Hà Nội 2018 THU NGÂN SÁCH NHÀ NƯỚC ĐỐI VỚI HOẠT ĐỘNG KHAI THÁC KHOÁNG SẢN 2 Các vấn đề liên quan đến tài liệu, vui lòng liên hệ Phòng Nghiên cứu Chính sách Trung tâm Con người và Thiên nhiên Địa chỉ 2[.]
Trang 1THU NGÂN SÁCH NHÀ NƯỚC
ĐỐI VỚI HOẠT ĐỘNG KHAI THÁC KHOÁNG SẢN
Trang 2Các vấn đề liên quan đến tài liệu, vui lòng liên hệ:
Phòng Nghiên cứu Chính sách
Trung tâm Con người và Thiên nhiên
Địa chỉ: 24 H2, Khu đô thị mới Yên Hòa, phường Yên Hòa, quận Cầu Giấy, Hà Nội
ĐT: (024) 3556-4001, máy lẻ 105 Fax: (024) 3556-8941
Email: policy@nature.org.vn
Website: www.nature.org.vn
Đề nghị trích dẫn: Nguyễn Xuân Trường, Nguyễn Thị Hoài Nga, Nguyễn Ngọc Quang,
Nguyễn Minh Phương, 2018 Bài giảng: Thu ngân sách nhà nước đối với hoạt động khai
thác khoáng sản Trung tâm Con người và Thiên nhiên Hà Nội, Việt Nam.
Tài liệu này được thực hiện với sự hỗ trợ của Tổ chức Oxfam Các vấn đề trình bày trong báo cáo là quan điểm của tác giả, không thể hiện quan điểm của nhà tài trợ.
Bản quyền thuộc Trung tâm Con người và Thiên nhiên Nội dung trong tài liệu có thể được sử dụng lại cho các mục đích giáo dục, khoa học và phi lợi nhuận mà không cần xin phép với điều kiện trích dẫn nguồn đầy đủ và được áp dụng cơ chế chia sẻ tương tự
Biên soạnPGS.TS Lê Xuân Trường
PGS.TS Nguyễn Thị Hoài Nga
Ths Nguyễn Ngọc Quang Ths Nguyễn Minh PhươngẢnh minh họa trong ấn phẩm: PanNature
Trang 3MỤC LỤC
LỜI GIỚI THIỆU 8
MỞ ĐẦU 9
CHƯƠNG 1: TÀI NGUYÊN KHOÁNG SẢN VÀ VAI TRÒ CỦA HOẠT ĐỘNG KHOÁNG SẢN TRONG NỀN KINH TẾ QUỐC DÂN 10
1.1 Tài nguyên khoáng sản và hoạt động khoáng sản 10
1.1.1 Khoáng sản 10
1.1.2 Phân loại khoáng sản 12
1.1.3 Đặc điểm của tài nguyên khoáng sản 13
1.1.4 Hoạt động của khoáng sản 13
1.2 Vai trò của hoạt động khoáng sản trong nền kinh tế quốc dân 14
1.3 Các khoản thu ngân sách nhà nước đối với hoạt động khai thác khoáng sản 17
CHƯƠNG 2: CÁC KHOẢN THU RIÊNG ĐỐI VỚI HOẠT ĐỘNG KHAI THÁC KHOÁNG SẢN 18
2.1 Thuế tài nguyên 18
2.1.1 Văn bản pháp lý 18
2.1.2 Đối tượng chịu thuế 19
2.1.3 Người nộp thuế 19
2.1.4 Căn cứ và phương pháp tính thuế 19
2.1.5 Miễn thuế, giảm thuế 22
2.1.6 Kê khai, nộp thuế, quyết toán thuế 22
2.2 Thuế bảo vệ môi trường 23
2.2.1 Văn bản pháp lý 23
2.2.2 Đối tượng chịu thuế 23
2.2.3 Đối tượng không chịu thuế 23
2.2.4 Người nộp thuế 23
2.2.5 Căn cứ và phương pháp tính thuế 23
2.2.6 Hoàn thuế 25
2.2.7 Kê khai nộp thuế 25
2.3 Phí bảo vệ môi trường 25
2.3.1 Văn bản pháp lý 25
Trang 42.4 Thu tiền cấp quyền khai thác khoáng sản 26
2.4.1 Văn bản pháp lý 26
2.4.2 Người nộp tiền cấp quyền khai thác khoáng sản 26
2.4.3 Phương pháp và căn cứ tính tiền cấp quyền khai thác khoáng sản 26
