở các piezophile gram âm được đặc
trưng, một phức hợp protein màng nhạy cảm với áp suất có mặt để giám sát áp suất
và kích hoạt phiên mã ompH chỉ khi điều kiện áp suất cao đảm bảo.
Trang 28• Ánh sáng mặt trời là nguồn bức xạ chủ yếu trên trái đất, bao gồm ánh sáng khả kiến (visible light), tia
tử ngoại (ultraviolet), tia hồng ngoại (infraded rays) và sóng radio (vô tuyến điện).
• Bức xạ mặt trời có 60% nằm ở vùng tia hồng ngoại chứ không phải ở vùng ánh sáng khả kiến Tia hồng
ngoại là nguồn nhiệt lượng chủ yếu của trái đất Ở tầm mặt biển chỉ thấy có rất ít bức xạ tử ngoại
290-300nm (nanometre).
• Tia tử ngoại có bước sóng thấp hơn 287nm hấp thụ bởi oxygen trong không khí và tạo ra tầng ozone
• Bởi vì tia tử ngoại rất có hại cho sinh vật nên việc tầng ozone tiêu trừ bớt tia tử ngoại là có tác dụng
rất quan trọng đối với sự sống trên trái đất.
Trang 29pH
Trang 30pH là số đo hoạt tính ion hydrogen của một dung dịch và đó là số logarit âm
của nồng độ ion hydrogen (biểu thị bằng nồng độ phân tử):
pH= -log[H+]= log (1/[H+ ])
• Thang pH từ pH 0,0 (1,0 mol H+) đến pH 14,0 (1,0 x 10 -14mol H+).
• Mỗi đơn vị pH đại biểu cho sự biến đổi 10 lần về nồng độ ion hydrogen.
Nơi cư trú mà vi sinh vật có thể sinh trưởng là rất rộng, từ pH rất acid
(pH 1-2) đến những hồ hay đất rất kiềm với pH giữa 2 và 10.
Trang 31Mặc dù một số vi sinh vật có thể phát triển trong điều kiện pH khắc nghiệt (pH <2 hoặc> 10), hầu
hết các vi sinh vật có pH tối ưu từ 5 đến 9 Mỗi loài có một phạm vi phát triển pH được xác định rõ
ràng và tăng trưởng pH tối ưu Trên cơ sở yêu cầu về pH, vi sinh vật có thể được phân loại thành:
Trang 34• Các vi sinh vật thu nhận hầu như tất cả các chất dinh dưỡng của chúng ở dạng hòa tan từ nước xung
quanh Do đó, chúng cần nước để phát triển, và thành phần của chúng có đến 80–90% là nước.
• Áp suất thẩm thấu cao có tác dụng loại bỏ nước cần thiết từ tế bào.
Trang 35• Khi tế bào vi sinh vật ở trong dung dịch có nồng độ chất tan cao hơn trong tế bào (môi trường
ưu trương đối với tế bào), nước tế bào đi ra ngoài qua màng sinh chất có nồng độ chất tan cao Sự
mất nước do thẩm thấu này gây ra hiện tượng phân ly hoặc co lại tế bào chất của tế bào Sự mất
nước này của tế bào sẽ tổn hại tới màng tế bào chất, tế bào sẽ mất khả năng trao đổi chất và ngừng
sinh trưởng Điều này liên quan đến việc bảo quản thực phẩm nhờ muối mặn hoặc tẩm đường (làm
mứt, ngâm mật ong ).
• Nếu một vi sinh vật được đưa vào dung dịch có nồng độ thẩm thấu thấp thì nước sẽ xâm nhập vào tế
bào, nếu không có sự khống chế hữu hiệu thì tế bào sẽ bị trương lên và vỡ ra.
Trang 36• Vi sinh vật ưa mặn (Halophile) hoàn toàn thích ứng với môi trường cao áp (hypertonic), cần nồng độ
NaCl cao để sinh trưởng.
• Phạm vi nồng độ muối cần thiết để sinh trưởng đối với nhóm vi khuẩn ưa mạn cực đoan (extreme
halophilic bacteria) là 2,8-6,2 mol/L (nồng độ muối bão hòa).
Trang 38• Aerobe: Các vi sinh vật sinh trưởng trong điều kiện có oxygen được gọi là vi sinh vật hiếu khí (aerobe)
• Anaerobe: các vi sinh vật sinh trưởng trong điều kiện không có oxygen được họi là các vi sinh vật kỵ khí
(anaerobe).
• Hầu hết các cơ thể đa bào đều phải cần sinh trưởng trong điều kiện có oxygen, chúng là các sinh vật hiếu khí
bắt buộc (obligate aerobes).
• Các vi sinh vật kỵ khí không bắt buộc (facultative anaerobes) không cần oxygen để sinh trưởng nhưng khi có
oxygen thì sinh trưởng tốt hơn Khi có oxygen chúng sử dụng phương thức hô hấp hiếu khí.
• Các vi sinh vật kỵ khí chịu oxygen (aerotolerant anaerobes) như vi khuẩn Enterococcus faecalis có thể sinh
trưởng như nhau trtong điều kiện có oxygen cũng như không có oxygen Ngược lại khuẩn Bacteroides,
Fusobacterium, Clostridiun pasteurianum, Methanococcus sẽ bị chết khi có oxygen.
