Trường THPT Nam Duyên Hà Tổ Văn 1 CHUYÊN ĐỀ NGHỊ LUẬN VĂN HỌC DÀN Ý CHI TIẾT CHO TẤT CẢ CÁC TÁC PHẨM VĂN HỌC 10 Chiến thắng Mtao Mxây I Đôi nét về tác phẩm Chiến thắng Mtao Mxây 1 Bố cục (3 phần) Phần[.]
Trang 1CHUYÊN ĐỀ NGHỊ LUẬN VĂN HỌC: DÀN Ý CHI TIẾT CHO TẤT CẢ
CÁC TÁC PHẨM VĂN HỌC 10 - Chiến thắng Mtao Mxây
I Đôi nét về tác phẩm Chiến thắng Mtao Mxây
3 Giá trị nội dung
Đoạn trích khẳng định sức mạnh và ngợi ca vẻ đẹp của người anh hùng Đăm Săn - một người trọng danh dự, gắn bó với hạnh phúc gia đình và thiết tha với cuộc sống bình yên, phồn vinh của thị tộc, xứng đáng là người anh hùng mang tầm vóc sử thi của dân tộc Ê-đê thời cổ dại
4 Giá trị nghệ thuật
- Ngôn ngữ của người kể biến hóa linh hoạt, hướng tới nhiều đối tượng; ngôn ngữ đối thoại được khai thác ở nhiều góc độ Ngôn ngữ trang trọng, kết hợp ngôn ngữ kể, tả của người dẫn truyện và ngôn ngữ đối thoại của nhân vật, ngôn ngữ giàu âm thanh và hình ảnh
- Nghệ thuật kể xem lẫn tả
- Các biện pháp nghệ thuật: So sánh, cường điệu, phóng đại, đối lập
II Dàn ý phân tích Chiến thắng Mtao Mxây
I Mở bài
- Giới thiệu khái quát về sử thi Đăm Săn và vị trí đoạn trích Chiến thắng Mtao Mxây:
Sử thi Đăm Săn là bộ sử thi nổi tiếng của dân tộc Ê-đê kể về cuộc đời và sự nghiệp của
Trang 2tù trưởng Đăm Săn Đoạn trích Chiến thắng Mtao Mxây nằm ở phần giữa của tác phẩm,
kể chuyện Đăm Săn đánh Mtao Mxây cứu vợ trở về
- Khái quát giá trị nội dung và nghệ thuật của đoạn trích Chiến thắng Mtao Mxây: Đoạn trích kể chuyện Đăm Săn đánh thắng tù trưởng Mtao Mxây, cứu được vợ, đem vinh quang về cho dân làng Đồng thời, đoạn trích thể hiện được những đặc điểm nghệ thuật của thể loại sử thi anh hùng
II Thân bài
1 Cuộc chiến giữa Đăm Săn và Mtao Mxây
a) Nguyên nhân của cuộc chiến
Đăm Săn khiêu chiến với Mtao Mxây vì Mtao Mxây đã cướp vợ của điều này chứng
tỏ Đăm săn là người trọng danh dự cá nhân, cộng đồng; gắn bó với hạnh phúc gia đình;
bộ tộc
b) Cuộc chiến giữa hai tù trưởng
- Thái độ của Đăm Săn và Mtao Mxây trước khi bắt đầu trận chiến:
+ Đăm Săn là người khiêu chiến: “Ta thách nhà ngươi đọ dao với ta đấy”, “ta sẽ lấy cái sàn hiên của nhà ngươi ta bổ đôi”, “lấy cầu thang…ta chẻ ra kéo lửa”, “ta hụn cái nhà của nhà ngươi”
→ Thông minh, tự tin, đường hoàng, bản lĩnh và có khí phách
+ Mtao Mxây: “tay ta đang còn bận ôm vợ hai chúng ta”, “ta sợ ngươi đâm ta khi ta đang đi lắm”
→ Mtao Mxây kém cỏi nhưng huênh hoang, khoác lác
• Đăm Săn: thách Mtao Mxây múa khiên trước, lúc Mtao Mxây múa khiên Đăm Săn không hề nhúc nhích Lúc Đăm Săn múa “Một lầm xốc tới, chàng vượt qua đồi tranh Một lần xôc tới nữa chàng vượt qua đồi lồ ô Chạy vun vút qua phái đông, vun vút qua phía tây.”