2.4.4 Thu nộp tiền cấp quyền khai thác khoáng sản 26
CHƯƠNG 3: CÁC KHOẢN THU CHUNG ĐỐI VỚI HOẠT ĐỘNG SẢN XUẤT, KINH DOANH 28
3.1 Thuế giá trị gia tăng 28
3.1.1 Văn bản pháp lý 28
3.1.2 Đối tượng nộp thuế 28
3.1.3 Đối tượng chịu thuế 28
3.1.4 Đối tượng không thuộc diện chịu thuế 28
3.1.5 Căn cứ tính thuế 29
3.1.6 Phương pháp tính thuế 30
3.1.7 Hoàn thuế 32
3.1.8 Kê khai, nộp thuế 33
3.2 Thuế xuất khẩu, thuế nhập khẩu 33
3.2.1 Văn bản pháp lý 33
3.2.2 Đối tượng nộp thuế 33
3.2.3 Đối tượng chịu thuế 33
3.2.4 Căn cứ và phương pháp tính thuế 34
3.2.5 Miễn thuế 35
3.2.6 Kê khai, nộp thuế 37
3.3 Thuế thu nhập doanh nghiệp 38
3.3.1 Văn bản pháp lý 38
3.3.2 Đối tượng nộp thuế 38
3.3.3 Thu nhập chịu thuế 38
3.3.4 Căn cứ và phương pháp tính thuế 38
3.3.5 Kê khai, nộp thuế 39
3.3.6 Một số lưu ý về thuế thu nhập doanh nghiệp đối với doanh nghiệp khai thác khoáng sản 39
Trang 5CHƯƠNG 4: CHIA SẢN PHẨM DẦU KHÍ VÀ NGUỒN THU CỦA NHÀ NƯỚC VỚI
HOẠT ĐỘNG DẦU KHÍ TẠI VIỆT NAM 42
4.1 Các quy định hiện hành của Việt Nam về chia sản phầm dầu khí 42
4.1.1 Phân bổ dầu thuế tài nguyên 42
4.1.2 Phân bổ dầu thu hồi chi phí 43
4.1.3 Phân bổ dầu lãi 43
4.1.4 Phân bổ khí thuế tài nguyên 43
4.1.5 Phân bổ khí lãi 44
4.1.6 Thuế, phí và lệ phí 44
4.1.7 Hoa hồng và phí tài liệu 44
CHƯƠNG 5: QUẢN TRỊ HIỆU QUẢ TÀI NGUYÊN THIÊN NHIÊN THÔNG QUA SÁNG KIẾN MINH BẠCH TRONG NGÀNH CÔNG NGHIỆP KHAI THÁC (EITI) 48 5.1 Giới thiệu về Sáng kiến Minh bạch trong ngành công nghiệp khai thác (EITI) 49
5.1.1 Quá trình phát triển của sáng kiến EITI 49
5.1.2 Bộ tiêu chuẩn EITI 2016 49
5.2 EITI - công cụ hỗ trợ trong quản trị hiệu quả tài nguyên 52
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 53
Trang 6DANH MỤC BẢNG
Bảng 1 Phân loại một số dạng khoáng sản theo chất lượng 11
Bảng 2 Vốn đầu tư phát triển ngành khai khoáng trong nền kinh tế quốc dân 15
Bảng 3 Đóng góp của ngành công nghiệp dầu khí Việt Nam trong nền kinh tế quốc dân 16
Bảng 4 Các khoản thu ngân sách nhà nước từ khai thác khoáng sản 17
Bảng 5 Mức thuế suất của các nhóm, loại tài nguyên 20
Bảng 6 Khung biểu thuế bảo vệ môi trường 24
Bảng 7 Thỏa thuận phân bổ sản phẩm dầu 45
Bảng 8 Phân chia sản phẩm và phần thu của các bên tham gia hoạt động dầu khí tại mỏ trong quý 47
Bảng 9 Lịch sử phát triển sáng kiến EITI 49
Trang 7DANH MỤC HÌNH
Hình 1 Phân chia sản phẩm từ khai thác dầu khí 16
Hình 2 Chuỗi giá trị trong ngành công nghiệp khai thác 50
Trang 8LỜI GIỚI THIỆU
1 Thông tin chi tiết về Liên minh Khoáng sản có tại: http://www.eiti.vn
Tài liệu này do Trung tâm Con người và Thiên nhiên,
cơ quan điều phối Liên minh Khoáng sản, phối hợp
cùng các chuyên gia bao gồm PGS.TS Nguyễn