Trang 41Bên cạnh nước, một trong những yêu cầu quan trọng nhất đối với sự phát triển của vi sinh vật là cacbon.
• Carbon là xương sống cấu trúc của vật chất sống; nó cần thiết cho tất cả các hợp chất hữu cơ tạo nên một tế
bào sống.
• Một nửa trọng lượng khô của tế bào vi khuẩn điển hình là carbon.
• Sinh vật dị dưỡng nhận phần lớn carbon từ nguồn năng lượng của chúng — các vật liệu hữu cơ như protein,
Trang 43• Nitơ: Quá trình tổng hợp DNA và RNA cũng cần nitơ và một số phốt pho, cũng như quá
trình tổng hợp ATP, phân tử rất quan trọng đối với việc lưu trữ và truyền năng lượng
hóa học trong tế bào
• Nitơ chiếm khoảng 14% trọng lượng khô của tế bào vi khuẩn, và lưu huỳnh và phốt
pho cùng chiếm khoảng 4% nữa
• Một số vi khuẩn quan trọng, bao gồm nhiều vi khuẩn lam, sử dụng nitơ thể khí (N2)
trực tiếp từ khí quyển Quá trình này được gọi là quá trình cố định nitơ
• Lưu huỳnh được sử dụng để tổng hợp các axit amin và vitamin có chứa lưu huỳnh như
thiamine và biotin Các nguồn tự nhiên quan trọng của lưu huỳnh bao gồm ion sunfat
(SO42-), hydro sunfua và các axit amin chứa lưu huỳnh
• Phốt pho cần thiết cho quá trình tổng hợp axit nucleic và photpholipit của màng tế bào
Trong số những nơi khác, nó cũng được tìm thấy trong các liên kết năng lượng của
Trang 45• Vi sinh vật cần một lượng rất nhỏ các thành phần khoáng chất khác, chẳng hạn
như sắt, đồng, molypden và kẽm.
• Hầu hết đều cần thiết cho chức năng của một số enzym.
• Mặc dù các nguyên tố này đôi khi được thêm vào môi trường phòng thí nghiệm,
chúng thường được giả định là có mặt tự nhiên trong nước máy và các thành
phần khác của môi trường.
Trang 47• Một nhóm các yếu tố tăng trưởng hữu cơ cho VSV là vitamin.
• Hầu hết các vitamin có chức năng như coenzyme, các đồng yếu
tố hữu cơ được một số enzym nhất định yêu cầu để hoạt động.
• Nhiều vi khuẩn có thể tự tổng hợp tất cả các vitamin và không
phụ thuộc vào các nguồn bên ngoài.
• Một số vi khuẩn thiếu các enzym cần thiết để tổng hợp các
vitamin nhất định, và đối với chúng các vitamin đó là các yếu
tố tăng trưởng hữu cơ Một số vi khuẩn lại cần có các yếu tố
tăng trưởng hữu cơ khác như axit amin, purin và pyrimidine.
Trang 48Kiểm soát sự phát triển của vi
Trang 49• Diệt khuẩn hay Khử trùng (sterilization): tiêu diệt tất cả vi sinh vật, bào tử,
virus, viroid Để diệt khuẩn có thể dùng các chất diệt khuẩn (sterilant) hoặc
dùng các nhân tố vật lý khác.
• Tiêu độc hay Khử độc (disinfection) là tiêu diệt, ức chế hoặc loại trừ các vi
sinh vật gây bệnh Để tiêu độc cần dùng các chất tiêu độc (disinfectant) Đó
thường là các hóa chất và thường dùng để tiêu độc các vật liệu không phải là
cơ thể người và động thực vật Các chất tiêu độc không diệt được bào tử và
một số vi sinh vật, vì vậy không thể dùng để diệt khuẩn
Trang 50• Tiêu độc vệ sinh (sanitization): số lượng vi sinh vật giảm xuống tới từ mức an toàn trở
xuống đối với sức khỏe công cộng Các chất tiêu độc vệ sinh (sanitizer) thường được
dùng để làm sạch môi trường và các vật dụng không phải cơ thể người và động thực vật
• Phòng thối (antisepsis) là dùng hóa chất để khống chế vi sinh vật sự sinh trưởng của vi
sinh vật trên các tổ chức sinh vật (các mô) Chất phòng thối (antiseptic) nhiều người gọi
là chất sát trùng là chưa chính xác, dễ nhầm với chất diệt khuẩn (sterilant)
Trang 51Chất kháng vi sinh vật (antimicrobial agent) được chia thành nhiều loại.
• Chất diệt khuẩn (germicide): gốc La Tinh cide là giết chết, là chất có thể tiêu diệt các
vi sinh vật gây bệnh (pathogens) Như vậy tiếng Việt có hai chữ Chất diệt khuẩn để chỉ
cả germicide lẫn sterilant
• Các chất diệt nấm (fungicide), chất diệt tảo (algicide), chất diệt virus (viricide) để chỉ
các chất tiêu diệt từng đối tượng riêng biệt