→ Bình tĩnh, thản nhiên, tài năng và bản lĩnh
+ Hiệp đấu thứ hai: Đăm Săn đớp được miếng trầu mà Mtao Mxây bảo Hơ Nhị quăng cho hắn, sức chàng như tăng lên gấp bội, múa khiên càng mạnh, càng nhanh, càng đẹp,
“chàng múa trên cao, gió như bão Chàng múa dưới thaaso, gió như lốc…” Đăm Săn đuổi theo Mtao Mxây trúng nhưng không thửng đầu Miếng trầu là phần thưởng cho Đăm Săn, là sức mạnh của cả cộng đồng, là tấm lòng thủy chung của vợ
Trang 3→ Đăm Săn là người có sức mạnh phi thường và tài năng
+ Hiệp đấu thứ ba: Nhờ Trời mách kế, Đăm Săn đuổi theo và đánh thắng được Mtao Mxây Ông Trời là hình ảnh tượng trưng cho công lí, sức mạnh trí tuệ của đấng tối cao,
sự thiên vị rõ ràng đối với Đăm Săn và là lời khẳng định chính nghãi thuộc về chàng Đồng thời, chi tiể ông Trời còn thể hiện mối quan hệ gần gũi, gắn bó mật thiết giữa con người với thần linh
⇒ Với lối mô tả song hành, ngôn ngữ trang trọng, giàu hình ảnh; bút pháp phóng đại,…
đã giúp chúng ta thấy Đăm Săn hơn hẳn Mtao Mxây cả về tài năng, sức lực, phong độ, phẩm chất Sự chiến thắng của Đăm Săn làm nổi bật hình ảnh, tầm vóc của người anh hùng sử thi Đam Săn
2 Đăm Săn cùng nô lệ trở về sau chiến thắng
- Cuộc đối thoại giữa Đăm Săn và nô lệ: Đăm Săn và nô lệ đã đối đáp với nhau 3 lần và mỗi lần ấy đều có sự khác nhau Qua đó, thể hiện lòng mến phục, sự hưởng ứng tuyệt đối và lòng trung thành của mọi người dành cho Đăm Săn
- Ý nghĩa cảnh Đăm Săn và nô lệ trở về:
+ Sự thống nhất cao độ giữa quyền lợi, khát vọng của cá nhân anh hùng với quyền lợi, khát vọng của tập thể cộng đồng
+ Thể hiện lòng yêu mến, cảm phục của toàn thể cộng đồng đối với người anh hùng
Đó chính là ý chí thống nhất của toàn thể cộng đồng Ê-đê
⇒ Sự ngưỡng mộ và tình cảm mến phục của nhân dân dành cho người anh hùng
3 Cảnh ăn mừng chiến thắng
- Lời ra lệnh mở tiệc: sự tự hào, tự tin vì sức mạnh và sự giàu có của thị tộc mình
- Ra lệnh đánh nhiều cồng chiêng: thể hiện niềm vui chiến thắng và sự giàu có, sung túc, trang trọng cùng vẻ đẹp tinh thần, vật chất của tù trưởng và của cả thị tộc’
- Quang cảnh nhà Đăm Săn: mở tiệc to, khách đông nghịt, tôi tớ chật ních cả nhà Tác giả dân gian sử dụng nghệ thuật phóng đại, qua đó thể hiện sự tự hào về một bộ tộc giàu mạnh và sự đồng tâm, thống nhất của cả cộng đồng
- Hình ảnh Đăm Săn: Nằm trên võng, tóc thả trên, uống không biết say, ăn không biết
no, chuyện trò không biết chán, đôi mắt long lanh, bắp chân to bằng xà ngang…
→ Hình ảnh Đăm Săn trở thành trung tâm của bức tranh hoành tráng về cảnh chiến thắng Hình ảnh Đăm Săn hiện lên đẹp một cách mạnh mẽ, oai hùng, có sự lớn lao cả
về hình thể, tầm vóc lẫn chiến công Qua đó cho thấy cái nhìn đầy ngưỡng mộ, mến phục, tự hào của nhân dân với người anh hùng của cộng đồng
4 Nghệ thuật thể hiện
- Ngôn ngữcủa người kể biến hóa linh hoạt, hướng tới nhiều đối tượng; ngôn ngữ đối thoại được khai thác ở nhiều góc độ Ngôn ngữ trang trọng, kết hợp ngôn ngữ kể, tả của
Trang 4người dẫn truyện và ngôn ngữ đối thoại của nhân vật, ngôn ngữ giàu âm thanh và hình ảnh
sử thi chỉ có được trong cuộc chiến đấu vì danh dự, hạnh phúc và danh dự cho cộng động
Truyện An Dương Vương và Mị Châu, Trọng Thủy
I Đôi nét về tác phẩm Truyện An Dương Vương và Mị Châu, Trọng Thủy
Mị Châu chết, máu chảy xuống biển thành ngọc trai Trọng Thuỷ mang xác vợ về chôn
ở Loa Thành, xác liền biến thành ngọc thạch Vì quá tiếc thương Mị Châu, Trọng Thuỷ lao đầu xuống giếng mà chết Người đời sau mò được ngọc trai, rửa bằng nước giếng
ấy thì ngọc trong sáng thêm
4 Giá trị nội dung
Truyện An Dương Vương và Mị Châu, Trọng Thủy giải thích nguyên nhân mất nước