Xuân Trường (Học viện Tài chính, Bộ Tài chính) và
PGS.TS Nguyễn Thị Hoài Nga (Trường Đại học Mỏ -
Địa chất) biên soạn, như một công cụ tham khảo và
nghiên cứu dành cho sinh viên và học viên cao học
trong lĩnh vực tài chính khoáng sản Mục đích của
tài liệu này là đánh giá và phân tích được hiện trạng
để xây dựng, thiết kế và thử nghiệm các bài giảng
chuyên đề về khía cạnh tài chính khoáng sản, tạo
cơ hội cho sinh viên và học viên cao học nắm bắt
và cập nhật những thông tin sát với thực tiễn liên
quan đến chuyên ngành đang học Từ đó đề xuất
các giải pháp để cải thiện chất lượng đào tạo, cập
nhật giáo trình giảng dạy, đáp ứng nhu cầu thực tiễn
về tiêu chuẩn cán bộ, chuyên viên trong lĩnh vực này
tại Việt Nam giai đoạn trước mắt và tương lai
Liên minh Khoáng sản là một mạng lưới gồm 7 tổ
chức có mối quan tâm chung về quản trị hiệu quả
tài nguyên khoáng sản và giảm thiểu các tác động
về môi trường – xã hội trong ngành công nghiệp
khai khoáng ở Việt Nam Liên minh Khoáng sản gồm các thành viên: Trung tâm Con người và Thiên nhiên (PanNature), Phòng Công nghiệp và Thương mại Việt Nam (VCCI), Trung tâm Phát triển và Hội nhập (CDI), Hội Kinh tế Địa chất (thuộc Tổng hội Địa chất Việt Nam), Diễn đàn Nhà báo Môi trường Việt Nam (VFEJ), Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật tỉnh Hà Giang và Hội Nông dân Hòa Bình1.Chúng tôi xin chân thành cảm ơn các chuyên gia, các thành viên Liên minh Khoáng sản đã đóng góp
ý kiến, nhận xét, bổ sung các thông tin, dữ liệu cho tài liệu này Đặc biệt, xin cảm ơn Tổ chức Oxfam thông qua Chương trình Tài Chính Bền vững cho Phát triển (FFD) đã hỗ trợ về tài chính và chuyên môn cho các hoạt động của Liên minh Khoáng sản cũng như việc xuất bản ấn phẩm này
Chúng tôi hy vọng tài liệu này sẽ góp một phần nhỏ vào việc nâng cao hiệu quả quản lý nguồn thu từ khoáng sản nói riêng và quản trị tài nguyên thiên nhiên của Việt Nam nói chung về lâu dài
Trung tâm Con người và Thiên nhiên
Trang 9MỞ ĐẦU
Ngành công nghiệp khai thác đã và đang tạo nguồn
thu đáng kể cho ngân sách quốc gia, đóng vai trò
quan trọng và thậm chí ảnh hưởng đến nhiều hoạt
động kinh tế cũng như nguồn tài chính để quốc gia
phát triển theo các mục tiêu phát triển bền vững
(SDG) Nguồn thu từ công nghiệp khai thác có thể
được sử dụng để đầu tư xây dựng cơ sở hạ tầng
cần thiết, các dự án phục vụ phát triển bền vững, là
nguồn tích lũy giảm thiểu rủi ro tài chính cho quốc
gia qua các cuộc khủng hoảng kinh tế hoặc sẽ được
tích lũy cho các thế hệ tương lai
Nguồn nhân lực tham gia vào các cơ quan quản lý
nhà nước cấp bộ, sở trong lĩnh vực này hầu hết có
trình độ đại học trở lên và đều được đào tạo từ các
