Chương1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ NHU CẦU TIN VÀ NGƯỜI DÙNG TIN TẠI TRƯỜNG CAO ĐẲNG KINH TẾ ĐỐI NGOẠI ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN LÊ HẢI YẾN ẢNH HƯỞNG CỦA GIAO THOA VĂN H[.]
Trang 1ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
-
LÊ HẢI YẾN
ẢNH HƯỞNG CỦA GIAO THOA VĂN HÓA TỚI VIỆC HỌC TIẾNG HÀN CỦA NGƯỜI VIỆT
LUẬN VĂN THẠC SĨ Chuyên ngành: Châu Á học
Trang 2ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
-
LÊ HẢI YẾN
ẢNH HƯỞNG CỦA GIAO THOA VĂN HÓA TỚI VIỆC HỌC TIẾNG HÀN CỦA NGƯỜI VIỆT
LUẬN VĂN THẠC SĨ Chuyên ngành: Châu Á học
Mã số: 60 31 06 01
Người hướng dẫn khoa học: TS Lưu Tuấn Anh
Trang 3LỜI CẢM ƠN
Trước hết, em xin bày tỏ lòng cảm ơn chân thành và sâu sắc nhất đến TS Lưu Tuấn Anh - người thầy đã trực tiếp hướng dẫn, quan tâm,
chỉ bảo em trong suốt quá trình thực hiện luận văn thạc sĩ này.
Em xin chân thành cảm ơn Ban giám hiệu, các thầy giáo, cô giáo
trong khoa Đông Phương trường Đại học KHXH&NV – ĐHQG Hà Nội
đã quan tâm và tạo mọi điều kiện thuận lợi cho em hoàn thành khóa học.
Xin gửi lời cảm ơn sâu sắc tới các thầy giáo, cô giáo đồng nghiệp khoa Ngôn ngữ và Văn hóa Hàn Quốc, Trường Đại học Ngoại ngữ -
ĐHQG Hà Nội đã luôn ủng hộ, giúp đỡ tận tình, tạo điều kiện cho em
hoàn thành luận văn thạc sĩ của mình.
Cuối cùng, xin được gửi lời tri ân đến gia đình, bạn bè và những
người thân yêu đã luôn động viên, khích lệ và giúp đỡ tôi trong thời gian
Trang 4MỤC LỤC
DANH SÁCH BẢNG BIỂU 1
PHẦN MỞ ĐẦU 2
1 Lý do chọn đề tài 2
2 Lịch sử nghiên cứu vấn đề 4
3 Mục đích nghiên cứu 8
4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 9
5 Phương pháp nghiên cứu 10
6 Đóng góp của luận văn 10
7 Cấu trúc của luận văn 11
Chương 1: 12
CƠ SỞ LÍ LUẬN 12
1.1 Quan hệ giữa văn hóa và ngôn ngữ 12
1.2 Vai trò của tìm hiểu văn hóa trong học ngoại ngữ 16
1.3 Giao thoa văn hóa và giao tiếp 19
1.3.1 Khái niệm giao thoa văn hóa 19
1.3.2 Khái niệm năng lực giao tiếp 20
1.3.3 Quan hệ giữa giao thoa văn hóa và giao tiếp 22
Chương 2: 26
NHỮNG ĐẶC ĐIỂM VĂN HÓA ẢNH HƯỞNG ĐẾN HOẠT ĐỘNG GIAO TIẾP CỦA NGƯỜI HÀN 26
2.1 Một vài đặc trưng tiêu biểu về văn hóa Hàn Quốc 26
2.1.1 Văn hóa gốc nông nghiệp 26
2.1.2 Trải qua nhiều chiến tranh 27
2.1.3 Chịu ảnh hưởng của Nho giáo 31
2.2 Những đặc điểm văn hóa ảnh hưởng đến hoạt động giao tiếp của người Hàn 33
2.2.1 Chủ nghĩa tập thể 34
2.2.2 Chủ nghĩa gián tiếp 35
2.2.3 Coi trọng tình cảm 37
2.2.4 Tính tiết kiệm 40
2.2.5 Coi trọng quá trình 44
2.2.6 Coi trọng thứ bậc, trên dưới 45
Trang 5Chương 3: 53
ẢNH HƯỞNG CỦA GIAO THOA VĂN HÓA TỚI VIỆC HỌC TIẾNG HÀN CỦA NGƯỜI VIỆT VÀ PHƯƠNG ÁN KHẮC PHỤC 53
3.1 Ảnh hưởng của giao thoa văn hóa tới việc học tiếng Hàn của người Việt 53
3.1.1 “Tôi” hay “chúng tôi”? 53
3.1.2 “Rào trước đón sau” 55
3.1.3 Kết thân qua chào hỏi 56
3.1.4 Linh hoạt trong sử dụng phó từ chỉ mức độ 58
3.1.5 Rút gọn hay mở rộng 59
3.1.6 Lược bỏ chủ ngữ không phải là nói trống không 60
3.1.7 Tỉ mỉ, chi tiết và xuề xòa, đại khái 62
3.1.8 Thứ bậc tuyệt đối và tương đối 74
3.1.9 Xưng hô trong tập thể 79
3.1.10 Thuần Hàn hay Hán Hàn 80
3.1.11 Phân biệt giới trong xưng hô 81
3.2 Phương án khắc phục 82
3.2.1 Hiện trạng giảng dạy văn hóa Hàn Quốc trong giáo dục tiếng Hàn ở Việt Nam 83
3.2.2 Phương án khắc phục 87
PHẦN KẾT LUẬN 91
Tài liệu tham khảo 92
Trang 6DANH MỤC BẢNG BIỂU
Bảng 1: Cách nói “xin chào”, “xin lỗi”, “cảm ơn” cơ bản trong tiếng Hàn 23
Bảng 2: Cách nói “xin chào”, “xin lỗi”, “cảm ơn” mở rộng trong tiếng Hàn 23
Bảng 3: 7 mốc quan trọng trong lịch sử của Hàn Quốc 28
Bảng 4: Những đặc điểm văn hóa ảnh hưởng đến hoạt động giao tiếp của người Hàn 33
Bảng 5: Ví dụ về hiện tượng rụng âm và rút gọn âm trong tiếng Hàn 41
Bảng 6: Ví dụ hiện tượng gọi tắt trong tiếng Hàn 43
Bảng 7: Cách xưng hô theo quan hệ thân tộc phân theo mức độ kính ngữ trong tiếng Hàn 46
Bảng 8: Ví dụ về từ mang ý nghĩa kính ngữ trong tiếng Hàn 48
Bảng 9: Phân biệt “우리” và “제” 54
Bảng 10: Một số câu chào hỏi trong giao tiếp tiếng Hàn 57
Bảng 11: Phân loại cấu trúc ngữ pháp dựa trên quan hệ câu 63
Bảng 12: Phân loại cấu trúc ngữ pháp dựa trên biểu hiện 64
Bảng 13: Phân biệt các cấu trúc chỉ nguyên nhân – kết quả trong tiếng Hàn 66
Bảng 14: Phân biệt các cấu trúc chỉ quan hệ nhượng bộ trong tiếng Hàn 68
Bảng 15: Phân biệt các biểu hiện phỏng đoán trong tiếng Hàn 69
Bảng 16: Phân biệt các biểu hiện chỉ hành động diễn ra theo trình tự thời gian 70
Bảng 17: Phân biệt các biểu hiện chỉ trạng thái hành động 70
Bảng 18: Phân biệt các biểu hiện cảm thán 71
Bảng 19: Phân biệt các biểu hiện hồi tưởng 72
Bảng 20: Phân biệt các biểu hiện diễn tả sự thay đổi sau quá trình 72
Bảng 21: Phân biệt các biểu hiện diễn tả hành động lặp đi lặp lại 72