Âu Lạc và nêu lên bài học lịch sử về việc giữ nước, tinh thần cảnh giác với kẻ thù cùng cách xử lí đúng đắn trong mối quan hệ giữa cá nhân và cộng đồng, giữa cái riêng với cái chung, giữa nhà và nước
Trang 55 Giá trị nghệ thuật
- Kết hợp nhuần nhuyễn giữa cốt lõi lịch sử với các chi tiết hư cấu
- Kết cấu chặt chẽ, xây dựng chi tiết hàm đọng, cô đúc, nhiều ý nghĩa cùng với những chi tiết tưởng tượng, hư cấu có giá trị nghệ thuật cao
II Dàn ý phân tích Truyện An Dương Vương và Mị Châu, Trọng Thủy
I Mở bài
- Giới thiệu khái quát về thể loại truyền thuyết: Truyền thuyết là những câu chuyện kể dân gian, kể lại những câu chuyện trong lịch sử dựng nước, giữ nước của cha ông ta, có
sự kết hợp giữa cốt lõi lịch sử với yếu tố tưởng tượng, kì ảo
- Giới thiệu xuất xứ, khái quát giá trị nội dung và nghệ thuật của Truyện an Dương Vương và Mị Châu, Trọng Thủy: Truyện An Dương Vương và Mị Châu, Trọng Thủy trích từ Truyện Rùa Vàng trong Lĩnh Nam chích quái Truyện kể về quá trình xây thành, chế nỏ bảo vệ đất nước của An Dương Vương và nguyên nhân mất nước Âu Lạc
II Thân bài
1 An Dương Vương xây thành, chế nỏ, bảo vệ đất nước
- Vua An Dương Vương xây thành ở đất Việt Thường nhưng gặp rất nhiều khó khăn,
“hễ đắp tới đâu là lại lở tới đấy” Vì vậy, vua lập đàn tai giới, cầu đảo bách thần Sau
đó, đón tiếp cụ già từ phương Đông tới và ra tận của đông chờ đợi đón Rùa Vàng → An Dương Vương là người quyết tâm, kiên trì, không ngại khó khăn, dồn hết tâm huyết cho việc xây thành, luôn suy nghĩ cho vận mệnh của đất nước và biết trọng người hiền tài
- An Dương Vương cho xây thành “rộng hơn ngàn trượng, xoắn như hình trôn ốc” → Tài năng và tầm nhìn xa trông rộng của An Dương Vương
- Khi Rùa Vàng từ biệt trở về, An Dương Vương lo lắng hỏi: “Nếu có giặc ngoài thì lấy
gì mà chống?”
→ Ý thức, trách nhiệm của người đứng đầu và tinh thần cảnh giác cao độ
- Lấy vuốt rùa làm lẫy, nhờ Cao Lỗ chế nỏ đánh thắng mọi kẻ thù, giặc xâm lược ⇒ Thông qua các chi tiết hư cấu, tưởng tượng (cụ già, Rùa Vàng) truyện đã xây dựng thành công hình tượng vua An Dương Vương - một vị vua anh minh, sáng suốt, luôn suy nghĩ cho vận mệnh của dân tộc, vì lợi ích của nhân dân, biết trọng người tài, được
sự đồng tâm, giúp đỡ của cả trời đất và nhân dân Vị vua ấy luôn nhận được sự tôn trọng, ngợi ca của toàn thể nhân dân
2 Những sai lầm của An Dương Vương, bi kịch tình yêu của Mị Châu, Trọng Thủy
và bài học từ bi kịch mất nước
a) Những sai lầm của An Dương Vương
- Chủ quan, mất cảnh giác: Nhận lời cầu hòa của Triệu Đà, đồng ý gả con gái cho Trọng Thủy và đồng ý cho Trọng Thủy ở rể
Trang 6- Ỷ lại vào vũ khí mà không đề phòng, lơ là cảnh giác, xem thường kẻ địch: lúc giặc đến chân thành vẫn mải đánh cờ, cười nhạo kẻ thù
- Chi tiết An Dương Vương tự tay giết chết con gái thể hiện hành động quyết liệt, dứt khoát đứng về phía công lí và lợi ích chung của cả dân tộc, để cái chung lên trên tình riêng đó cũng là sự thức tỉnh muộn màng của An Dương Vương
- Chi tiết An Dương Vương cầm sừng tê bảy tấc, Rùa Vàng rẽ nước dẫn vua đi xuống biển đã huyền thoại hóa, bất tử hóa hình tượng vua An Dương Vương, qua đó, thể hiện
sự traan trọng, cảm mến của nhân dân với nhà vua
b) Bi kịch tình yêu của Mị Châu và Trọng Thủy
- Nhân vật Trọng Thủy:
+ Thời kì đầu: Trọng Thủy đóng vai trò là một tên gián điệp theo lệnh của vua cha sang làm rể → điều tra bí mật
+ Thời gian ở Loa Thành: lừa Mị Châu để thực hiện âm mưu, chính sự chủ quan lơ
là mất cảnh giác của An Dương Vương, sự ngây thơ cả tin, toàn tâm toàn ý với chồng của Mị Châu đó giúp y hoàn thành kế hoạch đen tối
+ Khi Mị Châu chết, y ôm xác vợ khóc lóc, thương nhớ rồi tự tử Đây chính là sự hối hận muộn màng của Trọng Thủy, đồng thời cho thấy Trọng Thủy cũng là một nạn nhân của cha mình