khoa và chuyên ngành khác nhau từ các trường đại
học trên toàn quốc Chương trình đào tạo (bao gồm
cả giáo trình/nội dung giảng dạy), phương pháp đào
tạo, kết quả học tập của sinh viên là những điều kiện
cốt lõi, quyết định chất lượng đào tạo, kết quả “đầu
ra” – là những người sẽ tham gia trực tiếp trong hệ
thống quản lý nhà nước về tài chính khoáng sản ở
cấp trung ương và địa phương Ngược lại, cơ quan
quản lý nhà nước, các nhà tuyển dụng và sử dụng
lao động ở cấp bộ và sở lại thường cho rằng sinh
viên mới ra trường chưa có đủ năng lực cũng như
những kiến thức cập nhật về các sáng kiến mới
hay phương pháp quản trị hiệu quả trong lĩnh vực
khoáng sản trên thế giới, để có thể đáp ứng các yêu
cầu tối thiểu của công việc Lao động mới thường
mất thời gian tương đối dài để thích ứng với công
việc và cơ quan sử dụng lao động phải mất thêm
chi phí để đào tạo lại Đặc biệt, thiếu hụt các hiểu biết về các chính sách – quy định về một khía cạnh mới, khó, phức tạp như tài chính khoáng sản cũng như thiếu kỹ năng vận dụng các chính sách, quy định này trong thực tiễn,cũng đang được coi là một thách thức lớn cho lực lượng cán bộ trẻ tiếp cận và thực hiện hiệu quả công việc
Để cung cấp kiến thức một cách có hệ thống cho sinh viên các trường đại học/học viện – những người
sẽ làm việc trực tiếp trong ngành công nghiệp khai khoáng hoặc trong lĩnh vực quản lý tài chính, quản
lý thu ngân sách đối với hoạt động khai thác khoáng sản, Trung tâm Con người và Thiên nhiên, Liên minh khoáng sản phối hợp với Học viện Tài chính và Đại học Mỏ - Địa chất tiến hành biên soạn bài giảng về
“Thu ngân sách nhà nước đối với hoạt động khai thác khoáng sản” làm tài liệu phục vụ giảng dạy, học
tập và tham khảo về tài chính khoáng sản
Bài giảng này sẽ giới thiệu cụ thể các khoản thu ngân sách nhà nước trong lĩnh vực khai thác khoáng sản
và công cụ hỗ trợ quản lý thu hiệu quả Từ đó, giúp người học có thể xác định được những nghĩa vụ tài chính của các doanh nghiệp khai khoáng; giúp minh bạch hóa các khoản thu ngân sách nhà nước đối với lĩnh vực khai thác khoáng sản, nhận diện những
kẽ hở trong việc quản lý thu và áp dụng sáng kiến
hỗ trợ quản lý thu hiệu quả nguồn thu từ khai thác khoáng sản
Trang 101.1 Tài nguyên khoáng sản và hoạt động khoáng sản
1.1.1 Khoáng sản
Khoáng sản: Là những tích tụ vật chất khoáng vật
tự nhiên ở trong hoặc trên vỏ Trái đất, có thể sử dụng
để thoả mãn nhu cầu vật chất và văn hoá của xã hội
loài người Có thể coi khoáng sản tổng hợp là khoáng
sản mà các thành phần có ích được thu hồi có thể so
sánh với nhau theo giá trị của chúng Ngoài tập hợp