Bảng 22: Phân biệt các biểu hiện chỉ mục đích 73
Bảng 23: Phân biệt các biểu hiện chỉ điều kiện, giả định – hệ quả 74
Bảng 24: Sự khác biệt giữa kính ngữ chủ thể và kính ngữ khách thể với các thể kính ngữ của 3 động từ “주다”, “데리다”, “묻다” 78
Bảng 25: Ví dụ các cặp từ thuần Hàn – Hán Hàn 81
Bảng 26: Một số cách xưng hô xác lập trên sự phân biệt giới trong tiếng Hàn 82
Bảng 27: Góc văn hóa trong Giáo trình tiếng Hàn Kyunghee (Quyển Trung cấp 1, 2) 84 4 Bảng 28: Góc văn hóa trong Giáo trình Vui học tiếng Hàn Koryeo (Quyển 1,2) 85
Bảng 29: Đề xuất nội dung góc văn hóa dạy song song với thực hành tiếng 87
Trang 7PHẦN MỞ ĐẦU
1 Lý do chọn đề tài
Trong chương trình “Ngôi sao Việt” năm 2014 được tổ chức tại ViệtNam, khán giả xem truyền hình hẳn đã được làm quen với các vị giám khảođến từ Hàn Quốc Mỗi khi giám khảo nhận xét bằng tiếng bản địa, luôn cómột phiên dịch viên người Việt dịch lại Nếu là người biết tiếng Hàn xemchương trình, sẽ thấy một câu những vị giám khảo đến từ Hàn Quốc nàythường xuyên sử dụng để mở đầu lời nhận xét “잘 들었어요” hoặc “잘봤어요” và được phiên dịch viên dịch lại là “cảm ơn phần trình diễn của bạn”.Thật ra, trong từ điển Hàn-Anh naver, từ “잘” được chuyển sang các nghĩa là
“well, skillfully, carefully, closely, attentively, properly, fully, thoroughly,often, frequently, easily”, còn “들었어요” nghĩa là “đã nghe”, “봤어요”nghĩa là “đã xem”, như vậy nếu dịch theo từng từ một sẽ là “tôi đã nghe kỹ”,
“tôi đã xem kỹ” Nhưng người Việt thường không nói như vậy trong tìnhhuống này, còn người Hàn thì dùng “잘” với nhiều ngữ dụng khác nhau, bêncạnh nghĩa là khen tốt, hay, đẹp, thì họ còn dùng để không làm phật ý đốiphương khi nhận từ đối phương cái gì (ví dụ khi mượn bút và trả lại “잘썼어요” (tôi đã dùng tốt), khi được mời ăn “잘 먹었어요” (tôi đã ăn ngon,
ăn no), nên cách dịch “cảm ơn phần trình diễn của bạn” ở đây có thể coi làhợp lý Cách dịch như vậy sẽ thể hiện thái độ trung lập, không làm ngườinghe tưởng rằng phần trình diễn của mình được đánh giá xuất sắc, và cũngkhông làm phật ý người nghe Nhiều bạn học sinh học tiếng Hàn giai đoạnđầu thường gặp lúng túng trong các tình huống dịch như trên vì trong tiếngHàn có từ cảm ơn khác là “고마워요” Nếu không phải đã được tiếp xúcnhiều và hiểu về văn hóa giao tiếp của Hàn Quốc, chắc hẳn người bạn phiên
Trang 8nhỏ cho thấy tầm quan trọng của văn hóa trong học ngoại ngữ, đặc biệt là vănhóa giao tiếp Để đưa ra được cách diễn đạt vừa tự nhiên, vừa đúng ngữ pháp,bên cạnh kiến thức về ngoại ngữ, người học còn cần phải trau dồi kiến thức vềvăn hóa Như chúng ta đã biết, trong lịch sử, Việt Nam và Hàn Quốc cùngthuộc châu Á và chịu ảnh hưởng của Trung Hoa nên văn hóa có nhiều điểmtương đồng, nhưng không vì thế mà ít khác biệt, cụ thể là khác biệt về ngônngữ Đành rằng khác biệt về loại hình ngôn ngữ là điều hiển nhiên, song điềuchúng tôi muốn bàn tới ở đây là những lối ứng xử ngôn ngữ trong giao tiếp.
Từ sau khi thiết lập quan hệ ngoại giao (1992), Việt Nam và Hàn Quốc
đã diễn ra nhiều hoạt động giao lưu toàn diện từ kinh tế, chính trị, cho đến vănhóa, giáo dục Việc thành lập Trung tâm văn hóa Hàn Quốc tại Việt Nam,cũng là đầu tiên ở Đông Nam Á năm 2006, ra đời ngày càng nhiều các cơ sởgiáo dục đào tạo tiếng Hàn và Hàn Quốc học1, số dự án cũng như quy mô đầu
tư của Hàn Quốc vào Việt Nam ngày càng tăng2, tổng số du học sinh ViệtNam sang Hàn Quốc học tập tăng hàng năm (Theo số liệu thống kê của Bộ kỹ thuật khoa học giáo dục Hàn Quốc năm 2012, tổng số du học sinh Việt Nam đang học tập tại Hàn Quốc là 2447)3đã minh chứng mạnh mẽ cho điều này Trongnhững nhân tố thúc đẩy cho quan hệ hữu nghị Việt Nam – Hàn Quốc ngàycàng trở nên tốt đẹp hơn, không thể không kể đến các thế hệ bạn trẻ đang theohọc tiếng Hàn tại Việt Nam Bằng vốn tiếng Hàn của mình, họ đã tham giacác hoạt động giao lưu Việt – Hàn giúp quảng bá văn hóa Hàn Quốc tới ViệtNam (như thi viết về Hàn Quốc, thi nói tiếng Hàn, thi ảnh v.v…), trở thànhphiên dịch viên cho các doanh nghiệp, tổ chức Hàn Quốc, v.v Các khoa, bộ
1 PGS.TS Phan Thị Thu Hiền, “Bộ môn Hàn Quốc học Trường ĐHKHXH-NV- ĐHQG TP.Hồ Chí Minh từ năm 2010: Bối cảnh mới, phương hướng mới và những thành tựu mới” Việt Nam có 15 trường Đại học và
Trang 9môn đào tạo tiếng Hàn và Hàn Quốc học đang dần khẳng định mình trên conđường cạnh tranh với các thứ tiếng khác Kỳ tuyển sinh đại học năm 2014,Khoa Ngôn ngữ và Văn hóa Hàn Quốc tại trường Đại học Ngoại ngữ, Đại họcQuốc gia Hà Nội có số điểm tuyển đầu vào lần đầu tiên sau 20 năm thành lậpcao nhất trường (30,5) vượt qua các Khoa đào tạo tiếng Anh và tiếng Nhật.Đáp ứng xu thế này, cần phải dành nhiều quan tâm hơn nữa cho việc nghiêncứu làm thế nào để dạy và học tiếng Hàn cho hiệu quả.