+ Hình ảnh ngọc trai – giếng nước ở cuối chuyện là cách kết thúc hợp lí nhất cho câu chuyện và cho số phận đôi trai gái Hình ảnh này chứng tỏ sự trong sáng của Mị Châu,
sự hóa giải tình cảm của Mị Châu, Trọng Thủy ở thế giới bên kia và đó cũng chính là tấm lòng bao dung, thông cảm của nhân dân dành cho Mị Châu và Trọng Thủy
Trang 7- Khái quát lại giá trị nội dung và nghệ thuật của văn bản
- Mở rộng: Bài học dựng nước và giữ nước trong bối cảnh hiện nay
Uy-lít-xơ trở về
I Đôi nét về tác giả Hô-me-rơ
- Hô-me-rơ tên thật là Mê-lê-xi-gien, là nghệ sĩ hát rong, là thi sĩ mù Ông sinh ra bên
nờ sông Mê-lét vào khoảng thế kỉ IX-VII TCN, quê hương của nhà thơ chưa được xác định cụ thể
- Hô-me-rơ là nhà thơ lớn mở đầu cho lịch sử văn học cổ đại Hi Lạp, "cha đẻ của thơ
xã thị tộc sang chiếm hữu nô lệ, gia đình hình thành
- Ô-đi-xê gồm 12 110 câu, chia thành 24 khúc ca Ô-đi-xê kể về cuộc hành trình trở về quê hương của Uy-lít-xơ sau chiến thắng thành tờ-roa Ô-đi-xê là bài ca về cuộc sống hòa bình Tác phẩm ca ngợi sức mạnh trí tuệ của con người
- Chủ đê của tác phẩm: Bài ca lao động, hòa bình, thể hiện cuộc sống và mơ ước của người Hi Lạp cổ đại trong cuộc đấu tranh chinh phục tự nhiên, mở rộng gia lưu, xây dựng cuộc sống gia đình,…
Trang 8- Phần 2 (còn lại): Pê-nê-lốp thử thách Uy-lít-xơ về bí mật của chiếc giường, Pê-nê-lốp nhận ra chồng
4 Giá trị nội dung
Đoạn trích đề cao và ca ngợi vẻ đẹp sức mạnh trí tuệ và tinh thần của con người Đồng thời, làm rõ giá trị hạnh phúc gia đình khi người Hi Lạp cổ đại chuyển từ chế độ thị tộc sang chế độ chiếm hữu nô lệ
5 Giá trị nghệ thuật
- Miêu tả tâm lí nhân vật chi tiết, cụ thể
- Lối so sánh sinh động, đặc sắc, mang đậm đặc trưng của sử thi
- Ngôn ngữ trong sáng, hào hùng, giọng kể chuyện chậm rãi, tha thiết
- Khắc họa thành công những mâu thuẫn, xung đột tạo nên sức hấp dẫn cho đoạn trích
III Dàn ý phân tích Uy-lít-xơ trở về
I Mở bài
- Giới thiệu khái quát về tác giả Hô-me-rơ và sử thi Ô-đi-xê
- Khái quát vị trí, giá trị nội dung và giá trị nghệ thuật của đoạn trích Uy-lít-xơ trở về: Đoạn trích thuộc khúc ca thứ 23 của sử thi Ô-đi-xê, kể lại những thử thách và giây phút đoàn tụ hạnh phúc của vợ chồng Uy-lít-xơ
II Thân bài
1 Uy-lít-xơ trở về trong bộ dạng kẻ hành khất và thái độ của mọi người
a) Tác động của nhũ mẫu Ơ-ri-cle tới Pê-nê-lốp
- Nhũ mẫu Ơ-ri-cle:
Trang 9+ Báo tin Uy-lít-xơ trở về
+ Thuyết phục Pê-nê-lốp: vết sẹo ở chân
+ Phân vân, xúc động, không bác bỏ câu chuyện, xuống lầu không biết ứng xử như thế nào, lặng im, sửng sốt, nhìn đăm đăm, âu yếm
⇒ Pê-nê-lốp là người thận trọng, tỉnh táo và biết kìm nén tình cảm của bản thân
b) Lời trách móc của Tê-lê-mác và thái độ của Pê-nê-lốp
- Tê-nê-mác:
+ Ngay lập tức nhận cha
+ Trách móc mẹ gay gắt: trách mẹ tàn nhẫn với cha, độc ác, sắt đá
→ Thương yêu cha, nôn nóng muốn gia đình đoàn tụ
- Pê-nê-lốp:
+ Thận trọng giải thích, khẳng định sự phân vân trong lòng mình
+ Tin rằng nếu đây đúng là Uy-lít-xơ thì cả hai sẽ sớm nhận ra nhau vì cả hai sẽ có những dấu hiệu nhận biết riêng
⇒ Pê-nê-lốp là người trí tuệ, thông minh, tỉnh táo Đồng thời, nàng còn là con người rất thận trọng, tỉnh táo mà tế nhị, kiên quyết mà thận trọng
- Uy-lít-xơ:
+ Mặc cảm về ngoại hình hiện tại: Hiện giờ cha còn bẩn thỉu, rách rưới nên mẹ con khinh ta
+ Có niềm tin chắc chắn hai vợ chồng sẽ nhận ra nhau
→ Uy-lít-xơ cao quý, nhẫn nại
2 Thử thách của Pê-nê-lốp dành cho Uy-lít-xơ và giây phút gia đình đoàn tụ a) Cuộc đấu trí giữ Pê-nê-lốp và Uy-lít-xơ
- Lời thử thách:
+ Mượn lời con nói với Uy-lít-xơ ngầm tỏ ý muốn thử thách Uy-lít-xơ