các thành phần có ích cơ bản, trong thành phần của
khoáng sản còn thường có mặt nhiều thành phần có
ích đi kèm ở dạng nguyên tố tạo thành các khoáng vật độc lập hoặc nguyên tố phân tán
Theo Luật Khoáng sản (Luật số 60/2010/QH12) của Việt Nam, khoáng sản là khoáng chất có ích được tích tụ tự nhiên ở thể rắn, thể lỏng, thể khí tồn tại trong lòng đất, trên mặt đất, bao gồm cả khoáng vật, khoáng chất ở bãi thải của mỏ
TÀI NGUYÊN KHOÁNG SẢN VÀ VAI TRÒ CỦA HOẠT ĐỘNG KHOÁNG SẢN TRONG
NỀN KINH TẾ QUỐC DÂN
Tóm tắt: Chương này cung cấp cho người học những hiểu biết căn bản về khoáng sản và vai trò của hoạt động khoáng sản trong nền kinh tế quốc dân ở Việt Nam Khoáng sản là tài nguyên không thể tái tạo, cần phải khai thác và sử dụng hợp lý, có hiệu quả, đảm bảo mục tiêu phát triển bền vững, mang lại lợi ích trong hiện tại và tương lai cả về kinh tế, môi trường, được khai thác an toàn trong sự chấp nhận của xã hội
Chương 1
Trang 11Khoáng sản: Là tài nguyên không tái tạo, là tài sản
quan trọng của mỗi quốc gia do đó nó phải được
quản lý, bảo vệ, khai thác hợp lý và có hiệu quả
Mỏ khoáng sản: Là nơi tập trung tự nhiên các
khoáng sản về mặt số lượng, chất lượng và điều kiện
kinh tế kỹ thuật đáp ứng yêu cầu khai thác và sử
dụng trong công nghiệp mà hiện tại có thể khai thác
được (mỏ có giá trị công nghiệp) hoặc trong tương
lai có thể khai thác được (mỏ cận công nghiệp)
Do sự phát triển nhanh của khoa học kỹ thuật,
những công nghệ mới được áp dụng trong khai
khoáng dẫn đến tốc độ khai thác khoáng sản trong
lòng đất tăng nhanh trong nhiều năm trở lại đây,
cùng với công nghệ chế biến khoáng sản ngày càng
hiện đại đã biến những mỏ trước đây không có giá
trị kinh tế thì nay có giá trị rất cao Ví dụ như ở Nga
và Mỹ có những lỗ khoan khai thác dầu sâu từ 5-8
km, Nam Phi có giếng khai thác vàng sâu khoảng
3000m (2018) và còn tiếp tục khai thác đến năm
2090 Một số công ty của Mỹ đã khai thác Mn, Co,
Ni trong đáy đại dương sâu 3000-4000 m (trong đó
chứa Mn từ 15-50%, Co từ 1-2%, Ni từ 1-2%)
Việc sử dụng tổng hợp khoáng sản và khai thác tận dụng tối đa lượng khoáng sản từ một mỏ sẽ tăng giá trị kinh tế của các mỏ khoáng sản này
Nguyên liệu khoáng: Được hiểu là hầu hết các loại khoáng sản lấy ra từ lòng đất đều là dạng nguyên liệu của công nghiệp
Quặng: Là tập hợp khoáng vật chứa những thành phần có ích với hàm lượng bảo đảm thu hồi có hiệu quả tương ứng với điều kiện kinh tế - kỹ thuật ở thời điểm đánh giá Chất lượng quặng được đánh giá qua hàm lượng thành phần có ích, có hại và tính chất công nghệ của chúng Theo hàm lượng thành phần có ích và khả năng làm giàu quặng chia ra quặng giàu, quặng trung bình, quặng nghèo Căn