Trước thực tế hoạt động giao lưu hợp tác trên mọi phương diện diễn rasôi nổi và rộng rãi khắp toàn cầu, ngoại ngữ trở thành phương tiện chính kếtnối những người dân đến từ những đất nước có nền văn hóa khác nhau Cũng
từ đó, việc giáo dục văn hóa quốc tế đã và đang ngày càng được chú trọnghơn Và ngày nay đã xuất hiện xu hướng chung là để sử dụng thành thạo mộtngoại ngữ, người học không nên chỉ dừng lại ở việc học thuộc nghĩa từ và cấutrúc ngữ pháp, mà còn phải học văn hóa, đặc biệt là văn hóa giao tiếp TiếngHàn cũng là một ngoại ngữ, nên việc dạy và học tiếng Hàn không nằm ngoàitrường hợp này Trong bối cảnh Việt Nam và Hàn Quốc có nhiều hoạt độnggiao lưu diễn ra, hai nền văn hóa thuộc Đông Nam Á và Đông Bắc Á gặpnhau và tạo ra hiện tượng giao thoa văn hóa Vậy giao thoa văn hóa Việt –Hàn có ảnh hưởng như thế nào tới việc học tiếng Hàn của người Việt, sẽ lànhững vấn đề chính được nghiên cứu trong đề tài này
Trang 10Thị Hương (2012)) và chưa đề cập đến yếu tố văn hóa trong việc học tiếngHàn của người Việt.
Luận văn tiếng Hàn của học giả người Hàn: nhìn chung các tác giả đều
đề cập đến việc dùng văn hóa như một công cụ để tăng hiệu quả việc họcngoại ngữ như Min Hyun Sik (1996), Kim Jeong Sook (1997), Jo Hang Nok(1998) (2000) (2001), Han Sang Mi (1999), Yoon Yeo Thak (2000), Seong KiCheol (2001), Park Yeong Soon (2002), Lee Mi Hye (2004) Đối tượng vănhóa được đem so sánh đối chiếu với văn hóa Hàn Quốc phần lớn là văn hóa
Mỹ qua nghiên cứu của Park Chae Yeong (2002), Park Hee Eun (2007) Bêncạnh văn hóa giao tiếp, đất nước, lịch sử, con người Hàn Quốc cũng được đưavào nội dung giảng dạy văn hóa Có nhiều nghiên cứu hướng tới soạn giáotrình văn hóa như thế nào cho phù hợp và hỗ trợ được việc học tiếng Hàn nhưnghiên cứu của Jo Eun Hee (2003), Park Hye Jeong (2008), Kim Hae Yeong(2008), Lee Jong Sook (2008) Nội dung văn hóa được lựa chọn trong giáodục ngoại ngữ đa dạng liên quan đến phong tục ăn, mặc, ở, các ngày lễ tếtquan trọng, các sự kiện lịch sử quan trọng, đặc điểm chính trị cơ bản cho tớitục ngữ, thành ngữ, v.v…
+ 한국어 숙달도 배양을 위한 한국문화 교육방안 (Đề xuất giảngdạy văn hóa Hàn Quốc nhằm trau dồi khả năng thành thạo tiếng Hàn) củaKim Jeong Suk (1997) đưa ra nội dung, phương hướng và trình tự giảng dạy vănhóa song song cùng dạy tiếng Hàn Tác giả cho rằng việc dạy văn hóa trong họcngoại ngữ không phải đơn phương chỉ tìm hiểu về văn hóa của ngôn ngữ đích, màphải là quá trình biện chứng quan sát và phân tích cả văn hóa của ngôn ngữ đích vàvăn hóa của tiếng mẹ đẻ Bốn phương hướng giảng dạy văn hóa được đặt ra là (1)
Trang 11hình ảnh, video, v.v… nhằm cung cấp thông tin một cách khách quan Trình tự giảngdạy văn hóa được tác giả mô tả lần lượt theo trình tự quyết định chủ đề, giải thíchhiện tượng văn hóa, thảo luận về văn hóa của ngôn ngữ đích, chuyển sang phần dạyngôn ngữ và vận dụng, kiểm tra sự thay đổi nhận thức, kiểm tra mức độ thành thạo vềngôn ngữ • văn hóa.