+ Uy-lít-xơ mỉm cười chấp nhận thử thách
- Quá trình thử thách:
+ Pê-nê-lốp sai người khiêng giường ra
+ Uy-lít-xơ yêu cầu kê giường, trầm tĩnh miêu tả cặn kẽ, tỉ mỉ từng chi tiết của chiếc giường
→ Uy-lít-xơ giải mã được bí mật
Trang 10⇒ Pê-nê-lốp và Uy-lít-xơ là những người trí tuệ, thông minh, khôn khéo và nhạy bén
b) Khung cảnh đoàn tụ
- Pê-nê-lốp:
+ Khi Uy-lít-xơ miêu tả chi tiết của chiếc giường cụ thể, tỉ mỉ: “bủn rủn chân tay”,
“nước mắt chan hòa chạy lại ôm lấy cổ chàng”, bày tỏ lí do
+ Vui sướng đến tột cùng khi được gặp lại chồng: hình ảnh so sánh “dịu hiền… mong đợi”
→ Pê-nê-lốp là người phụ nữ thủy chung, son sắt với chồng, thông minh, thận trọng, khôn khéo trong cách ứng xử và là người đầy bản lĩnh
- Uy-lít-xơ: ôm lấy vợ, khóc dầm dề, đoàn tụ sau 20 năm xa cách
→ Uy-lít-xơ là người anh hùng với tình cảm gia đình sâu nặng
⇒ Cảnh đoàn tụ đã thể hiện tình cảm gia đình sâu nặng, thủy chung và đầy tình nghĩa
3 Nghệ thuật
- Miêu tả tâm lí nhân vật chi tiết, cụ thể
- Lối so sánh sinh động, đặc sắc, mang đậm đặc trưng của sử thi
- Ngôn ngữ trong sáng, hào hùng, giọng kể chuyện chậm rãi, tha thiết
- Khắc họa thành công những mâu thuẫn, xung đột tạo nên sức hấp dẫn cho đoạn trích
III Kết bài
- Khái quát lại giá trị nội dung và nghệ thuật của đoạn trích
- Thông qua đoạn trích, giúp chúng ta hiểu rõ hơn về văn hóa Hi Lạp thời cổ đại
Trang 11- Phần 2 (tiếp đó đến “truyền cho quân hầu đưa kiệu rước Tấm về cung”): Con đường đấu tranh và giữ hạnh phúc của Tấm
- Phần 3 (còn lại): Hành động trả thù của Tấm
3 Tóm tắt
Tấm là cô gái hiền lành , chăm chỉ , mẹ cha mất sớm , phải ở với mẹ con dì ghẻ Tấm
bị Cám, con gái của dì ghẻ lừa lấy hết giỏ tép Bụt hiện lên cho Tấm cá bống làm bạn, nhưng mẹ con Cám cũng lừa ăn thịt mất Bống Bụt giúp Tấm tìm và chôn xương bống Ngày hội, mẹ con Cám bắt Tấm nhặt thóc gạo, không cho đi dự Bụt hiện lên giúp và chỉ cho Tấm cách có quần áo đẹp đi dự hội Tấm đánh rơi chiếc giày, vua nhặt được và nhờ đó cô được chọn làm hoàng hậu Ngày giỗ cha, Tấm về trèo hái cau, bị dì ghẻ chặt cây,Tấm ngã xuống ao chết đuối, biến thành chim vàng anh Cám thế chân chị trong cung vua Chim vàng anh quấn quýt bên vua, bị Cám giết thịt, lông chim lại biến thành cây xoan đào che mát cho vua Cám chặt xoan đào, đóng khung cửi, bị khung cửi mắng, liền đốt khung, vứt tro ven đường Từ đống tro tàn, một cây thị mọc lên, thị chín, rơi vào bị của bà lão hàng nước Ngày ngày, tấm chui ra từ quả thị, giúp bà hàng nước dọn dẹp nhà cửa và nấu cơm nước Bà cụ xé vỏ thị, Tấm trở lại làm người sống cùng bà lão Nhà vua đi qua ,nghỉ chân tại hàng nước, nhận ra miếng trầu têm cánh phượng của Tấm Tấm được đón trở lại cung làm hoàng hậu Cám bị Tấm trừng trị, dì ghẻ cũng lăn ra chết theo con Tấm sống cuộc sống hạnh phúc suốt đời
4 Giá trị nội dung
Sự biến hóa của Tấm thể hiện sức sống, sức trỗi dậy mãnh liệt của con người trước
sự vùi dập của kẻ ác Đây là sức mạnh của cái thiện chiến thắng cái ác qua cuộc đấu tranh không khoan nhượng đến cùng Chiến thắng ấy thể hiện niềm tin của nhân dân về
sự chiến thắng của cái thiện với cái ác, tinh thần lạc quan và ước mơ về một xã hội công bằng
5 Giá trị nghệ thuật
- Cốt truyện li kì, hấp dẫn với những mâu thuẫn, xung đột ngày càng quyết liệt
- Xây dựng nhân vật theo hai tuyến đối lập
- Sử dụng các yếu tố, chi tiết tưởng tượng kì ảo
II Dàn ý phân tích Tấm Cám
I Mở bài
- Giới thiệu khái quát về thể loại truyện cổ tích và đặc trưng của cổ tích thần kì
- Giới thiệu khái quát về giá trị nội dung và nghệ thuật của truyện cổ tích Tấm Cám: Tấm Cám thuộc truyện cổ tích thần kì Truyện kể về thân phận, con đường đi đến, đấu tranh và giữ gìn hạnh phúc của tấm, qua đó thể hiện niềm tin của nhân dân về chiến thắng của cái thiện với cái ác và ước mơ về công lí xã hội