cứ vào thành phần của hợp phần có ích chứa trong quặng chia ra quặng phức tạp (tổng hợp) và quặng đơn khoáng (quặng đơn) Quặng đơn khoáng là loại quặng chủ yếu chỉ chứa một thành phần có ích (sắt, crom, nhôm v.v…) còn quặng tổng hợp thường chứa một số hợp phần có ích (sắt và titan, chì – kẽm, vàng – bạc) v.v… Trong thực tế, phần lớn là quặng thuộc loại đa khoáng
Dạng khoáng sản Thành phần
có ích Đặc trưng chất lượng (Hàm lượng,%)
Bảng 1 Phân loại một số dạng khoáng sản theo chất lượng
Nguồn: Nguyễn Văn Lâm, Nguyễn Phương, 2009, Tìm kiếm và thăm dò các mỏ khoáng sản rắn
Trang 12Dầu khí: Gồm dầu thô, khí thiên nhiên và
hydrocarbon ở thể khí, lỏng, rắn hoặc nửa rắn trong
trạng thái tự nhiên, kể cả khí than, sulfur và các
chất tương tự khác kèm theo hydrocarbon nhưng
không bao gồm than, đá phiến sét, bitum hoặc các
khoáng sản khác có thể chiết xuất được dầu
1.1.2 Phân loại khoáng sản
a) Theo tính chất, công dụng:
Tài nguyên khoáng sản được chia ra làm các loại
khoáng sản kim loại, khoáng sản không kim loại,
khoáng sản nhiên liệu và nước dưới đất:
» Khoáng sản kim loại là khoáng sản mà từ
chúng có thể lấy ra các kim loại khác nhau cũng như các hợp chất có chứa kim loại được sử dụng trong công nghiệp Trong khoáng sản kim loại lại chia ra kim loại đen (Fe, Ti, Mn, Cr), kim loại màu (Cu, Pb, Zn, Ni), kim loại quý (Au, Ag, Pt), kim loại hiếm (wolfram, Mo, Bi, đất hiếm), kim loại phóng
xạ (U, Th, Ra) v.v…
» Khoáng sản không kim loại hay còn gọi là
khoáng sản phi kim, là những khoáng sản được sử dụng ngay toàn bộ các tập hợp khoáng vật có sẵn (đá xây dựng, thạch cao, muối mỏ v.v…) hoặc làm nguyên liệu để thu lấy các khoáng vật hay hợp chất hoá học Khoáng sản phi kim có thể chia thành
4 nhóm: nguyên liệu hoá chất và phân bón, nguyên liệu kiến trúc xây dựng, nguyên liệu chịu lửa và gốm sứ, nguyên liệu khoáng vật
» Khoáng sản nhiên liệu bao gồm các loại
khoáng sản cháy được, ở trạng thái rắn (than bùn, than đá, than nâu) và dạng lỏng (dầu mỏ), dạng khí (khí thiên nhiên), đá phiến cháy, băng cháy Đa số những khoáng sản thuộc loại này là những thành tạo hữu cơ chứa hydro, carbon, không chỉ sử dụng làm nhiên liệu mà còn được sử dụng để chế biến ra nhiều dạng hoá phẩm, dược phẩm và các sản phẩm công nghiệp khác
để uống, cung cấp cho công nghiệp, nước
khoáng, nước nóng, nước mặn Có những trường hợp nước khoáng có chứa Brôm, I-ốt, Liti, Natri đủ để khai thác công nghiệp.b) Theo trữ lượng khoáng sản:
Trữ lượng khoáng sản là tài nguyên xác định được tính theo kết quả của công tác thăm dò địa chất