phương pháp giảng dạy văn hóa để nâng cao năng lực tiếng Hàn) của Kim BoYeong (2008) đã đưa ra 2 phương án giảng dạy văn hóa hiệu quả để nâng caonăng lực tiếng Hàn, đó là (1) phương án giảng dạy lấy người dạy làm trungtâm (bao gồm (a) kể chuyện văn hóa, (b) dạy văn hóa qua tục ngữ, quán ngữ,(c) dạy văn hóa qua văn học, (d) dạy văn hóa qua truyền thuyết), (2) phương
án giảng dạy lấy người học làm trung tâm (bao gồm các hoạt động (a) diễnkịch, (b) trải nghiệm văn hóa, (c) phỏng vấn, (d) kể truyện)
+ 한국어 교육과 문화 교육 (Giảng dạy tiếng Hàn và văn hóa HànQuốc) của Seong Gi Cheol (2001) đã phân loại các hình thức giảng dạy vănhóa làm hai loại chính là (1) dạy kết hợp với ngôn ngữ, (2) dạy tách rời vớingôn ngữ Loại hình (1) được chia thành 2 loại nhỏ là (a) kết hợp hoàn toàn(tài liệu ngôn ngữ có nội dung hoàn toàn về văn hóa), (b) kết hợp bộ phận(trong tài liệu ngôn ngữ có chứa các yếu tố văn hóa) Loại hình (2) cũng đượcchia thành 2 loại hình nhỏ hơn là (a) tổ chức giờ học văn hóa riêng, (b) tổchức hoạt động trải nghiệm văn hóa
+ 영어권 한국어 학습자를 위한 문화 학습 방안 연구 (Nghiên cứuphương án học văn hóa cho những người nước nói tiếng Anh học tiếng Hàn)của Park Hee Eun (2007) đã so sánh văn hóa Hàn Quốc và văn hóa Mĩ quacác giá trị văn hóa truyền thống Từ đó, tác giả đưa ra những nét khác biệt
Trang 12trong văn hóa giao tiếp và văn hóa ứng xử của người Hàn và người Mĩ Đây là
ví dụ điển hình về nghiên cứu đưa yếu tố giao văn hóa vào giảng dạy tiếngHàn đề cập đến quan hệ giữa văn hóa và ngôn ngữ, quan hệ giữa văn hóa vàgiao tiếp
Như vậy phần lớn các nghiên cứu tại Hàn Quốc liên quan đến đề tàinày đều thống nhất ở điểm văn hóa là yếu tố quan trọng nếu muốn trau dồimột khả năng ngoại ngữ tốt, và đưa ra các giải pháp đa dạng để vận dụng vănhóa vào nâng cao năng lực ngoại ngữ như chọn lọc nội dung văn hóa đưa vàogiảng dạy, hoàn thiện, sửa đổi giáo trình, dạy văn hóa kèm vào giờ học ngoạingữ Tuy nhiên nội dung văn hóa được đưa ra mới chỉ mang tính chất giớithiệu chứ chưa liên đới so sánh với ngôn ngữ của quốc gia đó, hoặc các ví dụđưa ra thường bị trùng lặp, và mới chỉ nhìn nhận văn hóa từ một chiều Vớicác nghiên cứu đối chiếu với văn hóa Mỹ, các ví dụ minh họa cho sự khácbiệt về văn hóa chưa phong phú và đa dạng
Các nghiên cứu tại Việt Nam cũng đã bắt đầu đề cập đến giao thoa văn
hóa, nhưng các nghiên cứu đều dừng lại ở mức độ ảnh hưởng của giao thoavăn hóa đến tâm lý người tham gia giao tiếp do những khác biệt về văn hóa ởgóc độ lý thuyết chung Lê Viết Dũng với bài viết “Giao thoa văn hóa trongdạy-học ngoại ngữ: về một vài thói quen trong giao tiếp của người Việt ảnhhưởng đến việc học ngoại ngữ” (2009) nhấn mạnh rằng người dạy ngoại ngữcần nắm được những thói quen ngôn ngữ đặc trưng của người Việt và quốcgia sử dụng ngoại ngữ đang theo học để giúp người học vượt qua những trởngại về tâm lý Lê Viết Dũng cho rằng thói quen quan trọng nhất trong giaotiếp ngôn ngữ của người Việt là sự phân biệt ứng xử với thành viên trongcùng nhóm và ứng xử với người ngoài nhóm
Trang 13Trong bài “Văn hóa, giao thoa văn hóa và giảng dạy ngoại ngữ” đăngtrên Tạp chí Khoa học ĐHQGHN, Ngoại ngữ 24 (2008), tác giả NguyễnQuang đã đưa ra sơ đồ mô phỏng quá trình dẫn đến xung đột văn hóa, trong
đó giao thoa văn hóa chính là chất xúc tác trung gian để quá trình này xảy ra.Tác giả cho rằng khởi đầu của quá trình này là các tiền niệm của đối tác, khitham gia giao tiếp, những tiền niệm này khiến người tham gia giao tiếp cócách diễn giải sai lệch, dẫn đến hiểu sai lệch, làm xảy ra sốc văn hóa
Như vậy tại Việt Nam, tuy đã có bài viết đề cập đến vai trò quan trọngcủa giao thoa văn hóa trong học ngoại ngữ nhưng vẫn còn mang đậm tính lýthuyết và chưa đi vào các ngôn ngữ cụ thể Vì vậy, là giáo viên dạy tiếng Hàn,người viết có hướng triển khai chỉ ra giao thoa văn hóa trong việc học tiếngHàn của người Việt dựa trên việc liên hệ giữa văn hóa Hàn Quốc với văn hóaViệt Nam, hoạt động giao tiếp của người Hàn với người Việt, từ đó chỉ ranhững mặt tiêu cực và tích cực của quá trình giao thoa văn hóa và đưa ra biệnpháp khắc phục
3 Mục đích nghiên cứu
Bài nghiên cứu tập trung vào tổng hợp các đặc trưng văn hóa của HànQuốc, từ đó tìm ra sự phản chiếu của văn hóa trong hoạt động giao tiếp củangười Hàn Đây sẽ là căn cứ để liên hệ với hoạt động giao tiếp của người Việt,nhằm hướng tới mục đích sau cùng là tìm ra điểm thuận lợi và khó khăn củangười Việt khi học tiếng Hàn Cố gắng giải quyết được vấn đề này, sẽ giúpcho cả người dạy và người học tiếng Hàn tìm ra được biện pháp khắc phụchợp lý và hiệu quả Chúng tôi hy vọng rằng điều này sẽ giúp cho những ngườiquan tâm đến tiếng Hàn có thể hiểu hơn về văn hóa Hàn Quốc cũng như tiếngHàn, để học tiếng Hàn hiệu quả hơn
Trang 144 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
Trong quá trình giảng dạy tiếng Hàn, người viết nhận thấy rằng ngườihọc thường áp dụng một cách máy móc các quy tắc trong ngôn ngữ đích gây
ra hiện tượng cứng nhắc và gượng ép trong diễn đạt Bên cạnh đó, khi cónhững cấu trúc, cách thức biểu hiện không giống hoặc không có trong tiếng
mẹ đẻ, người học thường không hiểu tường tận, dẫn tới tránh hoặc ngại vậndụng Hoặc trong quá trình dịch, cố gắng chuyển dịch từng câu chữ từ tiếng
mẹ đẻ sang ngôn ngữ đích mà đánh mất tính tự nhiên mạch lạc của bản dịch.Người viết cho rằng những lỗi như trên xuất phát từ nguyên nhân người họcchưa hiểu rõ văn hóa đất nước mình đang theo học tiếng Văn hóa là một kháiniệm rộng lớn bao trùm nhiều lĩnh vực khác nhau, từ kinh tế, chính trị, tôngiáo, giáo dục, v.v… Không phải lúc nào cũng có thể tìm được ảnh hưởngtrực tiếp của văn hóa lên các đặc trưng ngôn ngữ, nhưng hầu như các mặttrong văn hóa đều tác động đến lối tư duy, cách cư xử trong giao tiếp Trong
đề tài này, với mục đích vận dụng giao thoa văn hóa vào học ngoại ngữ hiệuquả, người viết sẽ trình bày 8 đặc điểm văn hóa đúc rút được là có ảnh hưởngđến hoạt động giao tiếp của người Hàn, bao gồm:
Trang 15Những đặc điểm văn hóa này được đối chiếu, dẫn chứng qua các biểu hiệnngữ pháp, hoặc từ vựng trong giao tiếp của người Hàn Lấy 8 đặc điểm vănhóa này làm gốc, người viết đối chiếu sang hoạt động giao tiếp của người Việt,tìm điểm tương đồng và khác biệt để tìm hiểu thuận lợi và khó khăn của giaothoa văn hóa đối với người Việt học tiếng Hàn Cuối cùng người viết đề xuấtphương án khắc phục qua việc dạy kèm văn hóa giao tiếp trong các giờ dạythực hành tiếng.