II Thân bài
Trang 121 Thân phận và con đường đi đến hạnh phúc của Tấm
a) Thân phận của Tấm
- Số phận của Tấm:
+ Mẹ chết khi còn nhỏ tuổi
+ Cha chết, Tấm ở với dì ghẻ - là mẹ đẻ của Cám
+ Tấm vất vả làm việc suốt ngày đêm
→ Hoàn cảnh đáng thương, côi cút, cô đơn Đồng thời, cô cũng là cô gái hiền dịu
và khát khao được vui chơi, hạnh phúc
- Bản chất của mẫu thuẫn giữa Tấm và mẹ con Cám
+ Mâu thuẫn gia đình: mâu thuẫn giữa Tấm và Cám, mâu thuẫn giữa Tấm và dì ghẻ → Trong hai mâu thuẫn trên, mâu thuẫn giữa Tấm và Cám là mâu thuẫn xuyên suốt toàn truyện, liên tục và ngày càng quyết liệt Còn mâu thuẫn giữa Tấm và dì ghẻ đóng vai trò phụ trợ, bổ sung
+ Mâu thuẫn xã hội: Tấm là hiện thân của cái thiện, hiền lành, lương thiện Còn mẹ con Cám là hiện thân của cái ác, cái xấu Do đó, mâu thuẫn giữa Tấm với mẹ con Cám xét đến cùng là mâu thuẫn giữa cái thiện với cái ác
b) Con đường đến với hạnh phúc của Tấm
- Đi bắt tép: Tấm chăm chỉ xúc đầy giỏ, Cám lừa Tấm trút hết giỏ cá và nhận phần thưởng Tấm khóc, Bụt hiện lên và cho Tấm cá bống
- Mẹ con Cám gạt Tấm đi chăn trâu ở đồng xa, giết cá bống để ăn thịt Tấm khóc Bụt hiện lên bảo Tấm cho xương cá đựng vào bốn chiếc lọ chôn ở bốn chân giường
- Đi trẩy hội, Dì ghẻ trộn thóc lẫn gạo, bắt Tấm nhặt không cho đi trẩy hội Tấm khóc Bụt hiện lên, sai một đàn chhim sẻ xuống nhặt giúp
- Tấm không có quần áo đẹp mặc đi hội Tấm tủi thân khóc Bụt hiện lên cho Tấm quần
áo, khăn, giày, xe ngựa Tấm đến gặp vua, đánh rơi chiếc hài và may mắn trở thành hoàng hậu
→ Mâu thuẫn chủ yếu xoay quanh hơn thua về vật chất và tinh thần Tấm bị mẹ con Cám cướp đoạt trắng trợn công sức lao động, phần thưởng, niềm vui tinh thần Tấm luôn thụ động, không tự giải quyết được mâu thuẫn mà phải nhờ vào Bụt
⇒ Tấm nhờ chăm chỉ, lương thiện mà được Bụt giúp đỡ, từ cô gái mồ côi nghèo trở thành hoàng hậu Con đường tìm đến hạnh phúc của Tấm dù có nhiều khó khăn, trắc trở nhưng cuối cùng, Tấm đã tìm được hạnh phúc cho bản thân mình Đó cũng là con đường đến với hạnh phúc của các nhân vật lương thiện trong truyện cổ tích Việt Nam nói chung, truyện cổ tích thế giới nói riêng
2 Con đường đấu tranh giành lấy hạnh phúc của Tấm
Trang 13- Ngày giỗ bố, Tấm về nhà trèo lên cây cau, gì ghẻ chặt gốc cây, Tấm chết hóa thành chim vàng anh Cám được đưa vào cung thay Tấm
- Chim vàng anh bay vào cung, báo hiệu sự có mặt của mình bằng lời cảnh cáo đanh thép: “Giặt áo chồng tao/thì giặt cho sạch/phơi áo chồng tao/phơi lao phơi sào/chớ phơi
bờ rào/rách áo chồng tao”, hai mẹ con Cám bắt chim vàng anh, ăn thịt
- Tấm tiếp tục hóa thân vào cây xoan đào và tuyên chiến trực tiếp với hai mẹ con Cám:
“Kẽo cà kẽo kẹt/ lấy tranh chồng chị/ chị khoét mắt ra” Hai mẹ con Cám đốt khung cửi
- Từ đống tro tàn, Tấm tiếp tục hóa thân vào quả thị, Tấm trở lại với cuộc đời
- Tấm hóa thành quả thị, ngày ngày chui ra quét dọn, nấu cơm cho bà hàng nước, sau
đó gặp lại nhà vua và trở về làm hoàng hậu Mẹ con Cám ngỡ ngàng và chết một cách thảm khốc
→ Mâu thuẫn xung đột ngày càng quyết liệt, dữ dội Tấm luôn trong thế chủ động, đấu tranh mạnh mẽ, quyết liệt Tấm không còn khóc, không còn Bụt giúp đỡ, những lần hóa thân của Tấm cho thấy sự chiến đấu không khoan nhượng, sức sống mãnh liệt không thể tiêu diệt của cái thiện
⇒ Tấm từ một cô gái nhu mì, thụ động ngày càng trở nên chủ động đấu tranh để giữ hạnh phúc của mình Sự chiến thắng của Tấm là sự chiến thắng của cái thiện đối với cái ác
3 Hành động trả thù của Tấm