và thi công các công trình khoan và khai đào được làm sáng tỏ về số lượng địa chất, chất lượng, điều kiện kỹ thuật mỏ, địa chất thuỷ văn, sinh thái, điều kiện khai thác và giá trị kinh tế
Mỏ được coi là cực lớn với trữ lượng trên 10 tỷ tấn quặng, mỏ lớn với trữ lượng dưới 10 tỷ tấn, mỏ vừa với trữ lượng trăm triệu tấn và mỏ nhỏ với trữ lượng chục triệu tấn
c) Theo sự kết hợp của hai cách phân loại trên:
Mỏ có thể được gọi tên theo khoáng sản và trữ lượng, ví dụ mỏ sắt cực lớn (có trữ lượng trên 10 tỷ tấn quặng), mỏ Mangan vừa (có trữ lượng vài trăm triệu tấn) và mỏ crom nhỏ (có trữ lượng vài trăm ngàn tấn)
d) Theo phân cấp trữ lượng:
Việc phân cấp trữ lượng tài nguyên khoáng sản hiện nay có hai quan điểm:
• Dựa vào mức độ nghiên cứu địa chất, có trữ lượng khoáng sản và tài nguyên dự báo khoáng sản;
• Dựa vào tính khả thi kinh tế, trữ lượng được
coi là phần tài nguyên xác định và được đánh giá có tính khả thi và kinh tế tại thời điểm đánh giá.
Trang 131.1.3 Đặc điểm của tài nguyên khoáng sản
Sự thành tạo ngẫu nhiên các mỏ khoáng sản là kết
quả hoạt động địa chất hàng triệu năm về trước do
các tác động nội sinh và ngoại sinh diễn ra ở trong
hoặc trên bề mặt vỏ Trái đất
Khoáng sản tại mỏ không thể tái tạo hay phục hồi
được, do đó việc khai thác ở một sản lượng hợp
lý là rất cần thiết Bên cạnh đó, khai thác khoáng
sản có nguy cơ ảnh hưởng rất lớn tới môi trường và
hệ sinh thái do chiếm dụng diện tích đất lớn trong
thời gian tương đối dài, quá trình khai thác ban đầu
thường dễ dàng hơn so với quá trình khai thác về
sau (mỏ phải xuống sâu hơn và đi xa hơn)
Do khoáng sản là nguyên liệu đầu vào cho các
ngành công nghiệp, vì vậy ngành khai khoáng đóng
vai trò quan trọng cho nền kinh tế của mỗi quốc gia
Có thể kể đến rất nhiều quốc gia giàu mạnh về kinh
tế do sở hữu tài nguyên khoáng sản phong phú, đa
dạng, trữ lượng lớn như các quốc gia vùng Vịnh có
tài nguyên dầu mỏ; Nam Phi với than, vàng, bạch
Quá trình khai thác khoáng sản là quá trình đồng thời thu được các thành phần có trong quặng như khi khai thác đồng có thể thu được ni-ken, cô-ban, vàng v.v…
1.1.4 Hoạt động khoáng sản
Theo Luật Khoáng sản 2010, hoạt động khoáng sản bao gồm các hoạt động thăm dò khoáng sản và
khai thác khoáng sản Trong đó thăm dò khoáng sản
là hoạt động nhằm xác định trữ lượng, chất lượng khoáng sản và các thông tin khác phục vụ khai
thác Khai thác khoáng sản là hoạt động nhằm thu
hồi khoáng sản, bao gồm xây dựng cơ bản mỏ, khai đào, phân loại, làm giàu và các hoạt động khác có liên quan
Nguyên tắc hoạt động khoáng sản được quy định như sau:
» Phải phù hợp với chiến lược, quy hoạch khoáng sản, gắn với bảo vệ môi trường, cảnh
Hiện nay trung bình phải bóc 11m3 đất đá để thu được 1 tấn than