5 Phương pháp nghiên cứu
Trong luận văn này, chúng tôi sử dụng các phương pháp nghiên cứusau đây:
- Tổng hợp 8 đặc điểm văn hóa Hàn Quốc có ảnh hưởng đến hoạt độnggiao tiếp của người Hàn
- Dẫn chứng cho 8 đặc điểm văn hóa nói trên bằng các ví dụ trong hoạtđộng giao tiếp của người Hàn
- Chiếu 8 đặc điểm văn hóa trên sang hoạt động giao tiếp của người Việt,
so sánh và chỉ ra giao thoa văn hóa xảy ra như thế nào, có ảnh hưởng gìđến việc học tiếng Hàn của người Việt
6 Đóng góp của luận văn
Nghiên cứu đề tài này, chúng tôi có những đóng góp sau:
- Phát hiện các đặc điểm văn hóa Hàn Quốc có ảnh hưởng đến hoạt độnggiao tiếp của người Hàn
- Lý giải một số đặc điểm ngôn ngữ của tiếng Hàn trên góc độ văn hóa
- Chỉ ra hiện tượng giao thoa văn hóa xảy ra ở người Việt học tiếng Hànnhư thế nào, dẫn chứng bằng các ví dụ trong giao tiếp ngôn ngữ của cảtiếng Hàn và tiếng Việt
Trang 16- Đưa ra biện pháp khắc phục khi giao thoa văn hóa ảnh hưởng tiêu cựcđến việc học tiếng Hàn của người Việt.
- Luận văn hoàn thành sẽ trở thành tài liệu hữu ích cho những người ViệtNam đang giảng dạy hoặc theo học tiếng Hàn, có quan tâm đến tiếngHàn cũng như văn hóa Hàn Quốc
7 Cấu trúc của luận văn
Ngoài phần mở đầu, phần kết luận, tài liệu tham khảo và phụ lục, nộidung luận văn được triển khai thành 3 chương:
Chương 1: Cơ sở lí luận
Chương 2: Những đặc điểm văn hóa ảnh hưởng đến hoạt động giao tiếpcủa người Hàn
Chương 3: Ảnh hưởng của giao thoa văn hóa tới việc học tiếng Hàn củangười Việt và phương án khắc phục
Trang 17Chương 1:
CƠ SỞ LÍ LUẬN 1.1 Quan hệ giữa văn hóa và ngôn ngữ
Tại sao phải tìm hiểu về ảnh hưởng của giao thoa văn hóa đối với việchọc tiếng Hàn của người Việt? Chúng tôi lựa chọn đề tài này là dựa trênnhững cơ sở lí luận sẵn có về mối quan hệ giữa văn hóa và ngôn ngữ
Trước khi đưa ra cơ sở lí luận về quan hệ giữa văn hóa và ngôn ngữ,
chúng tôi xin đưa ra khái niệm về văn hóa và ngôn ngữ Về văn hóa, có hàng
trăm các định nghĩa về văn hóa, mỗi định nghĩa đều phản ánh một cách nhìnnhận và đánh giá khác nhau tùy theo mục đích nghiên cứu Người viết xintrích lại một vài định nghĩa tổng quát nhất về văn hóa Nhà nhân loại họcngười Anh Edward Burnett Tylor (1832-1917) đã đưa ra định nghĩa: “Vănhóa hiểu theo nghĩa rộng trong dân tộc học là một tổng thể phức hợp gồm:kiến thức, đức tin, nghệ thuật, đạo đức, luật pháp, phong tục, và bất cứ khảnăng, tập quán nào mà con người thu nhận được”4 UNESCO trải qua nhiềulần sửa đổi, năm 2002 đã đưa ra định nghĩa về văn hóa như sau: “Văn hóa nênđược đề cập đến như là một tập hợp của những đặc trưng về tâm hồn, vật chất,tri thức và xúc cảm của một xã hội hay một nhóm người trong xã hội và nóchứa đựng, ngoài văn học và nghệ thuật, cả cách sống, phương thức chungsống, hệ thống giá trị, truyền thống và đức tin” Lý do chúng tôi đưa ra hai
định nghĩa này vì: định nghĩa thứ nhất cho thấy tính bao trùm của văn hóa
chứa đựng mọi khía cạnh liên quan đến lối sống, tư duy và năng lực của con
người tồn tại trong nền văn hóa đó, tích lũy được qua thời gian; định nghĩa thứ hai đã bổ sung thêm chủ thể của văn hóa, là “một xã hội hay một nhóm
người trong xã hội”, từ đây hé mở sự tồn tại về những khác biệt văn hóa giữacác chủ thể văn hóa, hay nói cách khác là sự khác biệt văn hóa giữa xã hội
Trang 18này với xã hội khác, giữa nhóm người này với nhóm người khác trong xã hội.Hai định nghĩa này đã gián tiếp chỉ ra hai đối tượng mà chúng tôi muốn bàntới là ngôn ngữ (là khả năng mà con người thu nhận được), và con người (làchủ thể của văn hóa, đồng thời là chủ thể thực hiện hoạt động ngôn ngữ).