- Tấm trở về cung, trở lại làm hoàng hậu, ngày càng trở nên xinh đẹp
- Cám muốn xinh đẹp như chị, Tấm chỉ cách cho Cám, bảo Cám xuống hố sâu rồi dội nước sôi vào hố Mụ gì ghẻ thấy vậy cũng lăn đùng ra chết
⇒ Hành động trả thù của Tấm là đích đáng, phù hợp với quá trình đấu tranh của Tấm, vì mẹ con cám đã nhiều lần hại Tấm hòng tiêu diệt Tấm đến cùng, không cho Tấm con đường sống.Tấm phải trả thù thì mới có thể tồn tại Mặt khác, hành động trả thù của Tấm phù hợp với quan niệm của nhân dân về sự chiến thắng cuối cùng của cái thiaanjv ới cái ác bởi mâu thuẫn của Tấm và mẹ con Cám không còn là mâu thuẫn gia đình mà là mâu thuẫn xã hội, là mâu thuẫn giữa thiện và ác, giữ người bóc lột và người
bị bóc lột Tấm trả thù là để đòi lại quyền sống , quyền làm người
4 Nghệ thuật
- Cốt truyện li kì, hấp dẫn với những mâu thuẫn, xung đột ngày càng quyết liệt
- Xây dựng nhân vật theo hai tuyến đối lập
- Sử dụng các yếu tố, chi tiết tưởng tượng kì ảo
III Kết bài
- Khái quát lại giá trị nội dung và nghệ thuật của truyện cổ tích Tấm Cám
Trang 14- Mở rộng vấn đề: Tấm Cám nằm trang kiểu chuyện dân gian quen thuộc, phổ biến ở nhiều dân tộc khác nhau trên thế giới, song Tấm Cám là câu chuyện đậm chất Việt Nam
Tam đại con gà
I Đôi nét về tác phẩm Tam đại con gà
1 Xuất xứ
Tam đại con gà là truyện cười thuộc loại trào phúng, phê phán thầy đồ dốt nát
2 Bố cục (3 phần)
- Phần 1 (từ đầu đến “mời đón về dạy trẻ”): Giới thiệu mâu thuẫn trái tự nhiên
- Phần 2 (còn lại): Các tình huống mâu thuẫn gây cười
3 Tóm tắt
Xưa có anh học trò học hành dốt nát nhưng lại hay khoe chữ Có người tưởng anh ta hay chữ thật, mới đón về dạy trẻ Một hôm, dạy đến chữ “kê”, học trò hỏi mà không biết, đánh nói liều: “Dủ dỉ là con dù dì” Thầy sợ nhỡ sai, người nào biết thì xấu hổ, dặn học trò đọc khẽ và đến bàn thờ thổ công xin ba đài âm dương Xin ba đài được cả ba, thầy lấy làm đắc chí, hôm sau bảo trẻ đọc to lên Người bố nghe được, phát hiện ra, thầy liền chống chế bằng cách lí sự cùn: dạy thế là để biết đến tam đại con gà
4 Giá trị nội dung
- Từ tình huống mẫu thuẫn trái tự nhiên, truyện bật lên tiếng cười phê phán thói dấu dốt – một thói xấu trong nội bộ nhân dân
- Qua đó, khuyên mọi người không nên dấu dốt mà phải không ngừng học hỏi
Trang 15- Giới thiệu khái quát về thể loại truyện cười: Truyện cười là tác phẩm tự sự dân gian ngắn, có kết cấu chặt chẽ, kết thúc bất ngờ, kể về những sự việc xấu, trái với tự nhiên trong cuộc sống nhằm giải trí, phê phán
- Giới thiệu khái quát về truyện Tam đại con gà: Tam đại con gà là truyện cười thuộc loại trào phúng, phê phán thầy đồ dốt nát
II Thân bài:
1 Cách giới thiệu nhân vật và mâu thuẫn trái tự nhiên:
- Giới thiệu nhân vật chính – anh học trò dốt nát nhưng thích khoe chữ, “đi đâu cũng lên mặt văn hay chữ tốt”
- Có người mời anh ta về dạy trẻ
→ Mâu thuẫn trái tự nhiên: dốt nhưng dấu dốt, thích khoe chữ
2 Tình huống mâu thuẫn gây cười
- Tình huống 1:
+ Gặp chữ “kê”, thấy mặt chữ nhiều, không biết chữ gì, học trò hỏi gấp, thầy nói liều:
“Dủ dỉ là con dù dì”
+ Sợ sai, bảo học trò đọc khẽ
+ Thầy khấn thầm xin ba đài âm ở bàn thờ thổ công
+ Thổ công cho ba đài âm, thầy lấy làm đắc chí, hôm sau ngồi bệ vệ trên giường, bảo trẻ đọc cho to
→ Thầy đồ vừa dốt vừa mê tín, lừa bịp trẻ con Tiếng cười bật ra từ chính sự ngu dốt, sĩ diện, thích khoe khoang của thầy đồ Đồng thời, qua đó phên phán sự dốt nát của thầy đồ
- Tình huống 2:
+ Khi bị bố học trò phát hiện, chất vấn, suy nghĩ của thầy đồ: “Mình đã dốt, thổ công nhà nó cũng dốt nữa”
→ Lời tự nhủ hài hước, biết mình dốt nhưng không chịu thừa nhận
+ Lời ngụy biện của thầy: Dạy cho cháu biết đến tận tam đại con gà, “Dù dì là chị con công, con công là ông con gà” để gỡ bí, lí sự cùn