Vậy còn ngôn ngữ là gì? C.Mác và V.I Lênin đã đưa ra định nghĩa
“…giống như ý thức, ngôn ngữ chỉ nảy sinh ra do nhu cầu, do sự cần thiết cấpbách phải giao tiếp với những người khác”, “Ngôn ngữ là phương tiện giaotiếp quan trọng nhất của con người”5 Cách định nghĩa này đã giải thíchnguồn gốc ra đời của ngôn ngữ là xuất phát từ chính nhu cầu thiết yếu của conngười, mặt khác cho biết vai trò và chức năng của ngôn ngữ
Với nguồn gốc ra đời và chức năng chính là giao tiếp như trên, ngônngữ có mối quan hệ như thế nào với văn hóa? Có hai quan điểm được bàn đến,
thứ nhất, những người theo quyết định luận ngôn ngữ học (linguistic
determinism) của Whorf thì cho rằng ngôn ngữ quy định văn hóa vì “người takhông thể nhận thức thế giới một cách tự do mà phải nhận thức thông quangôn ngữ”6trong khi ngôn ngữ lại có tính võ đoán, “Ngôn ngữ không những
tự do lựa chọn cái biểu hiện mà còn lựa chọn một cách võ đoán cái được biểuhiện”7 Nghĩa là khi ngôn ngữ gọi tên sự vật, hiện tượng nào thì cách mà ngônngữ gọi tên và sự vật hiện tượng đó thực chất không có mối tương quan, ràngbuộc nào Vì vậy, người ta cho rằng ngôn ngữ là cái quy định văn hóa Trên
thực tế, quyết định luận ngôn ngữ học và tương đối luận ngôn ngữ học của
Whorf đã bị phản bác cho là luẩn quẩn và không vững Nguyễn Thiện Giáp(2008:82) nhận định “không phải tất cả các cái được biểu hiện đều là võ đoán
và những cái võ đoán cũng không võ đoán hoàn toàn”, “tính võ đoán của
Trang 19ngôn ngữ không phải là tuyệt đối” “mà nó bị hạn chế bởi một trường văn hóariêng biệt mà từ đó ngôn ngữ đã phân xuất ra những cái được biểu hiện của
nó” Vì thế mới tồn tại quan điểm thứ hai cho rằng văn hóa quy định ngôn
ngữ Thực vậy, văn hóa bao gồm mọi sản phẩm có giá trị vật chất và tinh thần
do con người sáng tạo ra trong quá trình tương tác với môi trường xung quanh,
mà ngôn ngữ chính là sản phẩm của loài người được tạo ra do nhu cầu giaotiếp, như vậy ngôn ngữ chính là một thành tố văn hóa Nằm trong văn hóa,ngôn ngữ không thể tồn tại, vận động và phát triển tách rời khỏi văn hóa,giống như con người ở đất nước có văn hóa gốc nông nghiệp mang tính cáchkhác với con người văn hóa gốc công nghiệp Như vậy mặc dù ngôn ngữ cóthể tự do lựa chọn những cái được biểu hiện một cách võ đoán nhưng vẫnnằm trong phạm vi ranh giới văn hóa nhất định Cũng giống như trong tiếngViệt có nhiều từ để miêu tả quá trình trồng lúa, từ khi gieo mạ, cày cấy, tuốtlúa, phơi thóc cho đến khi thành gạo, còn trong tiếng Anh thì chỉ có từ “rice”
để chỉ gạo, nhưng điều đó không có nghĩa chỉ ở Việt Nam mới có thóc và gạo.Rivers (1964) đã nhấn mạnh: “Ý nghĩa trọn vẹn của một từ đối với mỗi cánhân là kết quả của sự tổng hợp các kinh nghiệm mà một người có được về từ
đó trong môi trường văn hóa nơi họ lớn lên Vì thế, không thể tách rời hoàntoàn một ngôn ngữ khỏi nền văn hóa mà nó được ôm trọn lấy bên trong”8.Brown thì cho rằng: “Ngôn ngữ là một bộ phận của văn hóa và văn hóa là một
bộ phận của ngôn ngữ; chúng gắn bó với nhau chặt chẽ và phức tạp tới mứckhông thể tách rời chúng riêng rẽ nếu không làm đánh mất đi ý nghĩa hoặc vềmặt ngôn ngữ, hoặc về mặt văn hóa”9 Trong cuốn “Đặc trưng văn hóa – dântộc của ngôn ngữ và tư duy” (2010), Nguyễn Đức Tồn đã cụ thể mối quan hệ
8 “the full meaning of a word for an individual is the result of the sum total of experience which he has had with that word in the cultural environment in which he has grown up Therefore a language can not be separated completely from the culture in which it is deeply embedded” [26:84]
Trang 20giữa văn hóa và ngôn ngữ theo những ý (1) “ngôn ngữ được xem như một yếu
tố hay một bộ phận hữu cơ của văn hóa”, (2) “Ngôn ngữ là một trong nhữngthành tố đặc trưng nhất của bất cứ nền văn hóa dân tộc nào Chính trong ngônngữ, đặc điểm của một nền văn hóa dân tộc được lưu giữ lại rõ ràng nhất”, (3)
“Trong thời đại hiện nay, quá trình trao đổi văn hóa giữa các dân tộc đangdiễn ra mạnh mẽ, mà ngôn ngữ là phương tiện quan trọng nhất của sự trao đổiđó” Cách nhận định này đã chỉ ra rằng ngôn ngữ tồn tại và phát triển songsong với văn hóa, và đóng vai trò kết nối giữa các dân tộc có ngôn ngữ khácnhau trong thời đại toàn cầu hóa, đặc biệt là mỗi một ngôn ngữ lại mang trongmình những đặc trưng tiêu biểu của một nền văn hóa, do được hình thành vàphát triển chính nhờ những con người tồn tại trong cộng đồng văn hóa đó.Ngoài ngữ pháp tạo sinh tồn tại trong ngôn ngữ của dân tộc đó, mỗi ngôn ngữluôn chứa đựng cách thức tư duy, giá trị tinh thần thể hiện văn hóa của dântộc sử dụng ngôn ngữ ấy, góp phần phân biệt các nền văn hóa với nhau
Trong cuốn “Giáo trình ngôn ngữ học” (2008), Nguyễn Thiện Giáp đưa
ra mối quan hệ phổ niệm ngôn ngữ học được sinh ra từ sự phối hợp phổ niệmsinh học và văn hóa hoặc chức năng, và chỉ ra rằng “sự khác nhau ở một hoặchơn trong các diện đó sẽ tạo cho các ngôn ngữ những cấu trúc từ vựng và ngữpháp riêng của chúng”10 Tác giả còn khẳng định rằng ngôn ngữ không phảnánh thụ động văn hóa, mà khi những đặc trưng văn hóa thay đổi thì ngôn ngữcũng vận động thay đổi theo Tác giả viết “Những nhu cầu mới tăng lên trongvăn hóa, ngôn ngữ của nó đáp ứng bằng cách sáng tạo ra các từ mới, vaymượn từ của ngôn ngữ khác, hoặc gắn các nghĩa mới cho từ đã có”11
Như vậy, ngôn ngữ từ thuở sơ khai sinh ra và trở thành thành tố củavăn hóa, kế đó vận động và phát triển biện chứng với văn hóa cho thấy quan
Trang 21hệ chặt chẽ không thể tách rời của văn hóa và ngôn ngữ Trong mối quan hệ
đó, văn hóa là nền tảng và môi trường sinh sôi, ngôn ngữ là sự phản ánh vàsản phẩm của văn hóa Điều này cũng có nghĩa việc xuất phát từ đặc trưngvăn hóa để lý giải cho các đặc trưng ngôn ngữ của một dân tộc là hết sức cầnthiết cho người học ngoại ngữ để hiểu cặn kẽ và sử dụng thuần thục ngoại ngữ
đó Cụ thể hơn, vai trò của tìm hiểu văn hóa trong học ngoại ngữ được thểhiện như thế nào, sẽ được bàn đến ở phần tiếp theo
1.2 Vai trò của tìm hiểu văn hóa trong học ngoại ngữ
“Ngoại ngữ” thực chất là cách chúng ta gọi một ngôn ngữ của nướckhác mà không phải là tiếng mẹ đẻ Vì vậy, ngoại ngữ cũng chính là ngôn ngữ,
và không nằm ngoài mối quan hệ hữu cơ với văn hóa Vậy việc tìm hiểu vănhóa có vai trò như thế nào trong học ngoại ngữ? Có thể khái quát vai trò đóqua một vài nét sau:
- Tăng cảm quan ngôn ngữ mình theo học: Quá trình theo học ngoại
ngữ là một quá trình lâu dài và trải qua nhiều giai đoạn Một người được coi
là có khả năng ngoại ngữ thành thạo phải là người không chỉ nói đúng ngữpháp, mà còn biết lựa chọn cách nói nào phù hợp ngữ cảnh, văn hóa để thuyếtphục người nghe Một nhà tâm lí xã hội học đã mô tả “Trong khi thụ đắc ngônngữ thứ hai, sinh viên phải đối mặt với nhiệm vụ không đơn giản là thông tinmới… một phần của nền văn hóa của mình mà là thụ đắc các yếu tố biểutrưng của cả một cộng đồng ngữ tộc khác hẳn Từ mới không đơn thuần là từmới theo quan điểm cũ, ngữ pháp mới không đơn thuần là cách nói khác củaviệc sắp đặt từ, cách phát âm mới không hoàn toàn chỉ là cách nói khác của sựvật Chúng là những đặc điểm của cộng đồng ngữ tộc khác Hơn thế nữa, sinhviên không chỉ được yêu cầu học về chúng mà còn phải thụ đắc chúng để biến
Trang 22yếu tố của nền văn hóa khác vào cuộc sống không gian vũ trụ của chínhmình.”12Tìm hiểu về văn hóa sẽ tăng được cảm quan ngôn ngữ ở người học,tránh mắc phải các lỗi sai do khác biệt văn hóa Có thể lấy ví dụ rất gần về vaitrò tối quan trọng của văn hóa trong học ngoại ngữ ngay từ những bài học đầutiên Dù là học tiếng nước nào, các bài đầu tiên khi học ngoại ngữ luôn làcách chào hỏi, bởi lẽ trước khi bắt đầu câu chuyện, con người khi gặp nhauđều chào hỏi, và chào hỏi cũng được coi là một trong các phép lịch sự hàngđầu cần thực hiện Đối với người Hàn Quốc, cách chào phổ biến nhất là cúiđầu nghiêng khoảng 45 độ để thể hiện sự kính trọng với đối phương Khó cóthể tưởng tượng khi một học sinh đi qua giáo sư Hàn Quốc, miệng nói chàonhưng dùng tay vẫy Bài học văn hóa được rút ra ở đây là phép lịch sự cũngnhư tôn ti trên dưới ở Hàn Quốc đặc biệt được coi trọng Nhờ làm quen vớivăn hóa như vậy, người học sẽ bớt cảm giác bỡ ngỡ khi được dạy về các phépkính ngữ trong tiếng Hàn.
- Hạn chế xung đột văn hóa: Kim Jeong Sook (1997) đã từng nhấn
mạnh ngôn ngữ vừa là phương tiện truyền tải và sáng tạo ra văn hóa, vừa làmột trong các yếu tố thể hiện đặc trưng văn hóa rõ nét nhất Vì vậy việc traudồi vốn hiểu biết về văn hóa của nước bạn sẽ giúp người học hiểu rõ cáchhành xử của đối phương có bối cảnh văn hóa khác, đồng thời tránh áp đặt vănhóa bản địa vào văn hóa nước bạn Ví dụ như người Hàn trong môi trườnglàm việc, họ thường chào tạm biệt bằng câu “수고하세요.” có nghĩa là “Hãylàm việc chăm chỉ nhé” Nếu không hiểu đặc tính của người Hàn là chăm chỉ,cần mẫn, quí trọng lao động thì khi nghe như vậy rất dễ cảm thấy phật lòng.Hay như trong tiếng Việt, mọi người xưng hô với nhau theo cách xưng hôtrong thân tộc Với cách xưng hô như vậy, cả xã hội là một đại gia đình, ai
Trang 23cũng có thể gọi là anh, em, cô, dì, chú, bác Nhưng người Việt học tiếng Hànkhông thể áp đặt cách xưng hô như vậy khi sử dụng tiếng Hàn, đặc biệt trongmôi trường làm việc như công ti, vì người Hàn rất coi trọng vị trí chức vụ, tôn
ti trong công ti Trong tiếng Hàn, cách xưng hô giữa hai người được xác lậpkhông phải dựa trên tuổi tác, địa vị giữa hai người mà phải căn cứ trên sơ đồquan hệ tập thể Nếu hiểu được nét văn hóa này, người Việt sẽ tránh đượcviệc xưng hô sai, dễ gây hiểu lầm là không tôn ti trật tự trên dưới
Những ví dụ trên đây chủ yếu được đưa ra trên góc độ giao tiếp, vậycòn trường hợp những người không dùng ngoại ngữ để giao tiếp, như côngviệc biên dịch tại gia, không giao tiếp với người bản địa thì có nhất thiết phải
đề cao vai trò của văn hóa trong việc học ngoại ngữ hay không? Trên thực tế,cho dù chỉ nhận công việc dịch thuật tại nhà, hay trả lời email của đối tác, khi
đã sử dụng ngoại ngữ, người sử dụng đều đã tham gia vào quá trình chuyển di,chuyển nội dung ngoại ngữ sang tiếng mẹ đẻ và ngược lại Quá trình ấy sẽ đạtđược hiệu quả cao hơn nếu có kiến thức về văn hóa Ví dụ khi trao đổi quaemail với người Hàn Quốc, khi muốn nhờ vả đối phương làm gì, biết đượcvăn hóa trọng hình thức, lễ nghi của người Hàn, để giữ thái độ nhã nhặn vàthể hiện sự tôn trọng với đối phương, không phải là ra lệnh, người viết nêndùng các cách nói “mong/ hy vọng” “-기를 바랍니다” , “trông cậy vàoanh/chị” “잘 부탁드립니다”, hoặc “sẽ rất biết ơn nếu anh/chị làm như thế”