→ Tiếng cười bật lên từ sự vô lí, láu cá của thầy đồ
⇒ Thầy đồ bộc lộ rõ bản chất là một kẻ dốt nát nhưng thích giấu dốt, thích khoe khoang, láu cá, sĩ diện
3 Ý nghĩa tiếng cười
- Phê phán những kẻ dốt nát nhưng lại dấu dốt, thích khoe khoang
- Phê phán thực trạng xã hội: dốt nát lại làm thầy
- Khuyên nhủ mọi người không nên dấu dốt mà phải không ngừng học hỏi
4 Nghệ thuật
Trang 16- Xây dựng các mâu thuẫn và đẩy các mâu thuẫn đó lên đến đỉnh điểm trong những tình huống kịch tính, giải quyết bất ngờ, hợp lí
- Ngôn ngữ giản dị, có cả vần và nhịp
- Sử dụng nhiều yếu tố gây cười khác nhau: hành động, cử chỉ, câu nói…có tác dụng gây cười
III Kết bài
- Khát quát lại giá trị nội dung và nghệ thuật
- Bài học rút ra cho bản thân: Truyện vừa đem lại tiếng cười giải trí cho con người, đồng thời mang lại bài học sâu sắc, mỗi người phải không ngừng học hỏi để nâng cao hiểu biết của mình, không được dấu dốt, sĩ diện
Nhưng nó phải bằng hai mày
I Đôi nét về tác phẩm Nhưng nó phải bằng hai mày
3 Giá trị nội dung
Truyện phê phán bản chất tham nhũng, xử kiện vì tiền của quan lại địa phương trong
xã hội Việt Nam Đồng thời, phê phán hành vi tiêu cực của một bộ phận nhân dân lao động xưa khi mắc vào vòng vây kiện tụng
4 Giá trị nghệ thuật
- Cách tạo tình huống gây cười khéo léo, bất ngờ
- Miêu tả ngôn ngữ và hành động của nhân vật vừa gây cười vừa ẩn ý
- Sử dụng cách chơi chữ
- Lối kể chuyện tự nhiên, dễ hiểu
II Dàn ý phân tích Nhưng nó phải bằng hai mày
I Mở bài
- Giới thiệu khái quát về thể loại truyện cười: Truyện cười là tác phẩm tự sự dân gian ngắn, có kết cấu chặt chẽ, kết thúc bất ngờ, kể về những sự việc xấu, trái với tự nhiên trong cuộc sống nhằm giải trí, phê phán
- Giới thiệu khái quát giá trị nội dung và nghệ thuật của truyện Nhưng nó phải bằng hai mày: Nhưng nó phải bằng hai mày là truyện cười thuộc loại trào phúng, phê phán bọn quan lại tham nhũng
Trang 17II Thân bài
1 Trước khi xử kiện
- Viên lí trưởng nổi tiếng là người xử kiện giỏi
- Cải và Ngô đánh nhau, mang nhau đi kiện, Cải lót trước cho thầy lí năm đồng, Ngô biện chè lá những mười đồng
→ Mâu thuẫn xuất hiện từ trong chính cách giới thiệu nhân vật – viên quan ăn của đút lót lại nổi tiếng là người xử kiện giỏi Tiếng cười hài hước, thâm thúy bật ra từ mâu thuẫn ấy Đồng thời, từ mâu thuẫn này cũng gợi nên trong người đọc sự hứng thú, tò
mò, lôi cuốn người đọc vào vụ xử kiện của lí trưởng
- Cải: xòe bàn tay phải năm ngón
→ Ý nói con đã đút cho thầy năm đồng, thầy phải xử con thắng kiện mới đúng → Phê phán hành động đút lót của Cải Đồng thời, tiếng cười cũng bật lên đầy chua chát khi Cải vừa mất tiền lại vừa phải chịu phạt
- Lí trưởng:
+ Hành động: Xòe năm ngón tay trái, úp lên năm ngón tay phải trước mặt
+ Lời nói: “Tao biết mày phải…nhưng nó lại phải…bằng hai mày”
→ Câu nói và hành động của viên lí trưởng ngầm ý nó đút bằng hai mày nên xử
nó thắng là điều tất nhiên Tiếng cười bật lên từ chính hành động và lời nói của viên lí trưởng Câu nói đã sử dụng hình thức chơi chữ với chữ “phải”
⇒ Phê phán bản chất tham nhũng, xử kiện vì tiền của quan lại địa phương trong
xã hội Việt Nam Đồng thời, phê phán hành vi tiêu cực của một bộ phận nhân dân lao động xưa khi mắc vào vòng vây kiện tụng
3 Nghệ thuật
- Cách tạo tình huống gây cười khéo léo, bất ngờ
- Miêu tả ngôn ngữ và hành động của nhân vật vừa gây cười vừa ẩn ý
- Sử dụng cách chơi chữ
- Lối kể chuyện tự nhiên, dễ hiểu
III Kết bài
- Khái quát lại giá trị nội dung và nghệ thuật của truyện
Ca dao than thân, yêu thương, tình nghĩa
I Đôi nét về tác phẩm Ca dao than thân, yêu thương, tình nghĩa
1 Giá trị nội dung