기다리겠습니다”…thay vì bảo đối phương “hãy làm gì”
Từ những ví dụ trên đây có thể khẳng định rằng không thể tách rời vănhóa khỏi học ngoại ngữ Những hiểu biết về văn hóa sẽ giúp người học cóđược cảm quan ngôn ngữ tốt và hạn chế được phần nào các xung đột văn hóa
Trang 24được hiệu quả sử dụng ngoại ngữ tối ưu, tránh được các hiểu lầm không đáng
có và duy trì được mối quan hệ tốt đẹp
1.3 Giao thoa văn hóa và giao tiếp
Khi nói đến văn hóa trong học ngoại ngữ, mọi người thường có xuhướng nghĩ tới văn hóa của nước nói ngoại ngữ ấy, mà ít khi nghĩ đến văn hóacủa nước bản địa Nhưng trên thực tế, người học ngoại ngữ lại rất hay áp dụnglối nói của tiếng mẹ đẻ vào việc học tiếng tạo ra ngôn ngữ trung gian Vậyxảy ra quá trình gì khi hai nền văn hóa gặp nhau trong cùng một người học,
và quá trình ấy tác động thế nào đến hoạt động giao tiếp ngoại ngữ của ngườihọc, dưới đây chúng tôi sẽ bàn đến vấn đề này
1.3.1 Khái niệm giao thoa văn hóa
Trong quá trình học ngoại ngữ, văn hóa bản địa gặp gỡ văn hóa củanước dùng ngoại ngữ ấy tạo nên quá trình giao thoa văn hóa Vậy giao thoa làgì? Giao thoa (interference) theo vật lý học chỉ hiện tượng hai hay nhiều sónglàm tăng cường hay làm suy yếu lẫn nhau khi gặp nhau tại cùng một điểm.Theo Nguyễn Quang (2008:77-78), giao thoa văn hóa là sự tương tác giữa các
nhóm xã hội (social groups), giữa các tiểu văn hóa (sub-cultures), giữa các văn hóa tộc người (ethnic cultures) và giữa các nền văn hóa (cultures) khác
nhau Khi người Việt giao tiếp với người Hàn cũng là khi văn hóa Việt tươngtác với văn hóa Hàn Như vậy, theo quan điểm này, có thể nói giao thoa vănhóa xảy ra trên đối tượng người Việt học tiếng Hàn là giao thoa giữa hai nền
văn hóa Đặc điểm quan trọng nhất của quá trình này đó là tính áp đặt Mặc
dù sự giao thoa diễn ra khi có sự tương tác giữa hai nền văn hóa, nhưng vănhóa của nước người học ngoại ngữ bao giờ cũng có xu hướng lấn át văn hóa
Trang 25thực hành tiếng Hàn Vậy giao thoa văn hóa và giao tiếp có mối quan hệ nhưthế nào? Để trả lời câu hỏi này, trước tiên cần tìm hiểu khái niệm năng lựcgiao tiếp.
1.3.2 Khái niệm năng lực giao tiếp
Cơ sở tồn tại của một xã hội đó là các thành viên trong cùng xã hội phải
có sự giao tiếp với nhau Giao tiếp giúp con người hiểu nhau, trao đổi suynghĩ, ý kiến, cảm xúc, một mặt giúp thắt chặt mối quan hệ giữa các thành viêntrong một cộng đồng xã hội, hoặc giữa các cộng đồng xã hội với nhau, mộtmặt góp phần vào phát triển xã hội Nếu không có sự giao tiếp, bằng cách nàyhay cách khác, mỗi người sẽ tồn tại ở dạng cá thể độc lập không có mối liênquan, giao lưu với nhau, lúc ấy xã hội sẽ không thể tồn tại được
Trên thực tế, con người có thể giao tiếp với nhau qua nhiều cách thứcnhư cử chỉ, các loại dấu hiệu, kí hiệu, âm nhạc, hội họa, v.v… nhưng phươngtiện giao tiếp chủ yếu nhất của con người chính là ngôn ngữ So với cácphương tiện khác, ngôn ngữ có ưu điểm là nhanh chóng, thuận tiện, vô hạn vàthể hiện được hầu như mọi mục đích truyền đạt Ngôn ngữ cử chỉ, hay cácloại dấu hiệu, âm nhạc, hội họa… luôn bị giới hạn bởi sức sáng tạo và khảnăng biểu đạt còn hạn hẹp, mơ hồ và trừu tượng Trong giới hạn của chủ đềnghiên cứu này, năng lực giao tiếp mà đề tài muốn nhắc tới khoanh vùngtrong năng lực giao tiếp của ngôn ngữ
Chomsky (1965:3) chia nhỏ khái niệm học ngôn ngữ thành ngữ năng(linguistic competence) và ngữ hiện (linguistic performance) Ngữ năng dùng
để chỉ trình độ kiến thức về ngôn ngữ để người nói và người nghe có thể giaotiếp trong một xã hội hoàn toàn đồng chất Còn ngữ hiện dùng để chỉ việc một
Trang 26cá nhân trên cơ sở kiến thức về ngôn ngữ đích đã được thụ đắc, vận dụngchúng vào thực tế13.
Nhưng Hymes (1974:423) cho rằng khái niệm về ngữ năng củaChomsky không đủ để giải thích cho chức năng xã hội của ngôn ngữ, và đãđưa ra khái niệm về năng lực giao tiếp (communicative competence) Hymescho rằng những hiểu biết trên phương diện xã hội còn quan trọng hơn nhữnghiểu biết trên phương diện ngôn ngữ, và chỉ ra các nguyên tắc sử dụng ngônngữ trên thực tế đã tồn tại trước cả những quy tắc ngữ pháp tạo sinh, vì thếnếu chỉ dựa trên hiểu biết về ngữ pháp thì không thể thực hiện hoạt động ngônngữ Điều này có nghĩa năng lực giao tiếp không chỉ được hình thành dựa trên
cơ sở các ngữ pháp tạo sinh, mà còn dựa trên những hiểu biết, những kiếnthức nền về xã hội sử dụng ngôn ngữ đó
Tiếp đến, vẫn Hymes (1979:19-24) đã đưa ra 4 yếu tố tạo nên năng lựcgiao tiếp là tính ngữ pháp (grammaticality), khả năng thu nhận (acceptability),tính thích hợp (appropriateness), tính khả thi (probabilities of occurrence).Quan điểm của Hymes về năng lực giao tiếp là phải hợp lý về ngữ pháp, phải
là những câu được phát ngôn trong thực tế, không những phù hợp về phươngdiện xã hội, mà phát ngôn còn phải thúc đẩy một hành động nào đó diễn ra
Canale và Swain (1980) đã bổ sung thêm quan điểm về năng lực giaotiếp bằng năng lực về chiến lược và năng lực về đàm thoại Năng lực đàmthoại là năng lực hiểu ý nghĩa tổng thể của đoạn văn hoặc bài nói được liênkết bởi nhiều câu, và năng lực cấu trúc một đoạn văn hoặc bài nói phù hợpvới một ngữ cảnh nhất định Năng lực có tính chiến lược chỉ năng lực dùngcác cách lặp lại, chần chừ, né tránh, dự đoán hoặc cử chỉ cơ thể, thể hiện trên